báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

       [Bài Viết - Article]                                                                           

 
TIN TỔNG HỢP Ngày 01/5/2019: Phi Công Đài Loan "bắn nhầm" mồi nhữ tên lửa vào PLA

 


Bản báo cáo của Công Tố Viên Robert Mueller
Cuộc mạn đàm bàn về Bản Báo Cáo của Công Tố Viên Độc Lập Robert Mueller đă được công bố vào Thứ Năm 18/4/2019, sau hai năm điều tra Tổng Thống Donald Trump bị cáo buộc thông đồng với Nga. Trân trọng, Bùi Dương Liêm
3

***

Những ǵ tôi nh́n thấy khi ỹ thua cuộc
(Tác giả: David Hume Kennerly, nhiếp ảnh gia của Tổng thống Mỹ Gerald Ford Ngô Bắc (biên dịch)

Tâm trạng chán nản, thất vọng không thể giấu diếm hiện rơ trên nét mặt những nhân vật quyền lực của chính quyền Mỹ thời bấy giờ, được ghi lại qua những bức ảnh tư liệu quư giá vào đúng lúc kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam.

LTS: Cuốn sách “Những biên bản cuối cùng tại Nhà Trắng: Phút sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật phối hợp với Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông xuất bản nhân dịp kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2019) vừa ra mắt, được bạn đọc chào đón. Được sự đồng ư của Viện Nghiên cứu Phát triển Phương Đông, phóng sự “Từ Sài G̣n tới Nhà Trắng – Những ǵ tôi nh́n thấy khi Mỹ thua cuộc” của David Hume Kennerly, nhiếp ảnh gia của Tổng thống Mỹ Gerald Ford in trong cuốn sách đặc biệt này.

Nhiếp ảnh gia David Hume Kennerly

David Hume Kennerly là một nhiếp ảnh gia, một nhà báo Mỹ, từng giành giải Pulitzer năm 1972 cho những bức ảnh chụp về chiến tranh Việt Nam, Campuchia, về người tị nạn Đông Pakistan… Là nhiếp ảnh gia riêng của Tổng thống Mỹ Gerald Ford, Kennerly đă có cơ hội chứng kiến và ghi lại những khoảnh khắc lịch sử trong chuỗi ngày cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam.

Tâm trạng chán nản, thất vọng, lo âu là điểm chung không thể giấu diếm hiện rơ trên nét mặt những nhân vật quyền lực của chính quyền Mỹ thời bấy giờ, đă được ghi lại qua những bức ảnh tư liệu quư giá vào đúng lúc kết thúc cuộc chiến tranh dai dẳng, đẫm máu ở Việt Nam.

Lời tự sự của nhiếp ảnh gia David Hume Kennerly:

“Tôi đă có một chỗ ngồi hàng đầu cho hồi kết cuộc của cuộc chiến tranh Việt Nam – một cuộc chiến mà tôi đă trải qua hơn hai năm trong đời ḿnh để tường thuật tại chỗ cuộc giao tranh.

Câu chuyện Việt Nam của tôi bắt đầu hồi đầu năm 1971, khi hăng thông tấn United Press International chỉ định tôi sang văn pḥng tại Sài G̣n để thay thế nhiếp ảnh gia Kent Potter, người sắp được luân chuyển. Anh ta không hề có được cơ may đó. Vào tháng 2-1971, Potter và ba nhiếp ảnh gia khác đă gặp nạn khi máy bay trực thăng của họ bị bắn rơi tại Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Larry Burrows của tờ Life, Henri Huet của hăng AP, và Keisaburo Shimamoto của tờ Newsweek nằm trong số những người tử nạn. Tôi không quen biết bất kỳ ai trong số các nhiếp ảnh gia hàng đầu đó, nhưng Burrows từng là một anh hùng, và các bức ảnh của ông đă truyền cảm hứng khiến tôi ước muốn được tường thuật về cuộc chiến.  Một ít tuần sau đó, tôi đă ở trên một phi cơ bay đến Sài G̣n.

Tôi đă trải qua hơn hai năm để chụp ảnh cuộc giao chiến tại Đông Dương, và vào năm 1972, tôi đă được trao giải thưởng Pulitzer cho công việc của ḿnh tại Việt Nam, Campuchia và Ấn Độ, nơi tôi đă chụp ảnh dân tỵ nạn chạy trốn qua biên giới từ Đông Pakistan.

Việt Nam đă trở thành một phần trong ADN của tôi; mọi điều xảy ra cho tôi kể từ khi đó đă được định h́nh. Tôi ở tuổi 24, và năm đầu tiên với tư cách một nhiếp ảnh gia mặt trận, có quá nhiều lần suưt chết, tôi thực sự không hề nghĩ rằng ḿnh c̣n sống được tới tuổi 25. Khi kỷ niệm kỳ sinh nhật đó tại Sài G̣n, tôi cảm thấy mỗi năm sau đó là một bổng lộc trời cho.  Cho đến nay, phần lộc trời đó đă được cộng thêm tới 43 năm! Tôi đă cố gắng tận dụng các năm tháng đó cho thật xứng đáng.

Tôi đă quay trở lại nước Mỹ hồi giữa 1973 để làm việc cho tờ tạp chí TIME. Một trong những nhiệm vụ ngay từ đầu của tôi là vụ x́-căng-đan Watergate, và tôi cũng được chỉ định chụp ảnh vị lănh đạo khối thiểu số tại Hạ Viện Gerald R. Ford sau khi Phó Tổng Thống Spiro Agnew từ chức vào mùa thu năm đó.  Một bức ảnh mà tôi đă chụp ông Ford được in trên trang b́a của tờ TIME khi Tổng Thống Nixon loan báo rằng ông Ford sẽ thay thế Agnew làm tân Phó Tổng thống. Tờ TIME sau đó cử tôi phụ trách đưa tin toàn thời gian về ông Ford. Khi Tổng Thống Nixon từ chức, và ông Ford lên thay thế, ông đă yêu cầu tôi trở thành nhiếp ảnh gia chính của ông.

Đi cùng với công việc đó là sự tiếp cận hoàn toàn, không chỉ với Tổng thống và gia đ́nh, mà c̣n với mọi sự việc diễn ra trong hậu trường. Sự kiện này quả là một niềm vinh dự, tạo sự phấn khích cuồng nhiệt và là một trong những sự tưởng thưởng lớn nhất về mặt cá nhân và nghề nghiệp trong cuộc đời tôi.

Vào ngày 3-3-1975, sáu tháng sau khi khởi đầu nhiệm kỳ Tổng thống của ông Ford, Nam Việt Nam đă bắt đầu tan ră khi Quân Đội miền Bắc tấn công vào thành phố cao nguyên miền trung Buôn Mê Thuột.  Sau vài ngày giao tranh dữ dội gây ra hàng ngh́n tổn thất nhân mạng, thành phố then chốt đó rơi vào tay quân đội miền Bắc Việt Nam. Đây là bước khởi đầu cho sự kết liễu của chính quyền Nam Việt Nam.

Cuộc sống trước đây của tôi như một kẻ chụp ảnh chiến tranh đối nghịch với công việc mới nhất của tôi với tư cách nhiếp ảnh gia của Tổng thống. Tôi lặn sâu vào bên trong Nhà Trắng với tư cách nhiếp ảnh gia của Tổng thống, và được trao cho một cơ hội độc đáo vô song để nh́n thấy một cuộc chiến tranh nổ tung từ các sảnh đường của quyền lực. Sự tiếp cận đặc biệt này cũng đă dẫn đến một cuộc du hành bí mật đến Việt Nam với một sứ mệnh đặc biệt cho Tổng thổng Ford – và sau đó trở lại Nhà Trắng chứng kiến hồi kết cuộc của vở kịch Việt Nam.

Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975 là những ngày khốn khổ cá nhân khi màn cuối cùng của bi kịch Việt Nam mở ra. Tôi đă không ngủ, và đă tận lực để bảo đảm rằng tôi đă chụp ảnh mọi khoảnh khắc mà tôi có thể chụp được của chuỗi ngày chung cuộc căng thẳng này. Cùng lúc với việc có được điều kiện độc đáo khi ghi nhận các biến cố được khai mở ra, tôi cùng bị vắt cạn về mặt xúc cảm bởi các t́nh huống. Trong suốt bản thân cuộc chiến, tôi đă lướt qua sự đau đớn của ḿnh để thu thập chứng liệu của câu chuyện, và tôi đă làm y như thế trong suốt những ngày cuối cùng đó.  Tôi cũng hiểu biết rằng chỉ một nhóm nhỏ những người với quyền hành khổng lồ đă đưa ra các quyết định t́nh h́nh đời sống của chúng ta. Họ là những người đă khởi sự và kết thúc các cuộc chiến tranh. Từng là một người chỉ luôn đứng bên ngoài, thật sững sờ khi nh́n thấy tiến tŕnh đó chuyển động ra sao.

  

Mới chỉ vài năm trước đây, tôi đă tận lực với một động lực muốn thu thập chứng liệu các biến cố từ đầu mút phía bên kia – và sẽ ở hàng đầu khi hành động diễn ra. Hay tôi đă nghĩ như thế. Không lâu sau đó, tôi nhận thấy ḿnh đang ở tâm điểm của một hoạt động kiểu khác – quan sát và ghi nhận sự đau đớn của những quyết định về việc sống, chết và tương lai của các dân tộc lần lượt được một vị Tổng thống đưa ra cho đến khi không c̣n quyết định nào nữa để đưa ra.  Và khi đó, cuộc chiến tranh Việt Nam đă trôi qua.

Đây là sự tường thuật và các h́nh ảnh của tôi về những ngày cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam và sự sụp đổ của Sài G̣n. Lời trích dẫn trực tiếp từ những người tham dự được rút ra từ các biên bản được giải mật các phiên họp của Hội đồng An ninh Quốc Gia, Bản ghi nhớ các cuộc đàm thoại, các phiên họp của Nội Các Chính Phủ, các buổi họp báo của Ṭa Bạch Ốc, quyển sách của Tổng Thống Ford, nhan đề A Time To Heal, quyển sách của Donald Rumfeld, Known and Unknown, và quyển tự thuật của chính tôi, Shooter.”

Ngày 16-3-1975: Quân đội miền Bắc Việt Nam đang ở Huế, và di chuyển xuống Đà Nẵng. Nguy cơ tất cả các tỉnh phía bắc của Nam Việt Nam sẽ lọt vào tay các lực lượng cộng sản đang tiến tới. Vào ngày 25-3, Tổng thống Ford họp trong Pḥng Bầu Dục với Tham mưu trưởng Lục Quân Hoa Kỳ, Đại Tướng Frederick Weyand và Đại Sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam, Graham Martin.

Tổng thống thảo luận việc phái Đại tướng sang Sài G̣n thực hiện sứ mệnh t́m hiểu sự việc để xem xét bất kỳ điều ǵ có thể làm được hầu ngăn chặn làn sóng tiến quân của Bắc Việt. Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Cố vấn An ninh quốc gia Henry Kissinger, và trợ lư của ông, Tướng Brent Scowcroft, cũng tham dự phiên họp. Bức ảnh tôi chụp Tướng Scowcroft tại văn pḥng trong Nhà Trắng khi ông nói chuyện qua điện thoại với một đồng sự phản ảnh mức độ trầm trọng của t́nh h́nh. 

Ngày 25-3-1975: Tổng Thống Ford nói với Tướng Weyand, “Ông Fred, ông sẽ đi cùng với ông Đại sứ. Đây là một trong những công tác có tầm quan trọng nhất mà ông từng được giao phó. Ông không đi đến đó để thất trận – mà để cứng rắn và xem xét những ǵ chúng ta có thể làm được". Tổng Thống nói tiếp, “Chúng tôi muốn có các khuyến cáo của ông về những điều có thể mạnh bạo và gây chấn động cho miền Bắc. Tôi tiếc rằng tôi không có thẩm quyền để làm một số việc mà Tổng thống Nixon có thể làm”. Ông Kissinger có hỏi, “Đâu là t́nh h́nh thực sự và tại sao? Những ǵ có thể được làm?” Tướng Weyand trả lời, “Chúng tôi sẽ mang về một đánh giá tổng quát và mang lại cho họ (Nam Việt Nam, chú thích của người dịch) một mũi tiêm hồi sức". 

Ngày 25-3-1975: Sau khi họ rời khỏi pḥng họp, tôi đă chụp bức ảnh một ḿnh Tổng thống trong văn pḥng, thể hiện rơ sự thất vọng. Chúng tôi đă nói về chuyến đi, và tôi đă nói với ông rằng, bởi kinh nghiệm sâu rộng của tôi tại Việt Nam, tôi muốn đi cùng với Đại tướng Weyand. Tổng thống đồng ư và nói rằng ông sẽ trông chờ tôi mang về cho ông một quan điểm thẳng thắn và vô tư như thường lệ khi tôi trở về. Văn pḥng của tôi ở tầng hầm dưới đất của Ṭa Bạch Ốc, và tôi đă ghé ngang để nói với nhân viên của tôi rằng tôi sẽ sớm ra đi cho một chuyến du hành vào ngày hôm sau. Tôi đă treo một tấm bảng trên cửa ra vào, ghi rằng: “Đi Việt Nam.

Sẽ quay về trong ṿng hai tuần lễ".  Các nhân viên nghĩ tôi đùa giỡn cho tới khi tôi không có mặt tại văn pḥng ngày sau đó, hay trong gần hai tuần lễ. Vào lúc muộn hơn buổi tối hôm đó, tôi đến chào tạm biệt ông bà Ford và hỏi mượn Tổng thống một khoản tiền. Đây là những ngày chưa có máy rút tiền tự động ATM. “Các ngân hàng đă đóng cửa, và tôi sẽ ra đi trước khi chúng mở cửa” tôi nói.  Ông Ford rút tất cả những tờ giấy bạc mà ông có trong ví. “Đây này, 47 đô la, ông nói, “Đừng tiêu hết một lúc nhé!”. Sau đó ông trở nên nghiêm trọng, đặt cánh tay lên vai tôi, và nói, “Nhớ cẩn thận".

Ngày 26-3-1975: Máy bay của Đại tướng Weyand, một chiếc C-141 của Không Lực, dừng lại để đổ thêm nhiên liệu tại Anchorage [bang Alaska. nd] và Tokyo trước khi đến Sài G̣n 24 giờ sau đó. Trên máy bay, tôi làm quen với Ken Quinn, một nhân viên trẻ của Hội đồng An ninh quốc gia chuyên về Đông Nam Á. Tôi đă dùng thời giờ trong chuyến đi, và đă có dư thời giờ, nói chuyện với George Carver and Ted Shackley, hai viên chức cao cấp của Cơ quan CIA.

Họ là những người làm việc núp sâu trong bóng tối và là các tham dự viên quan trọng trong thiên hùng ca Việt Nam. Sau khi tới Việt Nam, Ken và tôi được chỉ định làm bạn cùng pḥng tại khu nhà của Đại sứ Martin ở Sài G̣n. Vào lúc đó, cuộc di tản chính thức của người Việt Nam chưa diễn ra. Tuy nhiên, Ken và các đồng sự của anh ta đă biết rằng sắp có sự kết thúc.

Tôi khám phá ra rằng Ken và một số nhân viên đồng sự tại Hội đồng An ninh quốc gia đang điều hành một mạng lưới hữu hiệu, rộng lớn và rất không chính thức để âm thầm giúp cho hàng ngh́n người Việt đồng minh thoát ra ngoài đất nước và đến nơi an toàn. Các cơ quan thông tấn Mỹ cũng lo lắng nhiều về sự an toàn của các nhân viên Việt Nam và thân nhân của họ.

Tôi đă thu xếp một cuộc gặp mặt không chính thức với Đại sứ và Art Lord, đại diện cho giới truyền thông, dẫn tới một tiến tŕnh không chính thức để bắt đầu đưa một số trong những người đó ra khỏi xứ sở. Ông Đại sứ nghĩ rằng một số người của các cơ quan thông tấn này giả dối bởi trong khi họ yêu cầu sự trợ giúp để đưa người của họ đến nơi an toàn, họ lại đang tường thuật rằng sẽ không có sự trả thù đối với người dân Nam Việt Nam nếu Miền Bắc nắm chính quyền.

Ngày 29-3-1975: Tôi không phải là thành phần của các buổi thuyết tŕnh chính thức của Đại tướng Weyand, nhưng cùng lúc tôi đă có một chỉ thị rất cá nhân từ Tổng thống Ford, muốn tôi cung cấp cho ông quan điểm trực tiếp của chính tôi về t́nh h́nh. Tôi quyết định đi lên hướng Bắc. Đà Nẵng đă nằm ngoài tầm tay, bởi trong thực tế đă nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt, v́ thế tôi t́m cách ra Nha Trang, một thành phố nhỏ cách Đà Nẵng 300 dặm về phía Nam, đă sẵn bị tràn ngập bởi dân tỵ nạn. Khi đến nơi, tôi nhận thấy Montcrieff Spear, Tổng Lănh sự Mỹ tại Nha Trang, đang chuẩn bị rời đi. Vợ ông ta thực ra đang đóng gói hành lư khi tôi đến thăm. Tuy nhiên, trước khi có thể rời đi, ông cần đi t́m người đồng nghiệp là Tổng Lănh sự Al Francis, người đă chạy khỏi Đă Nẵng.

 

Ngày 30-3-1975: Spear và tôi đă lấy một máy bay trực thăng của Không quân Mỹ ra Vịnh Cam Ranh để đi t́m Francis, người đă t́m cách thoát ra khỏi Đà Nẵng trên một chiếc tàu bị bắt cóc bởi các binh lính Nam Việt Nam trốn chạy. Tôi đă nh́n thấy một chiếc tàu lớn chen chúc bởi hàng ngh́n binh sĩ, và ít nhất một kẻ trong họ, trong nỗi thất vọng về t́nh h́nh, tôi đoán, đă khai hỏa vào chiếc trực thăng sơn cờ Hoa Kỳ. Họ bắn hụt nhưng khiến cho viên phi công phải đánh một ṿng quay ngược lại thật kinh hoàng. Biến cố đă tạo ra một tin tức dội ngược về Hoa Kỳ, và bố mẹ tôi – không hay biết rằng tôi đang có một sứ mệnh bí mật tại Việt Nam – đă điện thoại đến Ṭa Bạch Ốc. Họ ngạc nhiên khi được nối dây nói chuyện với chính Tổng thống Ford – các nhân viên tổng đài điện thoại tại Nhà Trắng biết quá rơ về tôi!! Tổng thống vừa được thuyết tŕnh về biến cố, và ông nói với bố mẹ tôi rằng tôi an toàn, song quá mạo hiểm.

Tác giả: David Hume Kennerly, nhiếp ảnh gia của Tổng thống Mỹ Gerald Ford

Ngô Bắc (biên dịch)

 

"
Toàn văn lời tuyên chiến với Chủ nghĩa Cộng sản của Donald Trump - Thuyết minh tiếng Việt

 
Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

 

Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Việt Nam Ngày Mai

 


VÙNG LÊN DẪU PHẢI HY SINH


(Bài thơ này xin được là sự cảm thông, là niềm chia sẻ và cũng là tiếng kêu tha thiết, đau thương gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam. Mong những người đảng viên yêu nước, những người chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Cộng Sản, những người công an có trái tim tiến bộ đă thức tỉnh và đă đau ḷng v́ thực chất dă man lừa mị của Đảng CSVN, xin mau can đảm và oanh liệt đứng lên làm cuộc cách mạng, viết lại trang sử  thật sự hào hùng v́ thời điểm đă đến để cứu dân, cứu nước trước khi qúa muộn.)
 
 
Công an Việt cộng giết người
Nghi Sơn, Mai Động lại nơi Cồn Dầu ( 1)
Lỗi dân chẳng thấm vào đâu
Công an, lệnh đảng hiểm sâu th́ đầy
Luật rừng Đảng nắm trong tay
Đă ḷng dă thú lại say máu người
Cuối cùng, chỉ khổ dân thôi
Thấp cổ bé miệng, kêu trời, trời cao !
Cơn đau chưa ngớt lệ trào
Hờn oan ngập mộ, máu đào c̣n tươi
Sao thêm cơ khổ, hỡi trời
Công an giết nữa, giết người Bắc Giang ! (2)
Lái xe thiếu mũ an toàn
Mà công an lại giết oan mạng người !
Anh nh́n em chết, hồn tơi
Mẹ nh́n con chết, nát đời theo con 
Công an thỏa dạ, cười gịn
Mừng nhau thành tích vuông tṛn, kém ai
Tin buồn, Tỉnh để ngoài tai
Rượu nồng, thịt béo cho dài cuộc vui 
Mặc dân oan khổ dập vùi
Mặc công an cứ giết người tàn hung
Ngai vàng Đảng vẫn ...anh hùng
Trên ngôi cao Đảng xé tung sơn hà
Đảng đem máu thịt Ông Cha
Tây Nguyên, Quan - Giốc, Hoàng Sa dâng Tàu !
Dân, ai xót nước, ḷng đau
Đảng kêu phản động nhốt mau vô tù !
Hay là vẽ tội, đảng vu
Đem dân giết kiểu oán thù, dă man !!!
 *
V́ Hồ mà nước Việt Nam
Người dân chết với hờn oan ngập trời ! ...
Ba miền dân tộc ta ơi
Vùng lên lấy lại cuộc đời ... Vùng lên !!!
Nếu ta khuất phục bạo quyền
Là cho phép đảng ngang nhiên giết ḿnh !

Vùng lên, dẫu phải hy sinh
Mà lưu hậu thế công tŕnh ngàn thu !!!

-Ngô Minh Hằng (thơ)

**
 1 - 
a- Ngày 3 tháng 7 năm 2010 anh Nguyễn Năm, giáo dân thuộc ban tang lễ giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng khi được công an thả ra, về đến nhà th́ chết, khi tẩm liệm thân nhân phát hiện miệng và tai nạn nhân c̣n trào máu tươi ra chứng tỏ đă bị đánh đập chấn thương sọ năo. Ông Năm là một trong số những người bị công an thành phố Đà Nẵng điều tra liên quan đến sự chống đối của người dân trong đám ma của một bà cụ hồi đầu tháng 5.

b-  Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, trú tại tổ 5 phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội, khi được công an quận Hai Bà Trưng “mời” lên làm việc vào chiều ngày 21 tháng 1, 2010, đến rạng sáng ngày 22 tháng 1 đă bị tử vong trên đường tới BV Thanh Nhàn với rất nhiều dấu vết trên thân thể chứng tỏ đă bị nhục h́nh.

c - Ngày 25 tháng 5 năm 2010 công an ở Nghi Sơn, khi đàn áp dân biểu t́nh chống cưỡng chế đất đai đền bù bất công, đă bắn chết một học sinh 12 tuổi. Một nạn nhân khác bị bắn trúng đầu đă chết ở bệnh viện ngày 30 tháng 5, 2010.
 
Ngoài ra, ngày 8 tháng 6 năm 2010, người ta phát hiện xác một người dân nằm ở ven quốc lộ 6A huyện Chương Mỹ, Hà Nô.i. Cuộc điều tra cho thấy anh Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi, đă bị một nhóm công an đánh gẫy xương sườn, vỡ nội tạng mà chết.

2 - Khoảng 18 giờ ngày 23/7 anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê xă Hồng Thái, huyện Việt Yên đi xe máy biển kiểm soát 98M9-3894 chở chị Phạm Thị Ngoăn, 20 tuổi, quê xă Mỹ Hà, huyện Lạng Giang (cùng tỉnh Bắc Giang ) v́ có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên. Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên bắt giữ v́ không đội mũ bảo hiểm. Công an đă đưa phương tiện và người vi phạm vào trụ sở để lập biên bản xử lư.  Đến 2 giờ 30 ngày 24/7, công an bàn giao tử thi cho gia đ́nh anh Khương mai táng. Thi thê? anh Nguyễn Văn Khương có nhiều dấu vết chứng to? bi. công an đánh chết và loan tin anh chết do xư? dụng ma túy.

  -Ngô Minh Hằng (thơ)