báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

                                                          *  hoạt động từ 26/4/2008  *
                      

"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

                                                                                                                                              



 

 

 

Video Chết Dưới Tay Trung Quốc #1 =>#4 - Sách Hay của Peter W Navarro và Greg Autry

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kính chuyển với ư kiến:

Nh́n danh sách những người diễn giả, có 2 người mà từ nhiều năm qua đă bộc lộ khuynh hướng chính trị thân Cộng rất rơ nét.

1.- Trần Kiêm Đoàn sau 1975 là Hiệu Phó kiêm Bí Thư Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chi Minh của trường Trung Học Nguyễn Tri Phương Huế. Từng đứng trước đám đông tại Huế chửi rủa Mỹ Ngụy!

Sau này ở Mỹ, cũng nhiều lần về VN tham dự các hội nghị Việt Kiều Yêu Nước, đại hội Phật Giáo Quốc Doanh.  Trần Kiêm Đoàn đă viết bài thơ “Về Nguồn” ca tụng Phạm Duy khi anh nhạc sĩ này ṃ về theo VC. Y cũng viết vài bài đang trên tạp chí “Nguồn” để  ca tụng tên thiền sư Nhất Hạnh, xuyên tạc biến cố Tết Mậu Thân. (xin mở tài liệu đính kèm 24 trang về TKĐ)

2.- Người thứ hai là Đỗ Qúy Toàn, tay bỉnh bút của nhật báo Người Việt. Lập trường ông này cũng rất đáng ngờ v́ lúc th́ tỏ ra chống Cộng, lúc th́ thiên Cộng!

Ngoài ra, những người khác đều không rơ về lập trường.

Nhưng điều rơ nhất ở đây là chỉ những người đồng quan điểm mới tụ hội với nhau và phỏ biến cho nhau!

____________________________________

Michael Do (Do Van Phuc)
Chairman of the Board of Directorss.
The Vietnamese American Community of the USA
https://vacusa.wordpress.com
http://tienggoicongdan.com/
http://michaelpdo.com/


Vietnamese Communists must render FREEDOM, DEMOCRACY and HUMAN RIGHTS to the people before a political defeat would cost them their livelihood and even their lives.

 

***

 

----- Forwarded Message -----

From: Nancy Bui <nancy@vietnameseamerican.org>

To: NancyBui Trien <nancy-bui@sbcglobal.net>

Sent: Sunday, October 27, 2019, 03:15:06 AM CDT

Subject: Fwd: Nhóm Sử Gia trẻ tiếp tục nghiên cứu về Việt Nam Cộng Ḥa 

Xin kính chuyển để kính tường. Xin chuyển tiếp nếu có thể. Đa tạ

Nhóm Sử Gia trẻ tiếp tục nghiên cứu về Việt Nam Cộng Ḥa

Hội luận “Tiếng Nói Thường Ngày từ Miền Nam

Đời Sống Dân Sự Trong Chiến Tranh Việt Nam”

                                                   * Alex-Thai Vo

:Trưởng Khoa Bích chương của Hội luận: “Tiếng Nói Thường Ngày Từ Miền Nam. Đời Sống Dân Sự Trong Chiến Tranh VN”. 

Tiếp nối các hội thảo khoa học về Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức năm 2012 tại Đại Học Cornell University, năm 2016 tại Đại Học University of California, Berkeley và vào ngày 14-15 tháng 10 vừa qua tại Đại Học University of Oregon, hội luận: “Tiếng Nói Thường Ngày từ Miền Nam: Cuộc Sống Dân Sự Trong Chiến Tranh Việt Nam” [Voices from The Everyday South: Civilian Lives during the Viet Nam War) vào Thứ Sáu, ngày 1 tháng 11, 2019, từ lúc 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Buổi hội luận sẽ diễn ra tại Lutnick Library 200, Haverford College, 370 Lancaster Avenue, Haverford, PA 19041.

Buổi hội luận này sẽ có sự tham dự của nhiều diễn giả hiện là những người Mỹ gốc Việt, tiếng nói của họ qua các bài tham luận sẽ đại diện cho nhiều vùng miền nam Việt Nam và nhiều lĩnh vực trong đời sống xă hội văn hoá dưới thời Việt Nam Cộng Hoà (VNCH), giai đoạn 1954 đến 1975. 

Ngoài trưởng Ban Tổ chức Trưởng Ban Hậu Tiến Sĩ tại Đại Học University of California Nguyễn Dịu Hương, với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài liệu của Alex Thai Vơ, c̣n có sự đóng góp của 7 thuyết tŕnh viện gồm một cựu sinh viên Y khoa và Bác sĩ tại Sài G̣n, một cựu Thầy giáo dạy Trung học tại miền núi từng bị Mặt Trận Giải phóng Miền Nam bắt trong đợt Tổng Công Kích Mậu Thân, một nhà kinh doanh từng sống tại Đà Nẵng, một Thầy giáo dạy Trung học tại Huế, một tín đổ Cao Đài, một nhà báo, và một họa sĩ.  

Những mô tả về trải nghiệm thường nhật, những mối quan hệ xă hội, sinh kế của các nhóm cư dân thuộc các ngành nghề khác nhau ở các vùng miền khác nhau v.v. hy vọng sẽ góp phần dựng lại không khí của một thời đại lịch sử khi những biến động về chính trị và quân sự dường như làm lu mờ đi những đường nét sinh động của đời sống cá nhân con người, cả trong hiện thực cuộc sống và trong nghiên cứu lịch sử cho tới nay.

 Những câu chuyện đời thường muôn mầu muôn vẻ của những cư dân VNCH sẽ làm phong phú và sáng tỏ thêm một phần đời sống văn hoá xă hội thời kỳ này, một mảng lịch sử gần như vắng bóng trong lịch sử hiện đại Việt Nam.

Buổi hội luận diễn ra trong một ngày, chia làm ba tiểu ban (một tiểu ban sáng và hai tiểu ban chiều) và một thảo luận chung vào cuối ngày. Khán giả tới không cần đăng kư trước, vào cửa tự do. Thông tin và chương tŕnh hội luận xin vào Link: https://www.haverford.edu/…/voices-everyday-south-civilian-…. Mọi thông tin, câu hỏi xin liên lạc: Tiến sĩ Nguyễn Du Hương, email: hnguyen2@haverford.edu.

Ban Tổ Chức trân trọng Kính mời quư đồng hương đến dự buổi hội luận “Tiếng Nói Thường Ngày từ Miền Nam: Cuộc Sống Dân Sự Trong Chiến Tranh Việt Nam” để góp phần soi sáng lịch sử Việt Nam Cộng Ḥa, những bài học c̣n thiếu sót rât nhiều trong sử sách Việt Nam, Hoa Kỳ và trên toàn thế giới.

Chương tŕnh hội luận

Chào mừng và Giới thiệu: 9h-9h30 sáng

Tiểu ban 1, từ 9h30-11h30 sáng: Những Nền Tảng: Đọc, Viết và Chữ ở Việt Nam Cộng Ḥa

Trần Kiêm Đoàn: Cựu sinh viên Giáo dục và Giáo viên – Huế

Đỗ Quư Toàn Toàn: Nhà văn, nhà bỉnh bút (báo Người Việt, California) - Sài G̣n

Đặng Phương Thảo: Cựu sinh viên y khoa và Bác sĩ - Sài G̣n

Dùng trưa: từ 11h30sáng-1h chiều

Tiểu ban 2, từ 1h-2h30 chiều: Xa Thành Phố: Cuộc Sống Ven Biển và Vùng Núi

Nguyễn Thị T́nh: Nguyên chủ doanh nghiệp nhỏ của gia đ́nh - Tỉnh Quảng Ngăi

Hip Ksor: Cựu Giáo viên Jarai và Chuyên gia chính trị của Dịch vụ Phát triển Dân tộc thiểu số - Pleiku, Tây Nguyên

Tiểu ban 3, từ 3h-4h30 chiều: Tim và Hồn: Cuộc Sống Của Linh Hồn

Trịnh Cung: Cựu Sinh viên Mỹ thuật, Họa sĩ và Nghệ sĩ - Sài G̣n

Đỗ Văn Tâm: Cựu học viên tôn giáo Cao Đài - tỉnh Kiến Phong

Thảo Luận Bàn Tṛn: từ 4h30-5h chiều

 

***

Những điều cần biết về Trần Kiêm Đoàn

 

Để dễ phần biệt, những bài viết về Trần Kiêm Đoàn dùng kiểu chữ Arial; những bài, những đoạn trích của Trần Kiêm Đoàn sẽ dùng kiểu chữ Times New Roman.

Trần Kiêm Đoàn là Việt Cộng (gộc hay 30 tháng 4?)

Theo điện thư của một người ở Huế biết rơ hành tung của Trần Kiêm Đoàn sau khi VC chiếm Huế.

 

Date: Sat, 7 Nov 2009 14:26:39 -0800

From: nhandien@...

To: phinguyen383923@ ...

Subject: Tran Kiem Doan

Anh Đoàn !

Có lẽ anh không lạ ǵ tôi, Tôi là Em của Anh Nguyễn v Lũy, Huynh Trưỡng GDPT Hương cần , c̣n Anh là Huynh Trưởng GDPT Liễu Cốc Hạ mà người dân quê ḿnh thường gọi là làng Cạ Liệu Hạ . Ba anh là một Liệt Sĩ của Việt Cọng, anh tham gia hoạt động cho phong trào Thanh Niên Sinh Viên Thừa Thiên Huế , gồm Vơ Quê, Tô Nhuận Vỹ, Lê Phương Thảo,Hoàng văn Hoa, Chu Sơn , Nguyễn Sâm (bây giờ đang ở Úc) .

Sau 1975 ,anh diện Nón Cối, Dép râu mang Sắc Cốt , trông rất Oai về làng anh lên khán đài chửi chúng tôi là đồ Mỷ Ngụy , anh chửi không tiết lời, mà anh có biết rằng những tấm Ri để kê lên làm sân khấu ngoài trời cho anh đứng chửi chúng tôi là tên Xă Đội trưỡng Nguyễn Văn Ánh , bắt chúng tôi là những thanh niên Đen có nghĩa là chúng gọi chúng tôi là Ngụy , phải lên tận Chi Khu Hương Trà ( đóng tại cây số 9) để cứ 3 đứa, hai đứa đi trước một đi sau gánh một tấm Ri đi ba cây số với trong bụng đói v́ ăn sắn không anh ?. Lúc đó anh là Bí Thư Đoàn trường Trung học Cấp ba Nguyễn Tri Phương - Huế .

Tôi biết anh từ khi anh c̣n đi chiếc Honda dame màu đỏ nhà anh ở Tây Lộc lận , cho nên anh đừng nghĩ là không ai biết tông tích của anh hư ! Chính Ông Trầm Kiêm Mai ( Chánh Lục Sự Ṭa Thượng Thẩm Huế) là bác họ của Anh , Cụ Ấm Mai đang ở Fulleton, Nam California cũng chửi anh là thằng Láo khoét , v́ anh củng có thời gian nhờ ông Ấm Mai để đi học , và Ông Trần Kiêm Trợ Chú của anh đang ở Sacramento với anh cũng từ anh v́ anh là Việt Cọng ! Anh quá biết Ôn Đôn Hậu và Ôn Trí Quang hiện đang ở Già Lam là Việt Cọng thứ thiệt nhưng anh cố t́nh bào chửa ! anh nên nhớ giấy không gói được lửa .

Đă có lần tôi đă hỏi Ôn Tâm Hướng Chùa Vạn Phước là bạn rất thân với Ôn Trí Quang( hai vị nầy sinh cùng ngày , tháng , năm chỉ khác giờ sinh mà thôi) và Ôn Đôn Hậu là Sư Thúc của Tâm Hướng rằng có phải hai vị nầy là Việt Cọng không ôn ? và Ôn Tâm Hướng nói rằng :" Chạy đi mô" đó là nguyên văn Ôn Tâm Hướng trả lồi cho tôi . Tôi cũng đă có lần ngồi ăn cơm với ba vị nầy tại Chùa Vạn Phước gần Trường Đua Phú Thọ, Quận 10 - Sài G̣n ( ba vị nầy ngồi bàn trên và tôi ngồi bàn dưới). Cho nên cách viết của anh là sáo ngử "cả vú lấp miệng em" Khi anh gả con gái cho một thằng Việt Cọng qua Mỷ học Báo Chí về làng đám cưới ŕnh rang chính bà con tôi cũng có đi dự đám cưới đó anh ạ , quê ḿnh ai mà không biết Trần Kiêm Đoàn là Việt Cọng ! nhưng anh bị chúng vắt chanh bỏ vơ nên anh chạy mà thôi và câu nói cuối cùng tôi kết luận Anh là Trần Kiêm Đoàn : VIỆT CỌ^NG . Nếu anh cần đối chất tôi sẳn sàng , Anh muốn liên lạc với tôi th́ gọi BS Hồ Đắc Phương chồng của Oanh là Cháu gọi anh bằng Chú Ruột th́ chúng ḿnh gặp nhau. Mong anh đừng nói ba láp nửa , dù răng đi nữa anh củng là PhD chứ không phải PhO là bán Phở .

Thân ái Nguyễn Phi

PS: Nếu qúy độc giả nào biết Email của Trần Kiêm Đoàn th́ Fwd cho anh ấy dùm tôi, xin đa tạ > > Nguyễn Phi 2. 06-11-2009 07:47

_______________________________________________________________________

 

ĐÂY, THỰC CHẤT CỦA TRẦN KIÊM ĐOÀN!

Ngay sau khi vừa vớ được thông báo “thắng kiện”(!) của tà phái ma giáo Long Hoa, Trần Kiêm Đoàn đă vội vàng hồ hởi, phấn khởi đến mức mù quáng bưng ngay cha con tên giáo chủ đại gian ác Trương Quang Tuệ và con gái, tên Trương Thuỳ Trúc, lên bàn thờ, cung kính bái vọng làm Thiền Tổ và Quan Thế Âm bồ tát của Phật Giáo. Chẳng những thế mà thôi, Trần Kiêm Đoàn c̣n hăng hái viết bài kiểu “nhơi văn bú chữ” xưng tụng bọn đại bịp Long Hoa đăng trên báo Người Việt ở Bolsa với luận điệu non nớt, nông cạn và đạo đức giả.

Đọc bài của Trần Kiêm Đoàn, tuy có nhiều người đă từng biết hắn, từ năm 1963 vốn là tay sai trong đám “Phật Giáo Đấu Tranh Miền Trung” gồm có Hồ Công Lộ (hiện ở Úc), hỗn danh “vua xuống đường”, đă từng tham gia vào những vụ thảm sát đồng bào Thiên Chúa di cư ở Thanh Bồ, Đức Lợi năm xưa.

Bây giờ, để khắc hoạ chân dung của một kẻ u mê cuồng tín trong lực lượng PG quyết tử của miền Trung rơ nét hơn, cho mọi người khỏi lầm lẫn, chúng tôi xin trích lại nguyên văn đôi lời đơn giản sau đây của ông Trần Khôi đă phổ biến trên mạng lưới diễn đàn…

Kính thưa Quư Vị,

Ở Sacramento ai cũng biết Trần Kiêm Đ̣an là 1 Phật Tử tôn sùng ông sư Nhất Hạnh một cách cuồng tín. Nghe nói ông T.K. Đoàn c̣n có những tư tưởng thân Cộng, nên Hội Ái Hữu trường Đại Học Sư Phạm Huế đă quyết định không đăng bài của ông T.K. Đoàn trên cuốn Đặc San của trường và ông đă phải lên tiếng.

Do dó, việc ông T.K. Đoàn lên án ông Vơ Văn Ái hay ai ai nữa, không thành vấn đề để chúng ta quan tâm…

 

Trần Khôi

_______________________________________________________________________

 

Nhà báo VC Huy Đức viết về Trần Kiêm Đoàn

 

Ở Huế, chiều ngày 21-9-1975, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn trường Nguyễn Tri Phương Trần Kiêm Đoàn  được Thành đoàn Huế giao phối hợp với Đoàn trường Đồng Khánh, dẫn 200 đoàn viên theo cửa Thượng Tứ vào Đại Nội. Trước khi đi, Thành đoàn ra lệnh: “Chuẩn bị khăn gói, thức ăn ba ngày, sẵn sàng chiến đấu”. Ông Đoàn kể: “Tụi tôi hồi hộp: Mỹ quay lại hay binh lính Sài G̣n nổi dậy? Tới 3 giờ sáng th́ mới hay tin sáng mai đổi tiền. Khi ấy tôi c̣n trẻ, hào hứng với những cái mới nên nghe nói một đồng tiền mới giá trị bằng 500 đồng tiền cũ cũng có cái ǵ đó tự hào. Sáng ra vẫn tả xung hữu đột đôn đốc đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ”.

Nhưng, tới trưa, theo ông Trần Kiêm Đoàn: “Đi đâu cũng thấy dân kêu gào thất vọng. Ba giờ chiều, tôi tranh thủ về nhà, thấy vợ ngồi thẫn thờ, nước mắt lưng tṛng: Anh! Ḿnh trắng tay rồi!”. Mỗi gia đ́nh chỉ được đổi tối đa 100 ngh́n tiền Sài G̣n trong khi tiền mặt trong nhà vẫn c̣n tới gần mười triệu. Không chỉ nhà ông Đoàn, nhiều gia đ́nh buôn bán ở cửa Đông Ba, hàng xóm của ông, cũng đang kêu khóc.

Những người càng tin tưởng vào chế độ mới càng mất mát lớn hơn, v́ khi chiến tranh kết thúc, họ đă đào vàng lên bán, lấy vốn kinh doanh. Ông Đoàn kể: “Tôi trở về Đại Nội. Một vị chỉ huy lực lượng đổi tiền biết chuyện kêu lại nói:

‘Muốn đổi bao nhiêu cũng được nhưng phải chia 5:5. Về xóm coi có ai th́ kêu họ đổi luôn’. Tôi về lấy tiền và móc nối với mấy người trong xóm. Đúng là đổi bao nhiêu cũng được thật”.

Trích “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức (trang 41-42)

_____________________________________________________________________________

 

“BÊN THẮNG CUỘC” VẠCH MẶT THẬT TRẦN KIÊM ĐOÀN

 

LĂO MÓC

 

Như mọi người đều biết, trận Tổng công kích Tết Mậu Thân là một tội ác của của VC đối với dân chúng miền Nam; trong đó cuộc thảm sát tại Huế là do những tên đao phủ thủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Thị Đoan Trinh… gây ra. Cho đến nay, với những bằng chứng do nhân chúng sống Nguyễn Thị Thái Hoà đưa ra th́ bọn này đă phải ngậm câm miệng hến. Trong khi đó th́ lại có những kẻ cố gắng căi chầy, căi cối để bênh vục bọn này. Một trong những kẻ đó là Trần Kiêm Đoàn.

Sau ông tiến sĩ Trần Chung Ngọc và-những-con-tương-cận th́ Trần Kiêm Đoàn cũng rất xứng đáng để được gọi là “tiến sĩ Bác Hồ” v́, cũng như Trần Chung Ngọc, ông này ra mặt bênh vực Việt Cộng và bọn tay sai VC c̣n hơn cả chúng nó bênh vực chúng nó.

Năm 2005, khi:

Sư ông áo gấm về làng

Sư bà, đệ tử hai hàng bước theo

Sư ông mặc cả kỳ kèo

Đ̣i đảng Việt Cộng làm theo ư ḿnh

Đảng bèn… đánh đu với tinh

Cho phép tổ chức linh đ́nh đón đưa

Huyền Quang hoà thượng làm ngơ

Hoà thượng Quảng Độ cũng vô tịnh pḥng

Sư ông ôm lấy… chân không

Lọng vàng, hoa đỏ - sắc, không mịt mờ

Ôi chân tu! Ôi giả tu

Chúng sinh bá ngọ thứ đồ sư gian!

 

th́ ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn đă viết bài bênh vực thiền sư Nhất Hạnh và công kích Khu hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Sacramento đă dám phạm thượng nói đến chuyện:

Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn

Ới mảnh thiền y đă lấm bùn

Ới Nhất Hạnh ăn chay, ngủ mặn

Ới kinh nuôi kệ, kệ nuôi trôn!

của ông sư “ngày ăn chay, đêm ngủ mặn” này. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đă lập luận để bênh vực cho Giáo chủ phái Tiếp Hiện như sau: “Quan hệ t́nh dục hầu hết là hành động riêng tư và thường không có chứng cớ!Như vậy, những vụ vi phạm t́nh dục dù ở con người phàm tục hay tu hành, thông thường thế nhân không biết và kết luận được, v́ đó là một bí mật tuyệt đối và riêng tư của hai đương sự, thế nhân chỉ đoán dè chừng mà thôi.”

Đúng là Vua chưa lên tiếng mà Thái giám đă nóng mặt!

Năm ngoái, ông tiến sĩ này chắc là muốn được “nổi nang” nên đă làm chuyện “sát Phật thành Phật” viết bài lên giọng kẻ cả với ông Liên Thành, tác giả quyển sách “Biến Động Miền Trung” khi ông này đến Sacramento ra mắt sách, bị ông này đề nghị đối chất th́ ông “tiến sĩ Bác Hồ” bèn đánh bài tẩu mă. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” chơi kiểu này đúng là chơi chạy!

Sở dĩ nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này mắc nạn là v́ tên báo điện tử có một người cũng ở Huế xưng tên là Nguyễn Phi tố cáo ông Trần Kiêm Đoàn là “Việt Cộng nhưng bị vắt chanh bỏ vỏ nên chạy mà thôi”. Không thấy ông “tiến sĩ Bác Hồ” này trả lời, trả vốn ǵ cả. Trong khi ông Liên Thành viết sách tố cáo các Ḥa thượng Đôn Hậu, Trí Quang là Việt Cộng th́ ông “tiến sĩ Bác Hồ” đưa ra đủ thứ lập luận để bênh vực hai vị này. Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đúng là kẻ:

“Chân ḿnh th́ lấm lê mê

Lại cầm bó đuốc mà rê chân người!”

 

Ông “tiến sĩ Bác Hồ” này cũng đă từng viết bài bênh vực “tên nhạc sĩ màu da cam” Trịnh Công Sơn và trong vụ nhà văn Nguyễn Quang (ở trong nước) bị nhóm Cội Nguồn của ông Song Nhị ở San José quỵt tiền và hăm dọa đốt sách “Biển Đỏ”, ông tiến sĩ này có viết thư cho nhà văn Nguyễn Quang và khoe là đă được nhà xuất bản Trẻ và Thuận Hóa ở trong nước xuất bản 4 quyển sách, được công ty Phương Nam và Sahara in và phát hành, được hưởng 10% tiền nhuận bút, chứ không như ở Mỹ xuất bản sách không được đồng nào với mục đích bênh vực việc làm đốn mạt của Song Nhị và nhóm Cội Nguồn. Xem ra ông tiến sĩ này “bảnh” hơn mấy ông nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Bùi Vĩnh Phúc… nhiều.

 

Xin mời độc giả nghe ông “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn làm thơ con cóc “Về Nguồn” “ca tụng” “hai anh già không nên nết” Phạm Duy, Trần Văn Khê như sau:

“Người về nguồn

Mang tâm hồn ḿnh theo

Trái tim là chiếc đũa thần

Hoàn cảnh là nắng gió.

Phạm Duy đi trên phố Bolsa

Gặp một người Mỹ già

Gật đầu chào nhau

Như với một gă Tàu xa lạ.

Phạm Duy đi trên đường Hà Nội

Chợ Xuân đào và gió Xuân ca

Người hàng xóm nửa thế kỷ xưa

Nhận ra nhau và chào:

-Ông đă về và đă tới!

Trần Văn Khê đi trên phố Paris

Gặp một bà đầm già:

-Chào người châu Á

Sông Seine xanh bóng người xa lạ.

Trần Văn Khê đi giữa phố Sàig̣n

Khô nai, khô cá thiều và chợ Tết rất đông

Gặp ông Bảy đờn c̣

-Chào Thầy! Nhạc Việt trời Tây thuở nọ

Hai cụ dắt nhau đi tới phố Huế

Vô tư, tóc trắng, da mồi

Gặp chị Bộ đội và bà Bán Xôi cũng vô tư, da mồi, tóc trắng.

Ai hỏi trong nửa lời câm lặng:

Khi hết tuần trăng,

Bóng tối lại về!

 

Nghe nói ông “tiến sĩ Bác Hồ” này đă về Việt Nam nhiều lần và trong đại hội Phật Giáo Quốc Doanh cũng có mặt ông “tiến sĩ Bác Hồ” này.

*

Năm ngoái, nhiều người rất ứa gan khi đọc bài viết “Oan Khuất Mậu Thân -Cần Một Lời Xin Lỗi” của ông “Tiến sĩ Bác Hồ” này.

Xin mời đọc giả đọc một trích đoạn trong bài viết:

 

Cuộc tàn sát ấy đă được (hay bị) nh́n và lư giải dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Ta cũng như Tây, nhưng cho đến hôm nay vẫn c̣n là nỗi oan khuất.

Khi “sự cố đă thành cố sự” chứng tích lịch sử đă trả về cho sự phán xét công bằng của lịch sử như Ḷ Giết Người Holocaust ở Đức, Ngục Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga, Trại Tập Trung Interment Camps của Mỹ… th́ một khi biến cố kinh hoàng ấy qua đi, thế hệ kế thừa quyền lực lănh đạo quốcgia đời sau chỉ c̣n cách hành xử tương đối nhân bản - như lối hành xử mà hầu hết các nước văn minh trên thế giới đă làm - là nhân vật hay thế lực lănh đạo quốc gia đương quyền cần lên tiếng chính thức xin lỗi (Official Apology) để hoá giải oan khiên và giảm thiểu hận thù” (Hết trích).

 

Đây mới đúng là luận điệu của kẻ gian chạy tội của “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn.

Chưa hết! Hăy nghe tiếp miệng lưỡi của kẻ gian chạy tội:

 

“Riêng tại Huế, cuộc Tổng Công Kích Mậu Thân đă vạch rơ trước mắt thế giới lằn ranh rơ rệt. Giữa biến cố chiến tranh và tội ác chiến tranh. Nhưng cũng đều là cảnh thường dân bị chết như trường hợp Thất Thủ Kinh Đô 23-5 Ất Dậu 1885 là hậu quả của biến cố chiến tranh Sát Hại Mậu Thân 1968 (Hue Massacre) - một mảnh trong toàn thể cuộc chiến Tết Mậu Thân (The Tet Offensive) là vết tích của tội ác chiến tranh”.

 

Tên “tiến sĩ Bác Hồ” Trần Kiêm Đoàn này dù có ngoa ngôn, xảo ngữ để chạy tội cho những tên đao phủ thủ Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan… th́ cũng như Cao Huy Thuần chạy tội cho “sư hổ mang” Thích Trí Quang!

Những tên này chưa bằng “tổ sư bồ đề” của chúng nó là thiền sư Nhất Hạnh.

Ông sư “ăn chay ngủ mặn” này đă chạy tội cho bọn VC sát nhân bằng cách đổ tội cho máy bay Mỹ dội bom sát hại 300.000 nóc gia tại thị xă Bến Tre chỉ v́ 7 du kích núp buội tre bắn máy bay Mỹ!

Gian trá, xảo quyệt, lưu manh rất mực như ông thiền sư này mà c̣n bị VC nó dụ dỗ giựt cả một cái “Làng Mai” đă phải dẫn vợ bỏ của chạy lấy người.

Bọn “tiến sĩ Bác Hồ” cỡ như Cao Huy Thuần, Trần Kiêm Đoàn mà nhằm nḥi ǵ.

*

Sở dĩ có bài viết có cái tựa “‘BÊN THẮNG CUỘC’ VẠCH MẶT TRẦN KIÊM ĐOÀN” v́ mấy ngày qua đài RFA, báo Người Việt với mấy ông giáo sư Đại học, nhà báo, nhà thổ “TAI TO, MAT LON” ở trong nước lẫn hải ngoại mở hết volum ca tụng, quảng cáo sách “Bên Thắng Cuộc” của ông nhà báo VC Huy Đức quá cỡ thợ mộc. Nhà văn Đỗ Văn Phúc bèn t́m đọc và phát giác ông Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn là VC thứ thiệt, chứ không phải là Việt gian.

 

Bằng chứng như sau:

“Ở Huế, chiều ngày 21-9-1975, Hiệu phó kiêm Bí thư Đoàn trường Nguyễn Tri Phương Trần Kiêm Đoàn 130 được Thành đoàn Huế giao phối hợp với Đoàn trường Đồng Khánh, dẫn 200 đoàn viên theo cửa Thượng Tứ vào Đại Nội. Trước khi đi, Thành Đoàn ra lệnh: "Chuẩn bị khăn gói, thức ăn ba ngày, sẵn sàng chiến đấu”. Ông Đoàn kể: Tụi tui hồi hộp: Mỹ quay lại hay binh lính Sàig̣n nổi dậy? Tới 3 giờ sáng mới hay tin sáng mai đổi tiền. Khi ấy tôi c̣n trẻ, hào hứng với những cái mới nên nghe nói 1 đồng tiền mới giá trị bằng 500 đồng tiền cũ cũng có cái ǵ đó tự hào. Sáng ra vẫn tả xung hữu đột đôn đốc đoàn viên hoàn thành nhiệm vụ”.

Nhưng tới trưa, theo ông Trần Kiêm Đoàn: "Đi đâu cũng thấy dân kêu gào thất vọng. Ba giờ chiều, tôi tranh thủ về nhà, thấy vợ ngồi thẩn thờ, nước mắt lưng tṛng: Anh! Ḿnh trắng tay rồi!” Mỗi gia đ́nh chỉ đổi được tối đa 100 ngh́n tiền Sàig̣n trong khi tiền mặt trong nhà vẫn c̣n tới gần 10 triệu. Không chỉ nhà ông Đoàn, nhiều gia đ́nh buôn bán ở cửa Đông Ba, hàng xóm của ông cũng kêu khóc.

Những người càng tin tưởng vào chế độ mới càng mất mát lớn hơn, v́ khi chiến tranh kết thúc, họ đă đào vàng lên bán, lấy vốn kinh doanh. Ông Đoàn kể: "Tôi trở về Đại Nội. Một vị chỉ huy lực lượng đổi tiền biết cuyện kêu lại nói:

“Muốn đổi bao nhiêu cũng được nhưng phải chia 5:5. Về xóm coi có ai th́ kêu họ đổi luôn!” Tôi về lấy tiền và móc nối với mấy người trong xóm. Đúng là bao nhiêu cũng được thật”.

(Trích “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức, trg 41, 42).

 

Trước kia, khi người kư tên Nguyễn Phi tố cáo “Trần Kiêm Đoàn là VC nhưng v́ bị vắt chanh bỏ vỏ nên bỏ chạy” trên diễn đàn điện tử th́ ông TKĐ c̣n chối căi là ông Nguyễn Phi v́ có thù oán với ông ta nên bịa điều, đặt chuyện vu cáo. Nay, th́ chính Huy Đức, “nhà báo lớn của VC”, là người của BÊN THẮNG CUỘC viết ra giấy trắng mực đen. Và sách th́ đang được đài Á Châu Tự Do, báo Người Việt (đă từng đăng bài sỉ nhục “QLVNCH là lính đánh thuê”) gióng trống, khua chiêng quảng cáo ầm ỉ!

Đúng là cái thảm cảnh “đảng viên VC Huy Đức” vạch mặt “đoàn viên VC Trần Kiêm Đoàn”!

Dù sao đi nữa (dịch ra Anh ngữ theo trường phái “Bể Dâu” là “umbrella star go more) th́ chuyện “đảng viên VC Huy Đức vạch mặt “đoàn viên VCTrần Kiêm Đoàn” cũng c̣n “nhân đạo” gấp ngàn lần thời kỳ “cải cách ruộng đất” con tố cha, vợ tố chồng c̣n ghi đậm nét trong mấy câu thơ của Xuân Diệu:

“Ai về Bố Hạ

Nhắn với vợ chồng thằng Thu (*)

Rằng chúng bây là lũ quốc thù!...”

 

LĂO MÓC

tieng-dan-weekly.blogspot.com

(*) Bố mẹ của ông Xuân Diệu

 

 

Về Nguồn

Thơ Trần Kiêm Đoàn

 


Người Về Nguồn
Mang tâm hồn ḿnh theo
Trái tim là chiếc đũa thần
Hoàn cảnh chỉ là nắng gió

Phạm Duy đi trên phố Bolsa
Gặp một người Mỹ già
Gật đầu chào nhau
Như với một gă Tàu xa lạ

Phạm Duy đi trên đường Hà Nội
Chợ Xuân đào và gió Xuân ca
Người hàng xóm nửa thế kỷ xưa
Nhận ra nhau và chào:
- Ông đă về và đă tới!

Trần Văn Khê đi trên phố Paris
Gặp một bà đầm già:
- Chào người Châu Á
Sông Seine xanh, bóng người xa lạ

Trần Văn Khê đi giữa phố Sàig̣n
Khô nai, khô cá thiều và chợ Tết rất đông
Gặp ông Bảy đờn c̣.
- Chào Thầy! Nhạc Việt trời Tây thuở nọ

Hai cụ già dắt nhau đi trên phố Huế
Vô tư, tóc trắng, da mồi
Gặp chị Bộ Đội và bà Bán Xôi
Cũng vô tư, da mồi, tóc trắng...
Ai hỏi trong ai nửa lời câm lặng:
Khi hết tuần trăng,
Bóng tối lại về.

 

Trần Kiêm Đoàn (đăng trong website: http://www.nhohue.org/)

 

1.- TKD đă về VN đọc tham luận trong một hội thảo về Văn hoá có các trí thức Việt Kiều từ nhiều nước được CS vinh danh (có cả TS Thái Kim Lan ở Đức). (Bản tin trên nhiều website năm ngoái)
2.- TKĐ làm một bài thơ ca tụng sự trở về của Phạm Duy đại ư rằng ở nước ngoài, nh́n ai cũng xa lạ. Về VN "gặp bà bán xôi, cô bộ đội" bỗng thấy thân thương. (Bài nay đă đăng trên website Nho Hue.org rât lâu)

3.- TKĐ bênh vực ác tăng Nhất Hạnh, và lên án người Việt hải ngoại khi họ nói không hay về tên Nhất Hạnh. (Bài mang tựa đề Đoàn Tràng Giải Oan, đăng trên tạp chí Nguồn (San Jose) số 37, tháng 5, 2007, cột 1, trang 56 )

4.- TKĐ viết một hồi kư "Ai Về Quảng Trị Đông Hà" trong đoan chót có câu "Vết thương có c̣n ǵ dấu tích trong tôi" và : "Có chăng trong ta, một sự trở về?" (Đặc San Quảng Trị, Xuân Mậu Tư 2008 do Hội Đồng Hương QT Georgia phát hành, trang 187.

5.- Có tin cho hay TKĐ đă đem sách về VN để in bán.

_______________________________________________________________________________


TÍNH CHUYỆN PHẢI QUẤY....


. thụyvi

 

Trong một đoạn văn gửi cho vợ, ông Hoàng Hải Thủy viết: “.....Và 30 năm sau những ngày sống u ám, tuyệt vọng của đôi ta ở Sài G̣n, hôm nay anh ngồi b́nh an trên đất Mỹ đọc chuyện xưa, nhớ chuyện xưa, anh viết những ḍng này. Em yêu ơi.. Bọn cộng sản ác ôn chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Thủ Tướng Phan Huy Quát của chúng ta ở Nhà Tù Chí Hoà, chúng nó bỏ tù, chúng nó giết ông Phó Thủ Tướng Trần Văn Tuyên của chúng ta ở một trại tù khổ sai miền Bắc. Không phải chúng chỉ bỏ tù, chúng chỉ giết có hai ông ấy, chúng bỏ tù 5,546,834 nhân vật quốc gia của chúng ta, chúng giết 3,765, 832 người trong số đó. Anh không thù, anh không hận chúng nó sao được!

 

Dzậy mà em thấy đấy, ở Mỹ này có những thằng dám mở mồm bảo, khuyên anh “Quên hận thù bọn cộng sản đi. Đừng kể chuyện Tù Đầy nữa!” Những thằng khốn nạn ấy không bằng loài chó!

Anh sẽ c̣n tính chuyện phải quấy với những thằng khốn kiếp đó dài dài ”.
Vâng, ông Hoàng Hải Thủy tiếp tục tính chuyện phải quấy với bọn chó má đó. Những cây bút công chính tiếp tục kể tội, vạch mặt những tên bất lương chính trị đó …Nên mặc dù chỉ là một người vợ lính VNCH, tôi ngại ngùng ǵ không tiếp tục chỉ thẳng vào mặt bọn vô liêm sĩ. Dỏng dạc kêu tên những thằng Việt Cộng nằm vùng. Những thằng tay nhúng máu dân lành hiu hiu tự đắc.
Một trong những loại bất lương đó là loại mà ông Huy Phương đề cập trong bài “ Mậu Thân và nổi đau của Huế”: “ Nỗi đau của Huế c̣n rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ư thức của một vài cá nhân người Huế, đă v́ sợ hăi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đă tiếp đón đăi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, ḥa giải nhưng sự thật là đă xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đă gánh chịu nổi tang tóc Mậu Thân v́ chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác…”.

 

Qua đoạn viết trên, người đọc biết tác giả nói ai. Tiếp đó một bài “ Oan Khuất Mậu Thân. Cần Một Lời Xin Lỗi” của Trần Kiêm Đoàn viết vào dịp đón Tết Nhâm Th́n khiến người ta đặt liền câu hỏi: Có phải Trần Kiêm Đoàn áy náy về những việc làm trong quá khứ? Hay v́ run sợ thuyết nhân quả của nhà Phật? Hay v́ trắng mắt thấy rơ dă tâm của bọn Cộng Sản đă hối hận viết bài này? (http://trankiemdoan.net/butluan/khoahoc-chinhtri/oankhuatmauthan.html )

 

Tuy nhiên, bài viết của Trần Kiêm Đoàn không thuyết phục được những người chính nghĩa bởi những biện bạch nhập nhằng một cách cố ư nên người ta ngoài sự bất b́nh, thất vọng c̣n có sự phẫn nộ. Sự phẫn nộ v́ những tội ác giết hàng ngàn dân Huế của bọn Việt Cộng, của bọn Việt Cộng Nằm Vùng tày trời như thế, tàn ác như thế, rành rành như thế mà Trần Kiêm Đoàn hạ bút: Cần một lời xin lỗi? Ông Hoàng Thái, một người con của Huế - một nhân sĩ - một gương tranh đấu đáng kính trọng tại Michigan đă viết trả lời một cách rạch ṛi sau khi lớn tiếng hỏi một cách khinh bỉ :Trần Kiêm Đoàn. Ai cần? Ai xin lỗi?

“ Sau khi cộng sản Miền Bắc cùng MTGPMN và vc nằm vùng giết hàng ngàn dân vô tội ở Huế, giết một cách tàn ác, thê thảm, khát máu, ghê rợn chưa từng có trên đất Huế (Cuộc thảm sát con dân Việt Nam của thực dân Pháp trong cuộc nổi dậy của triều đ́nh Huế ngày 23 tháng 5, 1885 cũng không thể nào so sánh nổi với sự tàn ác buốt máu của cs VN đối với ngay chính con dân đồng tộc VN ruột thịt!)

- Sau khi hành quyết hàng ngàn người dân Huế, không những cs lạnh người bất nhân phủi tay, mà chúng lại c̣n ném lên những thân xác đau thuơng tức tưởi của con dân Huế những chửi rủa đốn mạt, tục tĩu, vô luân, láo khoét chưa hề thấy trong đạo đức văn hóa truyền thống Việt Nam: nào là 'bọn phản quốc'...'bọn ác ôn, giết người, cướp của'...'bọn liếm giày đế quốc' vv... để chỉ vào các xác trẻ em, học sinh, sinh viên, bà mẹ, đàn ông, ông già bà cả bị chúng tàn sát tập thể, mà không một ai có được tấc sắt trong tay!

- Sau khi kéo lê cái chính sách tuyệt cấm mọi sự thờ phụng công cộng trên khắp Huế cho những nấm mồ hoang tập thể vô thừa nhận đặc biệt là Nghĩa Trang Ba Tầng hai bên đường Nam Giao đă tàn lạnh huơng khói từ hơn hơn 35 năm nay (nói để ông Trần Kiêm Đoàn nghiệm sự đời là quân Pháp nó c̣n tôn trọng văn hóa thờ phụng của Việt Nam ta c̣n hơn cả nhà nước chxhcn Việt Nam v́ trong hai giai đoạn đô hộ VN của Pháp, người dân Huế luôn có tự do tổ chức lễ cầu vía Âm Hồn hàng năm vào ngày 23-5 cho các vong hồn tử sỉ trong cuộc nổi dậy của quan quân triều đ́nh Huế năm 1885.)

Thế rồi bỗng một ngày một nhà giáo sư tên Trần Kiêm Đoàn (TKĐ) tự dưng xướng lên 'CẦN MỘT LỜI XIN LỖI'!

Tôi thật sửng sờ tự hỏi cái hành động trớ trêu này sao lại có thể có từ một con người có cơ may ăn học như TKĐ! Nghĩ vậy tôi càng thấy thuơng tiếc cho những người dân oan không có được một chữ học ở trường thế mà vẫn biết đứng lên chống bất công. Họ ư thức được thế nào là Công Lư đấy, ông TKĐ ạ!

Và thay v́ để ông TKĐ nói 'CẦN MỘT LỜI XIN LỖI', có lẽ đă đến lúc những trí thức mê muội như ông Đoàn và những kẻ đồng loài nên nhường bước dẫn đường cho những con dân Việt Nam chất phác, ngay chính đó để những oan hồn Mậu Thân Huế nói lên được tiếng Giải Oan cho chính ḿnh: CẦN MỘT LỜI CÔNG LƯ. ”

Một lời công lư cho nỗi đau của Huế trước nhất là hài tội những thằng mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, giết hàng ngàn dân Huế vào năm 1968, giờ c̣n nhởn nhơ nhe răng cười cợt * như: Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đoá…

Hài tội chúng nó bằng cách thu thập nhân chứng, tài liệu, viết lại, lưu lại những tội ác để người đời không quên - Cho dù 10 năm, 20 năm, vài chục năm sau, hay hàng trăm năm sau…, khi nhắc “Thảm Sát Mậu Thân” hậu thế sẽ nhớ ngay tên những tay đồ tể giết dân Huế một cách ghê rợn bằng cách đập đầu, xỏ xâu, chôn sống luôn cả những người đàn bà, những trẻ thơ và những người già vô tội. Không những thế, chuyện phải làm tiếp tục là đưa chúng nó, đưa tội ác chúng nó ra toà án Quốc Tế.

“ Giết tù binh hay tù nhân chiến tranh và thường dân là phạm vào tội ác chiến tranh”. Không phải Trần Kiêm Đoàn có lần đă nói về điều này sao!?


Tôi sẽ tiếp tục tính chuyện phải quấy với mấy thằng Việt Cộng bất lương này dài dài.

 

thụyvi ( Khai bút năm Nhâm Th́n )


*Chữ của Huy Phương.

_______________________________________________________________________________

 

Bản Chất “Cần Một Lời Xin Lỗi Của” Trần Kiêm Đoàn

 

Tôn Nữ Hoàng Hoa

 

Đáng lẽ ra tôi không quan tâm mấy về những bài viết của Trần Kiêm Đoàn v́ người Việt Quốc Gia nhất là những người ở Huế ai ai cũng nghe nói Trần Kiêm Đoàn là "người của bên tê" ?

Nhưng hôm nay tôi đă phá lệ để có thể chuyển lên diễn đàn ư kiến của chúng tôi về bài viết "Oan khuất Mậu Thấn/ Cần Một Lời Xin Lỗi" của Trần Kiêm Đoàn hầu có thể làm nhịp cầu thông cảm giữa những tư tưởng dị biệt đang diễn ra giữa những người QG qua bài viết của Trần Kiêm Đoàn

Khỏi cần dông dài lê thê qua bài viết của TKĐ, chúng tôi xin đi ngay vào bài viết Oan Khuất Mậu Thân/ Cần Một Lời Xin Lỗi

1. Mở đầu bài viết TKĐ đi thẳng vào hệ thống chính trị qua công tác lư luận của tác giả được giao phó:

Trích:" Cuộc tàn sát ấy đă được (hay bị) nh́n và lư giải dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, Ta cũng như Tây, nhưng cho đến hôm nay vẫn c̣n là nỗi oan khuất. Khi “sự cố đă thành cố sự”, chứng tích lịch sử đă trả về cho sự phán xét công bằng của lịch sử như Ḷ Giết Người Holocaust của Đức, Ngục Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga, Trại Tập Trung Internment Camps của Mỹ… th́ một khi biến cố kinh hoàng ấy đi qua, thế hệ kế thừa quyền lực lănh đạo quốc gia đời sau chỉ c̣n cách hành xử tương đối nhân bản – như lối hành xử mà hầu hết giới lănh đạo của các nước văn minh trên thế giới đă làm – là nhân vật hay thế lực lănh đạo quốc gia đương quyền cần lên tiếng Chính Thức Xin Lỗi (Official Apology) để hóa giải oan khiên và giảm thiểu hận thù."( Hết trích)

 

Xin quí vị đọc cho kỹ để thấy ần ư của TKĐ trong đoạn này có nghĩa ǵ : Cuộc tàn sát dân chúng cố đô Huế của VC trong Tết Mậu Thân tại Huế là một sự kiện đă xảy ra rất tàn ác của bọn VGCS từ Hà Nội để làm khiếp nhược dân miền Nam. Ấy vậy mà TKĐ cho rằng sự thật ấy đă "được" hay "bị" giăi thích (TKD dùng chữ lư giăi chữ của bọn VC hay xài) nhiều chiều hướng khác nhau

Như vậy TKĐ đă đứng về phía nào trên lương tâm con người khi cho cuộc thăm sát 6000 người dân Huế bị VC giết hại đă được giăi thích khác nhau? Ai giăi thích khác nhau, một khi sự thật do nạn nhân và gia đ́nh đă chứng kiến thân nhân của họ bị VGCS trói chặt tay bằng dây kẽm gai, bắt quay mặt vào tường để tỉa những tràng đạn liên hồi theo xác người dân vô tội ngă gục hay hăi hùng hơn nữa chúng vội vàng lấp đất để chôn sống con người đă tường thuật lại nỗi đau tê buốt tâm can cho dù 44 năm qua vẫn rơ ràng trên nỗi khiếp sợ c̣n trong kư ức của họ : Có phải bọn VGCS đang bị thế giới đ̣i trả lại cái quả mà chúng gieo nhân trên sự thăm sát đồng bào vô tội tại Huế mà chúng đă có "những giăi thích khác nhau" và TKĐ đang xuôi ngược trên hệ thống chính trị qua công tác lư luận đi đúng chỉ thị để gây hoang mang trong dư luận hải ngoại?

Cũng trong đoạn trên TKĐ đă dám xem thường độc giả khi viết ra:

Trích: " Khi “sự cố đă thành cố sự”, chứng tích lịch sử đă trả về cho sự phán xét công bằng của lịch sử như Ḷ Giết Người Holocaust của Đức, Ngục Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga, Trại Tập Trung Internment Camps của Mỹ… th́ một khi biến cố kinh hoàng ấy đi qua, thế hệ kế thừa quyền lực lănh đạo quốc gia đời sau chỉ c̣n cách hành xử tương đối nhân bản – như lối hành xử mà hầu hết giới lănh đạo của các nước văn minh trên thế giới đă làm – là nhân vật hay thế lực lănh đạo quốc gia đương quyền cần lên tiếng Chính Thức Xin Lỗi (Official Apology) để hóa giải oan khiên và giảm thiểu hận thù."( Hết trích)

Ở đây ai đ̣i hỏi công bằng khi đang bị kết tội ác nhân ác đức diệt chủng. Có phải VGCS đang bị kết tội này không ? Như vậy TKĐ dám bảo là "chứng tích lịch sử đă trả về sự phán xét công bằng " Thử hỏi công bằng cho ai? Cho VGCS hả.

Thưa quí vị đọc đoạn này, người đọc tưởng TKĐ đang "hối lỗi" nhưng ẩn ư của TKĐ th́ VGCS cũng đang đ̣i hỏi sự công bằng phán xét qua việc thăm sát dân Huế trong Tết Mậu Thân. Chưa hết, TKĐ lại viện dẫn Ḷ Giết Người Holocaust của Đức, Ngục Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga rằng người lănh đạo chỉ cần một lời xin lỗi là xong. Như vậy theo TKĐ 6000 mạng người dân Huế bị VC tàn sát trong Tết Mậu Thân chỉ cần bọn lănh đạo VGCS xin lỗi là có thể "xong " để bọn lănh đạo VGCS có thể đạt được mục tiêu chính trị qua chiêu bài Ḥa Hợp Ḥa Giăi .

Trần Kiêm Đoàn đang nói giỡn phải không? 6000 mạng người Huế bị VC thăm sát chỉ cần một lời xin lỗi là xong? Vậy vụ án Ḷ Giết Người Holocaust ở đâu không nghe TKĐ nhắc tới? Những thủ phạm giết người ở Holocaust đă và đang bị truy lùng để xử tội th́ tại sao không thấy TKĐ nói ra .

Không biết có phải t́nh báo VC thấy vụ án tố cáo VC dă man tàn sát dân Huế đang được diễn tiến vào con đường công lư mà e ngại nên TKĐ lại có công tác lư luận này?

2. Trong câu viết: trích "Hơn nữa, tiếng bom, tiếng súng đêm ngày nổ đâu đó cũng chỉ là… “chuyện dài nhân dân tự vệ” nghe đă quen tai đối với người dân xứ Huế và cả miền Nam trong cuộc chiến.

TKĐ ẩn ư ǵ khi cho rằng những sự kết án Hồ tặc gây ra chiến tranh trong miền Nam theo chỉ thị của Nga sô là "chuyện dài nhân dân tự vệ" nghe đă quen tai.

Vậy khi người ta dùng câu “chuyện dài nhân dân tự vệ là ám chỉ điều ǵ” có phải cứ lập đi lập lại một luận điệu củ nghe hoài khổ lắm nói măi? Vậy đây là lư luận của ai? khi cho rằng tiếng nổ tiếng bom ở Huế và cả miền Nam là chuyện dài nhân dân tự vệ? Đây có phải là cung cách lừa bịp ăn ngược nói xuôi của những kẽ nhân danh chủ nghĩa mà đàn áp con dân VN ??

3. Đọc đến cái đoạn với nhan đề " Nếm trải cá nhân Tết Mậu Thân 1968." Quí vị sẽ thấy TKĐ giới thiệu bọn sát nhân ở Huế trong Tết Mậu Thân như sau:

trích ( Lại được nghe thêm tin tức giáo sư Lê Văn Hảo, vị giáo sư tiến sĩ nhân chủng học du học ở Pháp về, con nhà tỷ phú, mới lên lớp dạy chúng tôi buổi học cuối cùng trong lớp Văn Minh Việt Nam, đại học văn khoa Huế trước khi nghỉ Tết; thầy giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường bỏ dạy môn Triết lớp 12 B2 của chúng tôi nửa chừng trong năm học 1965-1966 để lên núi theo “phía bên tê”; thầy Thích Đôn Hậu mà chúng tôi từng cung kính đảnh lễ và mê giọng tụng kinh thanh thoát trầm lắng một thời... đều là những vị chức sắc cao cấp của thế lực vừa mới chiếm giữ thành phố Huế đêm qua. Ngoài ra, có những nhân vật tên tuổi trước đó tôi đă được nghe nhiều ở Huế nhưng chưa bao giờ được biết mặt như các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm… cũng được nhắc đến qua tin miệng và sóng điện).

Qua đoạn văn này chúng ta đă thấy TKĐ cho biết những tên sát nhân như Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường ,Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm… này là những người trí thức và tất cả người trí thức này là của "người bên tê" có chức sắc mà không nghe TKĐ ta thán ǵ về hành động dă man của chúng?

Thứ nữa trong khi những nạn nhân trong Tết Mậu Thân ở Huế đă cho biết VC lùa dân vào tường và bắn gục từng người một nếu họ không may bị bắt, trong khi đó, cả một đoạn văn của TKĐ tả Huế trong những ngày mồng một mồng hai mồng ba lại quá b́nh yên

(Sau mấy ngày dài câm lặng trôi qua nặng nề với những tiếng súng nổ lẻ tẻ vọng tới từ phía trung tâm thành phố, tiếng bom đạn bắt đầu nổi lên ngày càng dồn dập hơn nhưng vùng cầu Kho Rèn nơi tôi đang ở vẫn c̣n yên lặng.)

Chưa hết, trong 3 ngày Tết VC vừa truy lùng bắt dân vừa kêu gọi tŕnh diện đă làm người dân Huế kinh hăi bất an trong từng nhịp tim thở. Ấy thế, mà TKĐ lại có thể cùng người yêu ra vườn hít thở không khí. Trích (ra vườn hít thở chút không khí đẫm mưa phùn lạnh buốt tháng Giêng và chia nhau thức ăn sắm sửa cho ba ngày Tết chưa dùng. ) hay “sang hơn nữa” (nói theo kiểu anh Nguyễn Kim Khánh) trong khi Huế đang thê lương dưới màn máu đỏ phủ khắp kinh thành th́ TKĐ và người yếu lại thong dong đi ngắm cảnh Trích " Lê và tôi th́ thỉnh thoảng rủ nhau đi bộ trên đường Phan Chu Trinh vắng ngắt trước nhà thuộc bờ Nam sông An Cựu"

Hỡi những linh hồn đă khuất ở Kho Rèn và những người bị chôn sống ở Kho Rèn nghĩ ǵ về đoạn văn tả cảnh của TKĐ này. Có thấy buồn và tủi tại sao Huế lại có một con dân Huế mang tên Trần Kiêm Đoàn?

4. Bỏ đi những đoạn văn viết theo thị hiếu người đọc để luồn vào công tác lư luận chạy tội cho VC tàn sát dân Huế trong Tết Mậu Thân Xin quí vị đọc từ đoạn TKĐ tự xưng ḿnh là con Phật (Phật tử) và nghe giọng văn sau đây:

Trích (Cuộc “tiến công và nổi dậy” đă trở thành một diễn trường của thù hận và trả thù không phải do bộ đội chiến đấu mà do các cá nhân và thế lực “nằm vùng” (?!) chủ động.

TKĐ cho rằng VGCS không thăm sát dân Huế mà do các cá nhân và thế lực nằm vùng chủ động. Vậy theo TKĐ th́ Đảng VGCS không bao giờ có chỉ thị tổng tấn công Huế và toàn quốc mà đây là do chỉ thị của các thế lực nằm vùng? Không biết TKĐ tư xưng là Phật Tử mà có biết vọng ngôn nằm trong tội thứ mấy của Bát Chính Đạo không hỉ?

Có phải đă nằm trong mục thứ 3: Chính ngữ: Không ṇi dối hay không nói phù phiếm . Mô Phật

5. Chưa hết xin mời quí vị nghe TKĐ chơi tṛ mượn dao giết người qua đoạn văn này : trích (Riêng tại Huế, cuộc tổng tấn công Mậu Thân đă vạch rơ trước mắt thế giới lằn ranh rơ rệt giữa biến cố chiến tranh và tội ác chiến tranh; giữa người tham gia chiến tranh và kẻ tội phạm chiến tranh.

Như cũng đều là cảnh thường dân bị chết nhưng trường hợp Thất Thủ Kinh Đô 23-5-Ất Dậu 1885 là hậu quả của biến cố chiến tranh mà cuộc Sát Hại Mậu Thân 1968 (Hue Massacre) – một mảnh trong toàn thể cuộcchiến Tết Mậu Thân (the Tet Offensive) – là vết tích của tội ác chiến tranh.)(hết trích)

 

Cái lẹo lưỡi của TKĐ tỏ ra ḿnh có "tư duy" phân biệt nhưng thăm thay cái tư duy phân biệt của TKĐ qua đoạn văn trên là h́nh thức của bản chất lừa bịp V́ sao? Một khi mà TKĐ đổ tội cho chiến tranh là hủy diệt là tối ác của chiến tranh chứ không phải là của VGCS mà TKĐ đă quên trong thời gian Tết Mậu Thân là Đ̀NH CHIẾN Có hiểu không ông mang danh Phật tử mà tâm ư như cỏ mọc rừng hoang.

Vậy Đ̀NH CHIẾN LÀ G̀ ? Có phải 2 phe ngưng đánh nhau không? Vậy thời gian mà VC đồng ư đ́nh chiến lại lén lút đổ quân giết người? Th́ đây chính là tội ác của chiến tranh hay là cái đê hèn lừa bịp của VC??

Hơn nữa nếu nói về chiến tranh th́ chỉ lính của hai bên giết nhau trên chiến trường chứ không bao giờ đi lùng để giết người dân vô tội.

Có phải v́ muốn chạy tội mà VGCS đă từng cho văn nô đổ tội biến cố tàn sát dân Huế trong Tết Mậu Thân là do Mỹ và VNCH. Có lẽ v́ lư do đó không thuyết phục người dân th́ nay lại đổ tội cho chiến tranh dưới ng̣i bút bẻ cong của Trần Kiêm Đoàn?

6. Có lẽ bài viết quá dài đă làm quí vị đọc hụt hơi và tôi cũng xin cảm ơn quí vị đă kiên nhẫn. Tuy nhiên cái cuối cùng mà TKĐ lại lấp liếm giả nhân giả nghĩa đ̣i lập đàn giăi oan. Thật ra TKĐ tự xưng là Phật tử mà là phật tử của giáo lư truyền thống Phật Giáo hay là của Giáo lư Phật giáo quốc doanh mà lại tin vào đàn giăi oan v́ trong giáo lư nhà Phật không có giăi oan mà tin vào thuyết Nhân Quả. Người tu hành cần phải biết nhẫn nhục dù cho có bị hàm oan. Tính nhẫn nhục ví như mặt đất nhận lănh hết mọi thứ nhơ nhớp mà chúng sanh đổ lên trên.

Đàn giăi oan mà TKĐ đang nói đây có phải là hành vi vừa giết người vừa tụng kinh cầu siêu? Như vậy, có bị bức tử thảm sát cũng được hóa giăi trên đàn giăi oan Tội nghiệp cho dân Huế đă bị chôn sống dưới ḷng đất lạnh mà cũng chưa yên. Giả dụ nếu VGCS mà nghe lời TKĐ lập đàn giải oan theo mục số 2 của TKĐ th́ chắc họ sẽ tức ứa máu mà chết lần thứ hai

Như vậy, xem ra cái bản chầt về bài viết OAN KHUẤT MẬU THÂN/ Cần một lời Xin Lỗi của Trần Kiêm Đoàn đă cho chúng ta thấy rơ sự tụt hậu thê thăm của VGCS qua cái gọi là Xă Hội Chủ Nghĩa.

Bởi con người đang sống trong thế kỷ 21, là một thời đại tiến hóa của những cánh cửa mở toang ra trong sự khai hóa của trí tuệ và của sự xác thực dân chủ. V́ thế, cho dù bản năng cộng sản chưa rửa được th́ cũng cần tự đứng dậy để tự khai phóng bản chất của ḿnh trên sự tiến hóa văn minh của nhân loại để lấp ló bước vào đời sống văn minh

Nhưng TKĐ đă không tự khai phóng được ḿnh mà c̣n tự phô diễn cái bản chất nô lệ khiếp nhược khi phải bẻ cong sự thật của Biến Cố Tết Mậu Thân tại Huế để hoàn thành công tác lư luận của một chỉ thị đă được giao phó.

Người Việt QG bất cứ lúc nào cũng dang tay chào đón kẽ biết lỗi trở về con đường chính đạo, chứ họ không bao giờ dang tay để ôm giặc vào ḷng, một thứ giặc có tâm địa hung ác đă hơn một lần đưa đất nước VN vào cảnh hoang tàn, đổ nát thương đau

Nếu Phật Tử mà tin vào sự giăi oan này của TKĐ là "Phật tử dỏm" v́ đạo lư nhà Phật mà có giăi oan th́ làm ǵ có được Một Quan Âm Thị Kính

Nói tóm lại bài viết OAN KHUẤT MẬU THÂN/ Cần một lời Xin Lỗi của Trần Kiêm Đoàn chỉ là một sản phẫm của Xă Hội Chủ Nghĩa mà người dân VN ḿnh thường gọi là Xạo Hết Chỗ Nói.

 

Tôn Nữ Hoàng Hoa (01/29/2012)

=====================================================================

 

Các bài của Trần Kiêm Đoàn

 

 

OAN KHUẤT MẬU THÂN/ Cần một lời Xin Lỗi

Trần Kiêm Đoàn

 

Biến cố Tết Mậu Thân 1968 là một quá khứ đă 44 năm nhưng ảnh hưởng và tác động tâm lư vẫn c̣n kéo dài đến hiện tại và thế hệ tương lai đối với con người và lịch sử chiến tranh Việt Nam. Đặc biệt đối với Huế – một mảnh quê hương vốn gánh chịu triền miên những tai trời ách nước từ buổi đầu tiến về Nam dựng nước – th́ biến cố chiến tranh Mậu Thân không dừng lại ở sự kiện quân sự hay chính trị thuần túy v́ trong cuộc chiến Mậu Thân đă xẩy ra cuộc tàn sát Mậu Thân. Cuộc tàn sát ấy đă được (hay bị) nh́n và lư giải dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, Ta cũng như Tây, nhưng cho đến hôm nay vẫn c̣n là nỗi oan khuất. Khi “sự cố đă thành cố sự”, chứng tích lịch sử đă trả về cho sự phán xét công bằng của lịch sử như Ḷ Giết Người Holocaust của Đức, Ngục Tù Lao Động Tàn Sát Gulag của Nga, Trại Tập Trung Internment Camps của Mỹ… th́ một khi biến cố kinh hoàng ấy đi qua, thế hệ kế thừa quyền lực lănh đạo quốc gia đời sau chỉ c̣n cách hành xử tương đối nhân bản – như lối hành xử mà hầu hết giới lănh đạo của các nước văn minh trên thế giới đă làm – là nhân vật hay thế lực lănh đạo quốc gia đương quyền cần lên tiếng Chính Thức Xin Lỗi (Official Apology) để hóa giải oan khiên và giảm thiểu hận thù.

Nếm trải cá nhân Tết Mậu Thân 1968.

Chiều ngày Mồng Một Tết Nguyên Đán năm Mậu Thân, sau gần trọn ngày đầu năm đi lễ đ́nh, lễ chùa, lễ nhà thờ họ, lễ chi phái nuốm, nhánh và thăm viếng chúc Tết bà con ở làng Liễu Cốc Hạ, tôi đi xe Honda lên Huế một ḿnh. Là một thanh niên 22 tuổi, đang theo học ở trường đại học Sư phạm Huế, tôi tập tễnh làm theo nếp cũ của đất lề quê thói: “Mồng Một ăn Tết nhà cha, mồng Hai nhà vợ, mồng Ba nhà thầy.” Tôi chưa có vợ nhưng đă có “bồ”. Một gă con trai có chút xíu hứa hẹn tương lai, xuất thân từ làng quê, hiền khô đất ruộng như tôi mà có “bồ” là cô học tṛ xinh xinh ở Huế th́ bóng dáng… nhà vợ cũng loanh quanh đâu đó, trước ngơ sau hè.

 

Từ làng tôi lên Huế chỉ cách nhau 12 km. Tôi đi trong khung cảnh ngập tràn hương vị Tết. Chiều mồng Một, không khí Tết của thành phố Huế trở nên sôi động hơn v́ suốt ngày mọi người phải tất bật lo cho xong những nghi lễ cúng kính, thăm viếng đầu năm, bây giờ mới có chút th́ giờ hưởng Xuân. Người người vẫn c̣n xúng xính với bộ quần áo “vía” trang trọng dành cho Năm Mới. Pháo nổ đ́ đùng đây đó. Những đám bài bạc vui chơi tụm năm, tụm bảy khắp các con đường chính của những khu dân cư b́nh dân. Tôi chạy xe thẳng qua ngôi nhà mà bà Cụ và Lê (nhà tôi tương lai) đang ở – 132B đường Phan Châu Trinh – gần mé bên kia cầu Kho Rèn. Đây là nhà riêng của anh Đặng Văn Mẫn, anh cả của Lê, nhưng Tết anh không về nhà ăn Tết được v́ đang làm quận trưởng quận Đại Lộc. Nói là đến thăm nhà để chúc Tết “mừng tuổi hai Bác” nhưng thật bụng là để thăm em. Trời mưa lâm thâm và lạnh. Huế là thành phố trầm lặng ẩn dưới những tàng cây xanh nên mặt trời lặn nhanh và đêm về rất sớm.

Khoảng 10 giờ đêm, tôi cáo từ nhà Lê, định chạy một mạch băng qua sông An Cựu, ra đường Lê Lợi dọc sông Hương, qua Đập Đá để về nhà trọ dượng Biên ở gần chợ Vỹ Dạ. Nhưng khi vừa rẽ qua cầu Kho Rèn gần nhà máy điện Thành Phố, tôi phải thắng xe ngừng lại v́ có ánh đèn pin từ phía trường Mê Linh hắt vào mặt và chiếu thẳng không rời. Lờ mờ trong bóng tối và ánh đèn điện vàng có những bóng đen với tiếng nói mờ mờ ảo ảo như nhiều nhóm người đang bàn căi điều ǵ. Lặng một chút khi tôi hạ thấp tay ga xe Honda rồi tắt máy. Có tiếng đàn ông, đanh và lạnh lẽo, rơ ràng là ra lệnh: “Về nhà. Dắt bộ xe, không được nổ máy!” Tôi ngẩn người trước sự việc xảy ra đột ngột, định hỏi “Mấy người là ai?” nhưng chưa kịp lên tiếng th́ một người đàn ông khoác tấm vải dầu làm áo mưa đă bước tới đẩy vào vai tôi với một vật ǵ đó cứng và lạnh như sắt, nói: “Đi ngay!” Tôi dắt xe về lại nhà Lê. Cầu Kho Rèn vẫn c̣n nguyên vẹn.

Đêm mồng Một ở lại nhà Lê. Khuya nghe những tiếng nổ chợt xa, chợt gần; khi lớn, khi nhỏ. Tôi yên trí là tiếng pháo. Ngày Tết xài sang, nên có người đốt pháo con, pháo tống giữa đêm chẳng có ǵ đáng lạ. Có khi con nhà lính hết pháo, vác súng bắn tạch tạch đùng vài băng đạn vui Xuân cũng là chuyện thường. Hơn nữa, tiếng bom, tiếng súng đêm ngày nổ đâu đó cũng chỉ là… “chuyện dài nhân dân tự vệ” nghe đă quen tai đối với người dân xứ Huế và cả miền Nam trong cuộc chiến.

Sáng mồng Hai, Lê và tôi đều dậy sớm. Chúng tôi rủ nhau đi bộ một ṿng trên đường Phan Châu Trinh trước nhà, dọc bờ sông An Cựu… nắng đục mưa trong. Trời không mưa nhưng sương xuống nặng che lấp cả bờ sông. Trời rất lạnh. Giêng hai cắn tay không ra máu là cảnh đời thường của Huế. Đường sớm vắng tanh. Đang đi, bỗng có toán người xuất hiện sau màn sương dày đặc. Có chừng chục người cả nam lẫn nữ đi vội vàng như chạy lúp xúp từ phía cầu An Cựu lên phía cầu Kho Rèn. Tất cả đều đội mũ tai bèo, mặc đồ xanh lá cây, mang dép lốp xe, khoác tấm vải dầu cột ṿng trên cổ, vắt sau lưng nhưng gió bấc tung lên không che kín hết ba lô và khẩu súng đeo bên ḿnh. Tôi đă quen với h́nh ảnh nầy từ ngày c̣n nhỏ ở làng sống trong cảnh “đêm Việt Minh, ngày Bảo Vệ”. Thấy chúng tôi, người dẫn đầu toán không nói ǵ mà liên tục khoát tay ra hiệu cho chúng tôi tránh đường đi vào nhà. Ngạc nhiên đến sững sờ, tôi nói nhỏ vào tai Lê: “Họ là Việt Cọng đó!” Lê phản ứng với câu nói… để đời: “Uả... Th́ ra Việt Cọng nh́n cũng giống người thường như ḿnh thôi à?!” Nghĩa là trong đầu óc tưởng tượng của cô nữ sinh 18 tuổi sinh ra và lớn lên ở thành phố, học lớp 11 trường Đồng Khánh nầy th́ “Việt Cộng” là người của một thế giới khác không phải là “người thường” như ḿnh!

Vội vàng quay về nhà, tôi mở đài BBC và VOA ra nghe mới vở lẽ ra là Huế đă hoàn toàn lọt vào tay của “phía bên tê”, nói theo kiểu Huế. Lại được nghe thêm tin tức giáo sư Lê Văn Hảo, vị giáo sư tiến sĩ nhân chủng học du học ở Pháp về, con nhà tỷ phú, mới lên lớp dạy chúng tôi buổi học cuối cùng trong lớp Văn Minh Việt Nam, đại học văn khoa Huế trước khi nghỉ Tết; thầy giáo Hoàng Phủ Ngọc Tường bỏ dạy môn Triết lớp 12 B2 của chúng tôi nửa chừng trong năm học 1965-1966 để lên núi theo “phía bên tê”; thầy Thích Đôn Hậu mà chúng tôi từng cung kính đảnh lễ và mê giọng tụng kinh thanh thoát trầm lắng một thời... đều là những vị chức sắc cao cấp của thế lực vừa mới chiếm giữ thành phố Huế đêm qua. Ngoài ra, có những nhân vật tên tuổi trước đó tôi đă được nghe nhiều ở Huế nhưng chưa bao giờ được biết mặt như các ông Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm… cũng được nhắc đến qua tin miệng và sóng điện. Tôi nửa tin, nửa ngờ trong một tâm trạng hoang mang khó tả.

 

Nhà của anh ruột Lê, nơi tôi đang tạm trú ở chung một khu vườn với nhà chú “Phong cao” số 132 A. Chú cũng là ông già của Vân bạn cùng cấp lớp với tôi và nghe đâu chú đang là phó quận Hương Thủy hay Phú Vang ǵ đó. Cả hai ngôi nhà dần dần trở thành địa điểm tạm cư của những người bị kẹt lại trong dịp xa nhà ăn Tết.

Ba ngày trôi qua không động tĩnh. Bà con ở yên trong nhà hay quá lắm là ra vườn hít thở chút không khí đẫm mưa phùn lạnh buốt tháng Giêng và chia nhau thức ăn sắm sửa cho ba ngày Tết chưa dùng. Lê và tôi th́ thỉnh thoảng rủ nhau đi bộ trên đường Phan Chu Trinh vắng ngắt trước nhà thuộc bờ Nam sông An Cựu. Cầu Kho Rèn và cầu An Cựu đă bị phá sập. Chúng tôi thường ngó qua bên kia sông là trường Mê Linh và thấy rơ trên con đường vắng dọc bờ sông, có hai xác người chết, mấy hôm sau chương śnh lên và mấy con chó hoang đến bươi ăn…

Tối mồng Bốn, khoảng 9 giờ, bỗng nghe phía ngoài cổng chộn rộn tin có người đến soát nhà. Tất cả đàn ông đều nhanh nhẩu phóng lên núp ở trần nhà. Tôi bị cậu Vinh (cảnh sát ở Bao Vinh lên thăm bị kẹt lại) nằm đè lên người nghẹt thở trong bóng tối đau điếng nhưng chỉ dám gào lên ư ử trong cổ họng. Nằm úp mặt trên trần nhà nh́n qua khe gỗ, tôi thấy một toán thanh niên nam nữ mang vũ khí, đeo băng đỏ, nhiều người tóc tai và áo quần c̣n dáng vẻ “hippy” thành phố. Họ có vẻ như muốn đi t́m ai đó chứ không phải đến bắt người vô danh chung chung như chúng tôi. Khoảng 15 phút sau, có tiếng gọi của các bà, anh em đang núp ở trên trần nhà mới dám lồm cồm ngồi dậy và đỡ nhau tụt xuống. Không ai hề hấn ǵ và cũng không ai bị bắt đi tối hôm đó. Một lần soát nhà khác sau đó 3 hôm cũng xẩy ra tương tự như thế.

Mọi người như bị nhốt trong một chiếc lồng trên đảo. Không ai biết chuyện ǵ đang xảy ra ở những vùng lân cận. Số tin tức lọt qua đài BBC và VOA th́ có vẻ như đầu rồng đuôi rắn khó rơ thực hư. Sau mấy ngày dài câm lặng trôi qua nặng nề với những tiếng súng nổ lẻ tẻ vọng tới từ phía trung tâm thành phố, tiếng bom đạn bắt đầu nổi lên ngày càng dồn dập hơn nhưng vùng cầu Kho Rèn nơi tôi đang ở vẫn c̣n yên lặng.

Mười hai tháng Giêng, tiếng súng vùng bên kia sông An Cựu nghe gần hơn và vào lúc xế trưa, đạn pháo kích nổ ở quanh vùng. Khoảng 2 giờ chiều, cả ngôi nhà tôi đang ở bỗng rung lên và lửa tóe ra với tiếng bom nổ kinh hoàng. Hai phần ngôi nhà phía bờ sông trúng bom đổ sập tan tành. May mắn là hơn chục người chúng tôi, không có trẻ con, đă xuống núp trong hầm đá cách đó hơn một giờ khi nghe tiếng bom nổ xung quanh vùng. Cả cái hầm rung rinh cḥng chành như ngồi thuyền đi trên nước. Trong số người núp dưới hầm có cả cụ Tôn Thất Biên là một nhà thầu xây dựng nổi tiếng của Huế. Cụ cho biết là chính cụ đă được ông chủ người Pháp thuê thiết kế ngôi nhà và cái hầm nầy. Tiếng bom lặng đă lâu mà vẫn chưa có ai dám chui ra khỏi cửa hầm. Cuối cùng, tôi đưa ra ư kiến là nên tản cư tránh bom đạn về miệt đồng quê ở vùng Dạ Lê, Hương Thủy và được tất cả đồng ư. Chúng tôi xé tấm vải trắng trải giường và chặt một nhánh cây buộc vào làm cây cờ trắng dẫn đầu cả nhóm ra Quốc lộ 1 đi về phía Dạ Lê. Trên đường, cũng đă có nhiều đoàn người tản cư tránh bom đạn như chúng tôi. Trời gần chiều tối, chúng tôi xin vào tạm trú qua đêm tại chùa Dạ Lê sát bên Quốc Lộ 1. Nơi đây, cũng đă có quá nhiều người đồng cảnh ngộ.

Khoảng hơn 9 giờ đêm, có 3 người, một nữ hai nam, tuổi c̣n rất trẻ đeo băng đỏ đến chùa, cả ba đều mang súng. Họ đi vào soát chùa một ṿng và chỉ vào tất cả đàn ông có mặt đang đứng đớ ra nh́n, lập đi lập lại: “Bước ra ngoài tê!” Chùa nhỏ, nằm trên cánh đồng lúa nên khó t́m ra một chỗ nào để trốn. Dưới ánh trăng mờ mờ, tất cả đàn ông chúng tôi đều bị lùa ra giữa cánh đồng trống, bùn nước dưới chân b́ bơm và mưa phùn, gió bấc lạnh tê người. Có khoảng 6, 7 người mang súng ống chia ra 3 cụm. Cụm của tôi có 4 người đàn ông đang lánh nạn ở chùa do hai du kích một nam, một nữ dẫn qua một ngôi mộ cũ tương đối khô ráo. Không có đèn pin mà chỉ có bật lửa do người đàn ông quẹt xạch xạch để ánh sáng lóe lên nh́n mặt từng người. Đến lượt tôi do người nam kéo riêng ra hỏi. Anh ta c̣n trẻ, khoảng bằng tuổi tôi, nói giọng thôn quê vùng Phú Bài, Hương Thủy; mở đầu hỏi tôi một loạt dài có vẻ đă học thuộc ḷng và phát ra như cái máy:

 

- Tên họ là chi, quê quán ở mô, từ mô tới, ai phái về đây?

Sau khi tôi e dè trả lời, người hỏi như không quan tâm. Hỏi tiếp:

- Làm nghề chi?

Tôi trả lời:

- Sinh viên đại học sư phạm Huế.

Người đàn ông thắc mắc:

- Học cái đồ nớ là làm nghề chi?

Tôi hiểu ngay đây là một thanh niên nông thôn, ít học và chẳng hiểu ǵ về chuyện học hành ở thành phố cả.

Sau các đợt hỏi kiểm soát kéo dài chừng 15 phút, trước khi người nam bảo cụm chúng tôi “ngồi chờ đó” rồi cả hai người bỏ đi, có một giọng đàn ông, thô thiển nhưng lại đầy uy quyền, xuống lệnh:

- Tụi mô cứng đầu cứng cổ, khai gian dối th́ ria cho một băng nát óc!

Những người đeo súng bỏ đi. Chúng tôi vẫn run sợ cho mạng sống của ḿnh trước lời hăm dọa “ria cho một băng nát óc” nên ngồi chờ trên ngôi mộ cũ, tựa lưng vào nhau cho đỡ lạnh. Chờ cho đến khuya không thấy có người trở lại nên bốn chúng tôi rón rén lội bùn về lại chùa. Không hiểu số phận của các cụm đàn ông khác ra sao. Có thể bị bắt đi, bị “ria một băng nát óc”, được thả cho về hay bị quên đi trên ngôi mộ cũ ngoài đồng vắng như chúng tôi.

Cảm thấy chùa Dạ Lê cũng chẳng phải là nơi yên thân lánh nạn nên chúng tôi lại phải trở về căn nhà cũ chỉ c̣n trơ lại nhà bếp và một phần nhỏ chưa bị bom phá hủy.Chờ cho đến khi cuộc binh biến chấm dứt vài tuần sau đó, chúng tôi mới băng qua phà nổi thay cầu An Cựu, cầu Trường Tiền đă bị phá sập để vào Thành Nội. Thành phố Huế chỉ c̣n là một cảnh đổ nát hoang tàn…

So với mức độ nghiêm trọng của sự tàn phá và thương vong trong toàn cuộc chiến Mậu Thân ở Huế, trường hợp cá nhân và t́nh h́nh nơi tạm cư của tôi ở vùng cầu Kho Rèn, An Lăng, Dạ Lê… vẫn c̣n đứng bên lề cuộc “tang thương dâu biển” về mặt mạng sống. Nhưng về mặt tâm lư và tinh thần th́ vẫn là đám lục b́nh trôi dập vùi trên nước nước lũ

Qua những ngày ở tạm trong căn nhà đổ nát vớ́ tâm trạng thường xuyên căng thẳng. Số phận con người bèo bọt như ngọn đèn trước gió. Người ta có thể bị chết v́ bom đạn, bị giết bởi bất cứ ai cầm vũ khí trong tay, bị bắt đi không cần lư do tra hỏi. Sự hủy diệt có khả năng đến bất cứ giây phút nào và nạn nhân chỉ c̣n biết “xuôi tay cho mệ nuốt”!

 

Là một huynh trưởng Gia Đ́nh Phật Tử, tôi đă cùng với một số anh chị em và đoàn sinh t́nh nguyện giúp bà con t́m thân nhân mất tích sau biến cố Mậu Thân như một phần của hoạt động từ thiện, xă hội. Theo lời kể lại mà tôi được nghe th́ trong 26 ngày đêm Huế bị bao vây, miệt Thành Nội, Gia Hội, Phủ Cam là kinh hoàng nhất. Cuộc “tiến công và nổi dậy” đă trở thành một diễn trường của thù hận và trả thù không phải do bộ đội chiến đấu mà do các cá nhân và thế lực “nằm vùng” (?!) chủ động. Cho đến khi tận mắt nh́n những hầm chôn người tập thể được khai quật ở Băi Dâu, tôi choáng váng, trí óc đông đặc và cảm thấy chân tay ḿnh như nhuyễn ra không c̣n gân cốt trước cảnh đầy dấu tích người bị giết, bị dập chết vùi thây trong cơn hoảng loạn…

Một phóng viên “tài tử” viết về chiến tranh – Louis Mettinger trong Memoir of Vietnam War; NY. 1991 – đă nêu lên một h́nh thái “đạo lư của sự công bằng” đáng suy gẫm về h́nh ảnh biến cố Tết Mậu Thân ở Huế khi ông ta cho rằng:

“Đành rằng, bản chất và phương tiện của chiến tranh là hủy diệt; hành động của hai phe cầm vũ khí đối mặt nhau trên chiến trường là phải ‘giết hay bị giết’. Nhưng cần có sự phân định rạch ṛi giữa người tham gia chiến tranh và kẻ tội phạm chiến tranh; giữa biến cố chiến tranh và tội ác chiến tranh.

Riêng tại Huế, cuộc tổng tấn công Mậu Thân đă vạch rơ trước mắt thế giới lằn ranh rơ rệt giữa biến cố chiến tranh và tội ác chiến tranh; giữa người tham gia chiến tranh và kẻ tội phạm chiến tranh.

Như cũng đều là cảnh thường dân bị chết nhưng trường hợp Thất Thủ Kinh Đô 23-5-Ất Dậu 1885 là hậu quả của biến cố chiến tranh mà cuộc Sát Hại Mậu Thân 1968 (Hue Massacre) – một mảnh trong toàn thể cuộcchiến Tết Mậu Thân (the Tet Offensive) – là vết tích của tội ác chiến tranh.

Cụ thể hơn, bộ đội miền Bắc và lính miền Nam là những người hành động theo màu cờ sắc áo của phía ḿnh, họ là những người tham gia cuộc chiến theo nhiệm vụ được phân công. Nhưng những ai nằm trong thế lực chủ động hành xử giết chết thường dân tay không, vô tội là những tội phạm chiến tranh.”

Sau biến cố Mậu Thân, những mùa Tết ở Huế như váng vất buồn. Nỗi buồn se lại khi có lần tôi ghé nhà chú Bảo, thím Gái ở gần Hồ Mưng Thành Nội. Cả gia đ́nh chú làm nghề thợ mă lâu đời. Nghề làm đồ giấy của chú có thêm một sản phẩm mới là những chiếc “lồng ấp”. Đó là dụng cụ đốt than, có thể ôm vào người sưởi ấm cho mùa Đông, khá thịnh hành ở các vùng quê quanh Huế. Chú nói nghe mà “dễ sợ” rằng, có quá nhiều linh hồn người đă chết oan trong biến cố Mậu Thân “hiện hồn răng đánh cầm cập” xin người thân cho lồng ấp v́ bị chết trong cơn giá lạnh nên có nhiều gia đ́nh đặt chú thím làm lồng ấp để cúng.

Giữa thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến nầy, có chăng những “luồng sóng MTV” của những kẻ chết oan đang kêu đ̣i hóa giải (?!)

Cần một lời Xin Lỗi

Đă 44 năm qua, 30 năm không c̣n được ăn Tết ở quê nhà; nhưng tôi vẫn c̣n nhớ mồn một h́nh ảnh Tết Mậu Thân Huế như nhắc chuyện hôm qua. Hôm nay, tôi viết lại những ḍng nầy với tư cách là một người con xứ Huế; một người theo đạo Phật với niềm thâm tín rằng, nỗi oan khuất Mậu Thân trên quê hương tôi nằm ra ngoài sự phân tích và lư giải thường t́nh trong biến cố tương tàn ngoài tầm chiến tranh quy ước. Đă có quá nhiều ngôn từ, giấy mực trong cũng như ngoài nuớc nói về biến cố Mậu Thân. Tôi không làm công việc sao lục, luận bàn hoặc phê phán rập khuôn hay phản biện theo đuôi phía nầy hay phía nọ như Douglas Pike đă lên tiếng trong sách viết về Mậu Thân, rằng: “Khó có thể yên tâm nói về biến cố Mậu Thân Huế mà không ‘đứng giữa hai lằn đạn’ của hai phía cực đoan”. Một lần gặp Pike trong hội thảo Asian Forum ở đại học Berkeley , nhắc đến những bài viết về chiến tranh Việt Nam của ông, tôi nói với ông ta nửa đùa nửa thật: “Cầm bút th́ đừng sợ; mà sợ th́ đừng cầm bút, ông Pike ơi!” Ông ta cười cười hỏi lại: “Vậy th́ anh sợ cái ǵ nhất?”. Tôi đă trả lời: “Sợ đánh mất chính ḿnh”.

Đối với nhà nghiên cứu và người cầm bút, cuộc chiến Mậu Thân là một đề tài vừa cạn, vừa sâu; vừa thu hút mà cũng vừa mơi nản bởi sự phức tạp giữa thực tế và suy diễn; giữa sự kiện cụ thể và thông tin đồn đoán. Tài liệu tổng hợp về biến cố Mậu Thân Huế tương đối bao quát về mặt số liệu, mang tinh thần nghiên cứu lịch sử khách quan và khoa học đa số do các tác giả nước ngoài (học giả, phóng viên, thành viên tham gia trực tiếp) viết lại. Trên Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (xin trựctiếp bấm vào đây hay mở địa chỉ: http://en.wikipedia.org/wiki/Tet_Offensive để xem nội dung chi tiết) đang được phổ biến thường xuyên và rộng răi trên mạng lưới truyền thông. Một số các tác giả nước ngoài chuyên khảo về lịch sử chiến tranh Việt Nam như Pike, Porter, Noam Chomsky, Edward S. Herman… cũng đă viết về trận chiến Mậu Thân. Tuy nhiên khi nói đến nguyên nhân và động cơ của cuộc thảm sát Mậu Thân, những tác giả nầy – kể cả cây bút rất có thẩm quyền trong lĩnh vực nghiên cứu thuần túy như Douglas E. Pike – cũng chỉ đưa ra những luận giải chung chung và giả định mơ hồ thiếu tính thuyết phục. Các Tác giả viết về Chiến Tranh Việt Nam, Vietnam War Writers (xin trực tiếp bấm vào đây hay mở địa chỉ: http://www.vietnamwar.net/vwauthors.htm để đọc những tác phẩm đă xuất bản), đứng bên lề hay giữa ḷng cuộc chiến cũng đă viết về máu lửa và nỗi nhục nhằn oan khiên của biến cố Mậu Thân đầy cảm xúc.

Theo tài liệu báo chí nước ngoài như Time, Life, Guardian, Paris Match… th́ số người bị chết không do trực tiếp chiến đấu ước tính từ 2.800 đến 6.000 người; bao gồm lính về nhà ăn Tết, công chức, thành viên các đảng phái, tu sĩ và lănh đạo tôn giáo, nhân sự làm việc cho Mỹ, người ngoại quốc và thường dân. Nghĩa là chỉ có những người bị bắt v́ có dính líu đến chính quyền miền Nam và Mỹ (tù nhân chiến tranh) và thường dân.

Tất cả các hiệp ước quốc tế đều có chung một điều khoản: Trong cuộc chiến đang tiếp diễn hay đang lụi tàn, giết tù binh/tù nhân chiến tranh và thường dân là phạm vào tội ác chiến tranh. Bị chết không do cầm vũ khí chiến đấu… “không hận thù nằm chết như mơ”, nói theo kiểu nhạc Trịnh Công Sơn, là chết oan.

Nỗi oan chưa được giải tỏa trở thành oan khuất.

Đối với dân Huế mà trực tiếp và sâu thẳm nhất là đối với những linh hồn của những người thường dân vô tội, chết oan th́ trong trận chiến Mậu Thân có cuộc thảm sát Mậu Thân. Đó là nỗi oan khuất. Oan khuất cần được giải oan trên căn bản nhân văn và đạo lư dân tộc.

Nơi đây, tôi chỉ muốn được nh́n lại biến cố Mậu Thân mà ít nhiều tôi đă trực tiếp sống qua những ngày câm lặng. Khuynh hướng người viết là muốn nh́n và suy nghĩ bằng bước chân và tâm thức của khách hành hương qua đền miếu cũ; gần với đời sống tâm linh hơn là tạo thêm phiền năo theo biên kiến luận giải mang khuynh hướng chính trị và tuyên truyền đời thường. Khi nhắc lại “sự cố đă thành cố sự”, tôi tưởng nhớ tới linh hồn cùng nỗi oan khuất của anh em bà con, bằng hữu và đồng hương ḿnh đă gánh chịu và nghĩ về nhu cầu hóa giải trên căn bản tâm linh và truyền thống bạt độ Giải Oan của dân tộc. Tôi đă có dịp tŕnh bày vấn đề nầy qua bài viết Đàn Tràng Giải Oan đă được phổ biến trên mạng lưới toàn cầu:

http://www.trankiemdoan.net/butluan/tongiao-phatgiao/traidangiaioan.html (xin mở trang web hay trực tiếp bấm vào đây để theo dơi).

Trong đó, người viết đă tŕnh bày rằng, oan là một khái niệm gắn liền với tâm lư dân tộc Việt Nam . Trong khung cảnh văn hóa làng xă, sự oan ức đồng nghĩa với bất công, áp bức, mất mặt, hận thù, xa lánh... có khi là tội lỗi u ẩn giữa đối tượng bị oan và tập thể xă hội gây oan đang tồn tại. Oan, trước mắt đại chúng, có nỗi oan thể lư và nỗi oan tâm lư. Về mặt thể lư, oan là khi bị những sự tác động từ bên ngoài như biến cố, tai ách, bạo lực làm mất mát, thương tật, chết chóc đột ngột ngoài tầm dự liệu của nạn nhân bị chịu oan ức. Về mặt tinh thần, oan là bị hiểu lầm, bị nh́n sai, bị đánh giá không đúng, bị phê phán bất công, bị nhận định thiên lệnh... và cuối cùng mang chịu kết luận, phán quyết không hợp với công lư và nhân bản.

Nỗi oan ức có mẫu số chung trong cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Nhưng cách giải quyết nỗi oan thường mang nặng yếu tính của truyền thống, xă hội và khuynh hướng tinh thần.

Trước khi đạo Phật và đạo Chúa ra đời, du nhập vào Việt Nam, những nỗi oan Việt Nam được xem như đă có "Đèn Trời soi xét”. Đèn Trời là một thứ công lư tự nhiên trong tâm thức dân tộc Việt. Vua Lê Thánh Tông khi qua miếu Vợ Chàng Trương đă nói lời giải oan: “Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt. Giải oan chi mượn đến đàn tràng…” Với khái niệm giải oan đời thường mang tính đại chúng trên đây, đạo Phật đi vào cuộc đời và đóng vai một tôn giáo điển h́nh về những lễ nghi và kinh văn sử dụng trong việc giải oan thông qua những Đại Trai đàn Bạt độ Giải oan.

Giải oan, do đó, là những phương tiện trung gian và tạm thời giúp “sửa sai” một trạng huống vô minh trong quá khứ thành sáng tỏ và công chính trong hiện tại và tương lai. Nhờ đấy – ít nhất cũng là qua sự tin tưởng của những người ở thế tự nguyện làm kẻ cầu nguyện, biện minh – nỗi oan ức sẽ được hóa giải và sự đày ải của nạn nhân chịu oan sẽ được chấm dứt. Nghi thức giải oan, tự bản chất, là một ư hướng hành thiện, lợi tha mang tinh thần từ bi (cứu người bị ch́m đắm), hỷ xả (hóa giải) và trí tuệ (phá vô minh) của Phật giáo góp phần băng bó những vết thương tâm lư c̣n tươi; những nỗi đau đời chưa lành lặn; và, những oan trái c̣n đè nặng tâm linh mà thời gian chưa đủ chữa lành. Lịch sử Việt Nam cận đại đă ghi lại rằng, sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung đă hạ chiếu truyền làm lễ tưởng niệm các tướng sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn, giải oan cho các oan hồn uổng tử của mấy vạn quân Thanh đă nằm xuống trên đất nước ta. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng đă cho thiết đàn tràng siêu độ cho quan quân tử sĩ và những oan hồn đă nằm xuống trong cuộc chiến không phân biệt bên nào (1802).

Nhiều danh nhân văn học Việt Nam đă góp phần trong việc soạn thảo ra những bài văn tế bất hủ để truy điệu những oan hồn và tử sĩ. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn bài Văn tế tướng sĩ trận vong và Cô hồn thập loại bằng quốc âm. Nhà thơ Nguyễn Du soạn Văn tế thập loại chúng sanh. Cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu soạn Văn tế sĩ dân Lục tỉnh và Văn tế vong hồn mộ nghĩa. Gần đây nhất, sau biến cố thất thủ kinh đô (5-7-1885), người dân Thừa Thiên Huế trong hơn một thế kỷ qua đă sử dụng không biết bao nhiêu phương tiện nghi lễ để cúng tế và mở đàn giải oan cho các cô hồn tử sĩ đă bỏ ḿnh trong cuộc nổi dậy chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại.

Niềm tin nhất quán trong tất cả các cuộc Trai đàn bạt độ Giải oan là cầu nguyện cho "âm siêu dương thái". Đối với các vong hồn đă chết, dù chết bởi nhiều biến cố và t́nh huống khác nhau, nội dung vẫn bao gồm 3 mục tiêu giải oan chính:

1.    Hóa giải: Người đă chết cần được người c̣n sống ghi nhận, vinh danh, thương tiếc, cảm thông, chia sẻ, xin lỗi hay tha thứ thích ứng với hoàn cảnh cụ thể;

2.    Giải oan: Giải tỏa những oan ức, dằn vặt, hiểu lầm, nghi kỵ, đọa đày và động lực đă gây ra sự chết chóc oan khiên;

3.    Siêu thoát: Cầu nguyện cho các oan hồn uổng tử được siêu thoát.

Đối với người c̣n sống, Đàn tràng Giải oan mang đến một nguồn tâm lư trị liệu (psychotherapy) tập thể rất cần cho sự an ḥa trong cuộc sống. Nội dung cũng gồm 3 điểm chính:

1.    Ghi nhận "nghĩa tử là nghĩa tận". Chết là b́nh đẳng và trút bỏ mọi hận thù, xung đột, ân cũng như oán, lại đằng sau. Chết là hóa giải và tự hóa giải giữa người ân và kẻ oán;

2. Yên tâm rằng, vong hồn của người thân cũng như kẻ thù đều được siêu thoát, không c̣n đi theo quấy phá hoặc nuôi mối hận cừu chờ ngày báo oán;

3. Giảm thiểu hay xóa được gánh nặng tinh thần về sự ám ảnh của quá khứ trong chính ḿnh, để cho tâm hồn nhẹ nhàng đối diện với đời sống trước mắt và giúp ích cho thế hệ mai sau.

Ư nghĩa của một lời Xin Lỗi

Văn minh nhân loại càng tiến bộ, tinh thần trách nhiệm càng cao th́ tâm lư hóa giải để sinh tồn và cộng tồn càng trở nên vi tế. Chỉ có bạo chúa, độc tài và vô minh mới không biết bày tỏ lời xin lỗi cần thiết. Những trụ đá vô hồn nầy thường chỉ biết bám cứng vào thù hận và danh sắc hăo huyền để mong tiêu diệt hận thù; chẳng khác ǵ gă Ignorr (tiền thân của Ignorant Vô minh) vác chiếc ḥm đen chứa đầu lâu để đi diệt trừ bóng tối!

Thế giới ngày nay, khuynh hướng toàn cầu hóa càng tiến nhanh th́ những h́nh thức Cá Nhân Xin Lỗi (Personal Apology) và Chính Thức Xin Lỗi (Official Apology) từ phía các cá nhân danh tiếng quyền lực, các thế lực lănh đạo, nguyên thủ quốc gia… xuất hiện càng nhiều. Lời Xin Lỗi xuất hiện sớm nhất trong lịch sử văn minh nhân loại c̣n ghi dấu là hành động xin lỗi của hoàng đế La Mă Henry IV đối với Giáo hoàng Gregory VII về sự xung đột của triều đ́nh gây tác hại cho giáo hội Thiên chúa giáo La Mă vào năm 1077. Heny IV c̣n đứng chân trần trong tuyết lạnh suốt 3 ngày để biểu tỏ cho lời thành khẩn của ḿnh. Người đời sau tôn ông là “Hiền Vương La Mă” (Holly Roman Emperor) v́ thái độ ăn năn và hành động khiêm cung nầy. Năm 1970, cả thế giới đều cảm động trước h́nh ảnh lănh tụ Tây Đức Willy Brandt đă quỳ gối thành khẩn xin lỗi các nạn nhân Ḷ sát sinh Tập trung (Holocaust) của Hitler và Đức quốc xă. Các vị thủ tướng Nhật Bản đă thực hiện nhiều cuộc xin lỗi với Trung Quốc, Đại Hàn, Mỹ và các nước khác về những hành động ngược đăi, giết chóc tàn bạo tại những quốc gia mà giới quân phiệt Nhật đă từng chiếm đóng. Năm 1988, chính phủ Mỹ đă lên tiếng xin lỗi và đền bù thiệt hại (20.000 USD trên mỗi đầu người) về sự ngược đăi, lùa dân Mỹ gốc Nhật vào Trại Tập Trung Cấm Cố trong Thế chiến II. Gần đây nhất, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev và thủ tướng Putin chính thức xin lỗi dân Nga về những tội ác của Josef Stalin đă giết chết 724.000 và đày ải 10 triệu người người dân vô tội của họ trong các trại lao động khổ sai vào những năm cuối thập niên 1930. Đó là một thời kỳ Đại khủng bố (Great Terror) trong lịch sử nước Nga mà tội ác không thể nào biện minh nổi…

Nêu dẫn một số trường hợp tiêu biểu trong vô số những h́nh thức Chính Thức Xin Lỗi đă và đang diễn ra trên toàn thế giới để tiến tới nhận định rằng: Sự xin lỗi là một biểu hiện của tầng cao nhân văn mang ư nghĩa mong cầu hợp tác đoàn kết và tinh thần cầu hóa giải. Đặc biệt là trên cấp độ lănh đạo quốc gia th́ một sự xin lỗi đúng đắn là một sách lược chủ động và tự tin trong quá tŕnh trị nước an dân về mặt đối nội và cũng là thái độ ngoại giao khôn khéo bày tỏ thiện chí hợp tác song phương hay đa phương về mặt đối ngoại.

Truyền thống văn hóa phụ quyền và cấu trúc làng xă theo đẳng cấp hàng dọc “thượng, hạ” của xă hội Việt Nam đă tạo ra một hiện trạng tiêu cực so với phong thái xă giao và ngoại giao phổ quát là dân ta rất khép kín cũng như quá hà tiện lời “xin lỗi” và tiếng “cám ơn” với nhau, nhất là trong mối quan hệ cấp trên đối với cấp dưới, lănh đạo đối với quần chúng. Đă đến lúc dân ta cần tới một sự chuyển biến tích cực và thông thoáng hơn. Bất luận ở đâu và thời nào cũng thế, người lănh đạo biết lỗi lầm của cấp dưới để sửa sai là cao trí tuệ. Người đứng đầu biết lỗi lầm do thuộc cấp của ḿnh gây ra để công khai xin lỗi là rộng lương tri. Lănh tụ cao trí tuệ và rộng lương tri th́ sẽ giúp dân t́nh ḥa hợp, nước mạnh dân giàu là một hậu luận tất nhiên.

Vai tṛ lănh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam c̣n đó. Sự đợi chờ của người dân Huế cùng đồng bào trong và ngoài nước về một thái độ hành xử xứng hợp với vai tṛ và vị thế của người lănh đạo c̣n

 

Trần Kiêm Đoàn

_______________________________________________________________________________

 

TRÍ QUANG TỰ TRUYỆN: Không vẫn hoàn không.

           

Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn – th́ lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, v́ đó là phần “h́nh nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một ḍng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời ḿnh để lập ngôn th́ thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời ḿnh để viết lại th́ thành tác giả tự truyện, hồi kư. Người đem tiểu sử đời ḿnh ra đánh bóng, trang hoàng, rao bán th́ thành nhà… chính trị kinh doanh! Nhưng dẫu ở mức độ nào th́ cũng khó ḷng đem ra so sánh, cân đo khi không có cùng mẫu số. Cũng đều xuất phát từ con người làm điểm tựa, nhưng sẽ thiếu công bằng nếu đem những tứ đại kỳ thư, những áng kim cổ hùng văn hay thiên hạ danh văn để so với những bài thơ Thằng Bờm có cái quạt mo, những bài ca dao truyền miệng... v́ mẫu số chung của cảm tính văn nghệ chẳng tương đồng. Tuy nhiên, trong ư nghĩa tinh túy nhất mà cũng rất thường t́nh của nhân sinh, “cái thích” hay sự cảm thụ và sáng tạo văn chương nghệ thuật th́ không ai giống ai v́ cái ngă sở chắn đường bít ngơ theo lối ṃn một chiều“có th́ có tự mảy may, khi không cả thế gian này cũng không!”. Từ đó dẫn tới cái thương, cái ghét càng lúc càng xa với những ǵ hiện thực “thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng!”

 

Tác phẩm nghệ thuật thường được ví von như những cơn mưa. Có những trận mưa – mưa rào, mưa t́nh, mưa pháp – mà con người và muôn vật được hưởng lợi lạc hay phải chịu đựng cơn mưa phù hợp với căn tính của từng đối tượng: Con dế mèn ca hát rát cổ hưởng được một giọt mưa ngọt lịm; con chim non bị ướt tổ lạnh run; con kiến cỏ bị chết trôi chới với; người nông dân có được nước đầy đồng… Chẳng ai giống ai. Bởi vậy, mọi giá trị của vạn vật đều tương đối. Nhưng trong tương đối đă có sẵn một điều tuyệt đối, đó là sự khác biệt và đồng nhất đều cùng một thể: “Không lại hoàn không!”

Và, đó cũng là kết luận của “Trí Quang Tự Truyện”. Đây là một tác phẩm hồi kư của ḥa thượng Thích Trí Quang, một danh tăng Phật giáo thế hệ Chiến tranh Việt Nam đang bước vào độ tuổi 90.

Có thể nói mà không phải dè dặt rằng, trong số các hồi kư của những nhân vật lịch sử, trong cũng như ngoài nước, có liên quan đến ḍng lịch sử Chiến tranh Việt Nam th́ hồi kư của thầy Trí Quang là một trong những tác phẩm được chờ đợi nhiều nhất.

Văn chương tự cổ không bằng cớ, nên khen hay chê tự nó không quan trọng mà quan trọng là mức độ khách quan, công bằng và tính trong sáng của sự khen chê. Và, quần chúng nói về một đối tượng sao bằng chính đối tượng được nhắc nhở đó tự nói về ḿnh. Trí Quang Tự Truyện là những điều thầy Thích Trí Quang tự nói về ḿnh.

Từ đầu năm 2011, tuy đă được đọc các bài giới thiệu và trích đoạn của tập sách nầy trên mạng lưới truyền thông nhưng măi đến khi về thăm quê vào tháng 3-2012 tôi mới đọc được bản chính toàn tập. Sách dày 216 trang, nhà xuất bản Tổng Hợp tại Sài G̣n. In 3000 cuốn, xong ngày 22-7-2011. Tác giả viết xong ngày 24-4-2011. Sách không chia thành chương, mục mà được phân thành 47 đoạn viết theo lối hồi ức, tự truyện. Không có một h́nh ảnh nào minh họa từ b́a đến nội dung.

 

Trí Quang Tự Truyện đă gây ra những luồng phản ứng tuy không sôi nổi theo kiểu… “siêu sao”; nhưng tương đối rộng răi đối với quần chúng trong cũng như ngoài nước; đặc biệt là đối với giới trí thức và Phật tử lớn tuổi đă từng sống trong chiến tranh và trải nghiệm thực tế qua những biến cố lịch sử đầy thăng trầm của đất nước. Đa số bày tỏ sự thất vọng v́ hồi kư không “ngang tầm” với tác giả. Người ta chờ đợi một thiên hồi kư có “tầm vóc thời đại”. Nghĩa là những pho sách dày với những công bố phơi bày nhiều bí ẩn lịch sử, những “giải mă” sự kiện c̣n nằm trong góc khuất, những lư giải hùng hồn về các hiện tượng đầy thâm cung bí sử, những biện minh đầy thuyết phục nỗi oan khuất của đạo pháp và dân tộc, những chứng lư rạch ṛi thân phận nhược tiểu trên bàn cờ quốc tế… Nghĩa là với tầm vóc của một nhân vật tu sĩ Phật giáo đă từng là khuôn mặt trung tâm cho cuộc tranh đấu đ̣i tự do, b́nh đẳng tôn giáo của Phật giáo năm 1963 và những cuộc biểu t́nh đ̣i cải cách chính trị thời 1966 đă làm chấn động Việt Nam và dư luận thế giới như thầy Thích Trí Quang th́ sẽ có cả một kho tàng dữ liệu và vô số lư giải cho cả một thời kỳ đầy biến động chiến tranh, chính trị và xă hội để viết ra trong hồi kư. Thêm vào đó, thầy Trí Quang c̣n là tác giả, dịch giả, luận giả uyên bác và đáng tin cậy của nhiều tác phẩm Phật học nội điển và luận thư trong khoảng 70 năm qua. Bề dày của những công tŕnh biên dịch và tham luận có giá trị là những điều kiện “ắt có và đủ” cho một tác phẩm hồi kư lớn của Thầy ra đời. Hoặc ít lắm th́ cũng là những hồi ức đầy “thương hiệu thành danh” của ta và của người vào hàng Retrospect của Robert McNamara hay Political Memoirs của Malcom Fraser… và của nhiều nhân vật danh tiếng Việt Nam đă xuất bản chẳng hạn.

Nhưng Trí Quang Tự Truyện đă thanh thản ra đời như một cô gái Việt chân quê trên diễn trường hoa hậu quốc tế làm cho người ta ngạc nhiên.

Những ngày mưa tháng Hai của Huế, lên chùa Châu Lâm không cách xa chùa Từ Đàm là mấy, được ăn cơm chay với thầy Thiện Phước trong vườn lan đủ màu tự trồng, tự tưới của Thầy, trưa vào nghỉ ở nhà tịnh của chùa và đọc Trí Quang Tự Truyện nguyên bản in của anh Trần Tuấn Mẫn báo Văn Hóa Phật Giáo gởi cho, tôi cảm thấy an tịnh và gần gũi với tập sách hơn.

Trong khu vườn thiền lâm, thầy Trí Quang là một hành giả với bút lực dồi dào từ khi c̣n trẻ tới hồi đại lăo như hôm nay. Nói về công phu biên dịch kinh sách, chỉ riêng năm 2011 thôi, thầy Trí Quang đă hoàn thành nhiều công tŕnh trước tác thâm uyên với 3 bộ sách đă in ấn và phát hành là: Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia gồm 2 tập, mỗi tập hơn ngh́n trang và Nhiếp Luận, 334 trang. Bởi vậy, khi cầm Trí Quang Tự Truyện trên tay, có lẽ tôi không nên trịnh trọng gọi đây là một tác phẩm hồi kư đầy chữ nghĩa to tát mà nên gọi đây là những ḍng tâm bút của một sơn tăng giữa thị thành đang sống với tánh thường rỗng lặng “không vẫn hoàn không”.

So với những tác phẩm mang tính nội điển mà thầy Trí Quang đă cẩn trọng biên dịch – nghiêm cẩn trong từng cụm từ và chỉnh chu trong từng luận giải – th́ Trí Quang Tự Truyện nhẹ như tơ hào. Tác giả viết ra những sự kiện, kể lại chuyện đời ḿnh bằng một lối văn chân phương – lại có khi rề rà không trau chuốt – dễ dăi như người b́nh dân ngồi kể chuyện Tấm Cám.

 

Trong suốt 50 năm qua, nhân vật Thích Trí Quang thường được (hay bị) môi trường truyền thông đại chúng trong cũng như ngoài nước nhắc nhở khá sôi nổi và không ít thường xuyên trong hàng tu sĩ Phật giáo Việt Nam đương thời.  Sự nhắc nhở xuất hiện dưới nhiều dạng thức và từ nhiều góc độ: Giữa đường, lề phải, lề trái, trên mây, dưới hố… Nhưng không phải v́ lời khen hay chê mà một ḍng sông trở thành trong hay đục. Chẳng phải v́ được ca tụng hay bị đả kích qua ngơ thị phi mà một nhân vật trở thành thánh hay phàm. Đâu phải v́ yêu hay ghét mà một tác phẩm trở thành hay hoặc dở. Thầy Trí Quang – cũng như mọi nhân vật cộng đồng tên tuổi đă thành danh – có một vị trí và thế đứng riêng trong ḷng người và trong lịch sử. Nhưng trong tự truyện, sau khi kể chuyện đời ḿnh từ nhỏ đến lớn; từ thân chú tiểu mới xuất gia cho đến vai tṛ lănh đạo Phật giáo thành tựu, tác giả tự kết luận về đời ḿnh: “…cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có ǵ đáng nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, v́ không thể không có, nên phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”

 

Chính v́ “chân không” mà cuộc đời thành “diệu hữu”. Nhà tu thật ngôn là người hành động trong vô vi; nghĩa là  thỏng tay vào chợ mà không dính mắc, đối mặt với sấm sét giữa đời mà coi như hoa đóm giữa hư không.

 

Khuynh hướng nhất quán về “không” có mặt trên từng trang sách của Trí Quang Tự Truyện. Nội dung tự truyện kể lại nhiều biến cố và hành động trong chặng đời 90 năm của một hành giả đứng giữa gọng kềm lịch sử như thầy Trí Quang mà vẫn mang một phong vị tĩnh lặng an nhiên. Sự an nhiên có được khi yếu tố tác nghiệp không hoành hành. Đó là khi nhu cầu biện minh, giải thích, thuyết phục, khen chê, vinh danh, bài xích… không thể hiện qua ng̣i bút và chữ nghĩa, ngôn từ của người viết. Nhờ vậy, người đọc tự truyện cảm thấy thanh thản theo dơi những ǵ xảy ra và được tác giả ghi lại mà tâm không bị động bởi những cảm xúc dấy bụi nhất thời.

Đạo Phật là con đường đưa đến giải thoát. Đó là một trạng thái tự do đứng ngay chính giữa hai bờ đối đăi của yêu-ghét, vui-buồn, khen-chê, sống-chết… Tuyệt nhiên không c̣n bị dính mắc vào hệ lụy của phóng tâm biên kiến đời thường đầy phiền năo. Tâm Phật là tâm không không rỗng lặng. Chỉ trong không không rỗng lặng nầy – tinh thần “không trung vô hữu tuyệt đối” của Bát Nhă – th́ Phật và chúng sanh mới thành nhất thể. V́ như thiền sư Thường Định Kaido Ashahi Nhật Bản nói trong Thiền Tập Quán Niệm Trên Núi Tuyết rằng: “Một đời đi qua, nếu c̣n một hạt bụi ngă nhân nào vướng lại ở trần gian nầy th́ kẻ tác tạo hạt bụi đó vẫn c̣n bị cột buộc. Người đó c̣n phải quay lại trả nghiệp cho đến khi hạt bụi kia chẳng c̣n vướng vất giữa trần thế, trong tâm thức và giữa hư không…th́ mới mong thấy được khung cửa ngh́n xưa quay về nẻo Đạo.” Phải chăng v́ muốn phủi sạch đôi “hạt bụi ngă nhân” c̣n vương trên khung cửa ngh́n xưa quay về nẻo đạo mà Ḥa thượng Trí Quang phải miễn cưỡng bận ḷng trong Tiểu Truyện Tự Ghi, rằng: “Truyện của tôi không đáng ǵ mà phải ghi. Chỉ v́ truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây th́ chỉ là có c̣n hơn không mà thôi.”

Xác định về một thái độ hành xử như thế, thầy Trí Quang làm cho những người học Phật đời sau nhớ tới tinh thần tùy duyên hành đạo và sống đạo của Phật giáo đời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi đă gác kiếm chống quân Nguyên, thay chiến bào bằng áo cà sa, nghe thị giả hỏi rằng, đâu là chỗ khác nhau giữa việc đời bôn ba và việc đạo an nhiên tự tại, đă đọc bài kệ:

 

            Sống đời vui đạo cứ tùy duyên

            Khi đói th́ ăn, mệt ngủ yên

            Của quư đầy nhà đâu phải kiếm

            Thấy cảnh ḷng không khỏi hỏi thiền

            (Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

            Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên

            Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

            Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền)

 

            Như thế phải chăng “vô tâm tức là đạo?" Khi có người hỏi về khái niệm nầy, Tuệ Trung Thượng Sỹ, thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông đă đọc bài kệ     :

 

            Vô tâm là vô đạo

            Có đạo chẳng vô tâm

            Tâm đạo đều trống rỗng

            Biết nơi đâu mà tầm?

            (Bổn vô tâm vô đạo

            Hữu đạo bất vô tâm

            Tâm đạo nguyên hư tịch

Hà xứ cánh truy tầm?)

 

Điều Tuệ Trung muốn nói là cần đập vỡ những khái niệm tương tác không có thật giữa củ khoai và con kiến. Làm ǵ có con kiến mà kiện củ khoai. Làm ǵ có tâm và đạo hiện hữu như hai đối thể phân biệt khi tâm và đạo là nhất thể. Tâm và đạo không phải là hai h́nh tướng để mô tả và phân biệt mà cần thực chứng trong rỗng lặng, an nhiên qua một trong nhiều phương tiện quán chiếu thiện xảo nhất của Phật giáo là thiền định. Đạo Phật là con đường thực chứng cuộc đời chứ không phải phủ nhận hay xa lánh cuộc đời như ngộ nhận. Đạo giữa đời và đời giữa đạo. B́nh thường giai thị đạo.

Nhà tu là một người phàm trang bị tính thánh chứ không phải là thánh. Bởi thế, tu hành cũng là một quá tŕnh vật lộn với chính ḿnh v́ nghiệp và luân hồi là một chân lư vận hành khách quan. Bất luận Phật tử xuất gia hay tại gia, đă tu mấy đời hay nhiều đại kiếp, khi chưa đắc đạo thành Như lai, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác… th́ vẫn c̣n trực tiếp chịu sự chi phối của Nghiệp. Mục Kiền Liên là đại đệ tử đệ nhất thần thông của đức Phật đă tu qua nhiều đại kiếp, đă từng xuống tận địa ngục A Tỳ cứu Mẹ mà trong kiếp cuối cùng, trước khi đắc đạo, vẫn phải trả Nghiệp tiền kiếp. Ngài đă bao lâu ẩn tàng, mặc cho bọn cướp vây quanh tha hồ biếm nhẻ. Nhưng chỉ một phút tác động của Nghiệp đă để lộ nguyên h́nh cho bọn cướp ùa tới phanh thây. Tên cướp và thiền sư khác nhau ở chỗ là ai đang tạo nghiệp và ai đang giải nghiệp mà thôi.

 Bởi thế, “tùy duyên…” là phong thái hành hoạt của người theo đạo Phật. Tất cả đều có sẵn tự thân tâm. Làm vua gặp quân xâm lăng: Đánh! Làm thầy gặp chuyện bất bằng: Chống! Gặp đời phiền năo: Tu! Hết một đời: Thản nhiên ra đi như thay áo. Gặp chuyện thị phi đời thường: Im lặng như chánh pháp. Khi cần lập ngôn: Nói năng như chánh pháp. Có ǵ quan trọng – khi một tơ hào cũng không c̣n hiện hữu trong tánh không rỗng lặng – đâu mà phải cần hư vọng, hư danh như bia đá đề tên, lưu danh sử sánh, bỉ thử khen chê.

 

Trong khung cảnh Phật giáo, Trí Quang Tự Truyện viết ra để ghi lại những chuyện đời thường của chính tác giả. Nhưng tất cả đều không vượt ra ngoài tự tánh của chư pháp “không lại hoàn không” và tác giả đă hành xử; đă sống và viết trong cái không mênh mông rỗng lặng đó. Tiếng chuông công phu khuya từ chùa Hàn Sơn ngày xưa dóng lên từ một sơn tăng đă trở về với tự tánh rỗng lặng. Nhưng Trương Kế và muôn vạn đời sau đă “bắt gặp” và cảm nhận như thế nào là cả một hợp duyên “thân báo” muôn màu muôn vẻ khó thể nghĩ bàn. Khi tiếng chuông tự nó là tiếng chuông th́ sẽ không khứ, không lai, không thừa, không thiếu. Tiếng chuông  cũng chỉ là một pháp... không lại hoàn không.

 

Huế - Cali., mùa Phật Đản 2556 (2012)

Trần Kiêm Đoàn

 

 

 

 **