hành trang cuộc đời                                                   
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đẹp Là Ǵ? 
(Mấy lời bàn về mỹ học) ( viết 1917 - cách đây 95 năm)

Xưa nay các nhà làm sách định nghĩa chữ Đẹp cũng đă nhiều; nhà triết học cũng mỗi nhà giải ra một cách, có khi cao xa quá mà không thiết thực. Như có nhà nói: "Đẹp là tổng hợp cái hữu hạn với cái vô hạn, cái tuyệt đối với cái tương đối", tưởng cũng viển vông lắm.

Muốn định nghĩa cho vừa rơ ràng, vừa đầy đủ, th́ phải giải sự đẹp là cái ǵ sáng sủa, trọn vẹn, văn vẻ, điều ḥa, diễn ra h́nh thúc, cảm đến giác quan, gợi mối tưởng tượng, khơi nguồn t́nh tứ, khiến cho người ta có cảm hoài, có hứng thú, được măn ư, xứng t́nh, hài ḷng, khoái trí. Câu định nghĩa ấy không được gọn gàng, nhưng có lẽ cai quát được cả ư nghĩa cái đẹp. Đă gọi là đẹp th́ phải sáng sủa mà không mập mờ, trọn vẹn mà không khuyết điểm, văn vẻ mà không thô tạp, điều ḥa mà không sốc nổi, lại phải phô diễn rực rỡ ra ngoài để cảm đến tai mắt người ta, không thể tiềm tàng trong tâm trí được. Có đủ bấy nhiêu tính cách, mới là cái "đẹp" chân chính. Cái đẹp chân chính thật là cống hiến cho ta một sự khoái lạc hoàn toàn. Người ta có nhiều cách sướng: sướng về nhục thể, sướng về tinh thần; ăn no uống say, đàn ngọt, hát hay là sướng; thưởng thức văn chương, suy nghiền nghĩa lư cũng sướng. Nhưng khoái lạc về mỹ thuật có khác, gồm cả các khoái lạc về tinh thần cùng nhục thể, và là phần tinh hoa trong các t́nh cảm của người ta. Nó là cái sướng, cái thú hoàn toàn hơn cả, v́ cả tâm hồn thân thể đều được thỏa măn.

Cổ triết có câu: "Người ta là một toàn thể y nhiên tự trời sinh ra". Như thế th́ thân thể ta, linh hồn ta, tâm thần trí tuệ ta, t́nh cảm ư chí ta, đều là một cả, và gồm lại thành một bản thể thiên nhiên. Sự đẹp cũng vậy, chung đúc cả cái thú cao thượng làm một thể, tinh anh phát tiết ra ngoài th́ cảm tai mắt, tính t́nh ta, nghĩa lư ẩn ngụ ở trong th́ cảm tinh thần trí tuệ ta. Đối với sự đẹp, cả toàn thể người ta đều phấn khởi kích thích như muốn hớn hở, tươi cười, dịu dàng, nhảy múa. Ấy ảnh hưởng của sự đẹp sâu xa như vậy.

Các sách bàn về thẩm mỹ học thường nói trong cái đẹp có một phần cốt yếu, không có th́ đẹp không được toàn. Phần ấy tức chữ Tây gọi là grâce, mà ta gọi là "duyên". Đẹp vô duyên th́ đẹp cũng như xấu, đẹp có duyên mới là đẹp hoàn toàn.

Duyên là ǵ? Cũng khó mà giải được cho rơ. Duyên có lẽ là cái vô h́nh mầu nhiệm, "điểm nhỡn" cho cái đẹp, mà không có th́ đẹp thành "trẽn", ra "trơ". Duyên là ở dáng điệu uyển chuyển mềm mại, ở sự vận động, sự sinh hoạt điều ḥa. Nếu là một vật bất động, như bức tường, th́ duyên là ở cái h́nh thể nhẹ nhàng, tưởng như có khí sinh hoạt thực. Về âm nhạc th́ duyên cũng ở sự vận động, nhưng sự vận động đây dường như ở ngay trong người ḿnh, nghe tiếng đàn lưu loát mà tâm hồn tự nhiên khoan khoái. Lại như trông bông hoa đẹp, th́ duyên là cái vẻ mỹ miều tươi tắn, như chúm chím muốn chào ta vậy.

Muốn hiểu rơ "duyên" là ǵ, th́ nghĩ ngay thế nào là "vô duyên". "Vô duyên" là cứng cỏi, lạt lẽo, trơ trẽn, hững hờ. Có cái đẹp vô duyên là cái đẹp bông hoa giấy, cũng mầu cũng sắc mà không vị, không hương.

Nhưng v́ sao cái ǵ có mầu mè, có ư vị th́ gọi là có duyên, dễ khiến người ta khả ái? V́ nó có vẻ sinh hoạt, không phải là vật vô hồn. Vẻ sinh hoạt ấy lộ ra h́nh dáng uyển chuyển mềm mại, bóng bẩy nhẹ nhàng. Những tính cách bề ngoài ấy lại là tiêu biểu cho mấy đức tính ở trong. Người đằm thắm dịu dàng là người có bụng tốt, có t́nh yêu, có ḷng tin với mọi người, đối với ai cũng dễ khiến nảy sinh ra thiện cảm. Người như thế là người có duyên, mà có duyên th́ h́nh như có cái hương thơm riêng, đi đến đâu cũng được ḷng yêu của mọi người. Đó là cái vẻ đẹp, cái thú nhă của người ta. Có đẹp mà không có duyên với có duyên mà không có đẹp, người đời ưa duyên hơn đẹp. Đẹp mà nghiêm khắc quá, chưa phải là thật đẹp. Suy rộng ra các tác phẩm mỹ thuật, không phải cứ ngang bằng sổ ngay, không sai quy củ là đẹp đâu, phải có vẻ tự nhiên linh hoạt như cái duyên trong người ta mới thật là đẹp.

Bây giờ thử đem cái đẹp phân tích, xem có những nguyên chất ǵ. Đă nói đẹp với cái duyên quan hệ với nhau thế nào. Duyên tuy là cái vẻ tốt tươi của sự đẹp, không có th́ đẹp không được hoàn toàn, nhưng cũng mới là một nguyên tố trong nhiều nguyên tố khác họp lại thành ra đẹp. Các nguyên tố ấy có thể chia ra làm hai hạng: một là những nguyên tố thuộc về cảm t́nh, hai là những nguyên tố thuộc về lư trí.

Cứ theo các nhà mỹ học phân giải, th́ thuộc về cảm t́nh có ba phân tử: lực lượng, sinh hoạt và nhă thú.

Lực lượng là cái vẻ đẹp mạnh mẽ, tuy mỗi vật mỗi khác, nhưng đại để ở nguyên khí sung túc, h́nh thể quảng hoạt, không yếu ớt, không eo hẹp, không thắt buộc, không cọc cằn. Như cây đa, cây đề phải cao lớn rườm rà; cây lan, cây huệ phải tốt tươi rậm rạp, giống nào sức sinh trưởng được bao nhiêu đến được bấy nhiêu, thế là đẹp. Như người nước ta thích chơi những cây uốn, cảnh non bộ, thu rút h́nh thể thiên nhiên cho bé nhỏ lại, là v́ cái tính riêng hiếu kỳ, không phải v́ những cảnh ấy có đẹp ǵ.

Sinh hoạt là cái vẻ linh lợi, như con vật th́ vận động lanh lẹ, tiếng đàn th́ lưu loát dễ nghe; bông hoa th́ mơn mởn tốt tươi, bức họa th́ hiển nhiên như thực. Bông hoa giả dù làm khéo đến đâu, hệt đến đâu, dụng công đến đâu, cũng không đẹp bằng hoa thật, là v́ không có vẻ sinh hoạt.

C̣n nhă thú, th́ tức là cái "duyên", đă giải trên kia, cốt ở mềm mại êm đềm, mỹ miều khả ái. Có lực lượng, có sinh hoạt chưa đủ khiến cho ưa thích, phải có nhă thú mới gợi được cảm t́nh.

Thuộc về lư trí, cũng có thể phân biệt được ba phần: nhất trí, chuyển biến và thích nghi.

Sự nhất trí là một sự yếu cần của lư trí. Tư tưởng tức là nối tiếp ư nọ với ư kia, nghĩa là xếp đặt cho nhất trí. Phạm sự ǵ loạn tạp, phiền phức, hỗn độn th́ trí thức không thể quan niệm được. Nên đă gọi là đẹp phải có nhất trí, phải có một nơi trung tâm yếu điểm bao quát hết thảy, khiến cho mành mối rơ ràng, trật tự chỉnh đốn, nhiên hậu trí thức mới thừa nhận là đẹp.

Nhưng nhất trí không phải là nhất luật, như cung đàn độc điệu, nghe phải chán tai, bức họa nhất sắc, nh́n phải mỏi mắt. Nhất trí là gồm nhiều phần khác nhau mà thông thuộc vào một nơi yếu điểm chung. Như cung đàn phải có nhiều tiếng nhiều điệu gián tiếp nhau, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng khoan, tiếng nhặt, miễn là có dịp dàng tiết tấu theo một cái khuôn khổ chung. Nên trong sự nhất trí phải có "chuyển biến" nữa. Như vẽ một bức tranh cảnh, phải thế nào cho hồn nhiên là một bức cảnh, nhưng trong cái hồn nhiên ấy phải có nhiều vẻ khác nhau khéo điều ḥa làm một: non xanh nước biếc, cây cỏ rườm rà, chỗ lạt chỗ đậm, chỗ sáng chỗ tối, đây chú tiểu, đó cái quán, nọ dịp cầu, kia chiếc thuyền: tuy bấy nhiêu thứ ngổn ngang mà xếp lại thành một bức sơn thủy. Cũng có khi bức tranh vẽ thuần một vẻ, hoặc toàn trời, hoặc toàn bể, mới trông tưởng là không có "biến chuyển" chút nào mà nh́n kỹ màu sắc phong phú là dường bao! Tuy là một mảnh trời bể mênh mông, trơ trọi không có ǵ khác, chỉ có mây với nước, mà mắt ta nh́n, tinh thần ta như đi theo, mộng du trong khoảng không vô tận. Ấy cũng là bởi khéo chuyển biến mà mắt nh́n không chán.

Thích nghi th́ khác. Thích nghi là ở cách xếp đặt thế nào cho hợp với cảnh ngoài. Như cây đa cây đề, phải mọc chỗ đất cao có h́nh thế mới xứng đáng. Nếu vẽ vào đất thấp, không có bề thế th́ tất nhiên không thích nghi. Bài văn cũng vậy, chỗ nào lời nên b́nh dị phải b́nh dị, chỗ nào lời nên hùng hồn phải hùng hồn, đương nghiêm trang mà trào phúng, đương trào phúng mà nghiêm trang th́ khó nghe lắm, thế là không thích nghi.

Ấy trong sự đẹp có bấy nhiêu phần tử phân tích ra như vậy. Phải gồm được cả, đủ thỏa thích cả cảm t́nh cùng lư trí, mới thật là đẹp. Khi nào bấy nhiêu phần tử điêu ḥa bằng nhau, đều đặn không bên nào hơn bên nào kém, thế là chân mỹ. Khi nào hoặc kém hoặc hơn không cân nhau th́ hoặc gọi là diễm lệ, hoặc gọi là hùng tráng.

Vậy thử xét ba thứ đẹp ấy khác nhau thế nào.

Chân mỹ là cái đẹp b́nh tĩnh trang nghiêm, như cái đẹp một bức tượng. Các nhà mỹ học thường nói nghề làm tượng là nghề dễ đến được chân mỹ. Bức tượng bằng đồng hay bằng đá bao giờ cũng vẫn có vẻ uy nghiêm, trái hẳn với những lối mỹ lệ tầm thường, mà bao giờ dáng điệu cũng điều độ, h́nh thể cũng chỉnh tề, không hẳn với những lối hùng tráng cao kỳ.

Diễm lệ là cái đẹp hơi kém bề mạnh mẽ trang nghiêm, có vẻ sinh hoạt, có duyên đậm đà, nhưng phần "chuyển biến" nhiều hơn phần "nhất trí". Diễm lệ là cái đẹp mà hoặc trong sự mệnh ư, trong cách h́nh dung có kém phần lực lượng. Như thơ th́ lối ca từ là thuộc về thể diễm lệ. Cái đẹp của các thứ hoa, cái đẹp của cây liễu thướt tha, cái đẹp của con ong cái bướm, của các giống vật bé nhỏ xinh xinh, là cái đẹp diễm lệ.

Hùng tráng là cái đẹp mà bề mạnh mẽ nghiêm trang lên đến cực điểm, sự vận động, sự sinh hoạt cương cường kịch liệt, mà phần nhất trí, phần chỉnh đốn có kém. Nói rằng phần chỉnh đốn có kém, không phải là tuyệt nhiên không có chỉnh đốn. Hỗn độn ǵ bằng cái cảnh bể khơi đương khi gió băo, thế mà trong sự hỗn độn vẫn có phép tắc, v́ ngắm cảnh ấy mà biết phép tạo vật dữ dội thế nào, cổ lai vẫn thường như thế, nhất định như thế, không bao giờ sai. Nếu dữ dội mà không có phép tắc ǵ, nhấy thiết hỗn độn cả, th́ tất ghê sợ mà không cảm phục được. Đẹp hùng tráng là cái đẹp lớn lao mạnh mẽ khiến phải cảm phục. Núi cao, thác lớn, rừng rậm, bể khơi, cảnh hùng tráng thường là cảnh thiên nhiên.

Nói rút lại, diễm lệ là cái đẹp thông thường, chân mỹ là cái đẹp chỉnh đốn, hùng tráng là cái đẹp cao kỳ.

Mỹ cảm là cảm giác ai cũng có. Nhưng thường phảng phất, không mấy người hiểu rơ căn nguyên tính cách thế nào. Trở lên theo các sách triết học Tây mà giải nghĩa đẹp là ǵ. Coi đó th́ biết trong cái đẹp gồm bao nhiêu "chất" ở đấy; phải phân biệt cho rơ mới đủ tài liệu để thưởng thức sự đẹp. Nay thử kết luận mấy câu mà so sánh cái cách người Đông phương với người Tây phương cảm giác sự đẹp khác nhau thế nào. Đại dể th́ người Tây hiểu nghĩa đẹp rộng hơn người Đông. Phàm hiện tượng ǵ trong trời đất, công tŕnh ǵ của người ta, loài giống ǵ trong vạn vật, mắt trông thấy, tai nghe thấy, ḷng tưởng đến, trí nghĩ đến, mà hứng khởi cảm phục, vui vẻ khoan khoái, người Tây cho là thuộc về đẹp cả. Nên thường không câu nệ phải theo lề lối, phải hợp phép tắc miớ công nhận là đẹp. Người Đông phương ta th́ trong cách cảm giác sự đẹp, trong cách h́nh dung sự đẹp, có ư miễn cưỡng, có ư kiểu sức, không được tự do, không được tự nhiên. Cái đẹp đă có mẫu sẵn, mẫu ấy di truyền từ đời nọ sang đời kia, h́nh như đă in sâu vào trong trí năo người ta, trước khi công nhận sự ǵ vật ǵ là đẹp. Đàn bà phải môi son má phấn, vóc liễu mày ngài mới là đẹp. Đàn ông phải diêm dúa chỉnh tề, tới lui điều độ mới là đẹp. Cho đến văn chương tư tưởng cũng phải theo quy củ nhất định mới là đẹp. Bởi quan niệm về sự đẹp có phần bó buộc hẹp ḥi như thế, nên mỹ thuật văn chương kém bề mới mẻ đặc sắc. Trong ba cách đẹp như trên đă giải, cái đẹp của Đông phương ta có lẽ thiên về phần diễm lệ mà thiếu về phần hùng tráng vậy. /. Phạm Quỳnh (1892-1945