click on photo để trở lại trang List Sách Truyện                                                                   
 

 

17 Năm Trong Các Trại Cải Tạo Của CSVN
- Hồi Kư của Kale

Lời Mở Đầu

 Tôi không là văn sĩ, và cũng không có tham vọng làm một nhà văn.  Tôi không phải là một nhà ái quốc theo đúng nghĩa của nó.  Tôi chỉ là một người Việt Nam b́nh thường, làm những công việc b́nh thường trong một quốc gia không b́nh thường!  Giống như hàng trăm ngàn người ở miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng tư năm 1975, tôi đă vào những trại tập trung của Cộng Sản, cái mà chúng đặt tên là “Trại Cải Tạo”, để rồi đă phải trải qua suốt gần 17 năm dài ở trong ấy.  Viết những trang hồi kư này, tôi chỉ muốn làm một chứng nhân của một giai đoạn lịch sử chứ không có tham vọng kết án những cái gọi là “tội ác của Cộng Sản” hay nêu gương những người anh hùng bất khuất ở trong đó.
 Những người Việt “Quốc Gia” mà trong đó có tôi đă thất bại trong cuộc chiến mà người Mỹ đặt tên là “Chiến Tranh Việt Nam” – cuộc chiến của Mỹ ở chiến trường Việt Nam -.  Tôi không biết kết quả thật sự của cuộc chiến ấy là người Mỹ đă thắng hay bại mặc dù sau khi “Chiến Tranh Việt Nam” chấm dứt th́ khối Cộng Sản đă lần lượt sụp đổ, nhưng điều mà tôi thấy rơ là những người Việt Quốc Gia đă phải chết trong các Trại Cải Tạo của Cộng Sản hay đang phải lưu vong khắp thế giới, và những người Việt Cộng Sản đang ngự trị trên toàn lảnh thổ Việt Nam.  Chúng ta đă thất bại v́ chúng ta đă không nêu được cái chính nghĩa “Quốc Gia” trong khi “Việt Cộng” có cái chính nghĩa “Giải phóng” đất nước của họ.  Những nhà lănh đạo của chúng ta đă làm ǵ trong thời gian chiến tranh, điều đó hẳn là hầu hết chúng ta đă nh́n thấy!  Chúng ta đă bị lănh đạo bởi những người chỉ biết nghĩ đến quyền lợi cá nhân hay tập đoàn hơn là quyền lợi chung của đất nước.  Chúng ta mệnh danh là những người “Việt Quốc Gia” nhưng lại trở thành những người đánh thuê cho Mỹ.  Khi Mỹ rút lui th́ chúng ta không c̣n một khối người “Việt Quốc Gia” nữa mà đă trở thành những toán quân ră ngũ.  Đa số những nhà lănh đạo th́ lo đi t́m sự an toàn riêng cho bản thân và gia đ́nh họ, phần lớn c̣n lại th́ âm thầm hoặc t́m phương lẩn trốn ra nước ngoài hoặc nộp ḿnh vào các trại cải tạo để mong hưởng sự “khoan hồng” của “Đảng và Nhà Nước”.
 Ở trong trại Cải Tạo, chúng ta cũng không có một sự đoàn kết nào mà lại sống âm thầm, nghi ngờ nhau, đổ lổi nhau, hoặc tự chia rẽ nhau.  Cộng Sản đă khai thác triệt để những nhược điểm ấy để dể điều hành các trại cải tạo của họ.
 “Mỗi người Việt Nam đều có trong đầu một ông quan”, không biết cái thành ngữ này có đúng hay không, nhưng tôi thấy không ai trong chúng ta muốn làm một con ốc trong một cổ máy mà chỉ muốn làm người điều hành cổ máy ấy mà thôi, để rồi rốt cuộc th́ chẳng ai có một cổ máy nào để điều hành!
 Chúng ta đă thất bại và những người Cộng Sản đă chiến thắng.  Điều ấy là một thật tế không thể chối cải được!  Mặc dù giờ đây th́ đất nước ta đang bị cai trị bởi một chủ nghĩa “phi nhân” trong khi cả thế giới đă phải từ bỏ, điều quan trọng mà tôi thấy được là đất nước ta không c̣n chiến tranh nữa, dân tộc chúng ta không c̣n chết chóc tang thương nữa.  Phần c̣n lại của chúng ta và của các thế hệ mai sau là làm thế nào để đất nước Việt Nam chúng ta thoát khỏi những tắc nghẽn của một chủ thuyết sai lầm để mà tiến lên.
 Tôi viết những trang hồi kư này chỉ để ghi lại những ǵ đă diễn ra cho chính bản thân tôi cũng như cho những người b́nh thường nhất ở trong những cái gọi là “Trại Cải Tạo” của Cộng Sản.  Tất nhiên c̣n nhiều điều mà tôi không được chứng kiến hay trải qua, cũng như những điều mà tôi không thể nào nhớ hết được.  V́ thế tôi mong những ai đă sống trong giai đoạn ấy nên ghi lại và tổng hợp thành một bức tranh toàn diện về các trại cải tạo của Cộng Sản Việt Nam.
 Như tôi đă nói, tôi không là một nhà văn cho nên không có tŕnh độ để trao chuốt văn ngôn.  Các bạn đọc nên xem đây như là một lối kể chuyện của một người b́nh thường.  Đối với những ai đă sống trong các trại cải tạo th́ coi như đây là một đóng góp để nhớ lại thời gian đen tối và đau khổ của chúng ta.  C̣n đối với những ai chỉ nghe nói đến hai chử “Cải Tạo” th́ coi như đây là một sự t́m hiểu thêm về một giai đoạn của đất nước.
 

 

 

Ghi nhớ tất cả các bạn đồng cảnh và

 

những người đă chết trong các trại Cải Tạo.

 

Gữi tất cả t́nh thương về mẹ!

 

 

 

KALE

 

Description: http://3.bp.blogspot.com/-89z_W7A70Xo/Uyy7C_jezyI/AAAAAAAAgIM/aTsTqjyrH4M/s1600/NhanChung-04.jpg

Phần 1

Tôi Đă Ở Lại

Chương 1 .Dấu Hiệu Đầu Tiên: Cuộc Di Tản Chiến Thuật.

Trước ngày 30 tháng tư năm 1975, những tin tức về sự mất mát ở các tỉnh miền Trung Việt Nam đă khiến tôi rất lo lắng.  Là nhân viên của cơ quan t́nh báo chính quyền Nam Việt Nam, điều ǵ sẽ xăy đến cho tôi một khi Cộng Sản tiến vào Sài G̣n?  Tôi đă nghe thấy nhiều về những sự thăm sát ở Huế khi Cộng Sản tiến vào thành phố ở miền Trung này vào Tết Mậu Thân, 1968.  VC dùng dây kẽm gai cột người ta lại với nhau rồi chôn sống; VC bắt người ta phải tự đào hố rồi bắn chết họ trong ấy. . . . Những cuộc di tản của hàng trăm ngàn người từ những thành phố miền Trung là một bằng chứng xác minh sự sợ hải của nhân dân đối với Cộng Sản.  VC tạo sự kinh hoàng trong nhân dân ngay cả đối với những người dân thường.  Dưới chiêu bài giải phóng, VC tạo nên cuộc chiến để nhằm thôn tính miền Nam Việt Nam; chúng thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và bắt đầu cuộc chiến chống lại chính phủ Việt Nam Cộng Hoà mà chúng gọi bằng ngụy quyền miền Nam Việt Nam.
Khi quân đội Mỹ vào Nam Việt Nam, VC đổi chiến tranh Việt Nam thành cuộc chiến chống lại cái mà chúng gọi là Đế Quốc Mỹ.  Chúng đồng hoá Mỹ với Pháp; chúng nhập chung cuộc chiến tranh Việt Nam với cuộc chiến chống Pháp thành một.  Thật ra, Cộng Sản đă cướp công của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp để rồi chúng thôn tính miền Bắc Việt Nam biến thành một quốc gia theo chủ nghĩa Cộng Sản.  Việt Nam bị chia thành hai quốc gia: Miền Bắc Cộng Sản và Miền Nam Dân Chủ.  Hai nước sẽ phát triển riêng rẽ để chờ một cuộc thương thuyết để thống nhất đất nước.  Thể chế chính trị của quốc gia sẽ định đoạt bởi người dân qua một cuộc tổng tuyển cử dưới sự kiểm soát của tổ chức quốc tế.  Tôi không muốn kể lại đây lịch sử của đất nước tôi v́ đă có nhiều sách vở đề cập đến vấn đề này, nhưng v́ có vài chi tiết có liên quan đến việc tôi đă ở lại đất nước trong khi hàng trăm ngàn người dân đă ra đi trong những ngày của cái gọi là “giải phóng” của Cộng Sản.
Ba tôi đă gia nhập tổ chức Việt Minh, một tổ chức do Cộng Sản thành lập nhằm mục đích quy tụ dân chúng để chống Thực Dân Pháp.  Ông đă bị giết trong cuộc chiến ấy vào năm 1952, trước khi hoà ước Genève được kư kết, do đó tôi là con của một gia đ́nh có người anh hùng đă chết trong chiến tranh, một “liệt sĩ” theo như danh từ của Cộng Sản.  Tôi không thể h́nh dung được cha tôi như thế nào v́ ông đă chết khi tôi mới lên bảy, và ông đă bỏ nhà đi vào mật khu từ khi tôi mới lên hai.  Tôi nghe nói ông là một cán bộ kinh tài của quân du kích.  Trên đường đi công tác, ông cùng một người bạn bị phục kích và bị giết sau khi ông đă bắn chết hai lính lê dương và một lính Pháp.  Tôi vẫn thường có một ít tự hào về cha tôi.  Tôi c̣n có ba anh chị họ tập kết ra Bắc vào năm 1954, và tôi có nghe nói họ đă đi du học ở các nước Xă Hội Chủ Nghĩa.  Một người bác của tôi cũng là một người Cộng Sản; ông ta bị bắt nhốt ở trại tù Côn Nôn từ năm 1956 đến năm 1962.  Sau khi thả ra, ông lại tiếp tục hoạt động cho VC và chết năm 1970; ông ta cũng là một liệt sĩ!  Với một gia đ́nh như vậy, đôi lúc tôi nghĩ đơn giản rằng VC sẽ không trừng phạt tôi một khi chúng vào Sài G̣n.
Mặt khác, tôi nghe nói rằng Cộng Sản là những người vô gia đ́nh, vô tôn giáo, vô tổ quốc; họ chỉ có duy nhất Đảng Cộng Sản của họ mà thôi!  Trong t́nh trạng mập mờ đó, tôi không thể tưởng tượng được họ sẽ đối xử với tôi thế nào khi sự việc xăy ra!
Sự thiếu hiểu biết về Chủ nghĩa Cộng Sản, về những người Cộng Sản khiến tôi cùng nhiều người dân miền Nam bị lẩn lộn giữa những người Cộng Sản với những nhà ái quốc.  Khi c̣n trẻ, tôi vẫn thường tôn sùng những người Cộng Sản, đặc biệt là Hồ Chí Minh và Vơ Nguyên Giáp, tôi đă đồng hoá họ với những nhà ái quốc.  Tôi cũng từng nhập chung cuộc chiến tranh Việt Nam với cuộc chiến chống Thực Dân Pháp của nhân dân Việt Nam.  Tôi đă từng làm nhiều bài thơ yêu nước đăng trên những tạp chí Sinh Viên.  Thêm vào đó, sự lộn xộn của chính phủ Nam Việt Nam từ Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm đến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu khiến mọi người dân miền Nam trông chờ một chính phủ vững mạnh ngỏ hầu có thể xây dựng đất nước.  Hầu hết nhân dân miền Nam thường trông về cơ cấu chính quyền miền Bắc như một mẫu mực mà họ mong muốn.  Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Bắc Việt đă ở tại vị từ năm 1954 đến năm 1975 có lẽ là một minh chứng hùng hồn cho một cơ cấu chính quyền vững chắc!
Mặc dù có nhiều điều tồi tệ đă xăy ra trong khối Cộng Sản, từ Liên xô, Trung Quốc, và các nước Đông Âu, chúng tôi vẫn hy vọng Cộng Sản Việt Nam sẽ khác hơn.  Những cuộc đấu tố ở miền Bắc trong giai đoạn cải cách ruộng đất sau 1955 với những cảnh con cái đấu tố cha mẹ, vợ đấu tố chồng, cũng chưa đủ thuyết phục để nhân dân oán ghét Cộng Sản.  Những h́nh ảnh về cuộc thăm sát tại các vùng tạm chiếm của Cộng Sản bị nghi ngờ là chiến thuật tuyên truyền của Chính Phủ Nam Việt Nam.   Dân chúng bị lẫn lộn giữa cái tốt và cái xấu về những người Cộng Sản.  Họ không thể phân biệt giữa chủ nghĩa Yêu Nước với chủ nghĩa Cộng Sản.
Cuộc di tản chiến thuật khỏi Buôn Mê Thuột, Đà Nẵng được loan báo như một việc thực thi Hiệp Định Paris.  Tôi chẳng biết ǵ về nội dung của Hiệp Ước này, nhất là những điều mật ước mà tôi nghe nói về việc phân chia đất nước tại vĩ tuyến 12 ở Phan Rang, một tỉnh miền Trung, để nhường cho Mặt Trận Giải Phóng.  Hầu hết những ǵ tôi nghe được thường là những tin đồn.  Trong một quốc gia đang có biến động chính trị, tin đồn nhiều khi c̣n được tin tưởng hơn những ǵ mà chính phủ phổ biến.
Mặc dù là một nhân viên t́nh báo của chính quyền Nam Việt Nam, tôi không hề học tập về Chủ Nghĩa Cộng Sản.  Trong nhiệm vụ hàng ngày, tôi chống lại những tổ chức của Sinh Viên thuộc Viện Đại Học Sài G̣n.  Tôi chỉ biết rằng đó là những tổ chức con đẻ của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, một tổ chức của VC.  Tôi đă thành công trong việc tái chiếm Ban Đại Diện Sinh Viên Đại Học Khoa Học vào năm 1972 từ trong tay của nhóm Bừng Sống, một tổ chức của Cộng Sản.  Mặc dù bị lên án tử h́nh trên đài phát thanh giải phóng vê việc ấy, tôi vẫn thờ ơ.  Họ chỉ biết bí danh tôi chứ không biết tên thật của tôi, hơn thế nữa, tôi vẫn đang sống trong vùng của ḿnh.  Ngược lại, nếu Cộng Sản chiếm Sài G̣n, điều ǵ sẽ xảy ra cho tôi một khi họ biết tôi là ai?  Sự lo lắng cộng với sự thiếu hiểu biết khiến tôi không c̣n biết phải làm ǵ.

 

 

 

Chương 2 . Những Điều Đó Xảy Ra Chính Trong

Gia Đ́nh Tôi.

Ngày 19 tháng tư năm 1975, sau khi đưa vợ tôi vào văn pḥng để làm việc, tôi ghé qua nhà mẹ tôi như thường lệ.  Tôi gặp Tài, em tôi vừa từ Đà Nẳng về đến nhà.  Tài là trung sĩ Thông Dịch viên trong Hải quân Nam Việt Nam.  Đà Nẳng là một thành phố lớn ở miền Trung và cũng là một hải cảng quan trọng.  Tài chỉ c̣n một bộ đồ dính thân v́ đă phải trải qua bao nhiêu phương tiện mới về được đến nhà.  Em tôi đă kể lại cho nghe bao nhiêu chuyện kinh khủng mà nó đă chứng kiến trên đường đi từ Đà Nẳng về Sài G̣n.  Khi ở trên một chiếc tàu, một người đàn bà nhờ nó bế dùm đứa con để bà ta đi t́m một đứa khác đă bị thất lạc; sau đó bà ta biến mất vào đám đông.  Nó không biết phải làm sao, và làm thế nào để bế đứa trẻ về nhà trên một lộ tŕnh quá xa như thế, do đó nó đưa đứa trẻ cho một người lạ rồi chạy đi mất.  Dân chúng chen chúc nhau leo lên tàu; nhiều người bị rơi xuống biển chết ch́m.
- “Tại sao em không đi luôn ra ngoại quốc?”  Tôi hỏi Tài.
- “V́ họ ra lệnh về Sài G̣n để chống lại VC.”
- “Em có thấy VC vào Đà Nẵng không?”
- “Không, tôi chẳng thấy ai ngoài dân chúng di tản khỏi Đà Nẳng.  Họ ra lệnh chúng tôi rời Đà Nẳng cho VC, nhưng tôi chẳng thấy VC nào trong thành phố khi tôi rời nơi ấy.  Tôi cũng không hiểu sao chúng ta lại thất bại mà không có cuộc đụng độ nào.”
- “Em có nghe nói ǵ về những mật ước của Hoà Ước Paris không?”
- “Họ nói nhiều về những điều này, nhưng thật ra tôi không được ai phổ biến một cách chính thức hết khi họ ra lệnh rời Đà Nẵng.”
- “Làm sao em về được đến nhà?”  Tôi ṭ ṃ hỏi.
- “Đầu tiên, tôi đi theo tàu tôi về đến Cam Ranh.  Từ đó đến Vũng Tàu, tôi lên được một chiếc tàu của Hải Quân Mỹ v́ tôi là Thông dịch viên.”
- “Sao tàu em không về Sài G̣n?”
- “Tôi không biết; nó đi luôn ra đảo Phú Quốc.”
- “Em thấy ǵ trên đường về Sài G̣n?”
- “Dân chúng sợ hải; họ nói đến VC và những cuộc tàn sát dù họ chẳng thấy một tên VC nào trong thành phố.  Họ chen chúc nhau trên đường ra hải cảng.  Họ chất mọi thứ lên xe đạp, xe gắn máy, hay gánh lên vai.  Trẻ con khóc lóc v́ lạc mất cha mẹ; vài người nằm chết trên vỉa hè.  Hàng ngàn người dân rời bỏ nhà cửa khi nghe VC về đến hoặc nghe các đơn vị quân đội ta rút lui.  Anh làm trong Phủ Trung Ương T́nh Báo, anh có biết ǵ về chương tŕnh của Chính Phủ hay của Mỹ đối với tương lai của đất nước ta hay không?”  Tài bất thần hỏi tôi.
- “Không!”  Tôi lúng túng trả lời.
Tôi bảo Tài lấy quần áo tôi thay ra v́ nó quá dơ sau hơn mười ngày đường.  Khoảng 10 giờ, Lân, anh họ tôi từ cơ quan đến.  Anh ấy là thượng sĩ Hải Quân.  Vào Quân Đội từ năm 1962, anh ta làm về truyền tin trong Hải Quân Việt Nam ở tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Sài G̣n.  Anh ấy đến hỏi tôi có định sửa soạn đi với anh ta ra ngoại quốc khi cần thiết không.  Tôi trả lời anh ấy: “Tôi nghĩ chắc Cơ Quan của tôi đă chuẩn bị chương tŕnh riêng cho nhân viên rồi.  Trong trường hợp khẩn cấp, tôi sẽ gặp anh ngay.”
Thật ra tôi không biết phải làm sao trong lúc ấy.  Nghe tin về tŕnh trạng căng thẳng của đất nước, tôi rất phân vân.  Chúng ta có thể chiến đấu chống lại VC nếu họ tiến vào Sài G̣n; tại sao lại phải rời bỏ đất nước mà không chiến đấu chứ?  Quân Lực chúng ta vẫn hùng mạnh.  Vũ khí chúng ta vẫn c̣n đầy đủ ngay cả nếu Mỹ có ngưng viện trợ đi nữa.  Tôi không thể hiểu nỗi tại sao chúng ta lại thua khi chúng ta đang giành được chiến thắng trên mặt trận và ngay cả ở hậu phương.  Những sự rút lui của các đơn vị quân lực chúng ta khỏi các tỉnh miền Trung mà không có một trận đánh nào xăy ra đă làm dân chúng đâm ra hoang mang sợ hăi.  Dân chúng di tản khỏi các thành phố mặc dù chưa thấy một VC nào tiến vào.  Toàn bộ sự kiện ấy đă tạo nên một sự rối ren chưa từng thấy cho đất nước.
Tôi nh́n ra đường phố trước nhà.  Tiệm sửa xe đạp và xe gắn máy vẫn mở cửa như thường lệ.  Tiệm tạp hoá vẫn ồn ào.  Tiệm may và hớt tóc vẫn có khách.  Vài người bán hàng rong đang rao hàng.  Bộ hành vẫn ung dung.  Xe hơi, xe gắn máy, và xe đạp vẫn qua lại.  Mọi cái dường như vẫn sinh hoạt b́nh thường; không thấy một dấu hiệu nào của chiến tranh.  Dân chúng Sài G̣n đă quá quen thuộc với chiến tranh kể từ năm 1945; họ nghe tiếng súng một cách lơ đểnh ngoại trừ trường hợp nó nổ ngay bên cạnh họ.
Năm 1954, một triệu người dân miền Bắc di cư vào Nam; họ đă kể lại bao nhiêu điều ghê gớm về Cộng Sản, nhưng dân miền Nam vẫn nghi ngờ.  Dân miền Nam đoán rằng những người dân miền Bắc v́ quá nghèo đói đă vào Nam để kiếm sống.  Chủ nghĩa Cộng Sản hay Chủ Nghĩa Xă Hội trong đầu óc của người miền Nam chỉ đồng nghĩa với sự đói nghèo.  Sự tuyên truyền của Chánh Phủ Nam Việt Nam không đủ để chiêu dụ nhân dân miền Nam chán ghét chế độ Cộng Sản, thường th́ dân chúng nghĩ đến quyền lợi của họ hơn là lư tưởng chống Cộng.  Bên cạnh đó, họ vẫn cho rằng nếu VC tiến được vào Sài G̣n, họ có thể có đủ thời gian để rời khỏi đất nước: Cuộc di cư của hàng triệu dân miền Bắc sau hiệp định Genève là một minh chứng cho ư nghĩ đó.
Tôi vẫn nghĩ đă có sẵn  một kế hoạch di tản riêng của cơ quan tôi khi sự việc diễn ra, nhưng tôi lại nghĩ mọi việc không đến nỗi quá tồi tệ đến như vậy!  Tôi chẳng hề muốn đi đến Mỹ hay bất cứ một quốc gia nào khác.  Tôi sẽ ở lại đất nước nếu Cộng Sản để tôi làm một người dân b́nh thường, nếu không có sự trả thù.  Mặc khác, tôi nghĩ Việt Nam sẽ tạm thời là một quốc gia trung lập khi chiến tranh chấm dứt.  Một cuộc thương thuyết sẽ diễn ra sau đó để bàn về việc thống nhất đất nước.  Trong thời gian ấy, tôi có thể chọn lựa giữa việc ở lại hay ra đi.
Chiến tranh Việt Nam là cuộc Nội Chiến hay cuộc chiến giữa Chủ Nghĩa Cộng Sản và Chủ Nghĩa Tư Bản, cuộc chiến tranh Giải Phóng hay cuộc chiến tranh Ư Thức Hệ.  Đó chỉ là những danh từ!  Dân tộc Việt Nam ước muốn chấm dứt cuộc chiến ấy càng sớm càng tốt dù họ chưa biết điều ǵ xảy ra sau đó.
Trên hai mươi năm chịu đựng chiến tranh, dân tộc Việt Nam đă quá chán ngán; chính tôi cũng thế!  Sinh ra năm 1945, năm của Đệ Nhị Thế Chiến; Nhật Bản xâm chiếm đất nước tôi từ tay Thực Dân Pháp.  Tôi đă sống qua ba cuộc chiến chống Nhật, Pháp, và cái gọi là chiến tranh Giải Phóng.  Tôi chỉ mong mỏi hoà b́nh đến với đất nước tôi.  Hy vọng của tôi cũng đơn giản như những lời yêu cầu của dân chúng Mỹ khi họ tụ tập đ̣i hỏi binh sĩ của họ rời khỏi Việt Nam ngay tức khắc.  Sống bên kia bờ Thái B́nh Dương, họ chẳng biết ǵ về sự đau khổ của nhân dân Việt Nam khi phải gánh chịu cuộc chiến giữa Cộng Sản và Tư Bản.  Hàng ngàn lính Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam làm rúng động người Mỹ và cả Thế Giới.  Thế th́ hàng triệu người Việt Nam đă chết trong cuộc chiến ấy th́ thế nào đây?  Ư nghĩ ấy khiến tôi tức tối!  Những giọt nước mắt đột nhiên trào ra.

Chương 3. Một T́nh Huống Bi Thảm

Tôi có hẹn với những cộng tác viên của tôi vào trưa ấy, do đó tôi phải đến nhà hàng Sing-Sing ở đường Phan Đ́nh Phùng để gặp họ.  Lễ, người đă từng là Chủ Tịch Ban Đại Diện Sinh Viên Đại Học Khoa Học, một trong những cộng tác viên ấy hỏi tôi.
- “Anh có biết ǵ về việc rút lui của chúng ta khi VC chiếm Sài G̣n không?”
- “Không, chưa biết!”  Tôi lúng túng trả lời.
- “Tôi chuẩn bị đi ra ngoại quốc trong vài ngày tới; anh có đi với tôi không?”
- “Tôi nghĩ c̣n quá sớm để có quyết định như vậy.  Ngoài ra, tôi c̣n phải hỏi sếp trước đă.  Anh có tin tức ǵ cho tôi không?”  Tôi hỏi về công việc để tránh những câu hỏi của Lễ.
- “Nhóm Bừng Sống đang trỗi dậy ở trường sau một thời gian dài vắng bóng.”
- “Tôi đă biết điều ấy; c̣n Hoan và Thắng th́ thế nào?”
Nhóm “Bừng Sống” là một tổ chức nằm vùng của VC đă được thành lập ở Đại Học Khoa Học từ năm 1965; Hoan và Thắng là hai lănh tụ của nhóm ấy.  Khi tôi thành công trong việc tái chiếm Ban Đại Diện Sinh Viên Đại Học Khoa Học từ nhóm này th́ nhóm Bừng Sống biến mất.  Hoan và Thắng trốn vào mật khu của VC.  Chúng tôi bắt được Giàu, trưởng nhóm Bừng Sống.
- “Chúng tôi chưa thấy Hoan và Thắng xuất hiện.”  Lễ đáp lời tôi.
- “Tôi phải đi gặp sếp cái đă.  Hẹn các anh ngày mai lúc 10 giờ; chúng ta sẽ bàn về việc tương lai khi tôi biết được ít nhiều.”

 

 

 

Đó là lần cuối cùng tôi gặp Lễ v́ anh ta không đến gặp lại tôi vào ngày 20 tháng tư như đă hẹn trước.  Tôi đoán anh ta đă rời bỏ đất nước.
Tôi đến nhà an toàn ở đường Phan Thanh Giản.  Dù đă 2 giờ trưa, hầu hết nhân viên đều ở đó để chờ đợi sếp Long.  Chúng tôi đều mong mỏi biết rỏ mọi điều đang diễn ra trong nước và kế hoạch của Cơ Quan.  Đẹp, thư kư của sếp bảo rằng Long đang có cuộc họp trong Dinh.  Tôi nghĩ có lẽ ông ấy đang gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng không biết hỏi ai để xác minh điều ấy.  Sau khi bị một máy bay F-5 do Nguyễn Thành Trung, trung uư thuộc Không Lực Việt Nam Cộng Hoà lái, thả bom vào dinh tuần trước, ông Thiệu đang ẩn ḿnh trong dinh.
Sếp tôi, Ông Long, mới 35 tuổi, c̣n quá trẻ khi được giữ chức vụ.  Ông ta hơi mập và tóc xoắn nên mọi người trong cơ quan thường gọi là Long Quắn để phân biệt với một vài “Long” khác.  V́ thường chơi Tennis vào buổi trưa nên da ông rám nắng; ông ta đi khá nhanh mặc dù đôi chân hơi ngắn.  Tôi nghe nói ông ta có họ hàng xa với Bà Thiệu, đệ nhất phu nhân.  Ông ta cũng ở tại Mỹ Tho, một tỉnh của miền Nam, gần nhà của gia đ́nh Bà Thiệu.  Tôi không biết điều đó thật không, nhưng tôi nghĩ Long rất có tài trong nhiệm vụ của ông ấy.  Ông ta làm việc rất tận tụy nữa; nhiều người th́ cho rằng v́ ông ấy độc thân và lại có học vấn khá.  Đó là điều rất hiếm trong một cơ quan đang điều hành hầu hết bởi những sĩ quan quân đội.  Long đă tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa và Trường Quốc Gia Hành Chánh.
Trong công tác hàng ngày, chúng tôi thường làm việc không có giới hạn giờ giấc.  Đôi khi chúng tôi làm đến 2, 3 giờ khuya, ăn vài món ǵ đó rồi lại làm việc tiếp.  Lúc khác chúng tôi lại ngủ cả ngày để lấy lại sức lực.  Suốt thời gian làm ở Cơ Quan, tôi chưa hề nghỉ phép thường niên v́ không có thời giờ.  T́nh trạng chính trị của Sài G̣n quá rối ren.  Sinh viên của Viện Đại Học Sài G̣n và Viện Đại Học Vạn Hạnh (của Phật Giáo) biểu t́nh hầu như hàng ngày để đ̣i hoà b́nh và chống lại chính quyền.  Hầu hết những cuộc biểu t́nh này đều bị giật dây bởi VC hay bởi những đảng phải chống lại chính phủ.  Trung tâm của nó phát suất từ chùa Ấn Quang.  Tôi không biết nhiều về mục đích của các đảng phái đối lập, nhưng tôi nghĩ rằng trong một quốc gia đang có chiến tranh, mọi sự gây xáo trộn đều là giúp đỡ cho kẻ thù.
Long về đến nhà an toàn vào khoảng 3 giờ chiều, ông ta trông mệt mỏi và chậm chạp, không c̣n cái vẻ nhanh nhẹn như mọi ngày.  Chúng tôi chờ đợi một tin xấu!  Ném cặp lên bàn, ông ta bắt đầu bằng một giọng nói thấp.
“Hôm nay tôi có đi họp; họ không đề cập ǵ về hiện t́nh đất nước.  Họ chỉ bảo rằng chúng ta phải xếp đặt mọi việc tuỳ theo những ǵ mà chúng ta thấy cần.  Mỹ đă bỏ rơi chúng ta, do đó chúng ta phải chiến đấu bằng chính sức lực của chúng ta.  Chúng ta sẽ gặp lại vào ngày mai trong Cơ Quan để làm những việc phải làm.”
Với những lời nói mập mờ ấy, chúng tôi biết rằng đất nước đang gặp khó khăn.  Chúng ta chỉ là những quân cờ trên bàn cờ của những cường quốc.  Họ đến đây với danh nghĩa của Hoà B́nh; họ rời bỏ chúng ta cũng với danh nghĩa của Hoà B́nh.  Chúng ta phải chiến đấu một ḿnh với Cộng Sản, không chỉ với Cộng Sản Việt Nam mà với Cộng Sản trên toàn địa cầu!  Mỹ và Đồng Minh đă chấm dứt viện trợ có nghĩa là chúng ta phải tự gánh lấy gánh nặng của cuộc chiến.  Chúng ta không sợ sự hy sinh xương máu mà chúng ta rất sợ sự phản bội.
Tôi gặp Tuân và Banh, những người bạn thân của tôi trong Cơ Quan trước cửa nhà an toàn.  Banh cho biết Thuận và Giang đă đi rồi!  Banh đă từng là Chủ Tịch Sinh Viên Luật Khoa năm 1973.  Thuận và Tuân đă từng làm việc chung với tôi khi chúng tôi mới vào làm ở Cơ Quan.  Chúng tôi thường thu lượm tin tức của Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n và của các nhóm chống chính quyền thuộc cái gọi là “Thành Phần Thứ Ba” vào những năm 1969-1970 trước khi làm việc cho Ban A17.  (Ban chúng tôi có mật danh là A17 v́ hiện lúc ấy có 17 phân khoa thuộc viện đại học Sài G̣n).  Giang là người làm chung với tôi trong công tác; anh ta cưới một cô vợ giàu có và có lẽ gia đ́nh họ đă t́m được cách vượt biên khi họ nghe được những tin tức có hại cho tài sản của họ.  Tôi nghĩ có lẽ Thuận đă ra đi với gia đ́nh anh của anh ta v́ họ làm việc trong sân bay Tân Sân Nhất.  Chúng tôi cũng thông cảm cho họ về việc rời bỏ này; họ phải lo đến cuộc đời họ và gia đ́nh họ trước tiên.
- “Chúng tôi chưa tính ǵ hết.  Chúng tôi nghĩ phải chờ đợi kế hoạch chung của Cơ Quan v́ chúng tôi không có phương tiện riêng.  C̣n anh th́ thế nào?”
Banh cười nói dường như muốn che dấu những lo lắng của ḿnh.
- “Tôi th́ nghĩ chúng ta nhất định sẽ có kế hoạch chung vào ngày mai.”
Tôi cố giữ b́nh tĩnh.  Tôi không thể biết làm ǵ trong lúc ấy.  Leo lên một chiếc tàu nào đó trong bến tàu Sài G̣n đối diện với trụ sở trung ương của chúng tôi hoặc đi vào phi trường để lên một chiếc phi cơ nào đó đến một quốc gia khác, điều này tôi có thể làm được cho một ḿnh tôi, nhưng c̣n vợ tôi với đứa nhỏ c̣n trong bụng kia th́ làm thế nào đây; cô ta đang có mang tám tháng.  Điều tôi chờ đợi là một kế hoạch chung của cơ quan để di tản trong ṿng trật tự, điều này sẽ an toàn hơn cho vợ tôi.
Chúng tôi cưới nhau vào năm 1972 sau gần ba năm quen biết.  Chúng tôi gặp nhau vào tháng 11 năm 1969; ngày đầu tiên tôi vào nhận việc ở Cơ Quan và cũng là ngày sinh nhật thứ 20 của vợ tôi.  Chị vợ tôi và anh rể cô ta cũng làm trong Cơ Quan.  Khi gặp cô ấy ở pḥng nhận việc, tôi rất kinh ngạc v́ cô ấy trông quá trẻ để làm việc cho một cơ quan t́nh báo!  Cô ta mới vừa tốt nghiệp trung học.
Sau gần ba năm chung sống, vợ tôi có mang và cũng rất hạnh phúc với đứa con trong bụng.  Thật ra đó là lần thứ hai cô ấy có mang; lần đầu đă bị sẩy vào tháng thứ hai.  Vợ tôi rất khổ sở khi một bác sĩ báo cho biết cô ấy không thể có con được v́ một chứng bệnh nan y.  Tôi đă phải đưa vợ tôi đi đến đủ loại thầy thuốc, kể cả những lang băm.  Một bà thầy thuốc đông y bảo rằng bà ta có thể cho thuốc để vợ tôi có được một đứa con duy nhất mà thôi, và đó là đứa mà cô ấy đang mang trong bụng.
Cuộc sống chúng tôi trong thời gian này rất b́nh an.  Cô ta làm trong pḥng tuyển mộ ở trụ sở trung ương; tôi vẫn thường đưa vợ tôi đến nơi làm việc mỗi bữa sáng và rước về mỗi bữa chiều.  Tôi ít khi vào Cơ Quan v́ tôi làm cho một ban công tác ngoại vi.  Lương bổng chúng tôi không đủ xài nên tôi phải dạy thêm môn hoá học cho vài trường trung học tư thục ở Sài G̣n; đó là nguồn thu nhập chính của chúng tôi và cũng là ngụy thức của tôi.
Nếu cuộc đời chúng tôi trôi qua một cách êm đềm như thế, tôi đă không phải viết những trang hồi kư này!  Những biến động bất ngờ đă xăy đến làm đảo lộn hết mọi việc và mọi người dân trong đất nước tôi.  Hàng triệu người Việt Nam phải rời bỏ quê hương lưu vong trên toàn thế giới.  Hàng trăm ngàn nhân viên chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà đă bị giam trong những cái gọi là “trại Cải Tạo” của Cộng Sản từ Bắc chí Nam và một số đă chết trong ấy.  Việt Nam trở thành một quốc gia nghèo nhất trên thế giới.  Đó có phải do lỗi của chúng tôi hay không?  Tôi không muốn đổ lỗi cho bất cứ ai khác, nhưng chúng tôi làm được ǵ trong hoàn cảnh ấy?  Chúng tôi không thể giải quyết được ǵ ngay cả hoàn cảnh cá nhân nữa.  Làm sao chúng tôi có thể tự chống lại được với Cộng Sản trên toàn thế giới trong khi chúng tôi bị trói tay bởi sự bỏ rơi của một cường quốc và các Đồng Minh?
Tôi không phải là một lănh tụ của Việt Nam Cộng Hoà.  Tôi không biết ǵ về những chiến lược của chánh phủ Việt Nam, nhưng tôi nghĩ cái gọi là “chiến lược” của những quốc gia nhỏ cũng chỉ là “chiến thuật” của những cường quốc mà thôi!  Chúng tôi có thể chống lại VC trong những ngày tháng ấy và sẽ chết cho tổ quốc chúng tôi.  Tôi không chối bỏ điều ấy, nhưng làm sao chúng tôi làm được việc ấy một khi họ buộc chúng tôi phải từ bỏ sức mạnh của chúng tôi.
Tôi nghe rất nhiều lời phê b́nh đổ lỗi cho Chính Quyền nhất là các nhà lănh đạo của Việt Nam Cộng Hoà về việc đánh mất Nam Việt Nam.  Tôi không biết điều đó đúng không, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải chấp nhận cái lỗi chung của chúng ta đừng đổ cho vài người, ngay cả những cấp lănh đạo.  Tôi không bào chữa cho họ hay cho chúng ta.  Tôi chỉ muốn nói để hiểu sự thật về những ǵ xảy ra trong đầu óc chúng ta trong những tháng ngày ấy.  Chúng ta lẫn lộn giữa sự an toàn cho chính chúng ta và sự an nguy của đất nước, giữa sự ở lại hay ra đi.  Tôi nghĩ những kẻ đă rời bỏ Việt Nam trong lúc ấy chưa hẳn là hèn nhát, những người đă ở lại chưa chắc đă là anh hùng.  Mỗi người có hoàn cảnh và cơ hội khác nhau, và tôi đang cố nhớ lại hoàn cảnh và cơ hội của chính bản thân tôi trong thời gian ấy để t́m hiểu tại sao tôi lại ở lại!
Tôi đến đón vợ tôi tại văn pḥng của cô ta ở Số 3 Bến Bạch Đằng, đối diện với Bến Tàu Sài G̣n.  Quang cảnh bến tàu rất b́nh thường; những chiếc tàu chiến của Hải Quân Việt Nam vẫn đậu nối đuôi nhau dưới bến.  Vài thuỷ thủ và sĩ quan Hải Quân đang đi bộ trên vỉa hè gần Bộ Tư Lệnh Hải Quân.  Tư Dinh của Thủ Tướng nằm im lặng dưới bóng cây đa.  Vài người lính gác đứng nghiêm phía trước dinh.  Con đường Bạch Đằng từ Nguyễn Huệ đến Thống Nhất là khu vực quân sự; chỉ những người làm bên trong ấy mới được vào.  Tôi cố t́m xem có điều ǵ bất thường hay không, nhưng chẳng thấy ǵ cả!  Tôi tự hỏi tại sao mọi việc trông quá b́nh thường trong một hoàn cảnh lộn xộn như vậy của đất nước.  Tôi hỏi vợ tôi sau khi cô ấy ngồi phía sau xe gắn máy:
- “Em có nghe về kế hoạch của Cơ Quan ḿnh không?”
- “Không!  Việc ǵ vậy anh?  Em nghe có người nói rằng sếp chúng ta sẽ rời cơ quan và ông Phụ Tá Lộc sẽ thay thế.  Đó chỉ là tin đồn v́ em thấy ông B́nh vào Phủ sáng nay.”
- “Anh chưa biết điều ǵ thật sự xảy ra, nhưng anh nghĩ có lẽ có những hoàn cảnh xấu có thể đưa đến sự mất nước.”
Vợ tôi chẳng quan tâm ǵ đến vấn đề chính trị.  Cô ấy chẳng để ư điều ǵ ngoại trừ cuộc sống hàng ngày của chúng tôi.  Tôi vẫn nhớ lúc Đảng Dân Chủ của Tổng Thống Thiệu ra mắt dân chúng, cờ của đảng ấy có h́nh dạng đối nghịch với cờ của Bắc Việt với nền vàng ngôi sao đỏ treo khắp nơi; tôi đùa với vợ tôi rằng đó là cờ của VC.  Sợ hải, cô ta bảo tôi lái xe qua đường khác để tránh!  Tôi không biết cô ta sẽ bảo tôi làm ǵ đây một khi lời nói đùa của tôi biến thành sự thật, một khi cây cờ đỏ sao vàng treo khắp nơi trong Sài G̣n!  Tôi mỉm cười với ư nghĩ ấy để dấu đi sự lo lắng trong ḷng.
Chúng tôi đến nhà ba mẹ vợ tôi để t́m hiểu xem họ có biết ǵ không.  Chị vợ tôi làm trong Ban Nghiên Cứu nói với tôi rằng chị ấy nh́n thấy những tin tức xấu trên tờ tŕnh cho Tổng Thống mà chị ấy đánh máy hàng ngày.  T́nh trạng tồi tệ của đất nước chúng ta đă diễn ra, đặc biệt là những tỉnh miền Trung, sau khi Tổng Thống ra lệnh rút các đơn vị quân đội khỏi Buôn Mê Thuột qua đường liên tỉnh lộ số 7.  Hàng ngàn dân chúng đă bị chết trên con đường mà báo chí gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng này.  Tôi đă đọc được tin này trên báo chí, nhưng tôi không biết được điều ǵ sẽ xảy ra sau đó, nhất là kế hoạch cho đất nước theo như Hoà Ước Paris.  Tôi muốn có một lời giải thích rơ ràng của những nhà lănh đạo, và đang chờ đợi điều ấy.  Làm việc cho một cơ quan trưc thuộc Phủ Tổng Thống, tôi nghĩ phải có một kế hoạch cho chúng tôi một khi có điều ǵ đó xảy ra.
Linh, chồng của chị vợ tôi nói:
- “Tôi th́ không nghĩ VC có thể vào được Sài G̣n.”
- “Sao anh biết chắc vậy?”  Tôi cắt lời anh ta.
Linh làm trong Ban Huấn Luyện của Cơ Quan.  Anh ta trả lời tôi một cách lúng túng.  “Tôi nghe nói chúng ta nhường một phần đất của chúng ta từ vĩ tuyến 12 đến vĩ tuyến 17 cho Mặt Trận Giải Phóng và tạo thành một tuyến pḥng thủ vững chắc từ Tuy Hoà để sẵn sàng thương thuyết với VC và Bắc Việt theo mật ước của Hoà Ước Paris.”
- “Anh nghĩ chúng ta có đủ sức để đánh lại VC mà không cần viện trợ của Mỹ hay không?”
- “Tôi nghĩ có thể được.  Trong Tết Mậu Thân, chúng ta chưa có những vũ khí tối tân như M16 mà chúng ta vẫn thắng được VC với AK.  Giờ đây chúng ta có nhiều thứ.”
- “Sau trận chiến Nam Lào, quân đội chúng ta yếu hơn; tôi không biết chúng ta có thể chịu đựng được một cuộc tổng tấn công như Tết Mậu Thân hay không?”
- “Chiến trường ở Đường 9 Nam Lào là một cuộc thí quân!  VC biết hết mọi chiến lược của chúng ta.  Tôi nghĩ có lẽ đó là kế hoạch của Mỹ, họ không muốn quân đội ta quá mạnh đến nỗi họ khó có thể điều khiển.”
- “Mọi cái chúng ta nghĩ chỉ là điều chúng ta suy đoán.  Chúng ta không có được những lời giải thích rơ ràng của những nhà  lảnh đạo của chúng ta.  Giờ đây tôi nghĩ có lẽ chúng ta phải quyết định những ǵ phải làm trong t́nh trạng nguy kịch này.  Chúng ta nên tự đặt kế hoạch cho chính ḿnh chứ không nên chờ đợi từ những nhà lănh đạo của chúng ta nữa.”
- “Làm sao chúng ta có thể tự ḿnh làm được ǵ?”  Linh đột nhiên hỏi.
- “Đó là lư do mà chúng tôi đến đây.  Vợ tôi và tôi không thể làm ǵ được một ḿnh, nhưng tôi nghĩ tất cả chúng ta hợp lại th́ có thể có được một ư kiến hay!”
Chúng tôi im lặng nh́n nhau.  Mỗi người đều có riêng một mối lo.  Tôi nghĩ chẳng ai có thể biết phải làm ǵ trong lúc ấy nên tôi phá tan bầu không khí im lặng nặng nề ấy.
- “Chúng ta sẽ suy nghĩ đến những điều này và sẽ bàn lại sau vậy.”
Trên đường về nhà, tôi đi ngang qua chợ Bến Thành, một trung tâm thương mại của Sài G̣n và của miền Nam Việt Nam.  Xe cộ đầy đường.  Hàng hoá tràn ngập trên vỉa hè.  Khách hàng chen chúc trong những cửa hàng.  Vài cặp t́nh nhân vai sánh vai lang thang trên vỉa hè Lê Lợi.  Mọi việc diễn ra giống như mọi ngày.  Tôi không thể nhận ra được không khí chiến tranh trong một bối cảnh như vậy.  Quán cà phê “La Pagode” trên đường Lê Lai nơi tôi thường ngồi uống cà phê và nghe nhạc vẫn đang mở cửa; tiếng nhạc quen thuộc êm đềm vọng ra khi tôi đi ngang qua.  Tiếng chuông của nhà thờ Đức Bà vang lên một giọng ngân làm nhẹ nhàng tâm hồn tôi.  Là một Phật Tử, nhưng tôi lại thích nghe tiếng chuông ấy v́ nó khiến tôi cảm thấy nhẹ nhàng bởi giọng điệu trong sáng của nó.  Trụ sở vĩ đại của Toà đại sứ Mỹ nằm một cách kiêu hănh đối diện với trụ sở của Toà đại sứ Anh Quốc nằm im ĺm trên đại lộ Thống Nhất.  Vài quân nhân thuỷ quân lục chiến Mỹ trong chiến phục với M16 trên tay đứng gác ở cổng Toà Đại Sứ và trên hai vọng gác ở góc ṭa nhà.
Chúng tôi về đến cư xá Thanh Đa nơi chúng tôi đang ở.  Gia đ́nh chị vợ tôi ở tầng trên, cũng nơi ấy; hai người đă về trước chúng tôi.  Chúng tôi vừa dời về đây vài tuần nên chỉ có một ít đồ đạc trong nhà: một bộ đồ bằng mây trong pḥng khách, tấm nệm trải trên sàn trong pḥng ngủ, vài đồ đạc để nấu nướng trong nhà bếp.  Pḥng ăn vẫn trống trơn.  Tôi nh́n ra cửa sổ.  Ḍng sông Thanh Đa lấp lánh trong ánh chiều.  Vài chiếc ca-nô rẽ sóng phía xa xa.  Hàng dừa bên kia sông im ĺm phản chiếu bóng cây trên mặt sông.  Màu tím nhạt của bầu trời kết hợp với màu xanh đậm của cây cối tạo nên một bức tranh hài hoà.  Tôi thích được thưởng thức một cuộc sống như thế, nhưng điều ǵ đây sẽ xảy ra cho tôi trong một bối cảnh đất nước như thế này!  Sự lo âu đột nhiên xâm chiếm lấy hồn tôi.
Những tiếng gơ cửa làm gián đoạn ḍng suy nghĩ của tôi.  Linh ghé qua để tṛ chuyện như thường lệ, nhưng tôi nh́n ra được dáng vẻ buồn bả của anh!  Linh và Lan, chị vợ tôi, có hai đứa con trai.  Tôi không nhớ họ lấy nhau vào thời gian nào, nhưng con của hai người một đứa lên ba c̣n một đứa mới vài tháng tuổi.  Linh di cư vào Nam năm 1954 và hiện đang làm việc trong Cơ Quan.  Họ gặp nhau trong ấy.  Cao khoảng một thước bảy, với khuôn mặt dài và luôn tươi cười, Linh dể gây cảm t́nh với mọi người.  Theo Linh hôm nay c̣n có Hào, bạn cùng học với tôi ở Đại Học Khoa Học, làm trong Cơ Quan và hiện đang biệt phái sang Cảnh Sát.  Hào vừa cưới vợ cách đây không lâu; tôi nghĩ anh ta cũng đang lo lắng cho số phận ḿnh.  Tôi hỏi Hào có biết ǵ không, nhưng anh ta chỉ nhún vai mà không trả lời ǵ hết.
Tôi bắt đầu cuộc nói chuyện sau khi vừa ngồi vào chổ ở ngoài ban công.
- “Hai anh có ai biết tin tức ǵ liên quan đến diễn tiến cuộc chiến đang diễn ra ở Xuân Lộc không?”
- “Chúng ta đang đưa hết quân vào chiến trường ấy.  Tôi hy vọng chúng ta có thể chặn đứng được VC ở đó để chờ viện trợ của Mỹ.”  Hào xác định.
- “Tôi th́ không tin Mỹ sẽ tiếp tục viện trợ nữa!  Tổng thống Mỹ Gerald Ford đă thất bại trong việc yêu cầu Quốc Hội Mỹ viện trợ 722 triệu đô la.  Có lẽ bây giờ chúng ta phải tự lực mà thôi.”  Linh nói.
- “Các anh nghĩ Tổng thống Pháp, Valery Giscard d”Estaing, có thể giúp chúng ta được ǵ trong việc t́m kiếm một giải pháp cho Việt Nam không?”  Tôi hỏi một cách vô hy vọng.
- “Đó là cố gắng của Pháp để giúp Việt Nam, tôi nghĩ đó cũng là một thoáng hy vọng cho chúng ta và cũng là ước muốn của đám “thành phần thứ ba” nữa.”  Hào lại nhún vai.
Tôi nghĩ tất cả mọi người trong chúng ta đều lo lắng cho số phận của đất nước và của chính bản thân ḿnh trong lúc ấy.  Chúng tôi đều làm trong cơ quan t́nh báo, thế mà lại chẳng biết ǵ về kế hoạch của quốc gia.  Tất cả những ǵ chúng tôi biết được phần lớn là từ báo chí ngoại quốc.
Trong những ngày này, những tin tức từ những tạp chí như Times hay Newsweek hay từ những đài phát thanh như Voice of America và BBC dường như đều có ư định đạp đổ đất nước chúng tôi.  Tân “nội các chiến tranh” của Tổng Thống và Tân Thủ Tướng dân sự Nguyễn Bá Cẩn không thể nắm vững được chính quyền.  Dân chúng hoang mang về những tin đồn tung ra khắp nơi.  Trừ vài cá nhân giàu có có thể bỏ ra tám ngàn đô la để mua một tấm giấy thông hành, mọi người khác đều không thể có được điều kiện để trốn ra khỏi nước một khi VC tiến vào, ngay cả những người làm việc cho Mỹ và cho Chính Phủ và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà.  Mọi người đều đang mong chờ Mỹ định đoạt dùm số phận của họ theo như Tổng Thống Mỹ đang yêu cầu Quốc Hội Mỹ chuẩn chi ngân khoản tài trợ để giải cứu hai trăm ngàn người dân miền Nam đă cộng tác với Mỹ trong cuộc chiến.  Thật là một điều bi thảm khi phải đặt cả cuộc đời ḿnh trong tay của người khác!
Hội đàm Paris là chiến thắng cho cả VC lẫn Mỹ.  Sự sụp đổ của Phnom-Penh là sự bắt đầu.  Điều ǵ kế tiếp sẽ xảy ra cho đất nước chúng tôi?  Một chiếc phi cơ vận tải C5A bị rơi một cách kinh hoàng vào tuần qua làm chết nhiều trẻ em mồ côi vẫn là một mối nghi ngờ về việc Mỹ đang có ư định bỏ rơi Việt Nam.  Một khi số trẻ em mồ côi hầu hết là lai Mỹ đă ra đi, chúng tôi không biết số phận của chúng tôi sẽ ra sao tiếp theo đó.  Có thể nào nhờ đó mà Mỹ có thể tiếp cứu chúng tôi dễ dàng hơn khi điều tồi tệ nhất xảy ra, hay đó chính là điều duy nhất mà người Mỹ làm được ở Việt Nam trước khi họ phủi tay.  Với những sự việc như thế, tại sao chúng ta không tự  t́m cách cứu lấy ḿnh.  Tôi hỏi Linh và Hào về khả năng có thể di tản khi cần thiết.
- “Chúng ta không có tiền để mua thông hành, do đó chỉ c̣n cách chờ kế hoạch chung của Phủ.”  Linh nói một cách buồn bă.
- “Tôi th́ hy vọng rằng Cơ Quan của chúng ta đă có sẵn sàng một kế hoạch.  Tôi không thể nào nghĩ được một cơ quan t́nh báo mà lại không có sẵn một kế hoạch để lo cho nhân viên trong t́nh huống nguy kịch.”  Hào nói một cách không chắc chắn.
- “Ngoài ra, Cơ Quan chúng ta nằm kế bên bến tàu; tôi nghĩ trong t́nh h́nh khẩn cấp chúng ta có thể leo lên tàu để ra đi.  Điều đáng lo cho chúng ta là gia đ́nh chúng ta.”  Tôi nói mà buồn rầu nghĩ đến vợ tôi.
Chúng tôi đều biết rằng trong t́nh trạng khẩn cấp th́ chính gia đ́nh chúng tôi là cái mà chúng tôi lo âu nhiều nhất, và những ǵ chúng tôi đang bàn tính chính là về sự an toàn cho gia đ́nh chúng tôi.  Tôi vẫn thường nghe một thành ngữ rằng: “nước mất, nhà tan”, và sự tuyên truyền của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà về sự “Tắm Máu” khi VC tiến vào luôn luôn là một ám ảnh trong tâm tư tôi.  Tôi không sợ chết nếu nó có thể đem lại sự an toàn cho gia đ́nh tôi, nhưng tôi chỉ lo sợ cho sự đau khổ mà gia đ́nh tôi phải chịu khi việc tồi tệ diễn ra.
Một khoảng khắc im lặng bao trùm sau lời tôi nói.  Tôi không biết làm thế nào để phá tan sự im lặng ấy, do đó tôi kể lại những điều mà tôi nghe sếp tôi nói vào sáng hôm ấy.  Cuối cùng tôi đi đến một kết luận rất vô nghĩa.
- “ Có lẽ chúng ta sẽ biết được ít nhiều vào sáng ngày mai trong Cơ Quan.”
Hào từ giă.  Linh bảo tôi đi với anh ấy sang nhà chị anh để hỏi coi có chương tŕnh nào không.  Anh rể của Linh là một giám đốc trong bộ Dân Vận và Chiêu Hồi.  Ông ta không có ở nhà, và chúng tôi hẹn gặp lại hôm sau.
Chúng tôi về nhà với tâm tư rất bối rối.  Linh bảo tôi gói ghém những thứ cần thiết để đề pḥng t́nh huống khẩn cấp.  Chúng tôi chỉ có một cái túi xách tay nhỏ từ những ngày đi trăng mật, do đó chúng tôi lên mượn Linh một cái ba-lô cho dể mang và c̣n phải phụ giúp vợ tôi v́ cô ấy quá nặng nề với cái bầu.  Tôi bỏ vào túi xách vài bộ quần áo cho chúng tôi, và một ít đồ dùng cho đứa trẻ sắp ra đời nữa.  Tôi nói đùa với vợ tôi rằng nếu con chúng tôi sanh ra trên đường đi trốn th́ phải đặt tên nó là “Di Tản” để nhớ lại chuyện này.  Chúng tôi cười để xoa đi bao nỗi lo sợ.

 

 

 

Chương 4. Phủ Trung Ương T́nh Báo Chuẩn Bị Di Tản

Tôi đến Trụ Sở Trung Ương sớm hơn mọi ngày.  Sau khi đưa vợ tôi vào văn pḥng, tôi đi thẳng đến khu nhà của Ban A17 chúng tôi thay v́ đi đến trường để dạy học mặc dù hôm ấy tôi có giờ dạy.  Tôi không thể nào xuất hiện trước mặt học tṛ của tôi được.  Tối hôm qua, tôi đă mất ngủ mặc dù đă uống thuốc ngủ; quá nhiều vấn đề khiến tôi bị nhức đầu.  Tôi phải nói vợ tôi gọi báo bệnh dùm.
Khu nhà Ban A17 của chúng tôi ồn ào chứ không im lặng như thường lệ.  Tôi nghĩ rằng giờ ấy c̣n sớm thế mà mọi người đều có mặt đông đủ.  Đẹp, thư kư của sếp tôi đang đánh máy cái ǵ đó.  Tuân bảo tôi cô ta đang làm danh sách và địa chỉ của nhân viên đề pḥng trường hợp khẩn cấp.  Ở nước tôi vào lúc ấy, người dân chưa dùng điện thoại ngoại trừ những gia đ́nh giàu có hoặc các cơ sở thương mại.  Sự liên lạc với nhau thường được thực hiện bởi những liên lạc viên; anh ta lái xe gắn máy đi t́m những người cần thiết để báo lại những điều cần phải làm.  Đôi khi chúng tôi lại không ở tại nhà ḿnh, do đó chúng tôi cần có một địa chỉ chính xác trong những trường hợp như thế này.  Tôi ghi lại địa chỉ của mẹ tôi thay v́ địa chỉ của tôi v́ tôi không muốn ở một ḿnh trong nhà tôi trong trường hợp này.
- “Có ǵ xảy ra trong cơ quan chưa?”  Tôi hỏi Tuân.
- “Chưa có ǵ đặc biệt!  Tôi nghĩ  chắc phải đợi sếp vào th́ mới biết.  Không biết các nơi khác trong Phủ có làm danh sách không, nhưng theo tôi th́ chắc phải có điều ǵ đó quan trọng.”
- “Ai sẽ là người liên lạc?  Tôi nghĩ chắc là Hiệp và Điền chứ ǵ?
- “Tôi cũng nghĩ thế, nhưng theo tôi th́ chúng ta nên vào đây thường hơn để tự lo liệu lấy ḿnh.  Tại sao anh không điện thoại hỏi bà xă ở bên đó xem có ǵ không?”  Tuân đột nhiên hỏi tôi.
- “Tôi cũng định sẽ điện thoại hỏi vợ tôi, Lan và Linh nữa để chúng ta có thể biết được vài điều đang diễn ra trong cơ quan.”
Với hàm râu chưa cạo, Tuân trông lớn hơn số tuổi ba mươi hai.  Chúng tôi thường gọi đùa là tên Tây lai v́ hàm râu quai nón và cái sống mũi cao của Tuân.  Trong những ngày đầu tiên mới vào làm trong cơ quan, Tuân và tôi thường làm chung với nhau trong “Đội Công Tác Sinh Viên”.  Chúng tôi gia nhập các cuộc biểu t́nh của sinh viên để thu nhặt tin tức.  Chúng tôi cùng nhập ngũ chung một ngày, ở chung trong một trung tâm huấn luyện.  Sau khi trở về làm cho Cơ Quan, tôi phụ trách công tác ở Đại Học Khoa Học c̣n Tuân ở Đại Học Văn Khoa, nhưng chúng tôi vẫn thường hỗ trợ nhau.  Vợ của Tuân cũng là bạn học với vợ tôi; chúng tôi thỉnh thoảng vẫn đi chơi chung với nhau do đó hai chúng tôi là những người bạn thân.
- “Tôi nghĩ chúng ta đang đứng ở bên bờ vực.”  Tuân cắt ngang.  “Hai vợ chồng tôi chắc sẽ tính chuyện ra đi càng sớm càng tốt!”
- “Hy vọng hai người sẽ làm được việc ấy.  Hoàn cảnh hai người tương đối dễ dàng hơn tôi; vợ tôi quá nặng nề với cái bầu, tôi không thể làm ǵ khác hơn là chờ đợi chương tŕnh của cơ quan.  Hơn nữa, tôi nghĩ không lẽ một cơ quan t́nh báo mà lại không có một chương tŕnh lo cho nhân viên trong t́nh trạng nguy kịch hay sao.”
- “Tôi hy vọng thế, nhưng ít ra chúng ta cũng nên nghĩ đến điều ấy.  Tôi thật không biết t́nh trạng đất nước ta quá tồi tệ đến thế sao.”  Tuân lo lắng nói.
Mọi nhân viên trong ban chúng tôi đang bàn tán về t́nh trạng xấu của đất nước, nhưng thật ra chúng tôi không rơ nó tồi tệ đến mức nào.  Chúng tôi không thể tin được một ngày chúng tôi có thể mất nước mà chỉ nghĩ đến một trận chiến lớn với VC khi chúng tiến vào Sài G̣n mà thôi.  Có tin đồn là chúng tôi sẽ rút về vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu long để chống lại VC.  Nhưng cuộc chiến ở Xuân Lộc vẫn đang tiếp diễn.  Chúng tôi làm trong một cơ quan chuyên lo về những vấn đề chính trị, nên cũng không biết nhiều về việc quân sự.  Đó chính là nhược điểm của chúng tôi.
Trong một quốc gia mà chiến tranh diễn ra quá lâu, các vấn đề chính trị, quân sự, và kinh tế đều bị lẫn lộn nhau.  Những nhà lănh đạo quân sự trở thành lănh đạo chính trị đă tạo thành sự lộn xộn cho quốc gia.  Đất nước không có được một nhà lănh đạo lớn có thể kết hợp sức mạnh của toàn dân để chống lại kẻ thù.  Phó thủ tướng Trần Văn Hương, người đại diện cho miền Nam nhưng lại không có thực quyền, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là một trung tướng nhưng lại không đại diện được cho quân đội.  Mỗi một tướng lănh là một ông vua trong vùng với quyền lực riêng của ḿnh.  Sự chia rẽ trong hàng ngũ tướng lănh càng lúc càng trầm trọng khiến binh lính trở nên nghi ngờ.  Thiếu Tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng thống, và Đại Tướng Dương Văn Minh, kết hợp với nhóm Phật Giáo Ấn quang và với cái gọi là “Thành Phần thứ Ba” để chống lại Tổng Thống.  Họ đều muốn tổng thống phải từ chức.  Tôi không biết họ làm được ǵ cho đất nước một khi họ nắm quyền hành.  Một vài ngôi sao sáng trong bầu trời chính trị đă bị giết chết như Nguyễn Văn Bông, giám đốc trường Quốc Gia Hành chánh và cũng là chủ tịch đảng Cấp Tiến.
Tôi nghĩ phương cách hay nhất là sự đoàn kết toàn dân như một câu tục ngử của Việt Nam“Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.  Tôi không đổ lỗi cho các nhà lănh đạo về sự đánh mất đất nước, nhưng chính họ là những người đă nắm vận mệnh đất nước trong tay.  Có một câu nói của người xưa rằng “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, tôi nghĩ thêm rằng “nhất tướng thất bại triệu cốt khô!”
Tôi điện thoại hỏi vợ tôi ở pḥng tuyển mộ và chị vợ tôi ở Ban Nghiên cứu; họ đều đă làm danh sách cho nhân viên.  Chúng tôi hiểu rằng đó là dấu hiệu xấu của đất nước.  Tuy nhiên chúng tôi không biết được xấu đến mức nào, và chúng ta phải làm ǵ để giải quyết.  Đi ra nước ngoài như nhiều người đă làm, chuẩn bị chống lại VC khi chúng tiến vào Sài G̣n, hay rút về đồng bằng sông Cữu Long như tin đồn?  Chúng tôi không biết thật sự phải làm ǵ.  Chỉ làm một danh sách th́ không thể giải quyết được ǵ!  Chúng tôi muốn có một lời giải thích rỏ ràng, và chúng tôi đang chờ sếp vào.
Long đi nhanh vào pḥng.  Chúng tôi nh́n nhau lo lắng.  Điều này bất thường v́ ông ta không có thói quen như vậy.  Ông ta thường đi vào hội trường để tṛ chuyện với chúng tôi trước khi vào văn pḥng riêng.  Chúng tôi đều mong những lời của ông ta.  Khoảng nửa giờ sau, ông ta đi ra với một dáng buồn bă.
“ Tôi rất lấy làm buồn mà báo tin rằng chúng ta đang phải trải qua một giai đoạn khó khăn và nguy hiểm.  Nhiều áp lực buộc Tổng Thống phải từ chức, và tôi không biết ông ấy có từ chức không.  Tôi cũng không biết ai sẽ thay Tổng Thống Thiệu nếu ông ấy từ chức.  Phó Tổng Thống chỉ là tạm thời mà thôi.  Thêm vào đó, tôi không biết đất nước sẽ ra sao trong t́nh trạng như thế này.  Chúng ta đang lập danh sách theo như lệnh của cấp trên, nhưng tôi không biết để làm ǵ.  Tôi chỉ mong chúng ta b́nh tĩnh trong mọi t́nh huống.  Chúng ta sẽ làm việc như thường lệ, và chúng ta cũng sẽ hợp sức nhau.”
Nhiều cái “tôi không biết” của ông Long khiến chúng tôi phân vân hơn lúc nào hết.  Chúng tôi không chờ đợi một ư kiến mơ hồ như vậy.  Trong t́nh trạng như thế, chúng tôi nghĩ một cấp chỉ huy cần nên tŕnh bày rơ ràng sự thật cho nhân viên chứ không nên che lấp  bằng những lời lẽ mập mờ.  Chúng tôi không cần biết ai sẽ là Tổng Thống; điều chúng tôi cần muốn biết là t́nh trạng đất nước như thế nào và chúng tôi phải đối phó ra sao.  Tôi nghĩ ông Long cũng đă bị mơ hồ bởi v́ ông ta là bà con với bà Thiệu; một khi ông Thiệu từ chức, ông Long cũng mất đi hậu thuẩn và cũng có thể mất đi chức vụ.  Có lẽ ông ta đă quá chú ư đến địa vị của ḿnh nhiều hơn là vận mạng của đất nước!  Ông Long là một ứng viên sáng giá trong chức vụ Đặc Uỷ Trưởng mặc dù ông ta c̣n trẻ và không phải là một sĩ quan quân đội.  Ông ta đă thành công hầu hết trong mọi công tác mà ông ta nắm giữ, và ông ta cũng có học vấn hơn nhiều người lănh đạo trong cơ quan.  Trong ban của chúng tôi, hầu hết nhân viên đều đă tốt nghiệp bậc Trung Học, và một số tốt nghiệp Đại Học.  Để điều hành một ban như thế, Long có nhiều thuận lợi hơn một sĩ quan quân đội mặc dù cơ quan đang được lănh đạo bởi quân đội.
Long đă đi sau khi nói chuyện.  Tuân, Banh, và tôi đi ra quán cà phê La Pagode như thường lệ trước khi đi gặp các cộng tác viên.
- “Các bạn có nghĩ rằng ông Thiệu sẽ từ chức hay không?  Tôi bắt đầu.
- “Tôi nghĩ ông ta sẽ từ chức v́ dân chúng có vẻ không ưa ông ấy sau vụ độc diễn trong kỳ bầu cử Tổng Thống vừa qua.  Tuy nhiên tôi không biết ai sẽ làm Tổng Thống trong lúc này.”  Banh nói nhanh, “tôi nghĩ có lẽ Tướng Dương Văn Minh và Tướng Nguyễn Cao Kỳ là sáng chói nhất.”
- “Tôi thấy Big Minh đă nắm vai tṛ lănh đạo một lần rồi và đă không làm được ǵ cho đất nước.  C̣n ông Kỳ là một Cao Bồi trong quân đội; làm thế nào ông ta có thể lănh đạo đất nước trong t́nh huống như thế này?”  Tuân đưa ư kiến.
- “Tôi cũng đồng ư!  Đối với tôi th́ sự thay ngựa giữa ḍng không phải là một giải pháp hay trong lúc này.  Ông Thiệu thật ra không hoàn hảo trong vai tṛ của ông ấy đang nắm, nhưng nếu phải chọn giữa ba người này th́ có lẽ tôi chọn ông ta.  Ngoài ra tôi không biết ai thích hợp hơn trong lúc này.”  Tôi góp ư.
- “Theo tôi thấy th́ vài vị tướng lănh và cái gọi là “Lực Lượng Thứ Ba” muốn thương thuyết với VC về hoà b́nh đất nước, nhưng làm sao chúng ta tin được Cộng Sản.”  Tuân nói.
- “Đúng vậy!  Người Mỹ đă không c̣n muốn cái mà họ gọi là “Chiến Tranh Việt Nam” nữa;  dân chúng Mỹ th́ nghĩ rằng đây là cuộc nội chiến giữa Nam và Bắc Việt Nam.  Họ muốn chúng ta tự giải quyết cuộc chiến của chúng ta.  Họ cũng chẳng cần biết rằng đây là cuộc chiến tranh giữa Chủ nghĩa Cộng Sản và Chủ nghĩa Tư Bản mà chúng ta chính là nạn nhân.  Tôi nghĩ chính người Mỹ muốn ông Thiệu từ chức và giải quyết chiến cuộc qua thương thuyết, và đó là áp lực chính.”  Banh nói nhanh nhẩu như thường lệ.
Hàm râu càm mà không có ria mép khiến Banh trở nên trông buồn cười ở cái tuổi mới hai mươi sáu.  Banh là họ hàng bên ngoại với gia đ́nh Đỗ Kiến ở Mỹ Tho;  Đỗ Kiến Nhiểu, đô trưởng Sài G̣n là cậu của anh ta.  Tôi cũng nghe nói rằng gia đ́nh Đỗ Kiến là họ hàng với Bà Thiệu, đệ nhất phu nhân.  Một khi nhà lănh đạo đặt họ hàng ông ta trong các chức vụ quan trọng điều đó có nghĩa là ông ta không tin tưởng cấp dưới.  Đó cũng là lư do để các lực lượng khác có cơ hội đối kháng.  Sự sụp đổ của nền Đệ nhất Cộng Ḥa và cái chết của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và các em của ông ta Ngô Đ́nh Nhu, Ngô Đ́nh Cẩn là một chứng minh rỏ ràng.  Các tăng lữ Phật Giáo đă nắm vai tṛ chính trong sự lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Ḥa, và giờ đây họ lại nắm phần quan trọng trong sự đối đầu với tổng thống Thiệu.  Lực Lượng thứ Ba thật ra cũng chẳng có thực lực ngoài hai tướng Kỳ và Big Minh mà cả hai đều có sự khác biệt nhau.  Vài người khác như bà luật gia Ngô Bá Thành, luật sư Trần Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân, ni sư Huỳnh Liên, vân vân chỉ dựa vào lực lượng Phật Giáo Ấn Quang; thật ra th́ VC chính là phần tử chính len lỏi trong đó.  Nguồn nhân lực chính là lực lượng Sinh Viên th́ đă bị nhóm sinh viên của chúng tôi bao vây từ năm 1972 sau khi chúng tôi thành công trong việc giành lại Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n từ tay Huỳnh Tấn Mẫm, một tên Cộng Sản.  VC không c̣n có thể lợi dụng Sinh Viên được nữa nên chúng thành lập vài nhóm như “Lực Lượng Thanh Niên Cứu Đói”, và “Nhóm Kư Giả ăn mày” để quấy động t́nh h́nh Thủ Đô.
Ngoại trừ vài lực lượng chống đối với Tổng Thống Thiệu, t́nh h́nh thủ đô vẫn lặng yên sau khi cuộc rút lui khỏi Buôn Mê Thuột và Đà Nẵng được loan báo.  Dân chúng cho rằng Nguyễn Văn Thiệu là chướng ngại cho hoà b́nh; nhiều áp lực từ mọi phía yêu cầu ông từ chức.  Cơ quan chúng tôi là một bộ phận trực thuộc phủ tổng thống, do đó sự thay đổi tổng thống cũng đồng nghĩa với sự thay đổi trong cơ quan.
- “Theo các anh thấy th́ thay đổi tổng thống có thể giúp đất nước ta tiến đến hoà b́nh hay không?”  Tôi hỏi.
- “Tôi không nghĩ vậy!”  Tuân nói một cách buồn bă,  “đă nhiều lần chúng ta thay đổi cấp lănh đạo nhưng càng khiến t́nh h́nh thêm rối ren mà thôi.”
- “Tôi cũng đồng ư!  Sau khi nền đệ nhất cộng hoà bị lật đổ, người Mỹ đưa quân vào khiến cuộc chiến càng lúc càng thêm gay gắt.  Đất nước ta đă nhiều phen thay đổi cấp lănh đạo, nhưng không ai có khả năng giữ được t́nh h́nh yên ổn như lúc c̣n Ngô Đ́nh Diệm.”  Banh nói thêm.
- “Tôi th́ nghĩ các cấp lănh đạo của chúng ta chỉ muốn tranh giành quyền lực chứ không nghĩ đến vận mạng của đất nước.”  Tuân nhận định.  “Tôi rất tiếc cho các vị lănh đạo của chúng ta bởi v́ chúng ta phải phục vụ cho những kẻ không biết nghĩ đến ǵ ngoài quyền lợi của chính họ.”
- “Chúng ta c̣n trẻ, và chúng ta muốn mang hoà b́nh lại cho đất nước.  Tôi nghĩ nếu VC không quá tôn sùng cái chủ nghĩa Cộng Sản của chúng th́ tốt hơn chúng ta giao đất nước này cho họ để nhân dân có được hoà b́nh.”  Tôi nói một cách thành tâm.
- “Tôi cũng nghĩ thế!  Chúng ta đă quá mệt mỏi với cuộc chiến.  Hàng trăm năm qua chúng ta chưa có cơ hội để xây dựng đất nước.”  Banh nói; “Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ không c̣n chiến tranh để chúng ta có thể làm được những điều mà chúng ta muốn làm.”
Tôi đến nhà hàng Sing Sing trên đường Phan Đ́nh Phùng để tiếp xúc với các cộng tác viên, nhưng không gặp Lễ như đă hẹn.  Nhàn, Nghĩa, Trung, Tâm, Vinh, Trí, và Lâm đều hy vọng biết được vài điều ǵ đó.  Tôi nhắc lại những điều tôi nghe được từ sếp và yêu cầu họ hăy làm những điều cần thiết để tự cứu lấy ḿnh.  Họ là những cộng tác viên trẻ đă giúp tôi trong việc chiếm lại Ban Đại Diện Sinh Viên Đại Học Khoa Học trong những ngày đầu.  Nhàn, trưởng nhóm ấy bị cụt mất một chân.  Tôi không biết điều ǵ đă xảy ra cho hắn v́ tôi không bao giờ hỏi lư do.  Hắn luôn luôn trông có vẻ tươi cười vui vẻ.  Những người này chỉ mới đang học năm đầu tiên ở Đại Học Khoa Học, nhưng lại làm việc rất thành công.  Trong một t́nh trạng như thế này, họ c̣n quá trẻ để tự định đoạt lấy tương lai ḿnh, và điều mà họ có thể làm được có lẽ là chờ đợi kế hoạch chung của cơ quan!  Tôi hiểu họ đang chờ một lời giải thích rơ ràng chứ không phải những ǵ mà tôi vừa nói.  Tôi nói một cách lúng túng.
“Tôi biết tôi đă không có được những ǵ mà các anh mong đợi, và chính tôi cũng rất lo lắng như các anh.  T́nh trạng của tôi có lẽ c̣n khó khăn hơn các anh.  Tôi rất tiếc.  Tôi nghĩ chúng ta đành phải tự giải quyết lấy vấn đề của chính chúng ta chứ không nên quá trông chờ vào Cơ Quan.  Tôi hy vọng các anh hiểu điều tôi nói.”
Từ hôm ấy, tôi ở lại nhà mẹ tôi v́ tôi không muốn bị lỡ cơ hội mỗi khi Cơ Quan cần liên lạc.  Tôi đă bảo những cộng tác viên của ḿnh nên tự giải quyết lấy mọi việc, nhưng  tôi cũng vẫn dựa vào Cơ Quan!
Lân, Phụng, Tài và tôi chơi bài tứ sắc và nói chuyện nhau.  Phụng là em của Lân và cũng là trung sĩ Hải Quân.  Anh ta từng ở nhà mẹ tôi lúc c̣n đi học, và anh ta cũng cưới một cô thợ may trong tiệm may của mẹ tôi.  Tôi kể cho họ nghe những điều xảy ra trong Cơ Quan của tôi sáng nay cùng những ǵ mà Cơ Quan đang chuẩn bị.  Tôi nghĩ họ cũng như tôi đều lo lắng cho sự an nguy của gia đ́nh.  Ở đất nước tôi, đàn ông luôn làm chủ gia đ́nh và quyết định mọi việc quan trọng trong gia đ́nh.  Lân có 3 con nhỏ, Phụng th́ chỉ mới có một đứa; chỉ có Tài là c̣n độc thân nên không lo ǵ cả ngoại trừ chính bản thân nó.  Đề tài chính trong cuộc đối thoại của chúng tôi đều nhằm vào t́nh trạng của đất nước và làm thế nào để thoát thân khi sự việc tồi tệ diễn ra.  Với 3 người đang làm cho Hải Quân Việt Nam, việc di tản bằng tàu thật quá dễ dàng, nhưng tôi vẫn luôn tin vào kế hoạch của Cơ Quan và trông chờ vào kế hoạch ấy.  Tôi nói với họ điều tôi đang suy nghĩ và họ cũng đồng ư như vậy.
Linh đến đi với tôi tới nhà của chị anh ta.  Anh rể anh ta, Thụ, là tổng giám đốc trong bộ Dân Vận Chiêu Hồi gặp chúng tôi như đă hẹn trước.
- “Anh có dự định ǵ trong vấn đề di tản một khi t́nh trạng khẩn cấp xảy ra không?”  Linh hỏi ngay.
- “Chưa!”  Thụ trả lời một cách hấp tấp, “nhưng đă có vài việc xảy ra trong Bộ vào sáng nay.”
- “Điều ǵ vậy?”  Linh hỏi một cách lo lắng.
- “Ông Tổng Trưởng Hoàng Đức Nhă bảo rằng có nhiều áp lực buộc Tổng Thống phải từ chức, và có lẽ ông ấy phải nhượng bộ thôi.  Tôi không biết khi nào và điều ǵ sẽ xảy ra, nhưng chúng tôi cũng đang chuẩn bị cho việc thay đổi ấy v́ Nhă là họ hàng với ông Thiệu.”
- “Tôi đă nghe điều ấy rồi, và sáng nay Cơ Quan chúng tôi đă làm danh sách nhân viên.”  Tôi giải thích.  “Hôm qua tôi cũng có nghe nói việc Nguyễn Khắc B́nh nhường quyền lại cho Nguyễn Phát Lộc, nhưng việc này chưa xảy ra.”
- “Tôi nghĩ việc ấy sẽ đến nhanh thôi!”  Linh thêm vào.  “Anh có ư nghĩ thế nào về t́nh trạng đất nước ta không?”
- “Tôi nghĩ chắc rất là phức tạp.  Người Mỹ muốn chúng ta giải quyết t́nh trạng chiến tranh bằng chính bản thân chúng ta, nhưng họ lại áp lực khắp mọi mặt.  Vài vị tướng lại muốn Tổng Thống phải từ chức để hoà đàm với VC, nhưng họ lại không biết làm thế nào nói chuyện được với Cộng Sản v́ CS là những người không bao giờ tôn trọng thoả ước.  Tôi không biết ai sẽ làm Tổng Thống khi ông Thiệu từ chức:  Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh là hai ứng viên sáng chói.  Với Kỳ th́ có lẽ sẽ có chiến tranh thay v́ thương thuyết.  Ngược lại Minh hiện là người được nhóm “Lực Lượng Thứ Ba” hậu thuẩn mà lực lượng này lại đang hợp tác với VC.  Tôi không biết việc ǵ sẽ xảy ra một khi Big Minh nắm quyền.”  Thụ trả lời theo nhận định riêng.
- “Chúng tôi đến đây để hỏi xem anh có kế hoạch ǵ không một khi t́nh trạng nguy kịch xảy ra.”  Linh cắt lời.  “Chúng ta nên có dự định riêng chứ không thể hoàn toàn trông cậy vào chính phủ hay vào Mỹ.”
- “Tôi chưa có ư định nào cả, nhưng cũng đă nghĩ đến điều ấy rồi.  Tôi nghĩ chúng ta sẽ có đủ thời giờ để đi một khi sự việc xảy đến.  Anh có nhớ khi chúng ta di cư khỏi miền Bắc sau khi hiệp định Genève kư kết không?  Tôi không nghĩ rằng đất nước bị mất quá nhanh đến nỗi chúng ta không có thời giờ để chuẩn bị ra đi.”  Thụ trả lời một cách thành thật.
Tôi biết rằng Thụ chưa có ư tưởng ǵ cho việc rút lui vào lúc ấy v́ anh ta không muốn mất một địa vị mà anh ấy đang có.  Sau vài câu chuyện xă giao, chúng tôi từ giả ra về.  Linh có vẻ hơi thất vọng v́ anh ta nghĩ anh rể anh ta có thể giúp được anh ta trong t́nh huống ấy.

 

Chương 5. Những Báo Hiệu Về Sự Sụp Đổ Của 

Việt Nam Cộng Hoà

Ngày 21 tháng tư năm 1975, tôi đến văn pḥng trong cơ quan rất sớm, các bạn tôi cũng thế.  Họ đang bàn tán về việc bàn giao nhiệm vụ giữa ông Đặc Uỷ Trưởng Nguyễn Khắc B́nh với ông Nguyễn Phát Lộc, phụ tá Điều Hành.  Chúng tôi đă biết việc này xăy ra là kết quả của sự thay đổi trong phủ Tổng Thống, và mọi việc đang bắt đầu!
Ông Long, sếp chúng tôi cũng đến rất sớm.  Ông ta bảo chúng tôi giữ b́nh tỉnh, nhưng tôi nghĩ chính ông ta lại thấy không có vẽ b́nh tĩnh chút nào.  Ông ta đi quanh các pḥng và hội trường nói nhiều chuyện khác nhau nhưng lại tránh không đă động đến việc đang xăy ra trong Dinh.  Chúng tôi nghĩ chắc ông đă biết về việc chúng tôi đang suy đoán về sự từ chức của Tổng Thống.
Thật ra Nguyễn Văn Thiệu hay ai khác làm Tổng Thống không thành vấn đề với chúng tôi.  Điều chúng tôi quan tâm chính là vận mệnh của đất nước và số phận của chúng tôi.  Ai sẽ là Tổng Thống và ông ta sẽ làm ǵ để đối phó với vận mạng của đất nước?  Phó Tổng Thống Trần Văn Hương không đủ sức để nắm chức vụ.  Tướng Dương Văn Minh là người muốn hoà hợp với Cộng Sản.  Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ có lẽ sẽ dẫn đất nước đến một trận chiến lớn.
Chúng tôi chẳng sợ chết nếu phải chiến đấu với VC.  Chúng tôi cũng biết rằng mọi sự ḥa hợp với Cộng Sản sẽ đưa đến sự thất bại bởi v́ chúng sẽ không bao giờ giữ lời giao ước.  Nhưng chúng tôi lại không có được sự lựa chọn nào!  Áp lực chính là người Mỹ; đó mới chính là sự đau khổ cho dân tộc nước nhỏ.  Tôi nghĩ người Mỹ không muốn chúng ta đánh nhau nữa.  Họ muốn có thương thuyết để có một nền ḥa b́nh trong danh dự như họ thường nói, và điều này có nghĩa là họ chọn Big Minh để thực hiện điều họ muốn.  Nguyễn Văn Thiệu đă nói rằng: “Đừng nghe những ǵ Cộng Sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ mà Cộng Sản làm”.  Tôi không biết ai là tác giả thật sự của câu nói ấy, nhưng tôi nghĩ quả thật điều đó rất đúng.
Cô thư kư của sếp, Đẹp, vẫn tiếp tục đánh máy danh sách địa chỉ của nhân viên.  Vài người muốn thay đổi địa chỉ, và vài người không vào cơ quan ngày hôm qua.  Sự bàn giao chức vụ trong cơ quan diễn ra rất lặng lẽ; không có một nghi thức nào, không có sự tham dự của nhân viên, v́ vậy chúng tôi sẽ không biết ǵ nếu không ai loan báo.  Tin đồn về sự bàn giao này đă thành sự thật.  Chúng tôi lại cũng nghe nói rằng Nguyễn Phát Lộc, tân Đặc Ủy Trưởng chỉ có nhiệm vụ duy nhất là lo chuẩn bị việc di tản cho chúng tôi.  Chúng tôi hỏi sếp về tin đồn này, nhưng ông ta từ chối không chịu nói; ông ta chỉ nói rằng mọi việc sẽ diễn tiến theo sự sắp xếp.  Những lời nói mập mờ này không làm chúng tôi bằng ḷng, và chúng tôi quả thật không biết giải quyết t́nh trạng chúng tôi ra thế nào: hoặc là chờ đợi cơ quan hay tự t́m lấy phương kế riêng ḿnh để thoát thân.
Sự từ chức của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được loan báo chiều hôm ấy, và bài diễn văn dài chín mươi phút của ông ta được truyền đi trên đài truyền h́nh và đài phát thanh khắp cả nước.  Chúng tôi nghe một cách lơ đễnh dù tổng thống có một dáng vẽ rất là buồn rầu và giận dử.  Chúng tôi đă biết trước việc này rồi, và chúng tôi cũng c̣n biết rằng ông cụ 72 tuổi, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương chỉ làm Tổng Thống tạm thời mà thôi.  Điều chúng tôi đang lo là ai sẽ thay thế tiếp theo và ông ta sẽ đối phó ra sao với t́nh trạng của đất nước.
Lời kêu gọi đoàn kết để chống kẽ thù của Trần Văn Hương chỉ là nghi thức.  Ông ta không có thực lực để huy động sức mạnh của các tướng lảnh và của nhân dân.  Dân chúng không c̣n tin tưởng chính quyền nữa.  Họ đổ cho chính quyền là tham nhũng và đưa quốc gia đến t́nh trạng hiện thời.  Tôi không biết đó là sự thật hay chính là ảnh hưởng của sự tuyên truyền của VC.  Nếu điều đó đúng th́ sự tham nhũng của cấp lảnh đạo trong chính quyền và quân đội chính là sự tàn phá đất nước trong chiến tranh v́ điều này khiến kẽ thù có cơ hội để làm tan nát sự đoàn kết toàn dân.  Dân chúng sợ Cộng Sản, nhưng họ lại không tin tưởng vào chính quyền.  Điều đó đă khiến một người nào có nhiệt tâm kết hợp toàn dân để chiến đấu chống Cộng sẽ rất khó khăn.  Hầu hết mọi người Việt Nam đều biết câu tục ngữ “đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”, nhưng không ai thực hiện điều ấy.  Quả thật là một điều khó khăn!  Làm thế nào chúng ta có thể đối phó với việc này cho dù chúng ta có sức mạnh và nhiệt t́nh đi nữa?
Cái chết của vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam, Ngô Đ́nh Diệm, vào năm 1963 đă bắt đầu cho sự xáo trộn trong cấp lănh đạo ở Nam Việt Nam; sự từ chức của Nguyễn Văn Thiệu có lẽ là sự mở màn cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Ḥa!  Chúng tôi đều nghĩ đến điều này, nhưng không ai biết phải làm sao để giải quyết vấn đề của đất nước và của chính bản thân chúng tôi.  Chúng tôi hy vọng rằng sẽ có cơ hội để chiến đấu một trận chiến cuối cùng với VC và mong rằng cái gọi là các quốc gia Đồng Minh sẽ không bỏ rơi chúng tôi trong cuộc chiến ấy.
Trận chiến ở Xuân Lộc đă thất bại trước khi Tổng Thống từ chức.  Vài dư luận cho rằng Mỹ đă ngăn không cho tướng Lê Minh Đăo, tư lệnh Sư đoàn 18 dùng một loại vũ khí hóa học để dành chiến thắng trong trận chiến ấy!  Chúng tôi không biết điều đó có thật vậy không, nhưng sự thất bại này là sự thất vọng cho mọi người trong thủ đô v́ đó là tuyến pḥng thủ cuối cùng về phía Đông Bắc Sài G̣n.
Sự viện trợ của các nước Đồng Minh đặc biệt là của Mỹ chỉ là một sự mơ hồ sau khi Tổng Thống Mỹ Ford bị quốc hội Mỹ phủ quyết ngân khoảng viện trợ 722 triệu Mỹ Kim về quân sự khẩn cấp cho chính phủ Sài G̣n.  Những cuộc di tản của người Mỹ, Nhật, và những người ngoại quốc khác ra khỏi Sài G̣n là một bằng chứng rơ ràng về sự bỏ rơi của Mỹ.  Cuộc chiến hai mươi năm chấm dứt trong sự từ chức của tổng thống dưới áp lực nặng nề của nhiều phía.  Tôi không biết Tân Tổng Thống có thể nào đối phó với ḥa b́nh của đất nước hay không.  Trong lúc ấy, tôi chỉ nh́n thấy viễn ảnh của sự mất nước sẽ xăy ra khi chứng kiến trên truyền h́nh Ông Trần Văn Hương di chuyển rất khó khăn dưới sự trợ giúp của người khác.  Mặc dù trong diễn văn, ông ta thề rằng ông ta sẽ chiến đấu cho đến khi nào mọi lực lượng đều chết hết hay đất nước mất đi và sẽ được chôn chung với các chiến sĩ, tôi nghĩ chắc ông ta không có cơ hội thực hiện lời thề v́ ông ta đă quá già yếu ở cái tuổi bảy mươi hai.
Rơ ràng rằng sự chuyển giao chức vụ trong cơ quan là để chuẩn bị cho việc di tản cho nhân viên, nhưng chúng tôi cũng không thấy một chương tŕnh nào cả.  Một cơ quan t́nh báo phải sắp xếp rất nhiều điều một khi muốn bỏ cuộc như việc tiêu hủy hồ sơ, chuẩn bị phương tiện vận chuyển cho hàng ngàn nhân viên và gia đ́nh, vân vân… Chúng tôi chỉ được khuyên là nên giữ b́nh tỉnh trong mọi t́nh huống và chờ đợi quyết định của cấp trên.  Tôi nghĩ họ chẳng dám quyết định ǵ hết.  Một vài người có cơ hội riêng đă đi ra ngoại quốc, số c̣n lại không thể tự lo lấy ḿnh được th́ đang phải chờ đợi trong vô vọng một kế hoạch của cấp lảnh đạo.
Những ngày tiếp theo quả là những ngày dài nhất của chúng tôi.  Lời kêu gọi của Tân Tổng Thống giữ vững vị trí để chống lại kẽ thù được ban ra như một mệnh lệnh.  Chúng tôi phải ứng trực một trăm phần trăm trong cơ quan.  Chúng tôi phải ở lại trong văn pḥng cả ngày ngoại trừ khi đi tiếp xúc với cộng tác viên hay về nhà thay quần áo.  Chúng tôi không biết làm ǵ mà chỉ c̣n biết túm tụm nhau đánh bài và bàn tán.  Tôi không biết đang chờ đợi việc ǵ: một trận chiến với VC, một cuộc di tản, hay sự sụp đổ của đất nước.  Thật là một t́nh huống bi thăm!
Vợ tôi cũng phải ở lại trong văn pḥng, và chúng tôi chỉ gặp nhau vào buổi cơm trưa.  Tôi căm thấy tội nghiệp cho cô ấy với cái bầu trong lúc này.  Cô ta là một người phụ nữ nhỏ nhắn mà tôi hay gọi đùa là “fragile”, và cô ta cũng rất thích cái tên ấy.  Trong t́nh trạng ấy, tôi không hiểu cô ta có đủ sức để chịu đựng hay không.  Tôi tự hỏi cái bầu ấy là một niềm hạnh phúc hay chính là nỗi buồn của cô ta mặc dù cô ta đă chờ đợi nó rất lâu.  Tôi không thể nào có quyết định ǵ cho chúng tôi mỗi lần nh́n vợ tôi.  Cô ấy quá mảnh mai và cái bầu th́ lại quá nặng nề; làm thế nào có thể leo lên tàu để làm một chuyến đi đến một nơi vô định!  Tôi sẽ không thể nào bỏ mặc vợ tôi một ḿnh trong lúc ấy v́ cô ấy cũng làm việc cho cơ quan, và tôi cũng không muốn bỏ rơi cô ta để t́m cách tự cứu lấy ḿnh.  Tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ cùng chết nếu t́nh trạng tồi tệ diễn ra.  Điều tôi mong mơi là con tôi sẽ được sanh ra trước khi t́nh trạng tồi tệ xảy đến, chúng tôi sẽ t́m ra một phương cách cho chúng tôi: trốn ở đâu đó, đi ra khỏi đất nước, hay tự sát nếu cần thiết.
Bên cạnh t́nh trạng xáo trộn của đất nước, chúng tôi vẫn phải làm công tác thường lệ.  Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n đă được bầu một cách thành công.  Phạm Minh Cảnh, cộng tác viên của tôi trở thành Chủ Tịch.  Lễ ra mắt Tân Ban Chấp Hành vẫn được tổ chức như thường lệ.  Thay v́ tổ chức ca nhạc trong buổi lễ ra mắt, lần này chúng tôi cho chiếu một phim đă bị xem là tội lỗi vào thời ấy, đó là phim Exorcist.  Tôi không biết tại sao sếp lại chọn phim ấy v́ nó đă bị cấm từ lâu bởi cơ quan kiểm duyệt của chính phủ.  Tôi cũng không đến dự buổi lễ v́ tôi không muốn cho vợ tôi xem phim rùng rợn trong khi cô ấy đang mang thai và cũng chính v́ tôi đang quá lo lắng cho số phận của chúng tôi trong hiện t́nh của đất nước.  Điều đầu tiên mà Tân Tổng Hội yêu cầu là cho tấn công Bắc Việt bằng vũ khí nguyên tử để giải quyết t́nh trạng miền Nam.  Tôi nghĩ đó quả thật là một điều vô ích và buồn cười bởi v́ không ai trên thế giới c̣n muốn một cuộc chiến tranh nguyên tử.  Chiến Tranh Việt Nam chính là cuộc chiến tranh cục bộ giữa chủ nghĩa Tư Bản và chủ nghĩa Cộng Sản để tránh một cuộc chiến toàn cầu.  Mọi thứ vũ khí hiện đại nhất của hai phe Đông Tây đều đă được thử nghiệm trên chiến trường Việt Nam trong suốt hai mươi năm.  Có lẽ đây là lúc phải chấm dứt cuộc chiến ấy!  Điều đáng buồn là chúng ta, những người lính Nam Việt Nam đă bị hy sinh bởi những nước lớn.
Trận chiến ở Xuân Lộc đă chấm dứt với sự thất bại của sư đoàn 18; những người lính thất trận rút lui một cách vô trật tự về thủ đô.  Các đơn vị VC bao vây Sài G̣n; hỏa tiển của VC rơi khắp nơi trong thủ đô, ngay cả trong bộ chỉ huy cơ quan.  Trong khi đó chính phủ dưới sự lảnh đạo của một ông cụ già, Trần Văn Hương, đă bị VC từ chối việc đại diện để thực hiện cuộc ḥa đàm.  Ở Mỹ, Tổng Thống Ford loan báo rằng đối với người Mỹ th́ chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt.  Điều c̣n lại đối với Mỹ là việc di tản cho sáu ngàn người Mỹ ở Việt Nam.  Để di tản cho khoảng hai trăm ngàn người Việt Nam có liên quan với Mỹ, họ cần một đơn vị rất lớn, và điều này khó có thể được quốc hội Mỹ chấp thuận.
Tôi căm thấy rất đau ḷng khi phải đặt số phận ḿnh trong tay những người sống bên kia bờ đại dương, những kẽ không quan tâm đến ǵ khác hơn là quyền lợi của họ.  Rỏ ràng rằng dân chúng Mỹ đă quá sợ cuộc chiến mà họ cho rằng dài nhất trong lịch sử Mỹ; họ mong có ḥa b́nh!  Họ không muốn tiếp tục cái mà họ gọi là “Chiến Tranh Việt Nam”, nhưng tôi nghĩ họ chẳng quan tâm ǵ đến hàng triệu người Việt Nam mà số phận của họ đang bị đe dọa một khi Cộng Sản chiếm cứ.  Năm 1972, cái gọi là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” sau hiệp định Paris đă dọn đường cho sự rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam.  Người Mỹ cuối cùng sẽ ra khỏi Việt Nam để chấm dứt cuộc chiến tranh mà họ càng lúc càng bị lún sâu vào vũng lầy.
Người Mỹ cho rằng Chiến Tranh Việt Nam là cuộc chiến tốn kém nhất trong lịch sử Mỹ, và họ không muốn đổ tiền vào cái lỗ không đáy ấy nữa.  Họ đổ cho chính quyền Việt Nam là tham nhũng và đă làm mất nước, nhưng họ không cho nhân dân Việt Nam tự chọn lựa cấp lănh đạo.  Họ đ̣i hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ như ở Mỹ với sự tự do hoàn toàn và với sự đối lập.  Tôi nghĩ điều này quả thật là quá viễn tưởng đối với một nước đang ở trong chiến tranh hàng trăm năm.
Hầu hết mọi đảng phái đối lập và ngay cả trong các tổ chức chính quyền, VC đều có người len vào để thúc đẩy những phần tử bất măn làm việc có lợi cho chúng.  Thay v́ giúp đở cho việc xây dựng một chính quyền mạnh th́ Mỹ lại giúp cho các tổ chức chống đối để Cộng Sản có cơ hội lợi dụng.  Những phong trào sinh viên học sinh từ Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi đều bao gồm những người Cộng Sản từ cấp lănh đạo đến các người ủng hộ.  Cái gọi là mẹ và chị trong các phong trào này chẳng ai khác hơn là những người Cộng Sản.  Nếu chính quyền đàn áp các phong trào này th́ bị cho rằng chính quyền đă dùng bạo lực với đàn bà và thanh niên, nếu không th́ càng lúc càng thêm xáo trộn cho đất nước.  Các vấn đề này càng ngày càng làm chính quyền trong t́nh trạng tiến thối lưỡng nan.  Tôi không bào chữa cho chính quyền, nhưng trong nhiệm vụ hàng ngày tôi đă từng đối đầu với những khó khăn này.  Điều tôi muốn nói ở đây là một quốc gia có chiến tranh không giống như một đất nước đang ḥa b́nh, và chúng ta cần nên chấp nhận trách nhiệm của ḿnh chứ không nên đổ cho chính quyền mà thôi.  Tôi vẫn luôn nhớ một thành ngữ của Trung Hoa rằng: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách (Sự c̣n mất của đất nước là trách nhiệm của mọi người ngay cả kẻ thất phu.)
Sự di tản của người Việt Nam là đề tài chính trong những ngày này đặc biệt là đối với sĩ quan và nhân viên chính quyền Nam Việt Nam, nhưng thường dân lại đầy đặt phi cảng Tân Sân Nhất.  Quốc lộ 15, con đường chính để di tản từ Sài G̣n đă bị VC siết chặc.  Hầu hết những sĩ quan Nam Việt Nam có phương tiện đều đă đưa gia đ́nh ra đi, nhưng số c̣n lại th́ tự hỏi việc ra đi này có quá sớm hay không!  Vấn đề khó khăn cho chúng tôi lúc ấy là một cuộc ra đi quá sớm là việc đầu hàng mà không có chiến đấu, nhưng nếu để quá trễ th́ lại không c̣n kịp nữa.  Tổng Thống từ chức Nguyễn Văn Thiệu đă rời Sài G̣n đi Đài Loan mặc dù trong diễn văn từ chức ông ta đă nói rằng ông ta chỉ từ chức chứ không bỏ cuộc.  Nguyễn Khắc B́nh, Đặc Ủy Trưởng đă đi ngay ra nước ngoài sau khi bàn giao quyền hành.  Vài vị lănh đạo trong cơ quan như ông phụ tá Tấn, Giàu, ông Tâm trưởng ban A, đă bỏ cuộc và ra đi.  Trong khi đó lệnh từ tân Tổng Thống là phải giữ vị trí để chuẩn bị trận chiến đấu cuối cùng.  Mọi việc đang xăy ra khiến chúng tôi hoang mang hơn lúc nào hết.  Ông Long, sếp chúng tôi cố gắng trấn an chúng tôi bằng cách hiện diện thường xuyên trong văn pḥng, nhưng tôi nghĩ ông ấy cũng đang rất lo lắng v́ ông ta không có những phong cách thường ngày.  Ông ta đi ṿng quanh và tránh những câu hỏi của chúng tôi về hiện t́nh của đất nước.

 Nghệ Sĩ Diễm Liên lúc bố đi tù cải tạo 
Chương 6. Ngày Cuối Cùng Của Đất Nước

Những tiếng nổ vọng từ xa cộng với tiếng ồn của xe cộ khiến cho bộ mặt thủ đô trở nên kỳ lạ.  Tiệm ăn và rạp chiếu bóng đông nghẹt người, những ngân hàng cũng thế.  Người Việt Nam rút tiền ra để mua đô la và vàng; giá đô la tăng từ 118 đồng lên 500 đồng rồi lên đến hàng ngàn, giá vàng cũng tăng vọt lên.  Những người chuẩn bị di tản cần đô la và vàng để mua hộ chiếu và lo cho cuộc sống của họ ở quốc gia khác; những người khác th́ không c̣n tin vào tiền tệ của Việt Nam và tin vào ngân hàng nữa một khi sự việc xảy đến.  Thẻ tín dụng cũng có chỗ đứng trong chợ đen ở Sài G̣n lúc ấy.
Mặc dù thủ đô trông dường như rất yên ổn khi nh́n vào những sinh hoạt b́nh thường, một sự nặng nề đang bao trùm lấy đầu óc dân chúng.  Họ đang chờ đợi điều ǵ đó đang xảy đến.  Đó là một điều ghê gớm đối với những sĩ quan Nam Việt Nam; đó là sự chờ đợi một cuộc sống trong ḥa b́nh, nhưng cũng đầy những điều không dự đoán được đối với người dân thường.  Dù sẽ có một trận chiến lớn hay một thỏa hiệp với VC, điều đó đều đồng nghĩa với cái chết sớm hay muộn mà thôi.
Chúng tôi sẽ chấp nhận một trận đụng độ chứ không chịu bỏ cuộc, nhưng chúng tôi lại không có được sự chọn lựa bởi v́ chúng tôi không có quyền.  Điều ǵ xảy đến cho chúng tôi một khi VC chiếm thủ đô: một biển máu, một sự trả thù, và họ sẽ đối xử thế nào với kẻ thù của họ.  Mọi cái đều đồng nghĩa với cái chết.  Tại sao chúng ta không chịu chấp nhận cái chết trong danh dự thay v́ cái chết trong tủi nhục?  Hàng triệu sinh mạng của đồng bào đang bị đe dọa, nhưng dường như mọi người đều thờ ơ.  Cuộc  sống vẫn diễn tiến như lệ thường!  Dân chúng Sài G̣n quá quen thuộc với chiến tranh kể từ thời Thuộc Địa Pháp, từ cuộc tổng tiến công của VC vào Tết Mậu Thân 1968, và từ “mùa Hè đỏ lửa” 1972.  Vài người c̣n hy vọng rằng vài chiến thắng của VC chỉ là tạm thời giống như Tết Mậu Thân: người Mỹ bỏ cuộc lúc đầu nhưng rồi sau đó họ lại giúp Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa giành lại chiến thắng.  Tôi nghĩ rằng ít ai ở Nam Việt Nam có thể tưởng tượng được sự mất nước lại diễn ra dễ dàng như trở bàn tay.
Sự hỗn loạn trong hàng ngũ lănh đạo đă xảy ra ngay sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức.  Phó Tổng Thống Trần Văn Hương không thể nắm được quyền lực; sự cố gắng để ḥa đàm là mục tiêu chính của tân tổng thống mặc dù ông ta đă tuyên bố sẳn sàng chiến đấu với VC nếu cần thiết.  Cộng Sản tuyên bố ngay tức khắc rằng chức Tổng Thống của Hương không thể chấp nhận được v́ Hương là “anh em với Thiệu”.  Các đơn vị quân đội Miền Bắc và VC đang bao vây Sài G̣n sau khi sư đoàn 18 thất bại ở mặt trận Long Khánh.  Sân bay Biên Ḥa và Tân Sân Nhất cùng vài nơi trong đô thành đều bị hỏa tiển của VC pháo kích vào.  Trong khi đó ở Mỹ, Tổng Thống Ford loan báo rằng: “Chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt, và người Mỹ có thể lấy lại sự tự hào của họ trước chiến tranh Việt Nam.”  Điều đó có nghĩa rằng không c̣n cơ hội nào để Mỹ giúp đở Nam Việt Nam nữa, và nếu có một trận chiến toàn diện, chúng ta phải đối đầu với t́nh thế bằng chính sức lực của chúng ta.
Trong khi Hương đề nghị một cuộc ḥa đàm bằng cách cử một Bộ Trưởng ra Hà Nội, thủ đô của Bắc Việt, th́ Cộng Sản vẫn tiếp tục từ chối sự hợp tác ḥa b́nh.  Trong một bài diễn văn, tân Tổng Thống nói rằng: “Đồng Minh của chúng ta đă bỏ rơi chúng ta, do đó chúng ta phải tự bảo vệ tổ quốc chúng ta.  Sài G̣n có thể trở thành một biển lửa và một núi xương nếu có một cuộc chiến toàn diện xăy ra mà điều này tôi rất muốn tránh.”
Vào ngày Chúa Nhật, 27 tháng Tư 1975, dưới áp lực của đại sứ Mỹ G. Martin và các nhà lảnh đạo miền Nam Việt Nam, Trần Văn Hương tuyên bố từ chức sau sáu ngày giử chức Tổng Thống.  Ông ta nói rằng ông ta sẽ trao quyền lại cho người được quốc hội Nam Việt Nam chọn lựa để thực hiện ḥa b́nh cho Nam Việt Nam.
Chúng tôi nhận tin ấy với sự vô vọng hoàn toàn; chúng tôi phải t́m mọi cách để thoát khỏi đất nước.  Chúng tôi đều biết Tổng Thống kế tiếp chính là Dương Văn Minh người đang là một lănh đạo cao cấp của “Lực Lượng Thứ Ba” (một thành phần đứng trung gian giữa chính phủ Nam Việt Nam và Cộng Sản) và có liên hệ với Phật Giáo chùa Ấn Quang.  Một cuộc hội đàm trong thế yếu như vậy có nghĩa là sự thất bại; điều đó có thể tránh một cuộc tắm máu cho nhân dân chứ không thể tránh được sự trả thù đối với chúng tôi, những kẻ thù của Cộng Sản.
Cuộc bàn giao chức vụ Tổng Thống giữa Hương và Minh sáng sớm ngày 28 tháng Tư diễn ra rất lặng lẽ và đơn giản.  Trong lời diễn văn, Minh hứa với Hương (người mà Minh thường gọi bằng Thầy) rằng ông ta sẽ không làm mất sự tin tưởng của Hương để tránh cuộc tắm máu cho dân chúng trong Thủ Đô.  Minh chấp nhận một chính phủ liên hiệp bao gồm Cộng Sản, những người Trung Lập, và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời.  Cái gọi là thành phần trung lập là vài tổ chức ở Miền Nam như Thành Phần Thứ Ba, Phật Giáo Ấn Quang, Ḥa Hảo, Cao Đài, và Công Giáo.  Điều đầu tiên là Minh tuyên bố sẽ thực hiện một trong những điều kiện tiên quyết của Cộng Sản cho việc ḥa đàm: Yêu cầu quân đội Mỹ và nhân viên cùng dân sự Mỹ phải rời Việt Nam trong ṿng 24 giờ.  Không có một điều nhắc nhở ǵ đến hàng triệu nhân viên chính quyền và quân đội của Nam Việt Nam ngoài việc ra lệnh phải ngưng bắn ngay tức khắc.
Trong Cơ quan chúng tôi, có nhiều lệnh khác nhau về việc thiêu hủy và không thiêu hủy hồ sơ.  Ḷ thiêu đă đầy giấy; không thể nhét thêm vào được nữa.  Sếp tôi lần đầu tiên thảo luận về việc di tản, nhưng ông ta lại không có quyết định nào mà lại phải chờ kế hoạch chung của Cơ Quan.  Chúng tôi biết rằng Cơ Quan chúng tôi tùy thuộc vào CIA của Mỹ và cấp lănh đạo của chúng tôi phải hỏi các cố vấn Mỹ trước.  Người Mỹ chỉ có 24 giờ để rời khỏi Việt Nam.  Làm thế nào họ có thể giúp chúng tôi?  Tất cả chúng tôi đều tuyệt vọng!  Vài người đi qua cảng Sài G̣n đối diện với cơ quan để leo lên tàu ra đi, nhưng những người khác th́ lại lúng túng với hoàn cảnh mà phải chờ đợi kế hoạch chung của cơ quan trong sự tuyệt vọng.
Sau khi nghe sếp ra lệnh về việc tập trung tại nhà an toàn ở đường Hai Bà Trưng vào sáng ngày hôm sau, tôi ghé chở vợ tôi về.  Trời gần như tranh tối, nhưng vài chiếc trực thăng vẫn tiếp tục lượn ṿng trên bầu trời.  Đường phố có vẻ khác lạ hơn hôm qua: bộ hành đi vội vă, những người lính vũ trang và không vũ trang đi lại khắp nơi, xe nhà binh chạy cùng khắp.  Dù đă có lệnh ngưng bắn ban ra từ tân Tổng Thống Minh, hầu hết quân nhân và Cảnh sát không rời súng.  Vài phi công Việt Nam Cộng Ḥa tức giận về nỗi đau của đất nước đă dùng phi cơ A-37 tấn công phi cảng Tân Sân Nhất, đốt cháy vài chiếc phi cơ trên phi cảng và tạo nên tiếng nổ vọng vào đến trung tâm Sài G̣n.  Vài quân nhân Việt Nam trong chiến phục của Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù dùng súng M16 bắn vào các trực thăng.  Những người lính Việt Nam Cộng Ḥa đă quá thất vọng không biết làm ǵ hơn là bày tỏ mối bất b́nh bằng cách bắn vào những người Mỹ đang di tản, nhưng không có điều ǵ xăy ra cho họ ngoài việc một chiếc trực thăng bị rớt xuống biển khi đang đáp lên một mẫu hạm của Mỹ.  Dân chúng lái xe đạp và xe gắn máy chở đầy hàng hóa lấy từ những kho hàng của Mỹ bỏ rơi lại ở Tân Cảng, Thủ Đức, cách Sài G̣n khoảng 10 dặm.
Thủ Đô trở nên rối loạn ngay sau khi Big Minh lên cầm quyền.  Trụ sở ṭa đại sứ Mỹ bị bao vây bởi những người dân muốn vào để chiếm một chổ trong trực thăng đang đáp trên sân thượng.  Những người lính gác Mỹ trong quân phục Thủy Quân Lục Chiến với súng M16 cầm tay đứng nghiêm một cách lơ đễnh ở các vọng gác.  Đám đông phía trước cánh cổng đóng kín giơ giấy tờ lên cao; đôi khi cánh cổng mở ra và tôi thấy vài người Tây phương đi vào.  Tôi cũng thấy vài người Việt Nam phía trong ṭa đại sứ.  Người Mỹ cuối cùng phải rời Việt Nam trong ṿng 24 giờ, do đó việc di tản này diễn ra rất vội vă và ồn ào càng lúc càng tạo nên sự nghi ngờ trong dân chúng.  Mọi người dân trong thủ đô dường như cảm thấy việc mất nước đă gần kề.  Dân chúng đổ ra đường để xem trực thăng trên trời, hoặc t́m đường di tản, hoặc đi thu nhặt những hàng hóa từ những kho bỏ lại của Mỹ.  Các quân nhân Việt Nam cùng với cảnh sát không c̣n muốn can thiệp vào nữa.  Tất cả đă tạo thành một quang cảnh rối loạn chưa từng thấy!
Lần đầu tiên tôi mang về nhà một khẩu súng ngắn.  Tôi không muốn cho vợ tôi biết nên dấu nó trong góc ngăn tủ kéo.  Tôi cũng không hiểu tại sao tôi làm việc này, nhưng tôi căm thấy một chút nào đó lo ngại và sợ hăi cho hành động này của tôi.  Tôi đoán rằng tôi đang chuẩn bị cho cái chết của chúng tôi, hay chỉ cho chính ḿnh tôi nếu tôi không đủ can đảm để giết chết vợ tôi khi sự việc diễn ra.  Tôi căm thấy tội nghiệp cho đứa con c̣n trong bụng dù là trai hay gái.  Tôi đă từng nói với vợ tôi về việc đặt tên cho con là Anh Hoàng nếu nó là trai và Hoàng Anh nếu là gái.  Trong hoàn cảnh ấy, tôi không biết nó có được sanh ra hay không.  Tôi tự nghĩ rằng một trận chiến cuối cùng có thể không xăy ra, nhưng việc mất nước th́ chắc không thể tránh được.
Cộng Sản hay Tư Bản không có ư nghĩa ǵ đối với tôi.  Cuộc chiến tranh kéo dài quá lâu trên đất nước sẽ chấm dứt, và tôi nghĩ không bên nào thắng trong chiến tranh Việt Nam v́ người Việt cả hai phía đă chết quá nhiều trong cuộc chiến.  Tôi không nói đến những người lính, tôi chỉ muốn nói đến những thường dân, những người dân vô tội đă bị giết chết trong một cuộc chiến rất vô nghĩa.  Nếu tôi chết đi khi chiến tranh chấm dứt, tôi sẽ chỉ là một trong những người lính chiến đă chết trong cuộc chiến ấy.  Tôi hy vọng rằng dân tộc tôi sẽ hạnh phúc trong ḥa b́nh cho dù dưới chế độ Cộng Sản.  Tôi nghĩ rằng cho dù là Cộng Sản hay Tư Bản, mọi người đều là người Việt; điều đó c̣n tốt hơn là đất nước trong tay bọn Thực Dân.  Những ư nghĩ này khiến tôi có một chút an ḷng, và tôi về nhà với một tâm tư hơi nhẹ nhàng để t́m một phương cách thoát đi.
Ngồi phía sau xe gắn máy, vợ tôi không nói ǵ trên đường về nhà, nhưng tôi cảm thấy nước mắt thấm ướt cổ tôi nơi mà cô ấy áp mặt vào.  Tay vợ tôi ôm chặt hơn mọi ngày.  Tôi hiểu rằng cô ta đang lo sợ một sự việc kinh khủng xảy ra, và cô ta cũng sợ phải mất đi niềm hạnh phúc mà cô ta đang hưởng.  Tôi không biết làm thế nào để làm vợ tôi an ḷng ngoài việc vuốt ve tay cô ta.  Gần ba năm chung sống, tôi luôn luôn đưa vợ tôi đi đến những nơi mà cô ấy muốn đi.  Bất cứ khi nào vào Cơ Quan, tôi thường vào văn pḥng để hôn vợ tôi trước khi đến văn pḥng của tôi.  Cô ấy thường hay nhắc đến lần đầu tiên đi xem phim với nhau, tôi đă chúc cô ta một đêm ngon giấc trước khi từ giả ra về và bảo với tôi rằng cô ấy đă yêu tôi kể từ lúc đó.  Chúng tôi đă từng dự định sẽ có hai đứa con, một trai và một gái, nhưng khi biết vợ tôi chỉ có thể có được một đứa con duy nhất, chúng tôi hy vọng đó sẽ là trai.  Ở đất nước chúng tôi, tư tưởng trọng nam khinh nữ có lẽ là một thói tục, và có lẽ chúng tôi cũng không thoát khỏi thói tục đó.  Thật ra, tôi chỉ muốn con trai để vừa ḷng vợ tôi mà thôi; tôi không quan tâm mấy về việc có con trai hay con gái.  Tôi biết rằng đứa con là niềm hạnh phúc cho vợ tôi, nhưng trong hoàn cảnh chúng tôi như thế này th́ không biết đó là hạnh phúc hay sự hối tiếc.  Tôi cảm thấy tội nghiệp cho vợ tôi, cho đứa con chưa chào đời, và cho cả chính tôi nữa!  Chúng tôi đang kẹt vào một t́nh huống khó gỡ.  Tôi chỉ c̣n biết dựa vào kế hoạch chung của Cơ Quan, nhưng nh́n cảnh di tản vội vă của người Mỹ, tôi biết rằng chúng tôi không c̣n có thể dựa vào họ được nữa.  Làm thế nào họ có thể giúp chúng tôi một khi chính họ c̣n phải rút lui một cách vội vă như vậy?  Tôi không biết cái lệnh cho người Mỹ rút lui trong 24 giờ là của Big Minh hay xuất phát từ phía Mỹ, nhưng theo tôi th́ mọi việc đều bắt nguồn từ Washington bởi v́ người Mỹ đă muốn rút lui trong danh dự.  Họ rút khỏi Việt Nam theo lệnh của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà chứ không phải họ bị thua trận; có lẽ điều đó có nghĩa là danh dự đối với họ!
Tôi hoàn toàn không biết ai đă chiến thắng trong chiến tranh Việt Nam, nhưng tôi căm thấy chúng tôi đă bị bỏ rơi sau khi cuộc chiến chấm dứt.  Năm 1963, Dương Văn Minh đă dọn đường cho quân đội Mỹ vào Việt Nam để chống lại Cộng Sản.  Năm 1975,  chính Dương Văn Minh lại nắm quyền hành để thương thuyết với Cộng Sản, và người Mỹ lại có cơ hội rút lui toàn bộ khỏi Việt Nam.  Thật là một cuộc lập lại theo chiều ngược của lịch sử.
Lịch sử Việt Nam đă trải qua một ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Hoa, một trăm năm dưới chủ nghĩa Thực Dân Pháp, và trên hai mươi năm trong cuộc chiến giữa hai chủ nghĩa Tư Bản và Cộng Sản.  Mọi người Việt Nam đều mong ḥa b́nh hơn bất cứ người nước nào trên thế giới, nhưng trước hết phải là nền ḥa b́nh trong tự do chứ không phải bị lệ thuộc vào bất cứ nước nào.
Dân Việt Nam không thể phân biệt được chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Cộng Sản, v́ thế họ đồng hóa cả hai với nhau.  Chánh phủ Nam Việt Nam đă không thể nêu rơ điều này cho dân chúng, và hầu hết dân chúng đă coi Cộng Sản là những nhà ái quốc c̣n Mỹ là quân xâm lược.  Thêm vào đó, sự can thiệp trực tiếp vào Việt Nam của quân đội Mỹ khiến chính phủ Nam Việt Nam mất chính nghĩa chống Cộng và đẩy dân chúng chống lại Mỹ.  Dân chúng không c̣n tin tưởng vào chính quyền Nam Việt Nam cho dù có nhiều sự tuyên truyền để giải thích về sự tàn bạo của Cộng Sản.  Cộng Sản gọi chính quyền Nam Việt Nam là ngụy quyền và dân chúng dường như đă tin rằng chính phủ Nam Việt Nam chỉ là công cụ của Mỹ.  Cuộc chiến giữa Tư Bản và Cộng Sản đă biến thành cuộc chiến tranh giải phóng để chống lại cái gọi là “Đế quốc Mỹ”.  Tôi nghĩ tất cả những điều đó bắt nguồn từ việc can thiệp trực tiếp của Mỹ ở Việt Nam trong khi Liên Xô và Trung Quốc chỉ đổ vũ khí và tiền bạc vào Việt Nam; họ không đưa quân đội vào Việt Nam ngoại trừ những cố vấn.
Tôi không hiểu sao cả Mỹ lẫn Cộng Sản đều nói rằng họ đă chiến thắng cuộc chiến. Người thất bại thật sự  có lẽ là chính chúng tôi, Chính Phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa!
Chúng tôi phải chấp nhận tất cả những ǵ xảy đến bởi v́ chúng tôi đă thất bại cuộc chiến cho dù có đổ cho ai đi nữa.  Tôi biết điều ấy và cũng đang chờ đợi trong đau khổ những bất hạnh xăy đến cho tôi và gia đ́nh tôi.  Không biết lúc nào những điều này xăy ra, vài ngày nữa hay vài tháng nữa, nhưng điều ấy phải đến, không thể tránh được bởi v́ bất cứ một sự liên hiệp nào với Cộng Sản đều luôn luôn là một sự tự sát nhất là liên hiệp trong thế yếu.  Lịch sử Việt Nam đă chứng minh điều ấy: Một lần vào năm 1945 chánh phủ liên hiệp giữa Cộng Sản và một vài đảng phái khác chỉ là tạm thời để Cộng Sản có thời gian loại trừ những người không Cộng Sản, và vào năm 1954 không lâu sau khi Cộng Sản kư hiệp định Geneve, bộ đội của họ đă vượt vùng phi quân sự để xâm lăng Nam Việt Nam.  Tôi không  nghĩ cái chính phủ liên hiệp mà Big Minh đề nghị sẽ được Cộng Sản chấp thuận một khi chúng đang thắng thế.  Ngay cả nếu cho chúng chấp thuận giải pháp đó của Big Minh, điều đó cũng chỉ là tạm thời để chúng nắm chính quyền và loại trừ những người khác.  Sự thất bại của chúng tôi chỉ là vấn đề của thời gian.
Khi tôi về đến th́ mọi người đă tụ họp đầy đủ tại nhà mẹ tôi.  Lân, Phụng, Tài và tôi cùng chia xẻ những lo lắng với nhau v́ chúng tôi có cùng hoàn cảnh.  Lân và Phụng đă quyết định không ra đi theo tàu của họ v́ vợ không chịu đi đâu.  Tôi nghĩ không người Việt nào muốn rời đất nước họ trừ trường hợp rất cần thiết.  Dân tộc Việt Nam từng sống trong ṿng của lũy tre làng của họ; họ ít khi đi khỏi nơi họ từng sống ấy, và họ rất tự hào với nơi họ sinh trưởng cho dù nơi ấy có nghèo nàn đến đâu chăng nữa.  Hàng triệu người dân miền Bắc Việt Nam di cư vào miền Nam vào năm 1954 khi Cộng Sản chiếm miền Bắc.  Họ xây dựng làng xóm của họ và sống với nhau; họ giữ ǵn tập quán riêng của họ mặc dù họ sống trên một phần đất của Việt Nam, tôi không thể tưởng tượng người  Việt sẽ ra sao một khi họ sống ở nước ngoài.  Thêm vào đó, mọi người đều không biết họ sẽ đi đến đâu một khi họ leo lên chiếc tàu hay là chiếc trực thăng.  Tất cả đều là một sự đánh cuộc với số mệnh.  Đối với tôi, tôi sẽ không đi một ḿnh bởi v́ tôi không muốn bỏ lại vợ tôi với đứa con c̣n trong bụng.  Trong trường hợp cần thiết, tôi định sẽ trốn một nơi nào đó chờ đợi vợ tôi sanh nở xong; sau đó chúng tôi sẽ t́m một cách nào đó để trốn đi.  Một điều mà tôi tiên đoán lúc ấy là sẽ có một giai đoạn chuyển tiếp giữa Big Minh và Cộng Sản, do đó tôi có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc di tản cho chúng tôi.  Tôi đă nói điều suy nghĩ này với vợ tôi để trấn an cô ta và cũng để tự trấn an lấy ḿnh.
Tối hôm ấy, chúng tôi gói ghém mọi cái cần thiết để chuẩn bị cho việc tập trung tại nhà an toàn của sếp vào ngày mai.  Tôi không thể ngủ được mà cứ nghĩ ngợi đến mọi điều đă xăy ra trong đời ḿnh.  Mùi cà phê và thuốc lá trong pḥng làm tôi thức suốt đêm.  Vợ tôi đă ch́m vào giấc ngủ say v́ có lẽ cô ta quá mệt mơi, tôi đoán thế.  Đó là một đêm yên lặng ngoại trừ tiếng trực thăng bay lượn trên bầu trời và tiếng nổ vọng từ xa.  Lệnh giới nghiêm vẫn c̣n hiệu lực, do đó không có xe cộ hay bộ hành nào ngoại trừ xe nhà binh đang làm nhiệm vụ.  Ánh sáng hỏa châu trên bầu trời chiếu qua cửa sổ và soi sáng con đường nhỏ phía dưới tầng gác sau nhà mẹ tôi, nơi tôi đă từng sống vào thời thơ ấu.  Cái bàn viết nhỏ nơi tôi ngồi làm bài từ lúc học tiểu học đến đại học vẫn nằm trong góc pḥng; những h́nh vẽ ngộ nghĩnh vẫn c̣n trên mặt bàn.  Chiếc giường tôi đang nằm cũng là chiếc giường nơi tôi đă ngủ khi c̣n bé.  Sách vở của tôi từ trung học đến đại học vẫn c̣n xếp gọn trên chiếc kệ do tự tôi làm.  Không có ǵ thay đổi ngoại trừ ư nghĩ của chính tôi.  Tôi căm thấy tiếc nuối cho thời niên thiếu mà tôi không bao giờ c̣n sống lại được.
Tiếng ho của mẹ tôi phía dưới nhà kéo tôi về hiện tại.  Tôi nghe tiếng rót nước vào ly và tiếng bước đi của mẹ tôi.  Đó là những âm thanh mà tôi đă từng nghe một thời gian dài.  Mẹ tôi là một người đàn bà dáng người nhỏ nhắn, nhỏ hơn khổ người đàn bà Việt Nam trung b́nh, nhưng bà không yếu.  Mẹ tôi có thể ngồi may suốt ngày bên bàn máy may để kiếm tiền nuôi chúng tôi.  Cả cuộc đời của bà là một sự hy sinh cho các con.  Cha tôi đă rời gia đ́nh ra đi vào mật khu vào lúc bà c̣n rất trẻ, và ông đă bị giết chết trong một trận chiến với lính Pháp khi mẹ tôi mới 29 tuổi.  Kể từ lúc đó, bà phải tự nuôi con.  Là một người thợ may, hàng ngày mẹ tôi đă phải làm việc rất cực nhọc từ sáng sớm đến tối mịt.  Bà cho chúng tôi đi học và mong muốn chúng tôi phải tốt nghiệp đại học để khỏi phải nghèo như bà.  Khi tôi làm cho chính quyền Nam Việt Nam, em gái tôi trở thành giáo sư, và em trai tôi là thông dịch viên, chúng tôi yêu cầu mẹ tôi đừng làm việc nữa, nhưng bà nói rằng bà đă quen làm việc và không thể ngồi không để chờ nhận tiền của chúng tôi. Tôi nghĩ cuộc đời mẹ tôi chính là một tấm gương sáng cho các người đàn bà Việt Nam.  Trong lúc ấy, tôi cảm thấy một chút hối tiếc là đă chưa được đền đáp công ơn của mẹ tôi, và tôi cũng không biết có c̣n cơ hội để thực hiện được điều này không.
Sáng sớm hôm sau tôi chở vợ tôi đến nhà an toàn ở đường Phan Thanh Giản.  Em út tôi, Tuấn và em họ tôi, Nghĩa cùng đi với tôi.  Tôi muốn có hai đứa đi theo để nếu tôi phải ra đi th́ sẽ không bị cô độc ở nước ngoài.  Thêm vào đó Nghĩa đă từng là cộng tác viên của tôi ở Đại Học Khoa Học, do đó nó cũng nên ra đi để được an toàn hơn.
Chúng tôi đi ngang qua Ṭa Đại Sứ Mỹ trước khi đến trụ sở an toàn.  Đường phố trông có vẽ bận rộn hơn những ngày trước.  Những người lái xe gắn máy chạy về phía trung tâm thủ đô với  những túi xách chất đầy phía trước và người đi cùng ngồi phía sau.  Mặc cho kẽm gai phía trên tường rào và những người lính gác Thủy Quân Lục Chiến, vài người Việt Nam đang leo lên tường rào của Ṭa Đại Sứ Mỹ, chen chúc vào cửa chính và cửa hông để cố len vào trong đó.  Hàng ngàn dân chúng với những đồ đạt của họ đứng đầy quanh trụ sở ṭa đại sứ và cổng chính của Trụ Sở Cảnh Sát Quận Nhất, phía sau ṭa đại sứ.  Những người di tản đang chờ trực thăng trên những sân thượng của vài căn nhà ở trung tâm Sài G̣n, họ đứng vây quanh những người lính gác hải quân trên con đường đi vào cảng Sài G̣n.  Thật là một cuộc di tản vô trật tự!  Tôi không thể thấy một người Tây Phương nào trong đám đông cạnh Ṭa Đại Sứ Mỹ; có lẽ họ đă đi hết vào tối hôm qua.
Nhà an toàn đầy đặt nhân viên;tôi nghĩ không c̣n cái ư nghĩa của nhà an toàn nữa rồi.  Tôi thấy mọi người đều hiện diện đầy đủ kể cả những cộng tác viên của tôi cùng gia đ́nh họ.  Điệp, một họa sĩ trong ban chúng tôi cùng bà vợ đang mang bầu gặp tôi ở phía trước cửa và bảo tôi rằng ông Long, sếp chúng tôi, đang gọi điện thoại cho ông Lộc, tân đặc ủy trưởng, để hỏi về việc di tản cho nhân viên và gia đ́nh.  Chúng tôi lo lắng chờ đợi.  Tuân cùng vợ đến chào vợ chồng tôi.  Chúng tôi nói chuyện về những điều đang xảy ra trong thủ đô, nhưng điểm chính là số phận cũng như hoàn cảnh của chúng tôi.  Trung, Tâm, Trí, Lâm, Vinh, và Nhàn, những cộng tác viên của tôi vây quanh tôi và hỏi nhiều điều mà tôi không thể trả lời được.  Tôi tự hỏi tại sao họ không chịu tự di tản v́ họ c̣n trẻ và độc thân nữa, quá dể dàng leo lên một con tàu nào đó trong cảng Sài G̣n.  Tôi nghĩ có lẽ họ cũng chờ đợi kế hoạch chung của cơ quan.  Một sự chuẩn bị không hoàn chỉnh chính là một thảm họa trong trường hợp khẩn cấp như thế này đây.  Do hoàn cảnh của vợ tôi, tôi sẽ không ra đi được nếu không có kế hoạch chung của cơ quan.
Ngay sau khi tôi đến, Long, trong một dáng vẻ buồn phiền, đi ra khỏi pḥng và nói rằng cuộc di tản của cơ quan sẽ không thể thực hiện ngay được v́ người Mỹ phải lo cho họ trước. Ông ta yêu cầu chúng tôi tự t́m cách di tản lấy một ḿnh nếu không muốn tụ họp tối hôm ấy tại trụ sở đường Nguyễn Hậu để chờ trực thăng Mỹ.  Chúng tôi lần lượt đi ra khỏi nhà an toàn.  Sau khi chia số tiền mật phí c̣n lại, Long và Hiệp, nhân viên an ninh của ban, trốn vào trụ sở Cảnh Sát quận nhất và leo vào Ṭa Đại sứ Mỹ bằng cổng sau.  Hầu hết chúng tôi đều phải ra về để t́m cách tự cứu lấy ḿnh.
Tôi đi ngang qua cảng Sài G̣n và thấy chiếc lambretta của Vũ Công Tuấn, bạn cùng làm với tôi bỏ ở đó; tôi biết anh ta đă ra đi theo tàu Hải quân ngay sau khi rời nhà an toàn.  Tôi hỏi Tuấn và Nghĩa có muốn đi vào cảng hay không, nhưng cả hai đều không muốn.  Trên đường về nhà, tôi ghé qua nhà Điệp để xem coi họ có cách nào ra đi không v́ vợ của Điệp cũng đang có mang như vợ tôi, nhưng họ cũng không có kế hoạch nào khác.  Tôi đành phải ra về chờ đợi sự việc sẽ đến trong sự thất vọng tột cùng.
Trực thăng vẫn c̣n bay lượn trên không, và vài tiếng súng bắn một cách vô vọng lên bầu trời.  Tiếng gầm của đại bác và hỏa tiển vang vọng từ xa.  Vào trưa hôm ấy, một chiếc trực thăng phản lực cùng hai chiếc phi cơ chiến đấu bay thẳng về phía Đông trên bầu trời; nhiều tiếng súng bắn lên từ mặt đất cùng vài cụm khói trắng nổ bên trên tiển đưa những người ra đi.  Đó là chuyến di tản cuối cùng của người Mỹ, có lẽ là của đại sứ Mỹ Martin.
Người Mỹ đă đến Việt Nam dưới chiêu bài là giúp người Việt ǵn giử tự do của họ, và rồi người Mỹ lại rời Việt Nam không một nghi thức tiễn đưa nào ngoài sự giận dữ của những người dân bị bỏ rơi.
Thực dân Pháp đă rời Việt Nam vào năm 1954 sau khi thua trận Điện Biên Phủ, nhưng họ lại không đi bằng cửa sau như người Mỹ.  Họ đă giúp những người đă cộng tác với họ hoặc những người không muốn sống với Cộng Sản đi vào miền Nam hay sang Pháp.  Tôi thật không hiểu tại sao một cái gọi là “cường quốc” như Mỹ lại không thể t́m ra được giải pháp nào để ra đi trong danh dự thay v́ chạy trốn một cách vội vă như vậy!  Họ luôn miệng bảo rằng họ đă chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam, và họ đă trao cho lính của họ những chiếc huy chương đủ loại; tại sao họ lại để ông đại sứ của họ chạy trốn như một kẻ phản bội.
Những người dân Sài G̣n đổ ra đường để xem cuộc ra đi cuối cùng của người Mỹ với sự khôi hài xen lẫn với ít đắng cay tủi nhục.  Những người lính Nam Việt Nam coi đó như sự đau khổ của họ.  Những nhà lảnh đạo của họ đă từ chức hay trốn chạy, những đồng minh của họ đă rút lui.  Làm thế nào họ có thể đối phó được với t́nh h́nh trong khi cái gọi là “chính phủ ḥa b́nh” của “lực lượng thứ ba” buộc họ phải từ bỏ vũ khí?  “Lực lượng thứ ba”, những kẽ đă làm xáo trộn hậu phương để giúp kẻ thù, lại đang cai trị đất nước để nói chuyện với kẻ thù.  Làm thế nào tôi có thể tin được họ?  Con đường di tản của tôi đă bị chặn lại; hoàn cảnh tôi đang ở trong t́nh trạng tiến thối lưỡng nan.  Tôi chỉ c̣n biết ngồi chờ cho mọi việc xăy đến với tôi ngay cả cái chết mà tôi cũng đang chuẩn bị.  Tôi nghĩ chắc không có ǵ tồi tệ hơn là chờ đợi một điều xấu nhất xảy đến mà không có một cách nào để tự vệ.
Đêm 29 tháng tư năm 1975 quả là một đêm dài nhất trong cuộc đời tôi.  Tôi không đến trụ sở cơ quan đường Nguyễn Hậu như hẹn v́ tôi biết đó chỉ là một lừa dối cuối cùng.  Người Mỹ đă đi hết rồi, ai lo cho chúng tôi, một nhóm người di tản to lớn như vậy.  Tôi nghĩ con đường di tản duy nhất là đi vào cảng và leo lên tàu, nhưng tôi lại không thể làm được việc ấy.  Cuộc tụ họp ở Nguyễn Hậu đêm ấy đă thất bại; vài người đă ra đi bằng tàu Hải quân, nhưng số đông th́ trở về nhà sáng hôm sau trong nỗi tuyệt vọng.
Tiếng nổ của bom, hỏa tiển, và đạn pháo nghe vọng từ xa suốt đêm.  Đài phát thanh Sài G̣n chỉ truyền thanh quân nhạc: Một thói quen của đài ấy khi có một biến cố quan trọng.  Người Việt đă từng nghe loại nhạc này từ cuộc đảo chánh 1963 lật đổ nền đệ nhất cộng ḥa, từ Tết Mậu Thân 1968, từ những cuộc đảo chánh chống chính phủ của Dương Văn Minh và của Nguyễn Khánh.  Lần này th́ ḍng nhạc ấy đang chuẩn bị cho một biến cố quan trọng nhất, có lẽ là cho sự mất nước!  Đài tiếng nói hoa kỳ đă ngưng phát thanh bài White Christmas được phát liên tục trước đó; sự rút lui của Mỹ đă hoàn tất.  Đài BBC th́ loan báo rằng Tổng Thống Dương Văn Minh của Việt Nam đă thất bại trong dự định hợp tác với VC, và các đơn vị quân đội Cộng Sản đang bao vây Sài G̣n chờ đợi sự đầu hàng của Big Minh.  Cộng Sản cho rằng Minh chỉ là sự tiếp nối của một chính phủ do Mỹ giúp đỡ.
Chúng ta đă thất bại, và đất nước chúng ta phải mất trong một hai ngày tới.  Các đơn vị Cộng Quân đang bao vây thủ đô.  Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă tan ră hoàn toàn.  Hầu hết các nhà lănh đạo của chúng ta đă trốn chạy, và tân tổng thống th́ ra lệnh buông vũ khí.  Cuộc ḥa hợp nếu diễn ra cũng chỉ là một tự sát.  Tôi đă nghe phát thanh suốt đêm chờ đợi sự việc tồi tệ nhất diễn ra với nỗi thất vọng hoàn toàn.  Tôi đă không thể kềm được những giọt nước mắt khỏi trào ra.

 

 

 

Chương 7. Những Ngày Đầu Tiên
Trong Chế Độ Cộng Sản.

 Ngày 30 tháng tư năm 1975, một ngày lịch sử mà chắc không một người Việt nào ở trong nước hay đang lưu vong trên toàn thế giới có thể quên được.  Tôi choàng dậy sớm mặc dù đă không ngủ tối hôm qua.  Vợ tôi vẫn c̣n ngủ say; tôi không muốn đánh thức cô ấy v́ tôi muốn cô ấy được an ổn tâm thần cho dù sự việc tồi tệ nhất có diễn ra ngay vào sáng hôm đó.  Con đường phía trước nhà mẹ tôi đă ồn ào mặc dù lệnh giới nghiêm vẫn đang c̣n hiệu lực.  Dân chúng đi lui tới rất vô trật tự; xe gắn máy bóp kèn inh ỏi.
 Tôi biết sẽ có điều ǵ đó diễn ra v́ đêm qua tôi đă nghe nói đến việc mất nước trên những đài phát thanh.  Tôi quả thật không hiểu tại sao những cái gọi là cơ quan ngôn luận của thế giới tự do lại thường xuyên có những thông tin có lợi cho đối phương như vậy.  Cuộc tàn sát ở Mỹ Lai và h́nh ảnh của ông Nguyễn Ngọc Loan, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Việt Nam, bắn một tên VC trong Tết Mậu Thân được đăng tải trên nhiều báo chí và tập san, nhưng tôi chưa hề thấy một h́nh ảnh nào về sự tàn sát ở Huế, Quảng Trị, khi VC tạm chiếm các thành phố này, hay những h́nh ảnh của trẻ em ở một trường tiểu học ở Cai Lậy bị giết bởi đạn pháo kích của VC.  Cuộc chiến tranh được coi là dài nhất và thê thảm nhất sau cuộc Thế Chiến Thứ Hai th́ không thể nào tránh được việc giết chóc những người dân vô tội.  Những kế hoạch tuyên truyền của những cơ quan thông tin đă khiến Cộng Sản đạt được sự đúng đắn trong khi cái gọi là Đồng Minh th́ lại mất đi sự ủng hộ của quần chúng.  Sự thất bại của chủ nghĩa Tư Bản trong chiến tranh Việt Nam không do chính cuộc chiến mà bắt nguồn từ những phong trào phản chiến ở Mỹ và trên thế giới.
 Tôi đang chờ đợi sự khủng hoảng của đất nước với niềm tuyệt vọng vô bờ.  Dân chúng th́ dường như quá quen với chiến tranh nên vẫn sống như thường lệ.  Tôi không thể phân biệt được ai là VC ai không v́ mọi người đều là người Việt.  Đó cũng chính là điều khó khăn cho tôi trong nhiệm vụ hàng ngày.  Đôi khi tôi nghĩ sự chấm dứt cuộc chiến này có lẽ sẽ tốt hơn đối với nhân dân tôi cho dù chiến thắng thuộc về phía bên nào.  Chúng ta đều là người Việt dù là Cộng Sản hay Tư Bản.  Điều tôi hy vọng chính là dân tộc tôi sẽ sống trong ḥa b́nh và giàu có hơn.  Một trăm năm trong chủ nghĩa Thực Dân và ba mươi năm chiến tranh đă khiến đất nước tôi trở thành một nước nghèo nàn và tan nát nhất thế giới.  Nếu VC có thể đem lại hạnh phúc và ấm no cho toàn dân th́ quả thật chiến thắng của họ rất xứng đáng.  Đời tôi th́ cũng chỉ như một hạt cát trong băi sa mạc, và nếu tôi có chết đi th́ cũng không là ǵ cả.  Ư nghĩ này khiến tôi có một chút an tâm.
 Tiệm may của mẹ tôi vẫn mở cửa như thường lệ.  Thợ may vẫn đến làm việc, khách hàng vẫn đến và đi như không có chuyện ǵ xảy ra.  Khoảng 10giờ 30 sáng, tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh việc đầu hàng Cộng Sản một cách vô điều kiện.  Ông ta nói rằng “việc đầu hàng này sẽ tránh việc tắm máu của dân chúng một cách vô ích”, và ông ta yêu cầu “quân đội Việt Nam Cộng Ḥa hăy buông vũ khí trong trật tự và chờ đợi tại chỗ để bàn giao cho VC.” 
 Tôi nghe nhiều tiếng súng nhỏ nổ vài nơi nào đó rất gần.  Mặc dù đă có lệnh ngưng bắn, vài chiến binh nhảy dù gác ở Viện Ung Thư gần nhà mẹ tôi đă nổ súng vào các đơn vị VC và rồi tự sát.  Vài cuộc đụng độ lẻ tẻ vẫn xảy ra ở Bà Quẹo, gần trại Hoàng Hoa Thám của quân Nhảy dù.  Những chiến sĩ tuyệt vọng và không có cấp chỉ huy đă tự động gây nên những cuộc đụng độ cuối cùng trước khi tự sát.  Họ là những người cuối cùng ngă xuống cho đất nước.  Tôi không biết họ có phải là những vị anh hùng hay không, nhưng tôi rất ngưỡng mộ những hành động đó.  Tôi đă không đủ can đảm để làm việc ấy mặc dù tôi cũng đă suy tính việc này rồi khi tôi mang súng về nhà.  Quả là rất khó có thể quyết định tự chấm dứt cuộc đời ḿnh ngay cả trong hoàn cảnh hoàn toàn tuyệt vọng đi nữa.
 Tiếng súng đă thưa dần.  Đường phố càng lúc càng trở nên náo nhiệt; tôi không thấy một VC nào ngoài những đứa trẻ cầm súng M16 và mang băng vải đỏ trên tay áo ngồi trên những chiếc xe đủ loại từ xe nhà binh đến xe dân sự lấy được từ những người di tản.  Dân chúng gọi họ là những“nhà cách mạng ba mươi” có nghĩa là những người lợi dụng thời cơ để trở thành những nhà cách mạng ngay trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Họ từng là những học sinh, sinh viên, hay những nhân dân tự vệ trong vùng.  Những người lính Nam Việt Nam th́ trở về nhà trong bộ đồ lót: binh phục và vũ khí của họ đă bỏ lại nơi nào đó trong đường phố.  Lời kêu gọi của tướng Nguyễn Hữu Hạnh trên đài phát thanh Sài G̣n yêu cầu binh sĩ và sĩ quan ở lại vị trí để đợi bàn giao cho VC đă không có hiệu lực; mọi người đều cố t́m đường thoát thân hay trở về nhà.  Những người di tản thất bại đang vội vă quay về lại nhà.  Dân chúng đứng trước cửa nhà để cố xem coi VC ra thế nào trong lần đầu tiên trong cuộc đời của họ!  Tất cả những điều này đă tạo nên một quan cảnh rất khôi hài.
 Mọi người đều có những suy nghĩ rất khác nhau.  Binh sĩ và sĩ quan Nam Việt Nam th́ lo lắng về số phận của họ; những người giàu có th́ lo cho của cải của họ, và dân nghèo th́ lại chờ đợi sự thay đổi số phận của họ theo như Cộng Sản hứa hẹn.  Những sự lo lắng cộng với mong chờ đă tạo nên một sự kỳ lạ chưa từng thấy trong đời tôi.
 Vào Tết Mậu Thân, dân chúng đă vội vàng di tản ngay khi nghe VC đến.  Giờ này đây, họ không c̣n biết chạy đi đâu v́ VC đă chiếm toàn bộ đất nước rồi!  Số phận của họ không c̣n nằm trong tay của chính họ nữa.  Họ phải chờ đợi điều ǵ đó đến với họ.  Đài Phát Thanh Hà Nội ra lệnh các đơn vị VC không được đụng đến một cây kim hay sợi chỉ của dân chúng, nhưng vài người th́ nói đùa rằng VC  thích lấy những cái quư giá hơn là những cây kim hay sợi chỉ.  Vài người khác c̣n đùa rằng kể từ đây họ không c̣n lo sợ bị VC pháo kích nữa v́ Mặt Trận đă giải phóng Sài G̣n!  Sự chịu đựng của dân chúng đă quá sức đến nỗi họ có thể đùa ngay cả trong sự tuyệt vọng tột cùng của họ.
 Lời kêu gọi của tướng Nguyễn Hữu Hạnh cùng giọng ca của Trịnh Công Sơn trong nhạc phẩm “Nối Ṿng Tay Lớn” liên tục nhau phát thanh trên đài Sài G̣n.  Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ  nổi tiếng của Nam Việt Nam, trong những năm 1960 – 1970 đă cùng với nữ ca sĩ Khánh Ly hát những ca khúc phản chiến trong các Đại Học ở Nam Việt Nam để thúc đẩy các phong trào chống chính quyền trong sinh viên.  Nhiều lần chúng tôi đă nêu việc này lên cấp trên, nhưng chính quyền không có lư do để đàn áp cho đến khi Trịnh Công Sơn nhập ngũ.  Các phong trào ca hát chống chiến tranh và chống chính quyền này vẫn tiếp tục cho đến ngày này Trịnh Công Sơn ra mặt là một tên Cộng Sản với bản nhạc “Nối Ṿng Tay Lớn” chào mừng các “đồng chí” của anh ta (từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay…).  Tôi không biết ǵ về Nguyễn Hữu Hạnh chỉ v́ tôi không trực tiếp ở trong quân đội.  Tôi cũng không biết ông ta là Cộng Sản hay chỉ là người Cơ Hội.
 Xe cộ, binh phục, và vũ khí bỏ bừa băi đầy trên đường phố.  Trẻ con nghịch đùa với vũ khí và đạn pháo M30, và cũng đă có vài tai nạn xăy ra.  Vài người tháo rời những thứ trong xe cộ do những người di tản bỏ lại và lấy đi những ǵ lấy được.  Không c̣n cảnh sát giữ trật tự đường phố nữa nên xe cộ bị tắt nghẽn và mất trật tự.  Vài thanh niên mang băng đỏ đă tự đứng ra làm người chỉ dẩn lưu thông cố duy tŕ trật tự.
 Khoảng trưa, đơn vị VC vào chiếm Đài Phát Thanh Sài G̣n và tuyên bố chấp nhận việc đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của cái gọi là “Ngụy Quyền Nam Việt Nam”.  Đó là lần đầu tiên tôi nghe danh từ “ngụy quyền” và “ngụy quân”.  Cùng lúc đó, Cộng Sản tuyên bố rằng Sài G̣n trở thành thành phố Hồ Chí Minh.  Tôi không c̣n nghe tiếng của Trịnh Công Sơn và Nguyễn Hữu Hạnh đâu nữa.  Bài ca “Sài G̣n Quật Khởi” đă thay vào đó, và đó cũng là lúc mà dân Sài G̣n lần đầu tiên được nghe một loại nhạc vừa nhanh vừa có âm điệu giống như nhạc Tàu.  Sài G̣n đă được tiếp thu bởi cái gọi là “Ủy Ban Quân Quản Thành Phố” do tướng Trần Văn Trà làm chủ tịch.
 Vài chiếc xe Molotova, loại xe nhà binh của Liên Xô, bắt đầu thấy xuất hiện trên đường phố chở đầy những bộ đội Bắc Việt trong quân phục xanh với “nón cối” một loại nón của bộ đội Bắc Việt.  Dân chúng đổ ra đường để chào đón những người lính Cộng Sản, những con người c̣n quá trẻ và quá lạc lơng trong ánh sáng chói lọi của Sài G̣n.  Đó là cách mà dân Sài G̣n chuẩn bị cuộc sống của họ với những người Cộng Sản!  Những lo lắng của họ đă thành sự thật, và họ đành phải chào đón những người Cộng Sản với niềm vui để che dấu những lo âu đang mang trong ḷng.  Tôi không thể phân biệt được ai là kẻ có một cảm t́nh thật sự!
 Vẫn c̣n vài người chở trên xe đạp hay xe gắn máy những hàng hóa lấy được trong những nhà kho bỏ lại chen lẫn với dân chúng đang chào đón những bộ đội chiến thắng.  Dân Sài G̣n bắt đầu giăm đi những lo âu khi thấy những bộ đội Bắc Việt rất là luộm thuộm và lạc lơng.  Trẻ con bắt đầu quen dần với VC và chúng c̣n leo lên cả trên những chiếc xe tăng của VC.  Trong lúc đó th́ đài truyền h́nh Sài G̣n lại chiếu cảnh một chiếc xe tăng Cộng Sản cày bừa lên cánh cổng mở rộng của dinh Tổng Thống, bắn một cách vô nghĩa vào ṭa nhà, và cây cờ của VC đă được kéo lên nóc dinh.  Cờ ba màu của mặt trận giải phóng miền Nam treo khắp nơi.  Vài tiệm của người Tàu c̣n treo cả cờ của Trung Cộng nữa.
 Cuộc chiến ghê gớm nhất trong hai mươi năm đă chấm dứt một cách dễ dàng; những người chiến thắng th́ ngỡ ngàng, và những kẻ thất bại th́ vẫn chưa tin vào sự thật!  Chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt, nhưng cái ǵ đây sẽ tiếp tục sau cuộc chiến?  Đối với những sĩ quan của chế độ củ và đối với bản thân tôi th́ dĩ nhiên là đang chờ đợi những cuộc trả thù.  Bất cứ điều ǵ xăy đến, chúng tôi đều phải chấp nhận hết v́ chúng tôi đă chiến bại.  Cái chết sẽ là điều cuối cùng; tôi nghĩ thế.  Nhưng đối với nhân dân nước tôi, đặc biệt là dân Sài G̣n, điều ǵ sẽ đến với họ đây khi họ là những người đă quen sống với sự tự do?  Nền ḥa b́nh mà Cộng Sản mang đến cho đất nước tôi dường như là khó chịu ngay đối với những người dân chưa hề có dính líu ǵ đến chế độ cũ.  Sự đối nghịch giữa những bộ đội miền Bắc và dân Sài G̣n trông quá rơ ràng nhất là vẻ bên ngoài.  Những bộ quân phục luộm thuộm với những đôi dép râu của VC quả thật rất khó được chấp nhận bởi dân Sài G̣n, những người đă quen với thời trang.
 Không lâu sau khi tiếp thu Sài G̣n, Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh ban hành một số quy định nhằm mục đích làm thay đổi lối sống của Sài G̣n: bất cứ ai c̣n sống theo lối sống của Mỹ như mở hộp đêm, khu giải trí, hoặc ăn mặc “sặc sỡ” sẽ bị phạt.  Nhiều thanh niên nam nử bị cắt quần ống loe và mái tóc dài.  Trên đường phố đă thấy có dấu hiệu của sự thay đổi: chiếc áo dài truyền thống đă biến mất để thay vào đó bằng áo bà ba và quần đen.  Băng khẩu hiệu và bảng hiệu của các cửa hàng cũng đổi màu thành nền đỏ chử vàng.  Bệnh viện Từ Dũ đổi tên thành “xưởng đẻ”!  Bệnh viện Nguyển Văn Học thành “Bệnh Viện Nhân Dân tỉnh Gia Định”.  Danh từ “nhân dân” được dùng khắp nơi: Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Chính Quyền Nhân Dân, và đặc biệt là “Ṭa Án Nhân Dân”.  Mọi cái đều là của nhân dân, nhưng Cộng Sản điều khiển hết mọi thứ.  Trong mọi văn bản của VC, luôn có tiêu đề:
 

Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam

 

Độc Lập, Ḥa B́nh, Trung Lập.

 Nhưng không ai tin đây là một quốc gia trung lập ngoại trừ một nước Cộng Sản.
 Ngày thứ Năm, 1 tháng Năm 1975 cũng là ngày Lao Động của Cộng Sản Quốc Tế.  VC tổ chức một cuộc diễn binh vĩ đại gồm có xe tăng T-54 và PT-76, hỏa tiển SAM của Sô Viết và tất cả mọi thứ vũ khí của các nước Cộng Sản.  Hàng trăm ngàn người dân Sài G̣n và vùng phụ cận hiếu kỳ đổ xô vào xem.
 Tôi đưa vợ tôi đến nhà ba má cô ấy.  Đường phố đông đúc.  Mặc dù tôi nghe rằng vài tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa đầu hàng, nhưng VC đă tuyên bố rằng chúng đă hoàn tất nhiệm vụ giải phóng đất nước.  Cuộc diễn hành được tổ chức ở Sài G̣n, trước dinh Tổng Thống cũ chính là để ăn mừng chiến thắng của họ.  Đường phố được trang hoàng bởi rừng cờ và biểu ngữ màu đỏ chói, màu của máu.  Tôi nh́n thấy những biểu ngử như: “Không có ǵ quư hơn Độc Lập, Tự Do”, “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn, song chân lư ấy không bao giờ thay đổi”.  Hầu hết những khẩu hiệu đều mang tên tác giả là Hồ Chí Minh.  Tôi không biết những cái đó có đúng không, nhưng có một khẩu hiệu đă khiến tôi buồn cười.  Khẩu hiệu đó cũng nói rằng do Hồ Chí Minh là tác giả: “Kế hoạch mười năm là trồng cây, kế hoạch trăm năm là trồng người”.  Tôi đă biết câu nói này là của Quản Di Ngô, một chiến lược gia thời Đông Chu, vào thế kỷ thứ 5 trước Thiên Chúa giáng sinh.
 H́nh của Hồ Chí Minh treo cùng khắp nơi với câu: “Chủ Tịch Hồ Chí Minh Vĩ Đại sống măi trong sự nghiệp của chúng ta”.  Hồ đă từng là người Cộng Sản đầu tiên của Việt Nam và là một người Cộng Sản Quốc tế ở Liên Xô, Hồ đă chết vào năm 1969 sau khi thất bại trong việc mưu toan thôn tính miền Nam vào Tết Mậu Thân.  Vào lúc này th́ người dân miền Nam đă nhận thức được điều mà họ đă từng nghe nói về “Bác và Đảng”.  Ở miền Bắc Việt Nam, không có ǵ ngoài Bác -bác Hồ- và Đảng -đảng Cộng Sản-.  Đối với người dân trong chế độ Cộng Sản miền Bắc Việt Nam th́ gia đ́nh, tổ quốc, tôn giáo đều không có ư nghĩa ǵ ngoài Bác và Đảng!  Và giờ đây điều đó đă trở thành cái thực tế để nhân dân miền Nam chiêm nghiệm những ǵ mà họ đă nghe được trước kia.  Nghĩ đến điều này, tôi bỗng cảm thấy tội nghiệp cho dân tộc ḿnh.
 Bằng cách ban hành những quy định cho nếp sống mới, VC đă loại trừ tự do cá nhân của dân chúng, và bằng cách đóng cửa báo chí, họ đă chấm dứt quyền tự do ngôn luận của người dân.  Điều ǵ sẽ xảy ra tiếp theo?
 Đường phố từ nhà tôi đến nhà ba mẹ vợ tôi đă được trang hoàng đỏ chói.  Cờ ba màu của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam chen lẫn với cờ đỏ của Bắc Việt và cờ của Cộng Sản Trung Hoa treo trước mọi nhà.  Băng biểu ngử và vài bảng hiệu cũng nhuộm màu đỏ.  Dân Sài G̣n thích ứng rất nhanh với hoàn cảnh.  Nhưng vẫn c̣n dấu hiệu của những cây cờ ba sọc đỏ của VNCH đă được vẽ lên trước đây.  VC chưa đủ thời giờ để xóa hết những thứ này cũng như những khẩu hiệu cũ: “Đừng nghe những ǵ Cộng Sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm” hoặc “Đất nước c̣n là c̣n tất cả, đất nước mất vào tay Cộng Sản là mất tất cả.”  Những cái ấy dường như là một chứng tích cho dân chúng để họ có cơ hội nhận rơ những hành động của Cộng Sản trong những ngày sắp tới.
 Một cuộc chiến tranh tàn bạo đă chấm dứt một cách dể dàng, nhưng tôi nghĩ vết thương của nó sẽ không dễ ǵ hàn gắn được.  Đối với người dân miền Nam, những người đă quen sống trong tự do, chắc sẽ không dễ ǵ sống được trong một chế độ độc tài, nhất là dưới chế độ Cộng Sản.
 Anh chị vợ tôi, Linh và Lan, đều ở bên nhà ba má vợ tôi.  Họ chưa dám ở nhà họ một ḿnh.  Linh nói với tôi rằng chúng tôi phải tŕnh diện tại cơ quan vào ngày mai, 2 tháng 5 theo lệnh của ông Lộc, nguyên đặc ủy trưởng.  Tôi không biết phải làm sao v́ tôi đă nghe nói rằng người tiếp thu cơ quan là Nguyễn Tá, người đă từng làm việc chung với tôi trong khi tôi c̣n làm trong ban nội chính.  Tá đă trốn vào mật khu khi bị nghi ngờ là VC.  Tôi từng đi công tác ở Đà Lạt với Tá khi tôi đang theo dơi những hoạt động của nhóm “Lực Lượng thứ ba”, nhưng tôi nghĩ chắc anh ta chỉ biết bí danh của tôi chứ chưa biết tên thật.
 - “Tôi nghĩ chúng ta phải lựa chọn thôi bởi v́ không thể nào trốn tránh măi được.  Sinh mạng chúng ta giờ đây giống như con cá nằm trên thớt, chúng ta không c̣n ǵ khác hơn là phải đánh cuộc với số mệnh.”  Linh nói.
 - “Chúng ta th́ coi như đă chết rồi từ ngày hôm qua.”  Tôi trả lời.  “Tôi th́ chẳng c̣n tha thiết đến điều ǵ nữa cả, tôi sẽ đi vào cơ quan ngày mai với anh để xem t́nh h́nh thế nào.  Nhưng tôi cảm thấy không yên tâm về vợ tôi với cái bầu của cô ta.”
 Chúng tôi nh́n nhau im lặng.  Linh và tôi có cùng hoàn cảnh v́ chị vợ tôi và vợ tôi đều cùng làm trong cơ quan.  Tôi không biết có nên để vợ tôi đi tŕnh diện hay không, nhưng rồi cô ấy không muốn ở nhà để chờ đợi tôi.  Vợ tôi cũng muốn được cùng chấp nhận mọi điều xảy ra cho chúng tôi.  Thêm vào đó, vợ tôi cũng không thể trốn đi đâu được v́ hồ sơ giấy tờ vẫn c̣n lại trong văn pḥng, và VC đă biết mọi điều về chúng tôi.

Chương 8 . Cải Tạo

Hầu hết nhân viên của Phủ Đặc Uỷ Trung Ương T́nh Báo không thể di tản được đều có mặt ở trụ sở trung ương sáng ngày 2 tháng 5 năm 1975 nhưng lại ở ngoài sân thay v́ trong văn pḥng như mọi ngày.  Chúng tôi phải tŕnh diện cho cái gọi là “Uỷ ban Quân Quản” của “Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời”.  Mọi người cố giử vẻ b́nh tỉnh, nhưng không ai có thể che dấu được sự lo lắng hiện rơ trên khuôn mặt.  Mặc dù rất đông người trong sân, một sự im lặng nặng nề bao phủ khắp nơi.  Ai nấy đều th́ thầm với nhau dường như sợ rằng lời nói của ḿnh có thể bị người khác nghe được.  Không như tôi đă dự đoán, Tuân, Banh, và hầu hết những người làm việc với tôi như Nhàn, Trung, Tâm, Trí, Lâm, Vinh, đều ở lại.  Tôi nghĩ họ đều độc thân, hay gần như độc thân, việc leo lên một con tàu nào đó để đi là một việc rất dễ dàng đối với họ.  Tuy nhiên, tôi đoán rằng có lẽ họ đều đă quá tin vào kế hoạch di tản chung của Phủ.  Một kế hoạch không hoàn chỉnh đă tạo nên một t́nh trạng bi thảm như thế này đây!  Giờ này th́ mọi người chỉ c̣n biết giao tính mạng ḿnh cho sự may rủi mà thôi.
Sau khi đă điền tên vào giấy để trên bàn đặt giữa sân, vợ tôi và tôi đến gặp Linh và Lan, chị vợ tôi cùng chồng chị ấy.  Giấy tờ chúng tôi đă tiêu hủy vào tối hôm qua nên không thể nộp cho viên thư kư ngồi ở bàn theo lời yêu cầu của ông ta.  Tôi không biết viên thư kư này, nhưng vài người cho chúng tôi biết đó là trung tá Khương, trước đă từng là Chánh sở An Ninh của Phủ.  Tôi cũng không rơ ông ta là Việt Cộng hay chỉ là người Cơ Hội!  Tôi đi ngang qua Tuân và Banh; cả hai chỉ nh́n tôi gật đầu không nói lời nào.  Tôi không c̣n nghe tiếng cười của Tuân và Banh như thường ngày nữa.  Chúng tôi chỉ trao nhau những nụ cười chua cay để thay vào đó.
Lần đầu tiên chúng tôi phải ngồi xổm xuống đất để đợi đến phiên ḿnh làm giấy tờ.  Long, cựu nhân viên của pḥng tuyển mộ gọi tên từng người trong danh sách; chúng tôi tuần tự đến kư tên vào một tờ giấy đặt trên bàn ở gần cổng của pḥng y tế, kế bên băi đậu xe.
Những ngày từ 2 tháng năm đến 14 tháng sáu, tôi nhớ có hai lần tôi phải đến tŕnh diện với những tên VC đă tiếp thu Phủ Đặc Uỷ Trung Ương T́nh Báo.  Lần đầu tiên -tôi không nhớ rơ ngày nào- họ cử hai người mặc thường phục đến nhà mẹ tôi chở tôi đến một trụ sở cũ của cơ quan ở đường Trần B́nh Trọng.  Chúng bảo tôi viết lại những ǵ tôi biết được về khoảng thời gian từ năm 1969 đến 1972 lúc tôi trà trộn trong sinh viên để tiếp cận với Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n do Huỳnh Tấn Mẫm làm chủ tịch.  Họ giữ tôi từ sáng đến sáu giờ chiều mới đưa tôi về nhà.  Tôi phải đưa tiền để mua phần ăn trưa.  Lần thứ hai, họ gửi thư gọi tôi đến tŕnh diện tại nhà an toàn cũ của ban A17 tại đường Phan Thanh Giản, nơi đây tôi gặp Nguyễn Tá, người đă làm việc chung với tôi khi tôi c̣n làm ở Ban Z, Ban Công Tác Nội Chính, và cũng là người đă tiếp thu Phủ.  Tôi nghĩ lần đó chỉ vài ngày trước khi tôi phải đi tŕnh diện cải tạo.  Tôi không phải viết ǵ lần này.  Nguyễn Tá khuyên tôi nên đi tŕnh diện học tập cải tạo theo chỉ thị của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời để được sự khoan hồng của nhà nước Xă Hội Chủ Nghĩa.
Kể từ đó, danh từ “Cải Tạo” được nghe nói đến khắp nơi!  Cải Tạo Tư Tưởng, Cải Tạo Nếp Sống, Cải Tạo Xă Hội, Cải Tạo Kinh Tế, vân vân và vân vân, được loan báo hàng ngày trên đài phát thanh và truyền h́nh.  Binh sĩ Nam Việt Nam tŕnh diện cải tạo và được thả về sau ba ngày.  Hạ Sĩ Quan Nam Việt Nam được thả về sau bảy ngày cải tạo, và rồi sĩ quan từ cấp thiếu uư đến đại uư phải học tập trong 10 ngày.  Sĩ quan từ Thiếu Tá trở lên, nhân viên chính quyền từ Trưởng Ty đến Tổng Thống cũng như nhân viên t́nh báo trung cấp và cao cấp phải tŕnh diện học tập trong một tháng.
Theo thông cáo của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời, lịch tŕnh tŕnh diện của chúng tôi là từ ngày 13 tháng sáu đến 15 tháng sáu và địa điểm là trường Trung Học Chu Văn An.  Chúng tôi phải đóng tiền ăn trong một tháng là mười bốn ngàn đồng cho mỗi người và phải mang theo chăn màn quần áo.  Mọi việc diễn tiến rất hợp lư.  Cộng Sản chọn trường học để làm địa điểm tŕnh diện cải tạo và quy định thời gian hợp lư cho từng cấp bậc.  Mặc dù chúng tôi không tin vào lời nói của Cộng Sản, chúng tôi cũng phải tự trấn an bằng cách hy vọng điều đó là sự thật.  Ngoài ra, chúng tôi làm được ǵ trong hoàn cảnh ấy, và chúng tôi có thể trốn đi đâu bây giờ?  Chúng tôi coi như đă chết rồi từ ngày 30 tháng tư.
Ngày 13 tháng sáu nhằm ngày thứ sáu, ngày xui xẻo!  Ngày 14 là Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng năm, cũng là ngày xui đối với người Việt Nam!  Chúng tôi quyết định chọn ngày 14 tháng sáu là ngày đầu tiên đi cải tạo với hy vọng rằng hai cái xui sẽ trở thành một cái hên!  Tôi chẳng c̣n tiền để đóng nên đành phải cầm thế chiếc nhẩn cưới để có tiền đi cải tạo.  Điều này giống như một chuyện đùa, nhưng đó chính là sự thật mà tôi đă trải qua một cách cay đắng.
Trên chuyến xe buưt từ nhà mẹ tôi đến trường Trung Học Chu Văn An, chúng tôi gặp một ông lăo, ông ta hỏi chúng tôi đi đâu vậy.  Tôi nghĩ rằng ông nh́n thấy đồ đạc cồng kềnh của chúng tôi.  Tôi trả lời rằng chúng tôi đi “học tập cải tạo!”.  Ông ta nh́n chúng tôi cười một cách khó hiểu và chúc chúng tôi may mắn.  Lúc đó tôi không hiểu được ư nghĩa nụ cười của ông ta, tôi đoán chắc ông ấy tỏ vẻ thương hại chúng tôi.  Không chỉ có hai chúng tôi đi cải tạo mà c̣n có cả đứa con c̣n trong bụng vợ tôi nữa!
Trường Trung Học Chu Văn An là trường mà tôi đă theo học vào lớp 12.  Đó là năm 1963, năm mà Dương Văn Minh được Mỹ giúp sức để làm cuộc đảo chánh giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bắt đầu xáo trộn miền Nam Việt Nam ngơ hầu Mỹ có cơ hội đưa quân vào Việt Nam.  Mười hai năm sau, tôi lại trở lại trường xưa, và Dương Văn Minh, người đă vừa giúp đở VC chiếm miền Nam, đang ở trong Đại Học Xá Minh Mạng dành cho sĩ  quan từ cấp đại tá đến cấp tướng ở kế bên.
Bạn bè và đồng nghiệp của tôi đang đứng phía trước trường.  Lan và Linh, vợ chồng chị vợ tôi đă tŕnh diện vào hôm qua sau khi giao hai đứa con trai bốn tuổi và một tuổi cho ông bà ngoại nuôi dùm.  Nh́n cái bụng vợ tôi, tôi tự hỏi làm sao cô ấy có thể chịu đựng được một tháng cải tạo cho dù đó là một tháng như họ nói.  Nhưng tôi lại nghĩ mỗi người đều có hoàn cảnh khó khăn riêng.  Hơn nữa, tôi nghĩ rằng chúng tôi coi như đă chết từ cái ngày “giải phóng”.  Phần c̣n lại chỉ là một cuộc sống vô vọng; ranh giới giữa cái sống và cái chết chỉ là một danh từ.  Trong ư nghĩ đó, chúng tôi bước vào ngày cải tạo đầu tiên của chúng tôi sau khi nói đùa với bạn bè rằng “ai đi sớm sẽ được về sớm.”
Trường Trung Học Chu Văn An nằm đối diện với nhà thờ Ngă Sáu, trên đường Minh Mạng thuộc quận Năm Sài G̣n.  Từ trường tôi có thể nh́n thấy trụ sở Tổng Hội Sinh Viên Sài G̣n trên đường Hồng Bàng nơi tôi thường đến hầu như hàng ngày từ năm 1969 đến năm 1975 trong công tác.  Trường có hai dăy nhà hai tầng.  Tôi được đưa vào nhà đầu tiên, vợ tôi cũng thế.  Từ đó, tôi có thể nh́n thấy quang cảnh trên đường phố bên ngoài.  Vợ tôi vào pḥng đầu tiên dành cho phụ nữ, nơi từng là lớp học của tôi mười hai năm trước.  Ư nghĩ đầu tiên của tôi là đời tôi đang diễn ra những sự trùng hợp kỳ lạ.  Tôi đứng trên ban-công của trường nh́n về phía nhà thờ nơi tôi từng chơi đùa cùng bạn bè.  Bạn tôi vẫn đang ở đấy, nhưng họ không phải là những người bạn học cũ của tôi.  Một vài người lo lắng quay về nhà; một vài người khác vội vă băng qua đường để vào “trường” sau khi từ giă thân nhân.
Lớp học nơi tôi bước vào hoàn toàn trống rỗng.  Mọi vật đă được dời đi nơi khác.  Tôi trải chiếc chiếu cói lên sàn nhà nơi được đặt bục giảng của giáo sư trước kia.  Chúng tôi chia nhau mỗi người một khoảng trống khoảng vừa một chiếc chiếu.  Cái ba-lô biến thành gối nằm và nó đi theo cùng tôi đến lúc tôi trở về mười bảy năm sau.  Trong ba-lô, tôi có 1 cái mùng nilon, một cái mền nilon nhà binh, hai quần Jean, hai áo sơ mi, cái bi-đông đựng nước uống, cái áo khoác, một pon-sô nhà binh, mười gói ḿ ăn liền, một gói cơm sấy, một gói thịt khô, và một gói đựng thuốc gồm Tylenol, Penicillin, thuốc tiêu chảy, Quinine, và một cuộn băng keo.  Tôi chuẩn bị cho một cuộc sống trong rừng chứ không phải trong thành phố.  Cái mà tôi quên là chiếc vơng mà tôi nghĩ có lẽ sẽ rất cần thiết với tôi sau này.  Lớp học gợi tôi nhớ đến những người bạn xưa, vài người đă chết trong cuộc chiến, vài người đang ở nơi nào đó bên ngoài kia, một vài người chắc đang ở trong hoàn cảnh giống như tôi bây giờ đây.
Tôi đi qua pḥng vợ tôi.  Mọi người trong pḥng đă giúp vợ tôi có chổ nằm kế bên chị vợ tôi.  Ngọc, Liễu, Ba, những người đàn bà làm chung với vợ tôi trước kia ở pḥng tuyển mộ cố an ủi tôi bằng cách hứa sẽ chăm sóc vợ tôi khi cô ấy cần.  Tôi rời vợ tôi sau một lúc và đi quanh t́m bạn bè.
Mọi người đang bàn tán về danh từ “cải tạo” của Cộng Sản, nhưng không ai dám nh́n nhận sự thật rằng cải tạo không ǵ khác hơn là trả thù.  Danh từ “tẩy năo” và quyển sách “Trại Đầm Đùm” được viết bởi một nhà văn ở miền Nam là những ǵ mà tôi được biết về sự cải tạo của Cộng Sản, nhưng sự thật về cái gọi là “Cải Tạo” vẫn c̣n là một điều bí mật đối với tôi.  Chúng tôi đă được biết ít nhiều về việc cải tạo các “Cosack” ở Liên Sô sau khi Cộng Sản cầm quyền ở đây, các Cosack được đưa đi Siberia để cải tạo và chết ở đấy.  Sau khi chiếm Trung Quốc, Cộng Sản đă đưa hàng trăm ngàn người Trung Hoa Quốc Gia đi Tân Cương để cải tạo và chết ở đó.  Nhưng chúng tôi không biết ǵ về số phận các người Việt Nam sau khi Hồ Chí Minh chiếm miền Bắc.  Họ đă bị giết chết hay vẫn c̣n trong các trại tập trung ở miền Bắc Việt Nam?  Những người Cộng Sản Việt Nam đối xử thế nào với kẻ thù của họ?
Tôi không nghĩ Cộng Sản Việt Nam sẽ làm một cuộc thảm sát giống như Hitler đă làm ở các ḷ sát sinh v́ chúng không muốn làm mục tiêu cho công luận, nhưng giết lần ṃn là điều mà họ có thể thực hiện mà không sợ ai phản đối.  Đi vào trại, chúng tôi phải chấp nhận mọi điều xăy ra ngay cả điều xấu nhất, đó là cái chết.
“Tẩy Năo” và “Cải Tạo” có lẽ là hai từ rất tương đương nhau!  Cộng Sản“tẩy năo” kẻ thù của họ như thế nào?  Cải tạo tư tưởng là từ mà Cộng Sản dùng rất nhiều trong những ngày đầu “giải phóng”.  Chúng bảo rằng nhân dân miền Nam đă từng sống một thời gian dài với Đế Quốc Mỹ và Ngụy Quyền Nam Việt Nam cần phải được cải tạo tư tưởng để thích hợp với xă hội mới: Xă Hội Xă Hội Chủ Nghĩa!
Nhưng cải tạo như thế nào vẫn là một điều khó hiểu.  Mỗi nơi có một cách để cải tạo.  Những thanh niên bị cắt quần ống loe, phụ nử không được mặc áo dài và không được trang điểm, cái gọi là “nhạc vàng” bị cấm triệt để, sách vở xuất bản ở miền Nam Việt Nam bị coi là “phản động và đồi trụy” và bị thiêu huỷ, dân chúng phải lao động và thu nhập tuỳ theo công sức mà họ đóng góp, vân vân và vân vân.  Đó là những điều mà Cộng Sản gọi là cải tạo xă hội.  Nhân viên của chế độ cũ phải được học tập những điều gọi là “tội ác” của Đế quốc Mỹ và Ngụy quyền  cùng chiến thắng của cách mạng và của Xă Hội Chủ Nghĩa.  Đó là những điều mà Cộng Sản gọi là cải tạo tư tưởng để thích hợp vơi xă hội mới.  Mặc dù chúng tôi không tin đơn giản như vậy, nhưng chúng tôi lại hy vọng mọi việc sẽ không đến nỗi quá tồi tệ.  Điều đó cũng rất tự nhiên đối với một con người khi lâm vào cảnh khốn cùng th́ luôn mong mỏi một điều ǵ đó khá hơn để mà tự an ủi ḿnh.  Chúng tôi không thể đi đâu được, không thể trốn tránh được, chúng tôi đành phải đặt số phận ḿnh vào tay kẻ thù, đi vào trại cải tạo và chờ đợi mọi điều có thể xảy ra với chúng tôi.

 

Chương 9. Điều Vô Lư

Vài chiếc xe van mang tên của những nhà hàng ăn ở Sài G̣n như “Bách Hỷ”, “Đại La Thiên”, “Đồng Khánh”, “Mandarin”, tiến vào trường.  Nam nữ tiếp viên mặc đồng phục trắng xếp thức ăn lên bàn đặt trong sân trước trường gần cổng chính, và rồi từ chiếc loa phóng thanh treo ở dăy nhà đầu tiên vang lên lời mời “trại viên” đi ăn cơm chiều!  Những “trại viên” vào ngày hôm qua đi đến bàn ăn một cách tự nhiên, nhưng những “trại viên” mới vào đi theo một cách lúng túng.  Tôi cùng vài người trong đội đi đến bàn ăn của nhà hàng “Bách Hỷ”, lấy một ít thức ăn vào chén rồi đến ngồi ăn chung với vợ tôi.  Chị vợ tôi nói rằng ngày hôm qua “họ” giải thích phần ăn ấy là tiền của chúng ta đóng góp.  Họ chưa có nhà bếp nên phải mua từ những nhà hàng đến phục vụ chúng ta.  Lời giải thích rất hợp lư, nhưng nh́n những bộ đội của họ đang canh gác quanh trường ăn cơm với rau muống và nước mắm trong những mâm nhôm, chúng tôi cảm thấy nghi ngờ!  Chúng đang làm ǵ đây?  Thật là một điều vô lư!  Có phải đó là một cách để che mắt nhân dân Sài G̣n, và đối với những phóng viên ngoại quốc ngoài kia  có lẽ đó là cơ hội tốt để loan truyền về chính sách nhân đạo của Cộng Sản!
Sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, phóng viên ngoại quốc vẫn tiếp tục quan sát và săn tin về những ǵ đang xảy ra sau cái gọi là “giải phóng” của Cộng Sản Việt Nam.  Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến lớn nhất sau Thế Chiến thứ hai, do đó Cộng Sản luôn tạo cơ hội tuyên truyền khắp thế giới cũng như họ đă làm như thế trong chiến tranh.  Phóng viên ngoại quốc luôn luôn là phương tiện cho họ thực hiện chiến lược này.  Ai có thể biết được những ǵ xảy ra bên sau bức màn sắt? Tôi không tin họ đối xử với chúng tôi như vậy mà không có mục đích ǵ.  Cộng Sản luôn luôn dùng một hành động này để che dấu một hành động khác.  Điều ǵ sẽ xảy ra cho chúng tôi sau khi họ đạt được mục tiêu tuyên truyền về chính sách nhân đạo của họ đối với kẻ thù?  Tất cả chúng tôi đang chờ đợi những điều sắp xảy ra.

 

Chương 10. Chuyến Di Chuyển Đầu Tiên

Khoảng sáu giờ chiều, tôi đang ngồi với vợ tôi th́ có người vào gọi vợ tôi rời trường Chu Văn An để ra về với lư do là cô ấy sắp đến ngày sinh. Cô ấy đang có mang ở tháng thứ chín. Tôi nghĩ điều này sẽ tốt hơn cho vợ tôi v́ cô ấy sẽ không phải sinh con trong trại, nhưng tôi lại không biết cô ấy sẽ ra sao đây khi không có tôi bên cạnh. Tôi xách túi xách và tiễn vợ tôi ra cổng với lời an ủi rằng hy vọng rồi đây chúng tôi sẽ gặp lại nhau sau 1 tháng. Tôi nh́n theo vợ tôi bước lên chiếc xích lô đạp rồi quay trở vào trường với một nỗi buồn mang mác. Tôi sẽ không thể gặp được con tôi khi nó chào đời! Tôi sẽ không có dịp để săn sóc vợ tôi, cô bé mỏng manh của tôi, khi cô ấy sinh nở!  Nhưng tôi cảm thấy như vậy là tốt hơn là vợ tôi phải chịu đựng sự đau đớn trong trại.
Mọi người ngóng theo tôi khi tôi đưa vợ tôi ra về và rồi quay lại vào trong trường. Có vài người đến chúc mừng vợ tôi đồng thời an ủi tôi vài lời, sau đó chúng tôi ngồi bàn tán về tương lai chúng tôi sau khi “họ” thả vợ tôi ra về. Trường Chu Văn An nằm cạnh bên nhà bảo sanh Hồng Bàng; nếu chúng tôi c̣n tiếp tục ở đây để cải tạo th́ rất thuận tiện cho vợ tôi một khi cô ấy sinh đẻ. Không ai bảo ai, chúng tôi đều chuẩn bị sẳn sàng cho một sự di chuyển.
Sáu chiếc xe buưt tiến vào trường vào khoảng 7 giờ chiều. Chúng tôi được báo cho biết rằng chúng tôi sẽ được chuyển đến một trại cải tạo để có điều kiện thuận tiện hơn cho chúng tôi học tập một cuộc sống trong một chế độ mới.  Chúng tôi đă đoán điều này sẽ phải đến, nhưng lại không biết chúng tôi sẽ bị đưa đi đâu đây: một khu rừng sâu, một hải đảo như Phú Quốc hay Côn Nôn nơi đă từng là trại giam những can phạm chính trị hay trọng tội. Chúng tôi đang thảo luận về chuyến di chuyển v́ hầu như mọi người đều đă sẵn sàng sau khi thấy vợ tôi rời trường.
Khoảng 8 giờ, hai người mặc thường phục đội nón cối tự xưng là “Anh Bảy” và “Anh Tư” vào gọi tên chúng tôi xếp theo thứ tự từng đội từ đội 1 đến đội 6 và cho chúng tôi biết rằng chúng tôi sẽ được chuyển đến một trại cải tạo, nhưng không ai dám hỏi chúng tôi sẽ đi đâu. Mọi việc xong xuôi vào khoảng 9 giờ, nhưng chúng tôi phải đợi đến nửa đêm. Những chiếc xe buưt vẫn đậu trong bóng tối ở sân trước trường. Không ai ngủ được cho dù chúng tôi đă phải trải qua một ngày căng thẳng mệt mỏi. Mọi người th́ thầm với nhau dường như sợ rằng người khác có thể nghe được lời đối thoại của ḿnh, nhưng trong sự yên lặng ấy th́ ngay cả tiếng muỗi bay cũng có thể nghe rơ mồn một.  Mọi người đều lo lắng về nơi sẽ đến và điều ǵ rồi sẽ xảy ra ở trại cải tạo ấy.
Đèn trong sân trường đột nhiên bật sáng. Mọi người dường như đang đợi chờ giây phút ấy nên đứng ngay dậy và hướng mắt ra sân trường. Vài người mang đồ đạc của họ tiến ra ban công. Giọng của “Anh Bảy” và “Anh Tư” vang lên gọi trại viên đi đến xe buưt thuộc đội ḿnh. Tôi leo lên chiếc xe thứ ba dành cho đội ba rồi ngồi đợi. Tôi chẳng c̣n ǵ để lo lắng nữa cả v́ tôi biết rằng nếu có điều ǵ xảy ra th́ tôi chỉ chịu một ḿnh tôi mà thôi. Ít ra tôi không c̣n lo cho vợ tôi và đứa con chưa ra đời của tôi nữa.
Đoàn xe rời trường vào khoảng 2 giờ sáng về hướng ngă tư Bảy Hiền. Thành phố rất im lặng. Tôi nghĩ có lẽ chúng tôi sẽ đến Tây Ninh hay vào chiến khu D của Việt Cộng, nhưng đến Bảy Hiền, đoàn xe lại đi thẳng rồi sau đó quẹo phải vào xa lộ “Đại Hàn”. Tiếp theo đoàn xe lại quẹo trái vào xa lộ Sài G̣n – Biên Ḥa. Tôi không hiểu sao “họ” không đi thẳng đường Phan Thanh Giản để vào xa lộ mà lại phải đi theo một lộ tŕnh xa xôi như thế. Có lẽ “họ” muốn đánh lạc hướng chúng tôi. Đoàn xe cuối cùng tiến vào nơi gọi là “Làng Cô Nhi Long Thành” vào khoảng 7 giờ sáng. Phải mất năm tiếng đồng hồ để di chuyển một lộ tŕnh khoảng ba chục dặm chỉ để dấu một địa điểm mà chúng tôi đă biết từ lâu.

 

Chương 11. Trại Cải Tạo Long Thành

Làng Cô Nhi Long Thành đă có một lịch sử mà hầu hết chúng tôi đều biết đến.  Từ 1968 đến 1971, một tên Việt Cộng tên là Tư Sự núp dưới lốt áo tăng lữ Phật Giáo đă sáng lập và điều hành cái gọi là “Làng Cô Nhi”.  Hắn ta dùng cô nhi để quyên tiền cho VC.  Hắn cùng đồng bọn chứa vũ khí để chống lại bất cứ ai có ư định xâm nhập vào làng.  Trong giai đoạn này, chính quyền Nam Việt Nam đă rất khó khăn để giải quyết t́nh h́nh.  Nếu tấn công vào “Làng” th́ có nghĩa là chính quyền đă tấn công trẻ con.  Nếu không th́ càng lúc càng nguy hiểm cho chính quyền.
Có một lần tôi đă đến Làng Cô Nhi dưới danh nghĩa của phóng viên cho nhật báo “The Saigon Post”.  Trẻ con đầu trọc chân đất phải làm việc trên cánh đồng dưới nắng nóng của mặt trời, và chúng chỉ được ăn chay vào mỗi bửa ăn trưa theo như quy định của tăng lữ Phật Giáo.  Cùng đi với chúng tôi c̣n có nhóm người trong “thành phần thứ ba”.  Tôi đă rất bực tức khi nh́n thấy trẻ con phải đứng dưới trời nắng nóng để đón chào những kẻ mang danh nghĩa “lănh tụ” của cái gọi là “Lực Lượng Thứ Ba” này!  Chúng dùng trẻ mồ côi để thu thập tiền bạc từ nhiều nguồn cung cấp mà nhất là từ những hội từ thiện Mỹ, và trẻ con lại là cái lá chắn cho chúng nữa.
Sau đó, chính quyền Sài G̣n đă phải dùng quân đội và cảnh sát để tấn công vào chiếm lấy Làng, giải cứu trẻ em; “Làng Cô Nhi” đă trở thành trại cho “Nạn Nhân chiến cuộc B́nh Long”.  Một lần nữa tôi đă có dịp đến đây để trao quà cho các nạn nhân chiến cuộc dưới danh nghĩa của “Đoàn Sinh Viên Khoa Học Cứu trợ Đồng bào chiến nạn”.  Tổ chức này chính là tiền thân của Ban Đại Diện Sinh Viên Khoa Học mà tôi đă thành lập đầu tiên ở trường Đại Học Khoa Học Sài G̣n.
Trại Cải Tạo Long Thành nằm trên đỉnh của một ngọn đồi sát bên quốc lộ Số 1.  Không có cái bảng nào để cho biết đó là trại cải tạo ngoài một bảng kẻ khẩu hiệu “Không có ǵ quư hơn Độc Lập, Tự Do” mà chúng ta thường thấy khắp nơi sau ngày 30 tháng tư năm 1975.  Đoàn xe ngừng lại ở giữa con đường chính của trại.  Đó là con đường đất sét đỏ rộng khoảng năm mét và dài khoảng tám trăm mét nối từ cổng vào đến căn nhà cuối của trại.  V́ trại nằm trên đỉnh đồi nên không có cái giếng nào cả.  Nước được chuyển đến bằng xe bồn.  Khi chúng tôi đến đă thấy nhiều người cầm can xếp hàng phía sau chiếc xe bồn.  Họ vẫy tay chào chúng tôi dường như chào đón những người mới đến.
Hai bên con đường chính là mười căn nhà trệt, mỗi bên năm cái, một căn nhà khác nằm cuối đường và một cái nữa nằm cạnh cổng trại.  Mỗi căn nhà chia ra làm hai pḥng giam, mỗi pḥng chứa khoảng 100 trại viên thuộc 2 đội.  Mỗi pḥng có bốn khung cửa cái và tám khung cửa sổ không có cánh cửa.  “Họ” chia trại viên ra thành 4 khối: Khối 1 gồm những người từng làm việc trong chính quyền Nam Việt Nam từ Trưởng Ty đến Tổng Thống.  Khối 2 gồm những người mà họ gọi là “Đảng Phái Phản Động” (tất cả các đảng phải chính trị ở miền Nam Việt Nam) với chức vụ từ Thư Kư đến Chủ Tịch Đảng.  Khối 3 gồm những người làm cho cơ quan t́nh báo từ trung cấp đến cao cấp.  Khối 4 gồm những sĩ quan cảnh sát từ Thiếu Tá đến cấp Tướng.  Năm căn nhà phía bên phải con đường dành cho khối 1; phía bên trái th́ hai căn nhà đầu tiên dành cho khối 4, ba cái c̣n lại là của khối 3, căn nhà cuối đường dành cho trại viên nữ, và căn nhà gần cổng là của khối 2.  C̣n một kiến trúc khác được dùng làm hội trường để họp tất cả trại viên.
Khoảng 50 trại viên trong mỗi đội được chia làm 4 tổ.  Mỗi tổ phải nằm thành hai hàng trong pḥng, do đó có tất cả 4 hàng trong mỗi pḥng giam: 2 hàng cạnh tường và 2 hàng ở giữa pḥng.  Những trại viên nằm cạnh tường quay đầu về phía tường, c̣n những trại viên nằm hàng giữa th́ nằm đối đầu nhau.  Khoảng trống giữa hàng giữa và hàng cạnh tường dùng làm lối di chuyển.
C̣n hai pḥng nhỏ ở hai đầu nhà nơi từng là pḥng ăn cho cô nhi nay trở thành pḥng họp cho cán bộ cùng các đội trưởng, pḥng chứa dụng cụ lao động cho trại viên.
Đầu tiên, trại không có hàng rào để ngăn khu hay khối.  Đầu năm 1976, “họ” bắt đầu xây tường gạch xi măng để rào quanh trại và chia cách từng hai nhà một, tường rào ngăn giữa đường chính với từng khu, và tường ngăn cách riêng biệt khu nữ.  Cùng lúc đó, trại đóng giếng và bơm nước vào từng khu thay v́ cung cấp nước bằng xe bồn.  Trại Long Thành càng lúc càng được củng cố.

 

 

Chương 12. Ngày Đầu Trong Trại Cải Tạo Đầu Tiên

Tôi thuộc tổ 2, đội 3 trong khối 3, do đó tôi phải vào pḥng đầu tiên trong nhà thứ tư phía bên trái của con đường.  Chẳng có ǵ trong pḥng ấy nên tôi phải trải chiếc chiếu cói trên nền xi măng ở giữa pḥng để có chỗ ngủ và sinh hoạt.
Việc đầu tiên tôi phải giải quyết là làm thế nào có nước để dùng!  Tôi không có ǵ đựng nước, do đó tôi phải t́m cho được cái ǵ đó để đựng nước uống và rửa ráy.  Tôi đi lùng xung quanh trại và t́m được một tấm tôn từng để lợp mái cho nhà ở của nạn nhân chiến cuộc vào năm 1972.  Tôi không biết làm thế nào để làm cái thùng đựng nước bằng tấm tôn này, do đó tôi đă uốn hai đầu lại giống như xếp tờ giấy sau đó xếp hai đầu c̣n lại biến nó thành một cái thùng chứa h́nh hộp vuông.  Cái thùng đầu tiên này không thể đựng nước được v́ nó ṛ rỉ khắp nơi.  Tôi quyết định đi lùng một lần nữa để t́m ra cái ǵ đó để hàn nó lại.  Lần này, tôi nhặt được một cái nón sắt, một tấm giấy hắt ín, vài cây đinh, và vài cây gỗ 5×10 phân.  Tôi đốt tấm giấy để lấy hắc ín hàn mấy cái lổ ở đáy thùng, và rồi tôi đóng hai thanh gỗ vào 2 bên thùng để giữ thành thùng và cũng để khiêng nó.  Tôi đă có một cái thùng đựng nước, nhưng rồi tôi lại không thể khiêng nó một ḿnh tôi được.  Tôi nói với Điệp khiêng dùm phụ và chia nước để dùng chung.  Chiều hôm ấy, chúng tôi đă được một thùng đầy nước, nhưng chúng tôi quyết định chỉ sử dụng nước khi thật cần thiết mà thôi.  Lúc ấy là cuối tháng 6, trời bắt đầu mưa.  Chúng tôi làm thêm 2 cái thùng nữa theo cách ấy để đựng nước.  Sau kinh nghiệm đầu tiên, chúng tôi làm một cách tốt hơn.  Vài tuần sau, tôi có thể làm được cả cái thùng tṛn từ tấm tôn.
Điều khó khăn gặp phải là chẳng có cái nhà vệ sinh nào trong pḥng.  Tôi đi quanh trại để t́m xem có nhà cầu nào không, nhưng quả thật không có cái nào cả.  Chung quanh trại chỉ có một hàng rào thưa bằng kẽm gai, tôi nghĩ tôi có thể chui qua một cách dể dàng.  Chỉ có một cái trạm gác ở cổng trước.  Tôi nghĩ chỉ có một cách giải quyết là t́m một cái xẻng hay cái cuốc rồi chui qua hàng rào, không phải để trốn trại mà là chỉ để “ỉa” mà thôi!  Như tôi đă nói, trại là làng cô nhi trước đây, do đó t́m một cái cuốc hay xẻng không phải là việc khó khăn.  Đó là bài học đầu tiên mà tôi học được của cái gọi là “nếp sống văn hóa mới” của “cách mạng”.
Và rồi tôi lại tự hỏi tôi tắm ở đâu bây giờ?  Tôi lại chưa quen tắm ngoài trời, vă lại c̣n có đàn bà con gái trong trại nữa!  Tôi đi đến một cái lều tôn bỏ hoang nơi từng là nhà tạm trú cho nạn nhân chiến cuộc, nhưng có nhiều trại viên nữ đang chờ đợi ở đấy.  Tôi đành phải bỏ ra về để tắm ngoài trời với chiếc quần đùi vậy!  Tôi nghĩ rằng để sống được trong trại, tôi cần phải nhanh chóng thích ứng với mọi t́nh huống!  Và đó cũng là bài học thứ hai mà tôi đă học được trong ngày đầu tiên trong trại cải tạo.
Có tiếng gọi trại viên đi đến nhà bếp để lănh phần ăn chiều.  Tôi phải đi v́ là phiên ḿnh có nhiệm vụ lănh thức ăn cho tổ, do đó tôi xếp hàng đi theo các trại viên khác để đi đến nhà bếp.  Nhà bếp là một dăy lều dài khoảng năm mươi thước rộng khoảng sáu thước gồm những hàng cột và mái lợp tôn.  Hai dăy ḷ bằng đất sét với sáu ḷ nằm dọc theo chều dài: một dăy ḷ để nấu cơm và dăy kia để nấu thức ăn và nước uống.  Trên mỗi ḷ có một cái chảo to, và tôi trông thấy vài người nấu bếp đang quậy cơm và thức ăn bằng những cái xẽng.  Vài người cho biết rằng những đầu bếp này là người làm cho nhà thầu, nhưng tôi lại nghĩ có thể họ là tai mắt của VC.  Trong một trại mà hầu hết là những người đă từng giữ những chức vụ quan trọng trong chế độ cũ, tôi nghĩ VC không thể không lợi dụng cơ hội để len lỏi vào thu lượm những tin tức cần thiết cho chúng.
Tôi nhận được một sô cơm và anh bạn cùng nhóm nhận một thau canh bí đỏ nấu với đậu phọng.  Việc tiếp theo mà tôi phải làm khi đem cơm về đến nơi là làm sao để chia đều ra cho mười hai anh em trong tổ.  Tôi yêu cầu mọi người trong tổ để đồ đựng cơm và thức ăn riêng rẽ ra chung quanh sô cơm, và tôi dùng cái ca quân đội của tôi để đong cơm cho mỗi người.  Người bạn cùng nhóm của tôi cũng làm như vậy với phần canh.  Đó là lần đầu tiên chúng tôi chia phần cho bữa ăn chiều.
Phần cơm mà tôi nhận được trong bữa ăn đầu tiên này là một loại cơm nấu bằng gạo lức đỏ lẫn đầy thóc, nó thường được dùng để làm thức ăn cho gia súc.  Phần canh th́ lỏng bỏng vài lát bí đỏ và mấy hột đậu phọng nấu trong nước nêm một ít muối cùng vài lát hành xanh.  Tôi đă phải ngồi nhặt thóc lẫn trong cơm trước khi ăn để tránh khỏi bị đau dạ dày.
Ngày đầu tiên trong trại cải tạo trôi qua khi chúng tôi nghe tiếng kẻng đánh dội vào từ khu cơ quan.  Đó là tiếng đập của chiếc búa nện vào một cái vỏ bom treo trên cành cây.  Kể từ đó, tôi đă phải tập để quen dần với tiếng kẻng nghe khắp mọi nơi: tiếng kẻng báo thức, kẻng báo giờ lao động, giờ giải lao, vân vân… Sống trong trại cải tạo không là ǵ khác hơn là làm những việc mà “cái kẻng” và cái gọi là “cán bộ” bảo chúng tôi phải làm, và đó cũng là bài học thứ ba mà tôi đă học được trong ngày đầu tiên trong trại cải tạo đầu tiên.
Mọi người đă treo mùng, nhưng những tiếng th́ thầm vẫn c̣n nghe một vài nơi trong pḥng giam.  Tôi nghĩ mọi người đều có những câu chuyện riêng muốn chia xẻ với bạn bè, nhưng trong hoàn cảnh này th́ có ǵ hơn là nói về số phận của chúng tôi sẽ ra thế nào đây trong những ngày tháng sắp tới.  Tôi đă thiếp đi trong một giấc ngủ mệt nhọc sau khi suy nghĩ về vợ tôi cùng với đứa con chưa ra đời.

 

 

Chương 13. Mười Bài Học Tập Của Cộng Sản

Những tiếng kẻng báo thức vang dội khắp nơi trên khu đồi.  Mọi người đều bật dậy khi một “cán bộ” tên là Bảy vào pḥng giam để báo cho trại viên biết rằng họ phải lên hội trường khi nghe một hồi kẻng báo hiệu sau buổi ăn sáng.  Hắn ta bảo rằng đó là buổi lên lớp đầu tiên.  Tôi thức dậy súc miệng và rửa mặt để chờ buổi ăn sáng.  Một xô cháo lỏng với một ít muối được người trực mang về và chia cho mọi người.  V́ quá đói, tôi ăn một cách ngon lành buổi ăn sáng đó, uống một ngụm nước và chờ giờ đi “lên lớp”.
Tiếng kẻng chưa đánh mà đă có nhiều trại viên đă sắp hàng sẵn trên đường.  Vài đội ở khối 1 đă đi lên hội trường ngay sau khi nghe tiếng kẻng v́ họ ở gần nhà bếp nên họ đă có phần ăn sáng sớm hơn mọi người khác.  Trại viên ngồi đầy trong hội trường khi chúng tôi đi vào.  Hội trường là khu dạy nghề cho trẻ cô nhi khi trại là Làng Cô Nhi.  Nó dài khoảng một trăm mét ngang khoảng 40 mét.  Chẳng có ǵ trong ấy ngoại trừ một cái bàn và vài chiếc ghế ở cuối hội trường, một lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và tấm ảnh của Hồ Chí Minh treo trên tường với hàng chử “Chủ Tịch Hồ Chí Minh Vĩ Đại Sống Măi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta” ở phía dưới.  Trên bức tường phía bên trái là băng khẩu hiệu: “Không có ǵ quư hơn Độc Lập Tự Do”, và khẩu hiệu “Nước Việt Nam là một, Dân Tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn, song chân lư ấy không bao giờ thay đổi” được treo trên bức tường bên phải của hội trường.
Chúng tôi ngồi vào chỗ trong hội trường bằng cách bỏ dép của ḿnh ra và ngồi lên ấy!  Vài “cán bộ” mặc thường phục đội nón cối màu xanh đi vào hội trường ngồi vào ghế cạnh chiếc bàn.  Một cán bộ đứng lên giới thiệu “đồng chí” Hai Côn là trưởng trại sẽ có đôi lời với trại viên.  Hắn ta bảo chúng tôi phải đứng lên và bỏ mũ nón để chào mừng Hai Côn.  Hai Côn khoảng năm mươi tuổi, ốm và xanh, cao khoảng một mét sáu mươi lăm.  Giọng của ông ta cao ḥa với tiếng hú của chiếc loa.  Trong lời nói chuyện, Hai Côn bảo rằng “Đảng và Nhà Nước” đă khoan hồng tha tội chết cho chúng tôi, do đó chúng tôi phải được cải tạo để trở thành người dân lương thiện.  Để bắt đầu cho chương tŕnh cải tạo, chúng tôi phải học mười bài về lịch sử Việt Nam mà điểm chính là lịch sử của “cuộc cách mạng” của những người Cộng Sản.  Dân tộc Việt Nam anh hùng đă đánh thắng ba tên đế quốc lớn nhất thế giới: Thực Dân Pháp, Phát Xít Nhật, và đặc biệt là Đế Quốc Mỹ.  Đế Quốc Mỹ là tên sen đầm quốc tế, là tên đứng đầu của chủ nghĩa Tư Bản, và Chủ Nghĩa Tư Bản là con đĩa có hai ṿi: một ṿi để hút máu nhân dân trong nước của chúng và ṿi kia là để hút máu dân tộc các thuộc địa.  Chủ nghĩa Tư Bản đang dăy chết và “Ba ḍng thác Cách Mạng” đang mạnh mẽ hơn lúc nào hết.  Cái gọi là “Ba ḍng thác Cách Mạng” theo Hai Côn là cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa, cuộc cách mạng Dân Chủ, và cuộc cách mạng Xă Hội Chủ Nghĩa.  Dân tộc Việt Nam sau khi đánh thắng Đế Quốc Mỹ đă hoàn tất cuộc cách mạng giải phóng; nhiệm vụ tiếp theo là hoàn thành cuộc cách mạng Dân Chủ và tiến lên Chủ Nghĩa Xă Hội.  Hai Côn nói thêm rằng, “yêu nước tức là yêu Chủ Nghĩa Xă Hội!”  (Tôi hoàn toàn kinh ngạc về cái định nghĩa này!)
Tiếng vỗ tay của chúng tôi tiếp theo tiếng vỗ tay của chính Hai Côn ở cuối mỗi điểm của bài diễn văn làm chúng tôi ngạc nhiên không ít.  Chúng tôi chưa hề quen thuộc với cách làm này!
Đối với chúng tôi, những người đă từng ở trong bộ máy của cái gọi là “ngụy quân” và “ngụy quyền” của Nam Việt Nam, Hai Côn bảo rằng chúng tôi là những người có tội đă chống lại nhân dân và chống lại cách mạng.  Chúng tôi là tay sai của Đế Quốc Mỹ, do đó chúng tôi cần phải được cải tạo để thành người dân chân chính.  Chúng tôi phải từ bỏ cuộc sống ăn bám vào nhân dân và phải lao động để có được cuộc sống như những người dân lương thiện khác.  Cải tạo có nghĩa là bao gồm cải tạo tư tưởng và cải tạo hành động.
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được nghe VC định nghĩa về danh từ “lao động”.  Hai Côn bảo rằng “lao động” là thước đo sự tiến bộ trong quá tŕnh cải tạo.  Đất nước ta giàu đẹp với rừng vàng biển bạc (!); nhân dân ta anh hùng với Hai Bà Trưng, và Quang Trung những người đă đánh thắng quân Tàu, và đặc biệt nhất là thế hệ “Hồ Chí Minh”.  Chúng ta phải lao động để theo kịp các nước tiên tiến khác.  Các nước xă hội chủ nghĩa và bạn bè chúng ta trên toàn thế giới đang hỗ trợ chúng ta để tái thiết đất nước sau chiến tranh, nhưng chúng ta cần phải dựa vào chính ḿnh trước.  Chúng ta cần phải làm việc và làm việc thật cật lực để xây dựng một quốc gia giàu đẹp.
Bài diễn văn của Hai Côn được hắn ta phát biểu một cách trôi chảy dường như đă được hắn ta học thuộc một cách nhuần nhuyễn.  Đôi lúc, hắn ta lại dùng vài câu thơ của Hồ Chí Minh để thêm vào.  Chúng tôi nghe một cách yên lặng.  Nhưng điều chính thức mà chúng tôi muốn biết th́ vẫn c̣n mơ hồ:  chúng tôi sẽ được cải tạo ra sao?  Chúng tôi không nghĩ rằng chúng tôi đến đây chỉ để học mười bài học và chỉ để học cho biết thế nào là lao động, mặc dù chúng tôi rất muốn sự việc sẽ được diễn ra như vậy.
Sau khi bài diễn văn của Hai Côn chấm dứt, một cán bộ khác tên Bào lên tự giới thiệu là “trại phó” và cho chúng tôi biết một lịch tŕnh học tập bao gồm “lên lớp” và “thảo luận” tại pḥng.  Chúng tôi ra về pḥng để ăn trưa và suy nghĩ về thân phận ḿnh trong những ngày sắp tới.

 

 

Chương 14. Quen Dần Với Trại Cải Tạo

 Cuộc sống của chúng tôi mấy ngày đầu trong trại là sự cố gắng để thích ứng với môi trường mới.  Ngủ dưới đất, mọi người bắt đầu cảm thấy đau lưng.  Chúng tôi bảo nhau là nên t́m những thứ ǵ không thấm nước lót phía dưới chỗ nằm để tránh bị thấp khớp.  Tôi lấy cái pon-sô xếp lại làm hai lót phía dưới chiếc chiếu cói.  Khi đi quanh trại để lùng sục những thứ bỏ rơi, tôi t́m được một chiếc mền cũ trong chiếc cḥi bỏ hoang, nhặt về mạng vá lại rồi giặt sạch để lót nằm thay cho cái nệm.  Vải của những bao cát thu nhặt được dùng làm vật liệu để vá quần áo, mùng mền, vân vân.  Chỉ th́ tháo ra từ những cái bao cát ấy c̣n kim may th́ tự chế lấy bằng cách mài nhỏ sợi dây thép, mài nhọn một đầu c̣n đầu kia th́ đập dẹp ra rồi dùng vật nhọn để đục lỗ.
 Sau vài ngày đi khiêng nước, dép tôi đă bị đứt và rách nát, không c̣n mang được nữa.  Tôi nhặt được một mảnh vỏ xe, bắt chước cách làm dép râu của VC, tôi tháo miếng thép trong ba lô của tôi ra, mài nó thành một con dao nhỏ để cắt miếng vỏ xe thành h́nh dạng giống như đôi dép rồi đục 8 lỗ để luồn những sợi dây bằng ruột xe qua.  Chúng trở thành một cái ǵ đó cũng giống đôi dép, nhưng không thể hoàn hảo như ư muốn.  Tôi đă mang đôi dép tự chế ấy trong suốt mười năm trường.  Vài người khác thấy vậy cũng bắt chước làm theo.  Họ đă bắt đầu sản xuất loại dép râu này để đổi chác thứ này thứ nọ cho các trại viên khác.
 Lùng t́m những thứ cần thiết cho cuộc sống trong trại càng ngày càng phổ biến.  Bắt đầu th́ chỉ có những trại viên trẻ, sau đó việc này lan tràn cho tất cả mọi người trong trại.  Mặc dù trại trước đây là làng cô nhi và tiếp theo là trại cho đồng bào chiến nạn và đă có rất nhiều những tiếp liệu từ những nguồn cung cấp, đặc biệt là từ viện trợ nhân đạo của Mỹ, nhưng rồi vật liệu càng lúc càng khan hiếm dần.  Vài trại viên đă bắt đầu luồn ra ngoài hàng rào trại để lùng t́m vật liệu, nhưng chưa một ai có ư định trốn trại cả.  Mọi người đều đặt hy vọng vào một tháng cải tạo!
 Để có nhà vệ sinh ít nhất là cho phụ nữ, chúng tôi đă đề nghị “ban giám thị trại” cho phép chúng tôi tự xây dựng hai nhà vệ sinh.  Chúng tôi kéo sập 2 cái lều, lấy gỗ và tôn để làm vật liệu.  Chúng tôi đào một lỗ lớn cho mỗi nhà vệ sinh ở gần góc cuối hàng rào trại và xây hai nhà tạm thời gồm có 10 lỗ cầu cho mỗi nhà vệ sinh.  Chúng tôi phải gọi đó là “cầu xí” th́ đúng hơn.  Không có giấy vệ sinh, trại viên đành phải dùng mọi thứ ǵ có thể làm sạch được, ngay cả nước để rửa.  Chúng tôi có được hai cái nhà cầu cho nam và nữ trại viên, nhưng rồi chúng càng lúc càng bẩn thỉu, ḍi bọ khắp nơi.  Tro bếp được rắc lên hàng ngày nhưng cũng không thể khá hơn được.  Bệnh truyền nhiễm bắt đầu sinh sôi nẩy nở trong trại, nhất là bệnh tiêu chảy và ghẻ ngứa.  Một bệnh xá được thiết lập bao gồm nhiều bác sĩ như Văn Văn Của (từng là đô trưởng Sài G̣n), nhưng điều tệ hại là không có thuốc men ngoại trừ những thứ thuốc của chính chúng tôi mang theo.  Trại viên bắt đầu dùng lá cây và cỏ để trị bệnh: lá ổi nấu nước để trị tiêu chảy nếu được uống vào và trị bệnh ghẽ ngứa nếu dùng để tắm gội, vài thứ cỏ được dùng để trị phù thũng, vân vân.  Bác sĩ Văn Văn Của đă biến thành một bác sĩ “châm cứu”.  Nhiều người đă nói đùa bằng cách biến một câu châm ngôn của Việt Nam rằng “Đói ăn rau, đau khắc phục”(thay v́ đau uống thuốc).  Nhiều người c̣n đùa rằng để trị bệnh th́ tốt nhất là dùng “AKcillin” và “CKC” thay v́ dùng “Penicillin” và “APC”!  (AK và CKC là hai loại súng của VC).  Tôi nghĩ rằng đó là sự thể hiện tính khôi hài của người Việt mặc dù ở trong t́nh huống thật bi thảm.
 Trồng khoai lang là việc đầu tiên mà chúng tôi đă làm để cải thiện cuộc sống trong trại.  Nhưng chúng tôi lại không có giống ngoại trừ một ít dây khoai thu nhặt được ở khu đất hoang gần trại, nơi đă từng là đất canh tác khi đây c̣n là làng cô nhi.  Từ một vài dây khoai, chúng tôi nhân ra thành nhiều nhánh, và từ một vài khu đất nhỏ chúng tôi đă lần lần khai khẩn khắp nơi trong khu trại.  Điều khó khăn gặp phải là nước tưới; chúng tôi đă đào những hố nhỏ gần những nhà tắm và khai mương để dẫn nước tưới ra đó.  Khoai được thêm vào những xuất ăn sáng, và lá khoai lại là một thứ rau!  Đó bỗng nhiên lại là bài học đầu tiên của chúng tôi học được trong việc “cải thiện bữa ăn” của chúng tôi bằng công sức lao động!
 Trại viên buộc phải lên hội trường vào mỗi buổi sáng để học mười bài học.  Nhưng rồi sau vài ba ngày, tất cả đều chán ngán với cách diễn đạt của cán bộ.  Tôi chợt hiểu rằng họ đă được nhồi nhét những bài học ấy và rồi trở thành những con vẹt không hơn không kém bởi v́ tất cả đều nói cùng một cách.  Những điều mà chúng tôi đă nghe Hai Côn nói trong buổi lên lớp đầu tiên, chúng tôi lại được nghe lập lại và lập lại nhiều lần trong những lớp tiếp theo, nhưng chúng tôi lại không được phép hỏi những điều mà chúng gọi là chống lại “đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước”.  Thí dụ như khi học bài về “lịch sử phát triển của loài người”, họ bảo rằng nhân loại đă được phát triển từ Cộng Sản nguyên thủy, qua các giai đoạn Nô lệ, Phong kiến, Tư bản, đến chủ nghĩa Xă Hội và rồi đến giai đoạn cao nhất của loài người là “Cộng Sản Chủ nghĩa”.  Chúng tôi không thể hỏi rằng những ǵ mà con người sẽ tiến tới sau khi đạt được chủ nghĩa Cộng Sản bởi v́ theo họ th́ Cộng Sản Chủ Nghĩa là giai đoạn tột cùng của loài người; con người sẽ không c̣n phát triển nữa sau khi đạt được Chủ Nghĩa Cộng Sản!  Thật là một luận điệu buồn cười, nhưng chúng tôi cũng phải chấp nhận như vậy và chỉ được thảo luận theo chiều hướng ấy mà thôi.
 Bài học đầu tiên là “Đế Quốc Mỹ là quân xâm lược”.  Chúng tôi phải lên lớp hết 2 buổi sáng từ bảy giờ đến trưa, và thảo luận tại pḥng vào buổi chiều.  Diễn giả là một cán bộ được giới thiệu là từ “bộ chính trị” v́ họ muốn có một cán bộ cấp cao đến dạy chúng tôi, những người mà họ cho là nhân viên cao cấp của “ngụy quyền”.  Cũng chẳng có ǵ khác hơn là những điều mà chúng tôi đă nghe Hai Côn nói trong buổi lên lớp đầu tiên.  Trong phần thảo luận, chúng tôi đă phải kết án về những cái mà chúng cho là “tội ác của Đế Quốc Mỹ” trên toàn thế giới và đặc biệt là phải lên án những tội ác này trong chiến tranh Việt Nam.  Cuộc thảm sát ở Mỹ Lai, cái gọi là “sự tàn phá miền Bắc Việt Nam bằng không lực”, cuộc phong tỏa vịnh Bắc Việt, sự tàn phá của cái gọi là “chất độc màu da cam”, vân vân, là những đề tài mà chúng tôi phải thảo luận.  Nhưng điều quan trọng hơn là chúng tôi phải khai báo những điều mà chúng tôi biết được về những kho chôn dấu đạn dược hay đồ tiếp liệu của Mỹ sau khi rút khỏi Việt Nam.  Đối với chúng tôi, những người từng làm trong cơ quan t́nh báo th́ chúng muốn biết những chương tŕnh mà Mỹ đă dự định sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt cũng như những t́nh báo viên mà Mỹ vẫn c̣n cài lại sau khi rút khỏi Việt Nam.  Tôi nghĩ rằng tất cả những buổi thảo luận này đều nhắm mục đích t́m hiểu về những chiến lược của Mỹ sau chiến tranh Việt Nam.  Luôn luôn có một cán bộ hiện diện trong mỗi buổi thảo luận để nghe những ǵ chúng tôi nói và sau đó chúng tôi c̣n phải nộp lên một bản tường tŕnh về buổi thảo luận.
 Sau bài học đầu tiên này, chúng tôi được nghỉ hai ngày không phải lên lớp.  Trong thời gian ấy, chúng tôi phải học những bài “nhạc cách mạng” như “Giải Phóng Miền Nam”, “Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn”, “Chiếc gậy Trường Sơn”.  (Trường Sơn là một dăy núi nối dài từ Bắc đến Nam Việt Nam, nơi mà con đường ṃn Hồ Chí Minh băng qua).  Điều buồn cười xảy ra là những người trước đây chưa hề ca hát nay đă phải làm việc ấy bởi v́ mọi người đều phải thay phiên nhau ca, không loại trừ một ai.  Những bài ca “nổi tiếng” do trại viên sáng tác đă được viết ra trong thời gian này như bản “Ngày vui đă tới” của Vũ Thành An, một nhạc sĩ nỗi tiếng của Nam Việt Nam và cũng là một cựu trưởng ty “dân vận chiêu hồi”.  Chúng tôi cũng phải học hát những bản nhạc ấy nữa!  Tôi vẫn nhớ vài câu trong bản nhạc ấy: “Ngày vui đă tới, chúng ta xây lại đời ta.  Nhớ ơn Cách Mạng, chúng ta xin nguyện thành người dân chân chính.”  Tôi nghĩ lúc này quả là quá sớm để có những nịnh hót như thế, nhưng tôi không muốn phê b́nh ai hết bởi mỗi người có một cách sống riêng trong trại cải tạo.
 Nhiều người cho rằng tại sao trại viên không chịu giữ một thái độ hiên ngang trong trại cải tạo bằng cách chống lại những người Cộng Sản, nhưng họ có biết rằng chúng ta đă không c̣n một chính quyền, không c̣n đất nước, không có hậu thuẩn; chúng ta không có ǵ cả ngoài cái mạng sống, mà chính nó cũng không c̣n tùy thuộc vào chúng ta nữa, vậy th́ chúng ta làm được ǵ?  Tôi cũng nghĩ rằng tôi không thể làm được ǵ trong hoàn cảnh ấy, không thể trốn đi đâu được.  Mọi sự chống đối đều dẫn đến cái chết; mọi sự nịnh bợ là những điều vô sĩ.  Làm anh hùng trong hoàn cảnh ấy cũng là điều vô ích, do đó có lẽ tôi đă chọn cách “nín thở qua sông” để mà sống trong hoàn cảnh ấy mà thôi!  Tôi cũng chẳng cần ai phê b́nh là ḿnh hèn nhát.  Điều mà tôi đă suy nghĩ là làm sao tôi có thể sống sót được để gặp lại gia đ́nh mà không quá hèn đến nỗi bán rẻ linh hồn.
 Tiếp theo bản nhạc của Vũ thành An là vài bản nhạc của những trại viên khác như Đèo Chánh Mun ở khối 1, và Bạch Văn Nghĩa ở khối 3; tôi vẫn nhớ vài câu trong bản nhạc ấy: “Học tập hăng say anh em ơi, đem t́nh thương làm ṿng tay nối, quyết dựng ngày mai với niềm vui…”
 Tôi không biết phong trào sáng tác nhạc này là do sự thúc đẩy của tâm hồn hay là do sự nịnh hót, nhưng quả thật đó là lúc mà có nhiều nhạc phẫm sáng tác bởi trại viên hơn bất cứ lúc nào khác.  Tôi đoán có lẽ v́ lúc ấy chúng tôi chưa bị lao động, và thêm vào đó ai cũng hy vọng sẽ được thả về sau 1 tháng cải tạo như “chính sách của Đảng và Nhà Nước” quy định!  Tôi rất tiếc đă không có tài năng sáng tác nên đành phải học những bản nhạc ấy vậy.
 Việc tập hát đă diễn ra mỗi tối trước khi đi ngủ.  Một vài trại viên có khả năng ca hát đă trở thành những “quản ca” để dạy các trại viên khác từng câu một trong bài ca.  Trại viên trong pḥng giam đă phải lập lại từng câu tiếp theo “quản ca”.  Sau khi tập hết bài ca, từng trại viên một lại phải thay phiên nhau ca cả bài ca.  Bằng cách ấy, không ai có thể tránh không hát, và mọi người đều thuộc ḷng từng bài ca một.  Đó cũng là lư do tại sao tôi lại thuộc vài đoạn của những bài ca ấy cho đến bây giờ.
 Có một bài ca về “Giặc Mỹ” đă trở thành một điều diễu cợt v́ nó có một câu là: “Than ôi Abrams đă bí nên bi”.  Lúc đó chúng tôi thường được cho ăn một thứ canh bí đỏ nấu với đậu phọng, và trại viên đă đặt tên cho loại canh đó là canh Abrams!  Người Việt chúng ta thường hay t́m ra được cách để diểu cợt cho dù trong hoàn cảnh bi đát đi nữa!  Tôi cũng muốn nói ở đây là tướng Abrams của Mỹ là người đă có sáng kiến thiết lập 1 ṿng đai chiến lược để ngăn chặn Cộng Sản tràn xuống Nam Việt Nam.
 Sau hai ngày học ca nhạc “cách mạng”, ban giám thị trại đă buộc chúng tôi phải tiếp tục như thế cho hết thời gian ở trại cải tạo Long Thành.  Tôi không thể nhớ có bao nhiêu bản nhạc mà chúng tôi đă phải học thuộc trong thời gian này.  Vài bản mà tôi vẫn nhớ từng đoạn cho đến giờ như “Sài G̣n quật khởi”, “Vàm cỏ Đông”, “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, vân vân.  Khi Việt Nam thống nhất, chúng tôi không được hát bản “Giải phóng miền Nam” nữa mà phải hát bài “Tiến Quân Ca”, bài quốc ca của Bắc Việt.  Nhưng bản nhạc “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” là bản nhạc mà chúng tôi đă phải hát mọi nơi mọi lúc ở mọi trại giam.  Khi lên hội trường, khi bắt đầu hay chấm dứt một việc ǵ, đặc biệt là trước khi chấm dứt cuộc họp để đi ngủ, chúng tôi đều phải hát bản nhạc ấy, do đó nhiều trại viên gọi đó là bài ca “tạm biệt”.  Đôi khi đi cầu, tôi đă nghe vài trại viên trẻ đổi lời của bài ca thành “như có con ḍi trong cầu tiêu của trại cải tạo”.  Quả là một hành động liều lĩnh bởi v́ trong trại lúc nào cũng có những phần tử gọi là “ăn ten” báo cáo lên cán bộ mọi điều mà chúng nghe thấy, và chúng tôi đă được báo cho biết nói xấu Hồ là một trọng tội.
 Bài ca “Tự Nguyện” là bài ca duy nhất của một sinh viên miền Nam mà chúng tôi được ca trong thời gian này.  Chúng tôi cũng hơi ngạc nhiên v́ hầu hết chúng tôi đă biết bản nhạc ấy trong thời gian mà Sinh Viên Sài G̣n xuống đường đ̣i ḥa b́nh cho Việt Nam.  Tôi vẫn nhớ những câu của bài ca:
 “Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng”
“Nếu là hoa tôi sẽ là một đóa hướng dương”
“Nếu là mây tôi sẽ làm một vầng mây ấm”
“Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”
 Một cán bộ đă giải thích rằng lời ca đó được trích từ một bài thơ của Hồ Chí Minh.  Tôi không biết điều đó có đúng không, nhưng tôi nghĩ mọi cái đều là của Hồ!  Sự tôn sùng lănh tụ là điều mà tất cả Cộng Sản thế giới đều làm chứ không riêng ǵ VC.
 Bài học thứ hai, “Lũ Ngụy Quyền là bọn tay sai” được dạy trong 2 buổi sáng, nhưng phải thảo luận suốt một tuần lể.  Sau 2 buổi chiều thảo luận, hầu hết là thú nhận tội lỗi và hứa sẽ sửa đổi, chúng tôi phải làm một bản sơ đồ tổ chức của Phủ Trung Ương T́nh Báo.  Điệp, họa sĩ của ban A17 và tôi được mọi người cử ra để vẽ sơ đồ.  Tài liệu th́ được cung cấp bởi những sếp cũ của chúng tôi như Lộc, đặc ủy trưởng, Thúy, trưởng ban R (ban nghiên cứu), Phong, trưởng ban Z (ban nội chính), Lương, trưởng ban A10 (ban tổng hợp tin tức), Trang, trưởng ban A8, Cang, cựu đặc ủy trưởng, Quân, trưởng ban Y (ban yểm trợ) vân vân.  Điều buồn cười mà tôi thấy là toàn bộ Cơ Quan T́nh Báo, đầu năo của quốc gia đều nằm trong trại cải tạo và đang cung cấp tất cả mọi điều về cơ quan cho Cộng Sản.  Sau này, Lộc và Thúy đă chết tại trại Nam Hà sau thời gian đi thẩm vấn tại trại Hỏa Ḷ, Hà Nội.
 Trong khi Điệp và tôi vẽ sơ đồ tổ chức của Phủ th́ những người khác phải viết bản tự khai đầu tiên.  Những cán bộ của trại đến từng pḥng giam hàng ngày khuyến khích rằng ai viết thành thật những tội lỗi của ḿnh th́ sẽ được hưởng lượng khoan hồng của Đảng và Nhà nước.  Một điều khôi hài khác lại xảy ra là có những trại viên không thể nhớ được những điều ḿnh đă làm trước đây, họ phải đi hỏi lại những người đă làm chung công việc ấy rồi viết vào để mong rằng ḿnh sẽ được tha ra khỏi trại sớm như lời hứa của cán bộ.
 Cũng trong lúc ấy, những người giữ chức vụ cao của cơ quan lại di chuyển qua trại Thủ Đức.  Hầu hết những người đang cung cấp tài liệu để chúng tôi vẽ lại sơ đồ tổ chức của cơ quan đều chuyển đi, do đó Điệp và tôi đă phải ngưng làm công việc ấy và trở lại làm bản tự khai như mọi người khác.  Tôi suy nghĩ hầu hết tài liệu đă bỏ lại trong cơ quan, và mọi người đều đă khai báo hết mọi cái rồi.  Tôi đành phải viết những điều mà tôi đă làm và nêu tên những người mà tôi thấy trong trại cũng như những người mà tôi chắc rằng đă trốn khỏi đất nước như những cộng tác viên.  Tôi đă tránh không khai cho những người mà tôi không thấy trong trại và không biết chắc về t́nh trạng của họ.  Tôi nghĩ thế nào VC cũng hỏi lại những điều khai báo này nên tôi đă viết thêm 1 bản phụ để giử riêng.
 Trong những ngày viết bản tự khai, chúng tôi được cho ăn một ít thịt, điều mà VC gọi là “bồi dưỡng” cho chúng tôi trong lúc chúng tôi “động năo”!  Nhiều danh từ mà tôi chưa từng nghe trong ngôn ngữ của Việt Nam.  Khi chúng tôi có một ít thịt trong bửa ăn th́ họ bảo rằng chúng tôi được “ăn tươi”.  Khi chúng tôi trồng được ít rau để ăn thêm th́ chúng bảo rằng chúng tôi “cải thiện”.  Khi họ bắt chúng tôi đi lao động trong ngày Chúa Nhật th́ họ gọi là “lao động Xă Hội Chủ Nghĩa”!
 Ngày Chúa Nhật hôm ấy, lần đầu tiên chúng tôi phải đi lao động Xă Hội Chủ Nghĩa từ sáng sớm đến trưa.  Ai có cuốc th́ phải sửa lại con đường chính từ cổng đến dăy nhà cuối cùng: đào mương dọc 2 bên đường và lấy đất đấp thêm lên con đường.  Những người không có cuốc th́ dùng tay không mà nhổ cỏ và dọn dẹp vệ sinh trong khu trại và khu cơ quan.
 Khi ở trong trại th́ mỗi người đều mang trong ḿnh một suy nghĩ riêng, nhưng tôi nghĩ rằng cái ư nghĩ chung nhất của mọi người là những suy tư về gia đ́nh và sự mong đợi ngày về.  Mọi diễn biến đều được diễn dịch theo những điều hoặc là thuận lợi hay bất lợi đối với những mong mơi ấy.  Khi “Ban Giám thị trại” cung cấp ván cho chúng tôi làm sạp nằm th́ vài người đă cho rằng chắc là chúng tôi phải ở đây lâu hơn là một tháng.  Nhiều người c̣n cho rằng chúng tôi phải cải tạo ít nhất là sáu tháng khi nghe cán bộ bảo chúng tôi phải trồng khoai ḿ bởi v́ khoai ḿ muốn có củ th́ phải trồng ít nhất 6 tháng.  Những điều phát biểu này đă tới tai các cán bộ, và họ đă đến từng buồng giam để trấn an chúng tôi rằng “chính sách của Đảng và Nhà Nước” trước sau như một, ai đạt được nhiều tiến bộ trong cải tạo sẽ được về sớm.  Cách giải thích này tôi được nghe lập đi lập lại nhiều lần ở nhiều trại khác nhau.  Tôi nghĩ đó là những ǵ mà các cán bộ đă học tập khi nói chuyện với trại viên.
 Những bận rộn hàng ngày như lên lớp, thảo luận, và tranh đấu với cuộc sống đă giúp tôi ít suy nghĩ đến gia đ́nh, nhưng khi chui vào mùng, tất cả lại hiện ra một cách rỏ ràng trong óc tôi.  Đặc biệt là đứa con c̣n trong bụng, nó là trai hay gái, và vợ tôi ra sao khi cô ấy sanh nở, những điều này luôn xâm chiếm lấy tâm hồn tôi.  Tôi đă cố thử viết ra những ư tưởng này, nhưng không thành công v́ tôi chưa hề quen với việc viết nhật kư.  Đêm trong trại cải tạo rất dài.  V́ chưa hề ngủ dưới đất, do đó lúc đầu tôi rất khó vỗ giấc ngủ, nhưng rồi tôi đă cố gắng bằng cách thở thật sâu và đếm từ 1 đến 100 rồi lại tiếp tục lại như vậy.  Sau khoảng 4 đêm, tôi bắt đầu quen với việc ấy và có thể ngủ dễ dàng mỗi khi chui vào mùng.  Thêm vào đó, tôi cố làm việc bận rộn suốt ngày.  Nếu không làm những việc mà họ bảo làm th́ tôi đi tưới những luống khoai của riêng tôi, đi lấy nước xài, hay làm những công việc riêng.  Sau khi buổi họp tổ chấm dứt chui vào chỗ nằm, tôi cảm thấy mệt mơi và ch́m vào giấc ngủ một cách dể dàng.  Tôi biết rằng giấc ngủ sẽ rất cần thiết cho tôi trong trại, và cố gắng không suy nghĩ ǵ nữa mỗi khi chui vào mùng.  Tôi đă giữ được thói quen này suốt gần 17 năm trong các trại cải tạo và chính nhờ vậy mà tôi đă vượt qua được những khó khăn gặp phải.
 Việc di chuyển một số trại viên qua trại Thủ Đức đă xăy ra và Linh, chồng của chị vợ tôi cũng đi sang đó.  Tôi nghe nói trại Thủ Đức nguyên là trại giam nữ can phạm trước đây.  Chị vợ tôi là Lan vẫn ở lại trại Long Thành, do đó hàng ngày tôi vẫn thường đến để giúp chị ấy.  Tôi nghĩ rằng cuộc sống của phụ nữ ở trong trại có phần khó khăn hơn nam giới, do đó tôi thường dành cho chị ấy những thuận lợi hơn của chính tôi, đặc biệt là nước xử dụng hàng ngày.  Mỗi khi đến pḥng giam dành cho nữ, tôi thường gặp những  người bạn của vợ tôi; họ cũng thường hỏi tôi có biết ǵ về vợ tôi và đứa con không.  Điều này thường làm tôi rất lúng túng mỗi khi trả lời.  Tuy nhiên tôi có thể nói được ǵ ngoài chử “không”!
 Vợ và con tôi ra sao?  Câu hỏi này luôn lởn vởn trong đầu óc tôi.  Tôi vẫn nhớ lúc tôi chở vợ tôi vào pḥng cấp cứu khi cô ấy sẩy thai lần đầu và ngồi bên ngoài chờ đợi.  Tôi không nghe tiếng rên siết nào của vợ tôi, và sau đó mấy ngày,  cô ấy đă kể lại rằng cô ấy đă cố nín chịu đau v́ không muốn tôi lo lắng cho cô ấy.  Tôi không biết cô ấy sẽ làm sao đây khi tôi không có ở gần bên để lo cho cô ấy lúc sinh nở.  Tôi cảm thấy tội nghiệp cho vợ tôi rồi lại nghĩ đến một câu ca dao của Việt Nam rằng: “Người ta đi biển có đôi, c̣n tôi đi biển mồ côi một ḿnh.” 
 Sau bài học thứ hai, chúng tôi đợi những bài học kế tiếp, nhưng vẫn không thấy ǵ xảy ra trong suốt 1 tuần lễ.  Trại viên bắt đầu lo lắng v́ mọi người đều mong chấm dứt 10 bài học tập để c̣n được trở về với gia đ́nh!  Chúng tôi đều nghĩ rằng chúng tôi không thể tin vào một tháng cải tạo, nhưng làm thế nào sống mà không có chút hy vọng?  Tôi nghĩ rằng Ban Giám Thị trại biết điều này nên họ cho các cán bộ đến từng buồng giam và nói rằng họ đang đợi những cán bộ từ Hà Nội vào để dạy chúng tôi những bài học c̣n lại.
 Những tin đồn về 1 cuộc di chuyển nữa sẽ xảy ra sau khi một số trại viên được di chuyển sang trại Thủ Đức.  Tối thứ bảy ấy, trại viên được đi xem phim ngoài trời.  Trước khi chiếu phim, trưởng trại Hai Côn nói rằng chúng tôi sẽ không đi đâu nữa hết mà phải cố gắng để cải tạo ngỏ hầu hưởng lượng khoan hồng của Đảng và Nhà Nước.  Ban Giám Thị và các cán bộ ở trung ương đang nghiên cứu các bản tự khai của trại viên và sẽ hỏi một vài điều trong các bản tự khai ấy trước khi tiếp tục chương tŕnh học tập.
 Phim chiếu tối hôm ấy nói về trận chiến Điện Biên Phủ và nêu gương những người anh hùng đă dùng thân ḿnh để chặn những khẩu đại pháo bị đứt dây lăn xuống triền dốc hay những người đă dùng thân ḿnh lấp lỗ châu mai trong trận chiến.  Chiến thắng Điện Biên Phủ là một niềm kiêu hảnh của VC, nhưng trong phim tôi lại thấy rằng người dân Việt Nam đă là những người hy sinh quá nhiều cho chiến thắng ấy.  Chỉ với sức lao động, người dân Việt đă phải chống lại với máy móc và phi cơ của Thực Dân Pháp.  Họ không phải là Cộng Sản, họ chỉ là những người dân thường với ḷng yêu nước.  Cộng Sản đă lợi dụng ḷng ái quốc của nhân dân để nắm chính quyền rồi lại nói rằng “yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xă Hội!”  Thật là một sự liên kết kỳ cục!  Những điều mà họ nói như: “Với bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành  cơm” hay “Nơi nào cần thanh niên có, nơi nào khó có thanh niên” chỉ là những chiêu bài để lợi dụng sức lao động của nhân dân.  Người dân miền Bắc đă bị lợi dụng trên 30 năm trường, và bây giờ là đến phiên người dân miền Nam.  Lao động Xă Hội Chủ Nghĩa có ǵ khác hơn là làm việc không công.
 Hôm sau, thay v́ đi lao động Xă Hội Chủ Nghĩa, chúng tôi phải thảo luận cuốn phim và so sánh chiến thắng của trận đánh Điện Biên Phủ với chiến thắng của cái gọi là “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử” để giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975.  Dưới sự điều khiển của cán bộ, buổi thảo luận sau đó đă biến thành dịp để chúng tôi thú nhận những tội lỗi mà chúng tôi đă làm trong việc ngăn cản tiến tŕnh của chiến dịch ấy.  Thật là một việc buồn cười!  Nhưng tôi chợt biết rằng mọi việc xảy ra trong trại cải tạo đều phải theo cách ấy mà thôi, và tôi phải chấp nhận điều này không cần suy nghĩ.  Thái độ của tôi sẽ là nói càng ít càng tốt, tôi tự nhủ như vậy trong khi nghĩ tới một câu chuyện ngụ ngôn mà tôi học được lúc c̣n bé ở trường tiểu học.  Chúng ta chỉ có một cái miệng mà phải làm hai công việc là ăn và nói, trong khi lại có tới hai lổ tai chỉ để nghe mà thôi.  Tại sao chúng ta không nói ít mà nghe nhiều; đừng để cái miệng làm việc quá sức nó.
 Trại viên toàn trại rất lo lắng về một trại viên trong khối một bị chuyển đi.  Các cán bộ giải thích rằng trại viên ấy đă có “nợ máu” với nhân dân trong vùng mà anh ấy hoạt động trước đây, do đó anh ấy phải ra trước “ṭa án nhân dân” trước khi đến một trại cải tạo khác.  Chúng tôi không biết ǵ về t́nh trạng của anh ta sau này, nhưng chúng tôi lại không xa lạ ǵ với cái gọi là “ṭa án nhân dân” của VC kể từ giai đoạn “cải cách ruộng đất” sau khi Cộng Sản chiếm miền Bắc Việt Nam 1954.  Mọi việc đều diễn ra theo một tŕnh tự mà Cộng Sản muốn.  Trong lúc đó, họ cũng cho chúng tôi biết rằng chúng tôi được giữ trong trại chính là để được bảo vệ bởi v́ nhân dân rất là giận dữ về những tội ác mà chúng tôi đă làm để ngăn cản tiến tŕnh giải phóng nhân dân!  Thật cảm ơn cho sự tốt đẹp của “cách mạng”; chúng tôi đang được kẻ thù bảo vệ và đang được hưởng sự khoan hồng của Đảng và Nhà Nước.  Quá nhiều những danh từ được dùng để che dấu cho một hành động trả thù.  Tôi nhớ lại một bài hát của Phạm Duy, một nhạc sĩ nỗi tiếng của miền Nam Việt Nam, trong đó có dùng một từ “một rỗ danh từ”, và cũng nhớ một thành ngử Việt Nam “mật miệng gươm ḷng” để áp dụng cho những người dùng lời nói tốt đẹp để che đậy những ư đồ xấu xa.  Tôi nghĩ tôi có thể dùng những điều này cùng với câu nói của Nguyễn Văn Thiệu rằng “đừng nghe những ǵ Cộng Sản nói mà hăy nh́n kỹ những ǵ Cộng Sản làm” để làm phương châm cho cuộc sống của tôi trong những ngày sắp tới trong trại cải tạo.
 Kinh nghiệm sống trong trại cải tạo đă đến với tôi từng bước một.  Tôi không biết tôi có thể sống cho đến lúc rời trại được không, nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ cố gắng với tất cả khả năng của tôi.  Tôi cũng hiểu được rằng mọi sự thất vọng đều sẽ dẫn đến sự thất bại không cứu văn nổi.
 Lư Muối Liềm, một nữ thiếu tá cảnh sát của Nam Việt Nam là người đầu tiên được tha ra khỏi trại để điều hành trung tâm điện toán ở bộ chỉ huy cảnh sát.  Sự di chuyển của một số cấp cao sang trại Thủ Đức diễn ra tiếp theo, và rồi một trại viên được đưa ra ṭa án nhân dân.  Điều ǵ sẽ xảy ra tiếp theo cho chúng tôi, những người c̣n lại?  Chúng tôi tất cả đều sống trong sự lo lắng, nhưng chúng tôi không biết phải làm ǵ ngoài việc chờ đợi mọi việc diễn ra không có cách ǵ cưỡng lại được.

xin xem tiếp ......

click on photo để trở lại trang List Sách Truyện >>