click on photo để trở lại trang List Sách Truyện                                                                   
 

 

Hồi kư của Kale:

Chương 30. Đói!

Đó có lẽ là điều chính yếu trong tất cả các trại cải tạo, và ở trại Tân Lập th́ đó lại là một vấn đề quan trọng giữa cái sống và cái chết.  Rất khó có thể diễn tả được cái đói trong trại cải tạo bởi v́ nó khác hơn mọi cái đói khác.  Người ta đói v́ không có ǵ ăn.  Trại viên th́ đói mặc dù vẫn có ăn ngày ba bữa!
Ngày đầu tiên đến trại Tân Lập, chúng tôi được một bữa ăn thịnh soạn gồm cơm, thịt trâu và thịt heo.  Vài ngày sau th́ chúng tôi vẫn có cơm độn với một ít bo bo với một ít canh bí đỏ.  Nhưng rồi th́ bo bo được lần lần thay cho gạo cho đến khi chúng tôi chỉ được chín mươi phần trăm bo bo với một chút cơm và đôi khi không có một tí cơm nào nữa hết.
Cao lương hay bo bo là một loại thực phẩm gia súc được viện trợ từ Ấn Độ.  Hột bo bo lớn khoảng một phần tư hạt bắp với cái vỏ cứng và dầy hơn hạt bắp.  Bo bo chưa xay vỏ rất khó nấu chín, và cái vỏ th́ cũng rất khó lột ra ngay cả nấu thật lâu đi nữa!
Đầu tiên th́ chúng tôi nhai bo bo giống như ăn cơm, nhưng rồi chúng tôi khám phá ra rằng bo bo bị tiêu hóa ra ngoài nguyên cả hột.  Chúng tôi phải nhai kỷ hơn, nhưng mà cái vỏ cứng của nó khiến răng và hàm chúng tôi đau chịu không nỗi.  Chúng tôi lại phải giă nó ra, và vài người c̣n nấu lại trước khi ăn nữa.
Cái đói đă tạo nên nhiều hành động rất là bi hài, đặc biệt là khi chia phần ăn.  Khi đi lấy bo bo ở nhà bếp về cho đội th́ phải có ít nhất là hai trại viên đi cùng.  Một người để mang bo bo c̣n người kia th́ đi theo để kiểm soát v́ mọi người đều nghi rằng bo bo bị cắt bớt trên đường từ bếp về đến đội.  Để chia phần ăn, các trại viên thường dùng thành ngữ “công bằng và chính xác!”  Nhưng rồi ai cũng nghĩ rằng phần của ḿnh ít hơn của người khác.  Trại viên không tin tưởng vào những cái chén hay cái muôi (muỗng canh) nữa, do đó vài người đă chế ra những cái cân làm bằng thanh tre với một ḥn đá cột ở một đầu và cái đĩa cột ở đầu kia để chia phần ăn.  Cũng chưa đủ, có người c̣n đề nghị đếm số theo một thứ tự nào đó hay bắt số theo một quy ước nào đó rồi người đầu tiên lấy phần ăn cho dù đó không phải là cái chén của ḿnh.  Thật là một bi hài kịch!  Một tục ngữ Việt Nam nói rằng: “Miếng ăn là miếng tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên đầu.”  Điều này trông rất rơ ràng trong trại cải tạo.
Bữa ăn của trại viên thường là một chén nhỏ bo bo hay một thứ ǵ đó xem như tương đương với cơm, và một chén canh rau.  Bát canh rau này thường là nước muối có một vài cọng rau như lá xanh của bắp cải, lá của su hào, lá cải củ, hay rau muống, tùy theo từng mùa.  Cái gọi là “những thứ tương đương với cơm” là những cái mà trại có như bo bo, khoai ḿ, khoai lang, bắp, và đôi khi bánh bột ḿ.
Khoai ḿ hay sắn là thường xuyên nhất v́ đó là sản phẩm chính của tỉnh Vĩnh Phú.  Chúng tôi đặt cho nó một cái tên là “bạch sâm”!  Điều tệ hại là chúng tôi ít khi được ăn khoai ḿ tươi mà thường là khoai ḿ khô: Sắn lát hay sắn duôi!  Sắn lát (chúng tôi gọi là nút chai) hay sắn duôi (cắt thành sợi) được cắt từ nguyên củ khoai ḿ kể cả vỏ và tim, được phơi nắng (và phơi cả mưa), và được trữ lâu ngày trong nhà kho, do đó chúng thường rất dai và mốc.  Sau khi được nấu lên, sắn lát chỉ chín ở lớp ngoài c̣n bên trong th́ vẫn c̣n sống, c̣n sắn duôi th́ biến thành một chất cháo nhầy nhụa.
Khoai ḿ, khoai lang, và bắp là những thứ nông sản mà dân địa phương thường nộp thuế nông nghiệp cho nhà nước.  Dân chúng trong chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa không nộp thuế bằng tiền, đặc biệt là thuế nông nghiệp; họ đóng bằng những nông phẩm của họ để thay vào đó.  Sau vụ mùa, chúng tôi thường thấy những người dân địa phương sống vùng quanh trại gánh sắn duôi, sắn lát, khoai lang, và bắp vào trại để nộp thay v́ nộp cho chính quyền địa phương.
Dân chúng trong vùng rất nghèo, họ là những người dân sơn cước như người Tày, Mường, H”Mông, hay những người dân sống trong xóm đạo (Công giáo) bị chuyển từ những thành phố lớn như Hà Nội, Nam Định về đây sau năm 1954 để xây dựng “khu tinh tế mới”.  Để thực hiện chính sách đàn áp tôn giáo đặc biệt là Công giáo, và để tịch thu tài sản của những người giàu có và những gia đ́nh của những người làm cho chế độ cũ, Cộng Sản đă thiết lập những cái gọi là “khu kinh tế mới” ở những vùng xa xôi hẻo lánh và bắt những người dân này đến để khai phá.  Vài địa danh như Bến Ngọc, A-Mai, và dốc Trinh là tên của những người đầu tiên đến khu này.  Ngọc là tên của một ông cả trong làng người đă lập ra cái bến, A-Mai là người chết đầu tiên trong ḍng suối, và Trinh là tên một cô gái vẫn c̣n sống, người đă bị VC hiếp dâm và vẫn thường đi lang thang trên đầu dốc gần trại.
Dân chúng sống quanh trại rất nghèo đến nỗi không đủ áo quần để mặc; họ trao đổi mọi thứ có được để lấy cả mấy bộ đồ tù!  Vài trại viên phải đưa áo quần trại cho các phạm nhân h́nh sự nhờ đổi dùm thức ăn mặc dù họ biết chắc rằng những phạm nhân h́nh sự này sẽ cắt xén rất nhiều của họ.  Trong t́nh trạng đói kém th́ có được một ít c̣n hơn là không có ǵ cả!  Quần áo rách c̣n có thể vá lại được chứ cái đói th́ không thể trị được.  Một bộ áo quần đổi lấy một kư bo bo, ba kí lô sắn, hay nửa kư lô gạo, sau một thời gian ngắn những trại viên mới đến c̣n tả tơi hơn những phạm nhân h́nh sự.
Theo kỷ luật của trại, trại viên không được phép mua bán đổi chác bất cứ vật ǵ.  Đôi khi các cán bộ lại đứng ra làm trung gian để kiếm lời; họ bảo rằng làm như thế th́ đôi bên đều có lợi.  Các phạm nhân h́nh sự trong đội lâm sản và ở diện rộng là những người thu lợi nhiều nhất trong dịch vụ này.
Nhiều sự vi phạm kỷ luật của trại bắt nguồn từ cái đói mà ra đă bị nâng lên như là những vi phạm do từ quan điểm của trại viên.  Một trại viên chỉ nhặt quả bí đỏ để ăn v́ quá đói đă bị xử phạt rất nặng v́ đă phá hoại tài sản của trại, tài sản của Đảng và Nhà Nước, và tài sản của Xă Hội Chủ Nghĩa!  Nhiều trại viên đă bị chết trong các nhà biệt giam chỉ v́ vài cọng rau mà họ thu nhặt lúc làm lao động trên cánh đồng.
Đôi khi chúng tôi cũng được trại phát cho một ít đường, chỉ một ít khoảng độ một trăm gram cho mỗi trại viên.  Những hạt đường ấy dường như thấm sâu vào từng tế bào vị giác trên đầu lưỡi của tôi.  Vài trại viên c̣n ngồi đếm từng hạt đường mà anh ta bỏ vào miệng.  Không chỉ đường mà thôi, muối cũng rất hiếm trong trại.  Tôi vẫn luôn nhớ một lần vào năm 1978, chúng tôi đang đắp nền cho một căn nhà của khu gia đ́nh cán bộ nằm trên một khoảng đất trồng khoai lang.  Chúng tôi nh́n một cách thèm thuồng những củ khoai thu nhặt cho các cán bộ.  Tôi cố hỏi xin cán bộ quản giáo các lá khoai lang để “bồi dưởng” cho đội.  Chúng tôi không có muối để ăn với lá khoai lang luộc, và chúng tôi cũng không được phép mang bất cứ vật ǵ vào trại.  Chúng tôi đành phải ăn những lá khoai nhạt phèo đó để lấp cho đầy cái dạ dày đang trống rỗng của chúng tôi vậy!
Chung quanh trại cũng không c̣n cái ǵ có thể thu nhặt để ăn được.  Qua thời gian, rau dại đă không c̣n mọc được, cào cào, dế, ếch nhái, và ngay cả chuột cũng không thể sinh tồn được v́ chúng đă bị tiêu diệt bởi nhiều thế hệ tù.  Ḍng suối A-Mai th́ không có một con cá hay cả một con ốc!  Dân chúng nghèo khổ trong vùng đă thu nhặt hết những thứ ǵ ăn được.  Có lẽ cá, ốc, và thú vật trong vùng đều đă tuyệt chủng hết rồi!
Chúng tôi chỉ dựa vào tiêu chuẩn của trại là mười lăm kí lô của những thứ tương đương với gạo trong mỗi tháng cho mỗi trại viên.
Khoai ḿ, đặc biệt là sắn lát và sắn duôi không có một chút dinh dưỡng nào cả; nó chỉ giúp cái dạ dày cảm thấy đầy một chút mà thôi.  Nhưng ngay cả chúng cũng không đủ để lấp được cái dạ dày vốn đă trống rỗng của chúng tôi nữa!  Sau thời gian dài ăn khoai ḿ, thân h́nh chúng tôi trở nên c̣m cơi trong khi mặt th́ trông to ra!  Đầu tiên chúng tôi cảm thấy nằng nặng ở hai g̣ má, và rồi th́ hai quai càm sưng lên.  Chúng tôi nh́n nhau ngạc nhiên.  Có phải chúng tôi mập ra không?  Khuôn mặt chúng tôi trở nên to nhưng lại xanh xao!  Chất độc của acid cyanhydric trong vỏ của khoai ḿ đă tích trử trong tuyến dưới hàm khiến chúng tôi giống như bị bệnh quay bị.  Khi thức dậy mỗi buổi sáng, ghèn dán kín đôi mắt tôi; cổ họng tôi th́ khô khốc!  Căn pḥng dường như quay cuồng quanh tôi khi tôi đặt chân lên mặt đất.
Khoai lang, gọi là “hoàng sâm” th́ làm cho miệng tôi đắng nghét mỗi khi thức dậy, và nó khiến chúng tôi đói hơn là ăn khoai ḿ v́ số lượng của nó quá ít!  Bắp, bo bo, và bánh bột ḿ th́ đỡ hơn một chút, nhưng lại không có thường xuyên như khoai ḿ.  Bắp th́ là loại cho gia súc ăn, không phải là loại bắp ngọt, được phơi khô rất cứng và nấu chưa được mềm ra.  Bánh bột ḿ là loại bột do Liên Xô viện trợ được nhào và nặn rồi luộc thành những cái bánh tṛn khoảng một tấc đường kính và dầy khoảng một phân.
Tôi đă cố gắng tập ăn ít ngay từ trại đầu tiên, nhưng cái phần ăn này cũng vẫn thiếu đối với tôi.  Trong khi chia phần, tôi cố lảng tránh ra xa, nhưng rồi tôi vẫn c̣n quan sát từ đàng xa và đôi khi vẫn cảm giác là phần của ḿnh ít hơn của người khác. Tôi tự ghét ḿnh v́ điều này, nhưng vẫn không thể tự kềm chế được ḿnh.
Mỗi trại viên có cách ăn khác nhau.  Có người th́ ăn ngay sau khi chia phần; người khác th́ để lại cho đến khi vào chổ ngủ mới ăn v́ họ không muốn ngủ trong cơn đói!  Có người th́ ăn chậm chạp như không muốn bữa ăn chấm dứt; người khác th́ ăn vội vă như quá đói và sợ phần ăn của ḿnh bị mất đi. Vài người th́ chia phần ăn ra làm những phần nhỏ và ăn mỗi lần một chút dường như họ có nhiều phần ăn vậy; người khác th́ ăn ngay một lúc nhưng lại nhai rất kỹ như muốn phần ăn của ḿnh được hấp thu một cách trọn vẹn.
Cái thói quen xấu của tôi là tôi thường hay đổ nước vào chén sau khi ăn xong rồi uống luôn phần nước ấy như muốn không bỏ sót cái ǵ trong chén sau khi ăn xong!  Khi Uyển c̣n là đội trưởng của đội, tôi thường ngồi ăn chung với anh ta; chúng tôi vừa ăn vừa hút thuốc lào để kéo dài bữa ăn!  Sau khi Uyển chuyển qua làm thi đua, tôi không mang phần ăn vào pḥng như trước nữa mà ăn ngay sau khi được chia ra, xong rồi rửa chén bát và đặt chúng ngay trên bàn để đợi bửa ăn tiếp theo.
Đầu tiên th́ chúng tôi có những pḥng ăn gần cổng khu A, nhưng không ai ăn uống trong đó.  Chúng chỉ được dùng để làm nơi đặt đồ lấy nước uống và để treo áo quần đi lao động.  Vào năm 1980, sau khi những trại viên ở những trại khác được chuyển đến th́ những pḥng ăn ấy trở thành pḥng dành cho các cán bộ quản giáo và ban thi đua.  Chúng tôi dựng những chiếc lều tranh trong sân ở gần pḥng giam với những chiếc bàn và kệ bằng tre để chứa đồ đạc của chúng tôi v́ lúc đó chúng tôi quá đông.
Tôi không biết làm thế nào để mô tả được cái đói trong thời gian này.  Nó có nghĩa là chúng tôi ăn mỗi ngày ba bữa mà vẫn đói, không thấy cái ǵ trong dạ dày cả.  Khi những trại viên chuyển đến trại Tân Lập từ Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, vân vân, lúc miền Bắc bị Trung Cộng tấn công, họ trông thấy chúng tôi mà đâm ra sợ hăi!  Mặc dù chúng tôi ra miền Bắc sau họ, nhưng chúng tôi trông gầy ốm và xanh xao hơn họ nhiều.  Chúng tôi thường so sánh sự khác nhau của những trại cải tạo do Công An quản lư và do Bộ Đội quản lư qua sự ốm đói của các trại viên.
Cái đói và sự thiếu ăn đôi khi khiến vị giác chúng tôi trở nên sai lệch. Hầu hết trại viên trong t́nh trạng này đều biết rằng họ cảm thấy ngọt ngào ngay cả khi bỏ một hạt muối vào miệng.  Khi được hỏi anh sẽ ước muốn điều ǵ khi được thả ra th́ Chưởng, một trại viên trong đội tôi nói rằng anh ta chỉ muốn một rổ đầy khoai ḿ để ăn cho đă đời trong khi ngồi trên xe lửa về miền Nam. Nhưng rồi anh ta cũng không thực hiện được ước mơ của ḿnh bởi v́ anh ta đă chết sau đó mấy tháng!  Chúng tôi thường đùa rằng nếu cho chúng tôi được chọn lựa giữa một bửa ăn ngon lành và một cô gái đẹp th́ chúng tôi sẽ chọn bửa ăn. Một bửa ăn ngon có thể giúp chúng tôi sống sót được; ngoài ra chúng tôi làm ǵ được với một cô gái đẹp trong t́nh trạng của chúng tôi như thế?
Mỗi lần có được bửa ăn “tươi”, một chút thịt heo nấu với nước muối, mọi người trong chúng tôi đều muốn có được một ít mỡ thay v́ thịt nạc.  Sự thiếu dinh dưỡng đă tàn phá mọi thứ dự trử trong cơ thể khiến cho da chúng tôi trở nên mốc thếch và nhăn nheo.  Da trâu cũng trở nên một loại thực phẩm cao cấp, ngay cả loại da đă bịt trống cũng đă bị đánh cắp để ăn.  Khi đào khoai lang ngoài đồng, nhiều trại viên đă ăn sống khoai mà không lột vỏ cũng không rửa sạch.  Vài bệnh trạng như kiết lỵ và tiêu chảy do sự ăn uống thiếu vệ sinh mà ra đă giết chết rất nhiều trại viên vốn yếu ớt sẵn rồi.  Một trại viên làm ở ḷ rèn nướng một con cóc nhỏ rồi ăn cả con đă ngă ra chết ngay tại chổ v́ gan cóc bị nhiểm độc.
Mỗi đêm, cái đói khiến tôi rất khó ngủ. Chiếc loa phóng thanh nhỏ treo ở cuối pḥng lại vang lên lời ca của một ca sĩ nỗi tiếng của VC, Ái Vân, con gái của nữ nghệ sĩ nhân dân Ái Liên.  “Cuộc đời vẫn đẹp sao, t́nh yêu vẫn đẹp sao, dù đạn bom man rợ thét gào, dù thân thể triền miên mang đầy thương tích….”  Bài ca được quảng cáo là đă được đoạt huy chương vàng tại đại hội thanh niên toàn thế giới (chính xác là thế giới Cộng Sản) ở Đông Đức.  Tôi rất bực ḿnh nhưng không biết làm ǵ khác hơn là nhét lỗ tai lại và cố vỗ giấc ngủ.  Tôi muốn la to lên rằng “cuộc đời này rất vô nghĩa, t́nh yêu cũng rất vô nghĩa khi mà cái dạ dày của tôi đang trống rỗng và tôi đang sống trong cái địa ngục của thế gian này!”
Dùng thực phẩm như là một con mồi và chiếc gậy là một thủ đoạn của VC.  Chúng bảo rằng ai làm lao động tốt sẽ được ăn phần ăn đặc biệt và ai lười biếng th́ bị ăn phần ít hơn.  Chúng chia ra làm ba loại tiêu chuẩn ăn: 15 kí lô lương thực hàng tháng cho những trại viên b́nh thường, 18 kí lô cho những trại viên tiên tiến, và 13 kí lô cho những trại viên lười biếng.  Điều này đôi khi cũng làm vài trại viên bị sa bẫy!  Trong lúc đói ai mà không muốn có được nhiều hơn, do đó có người đă cố làm lao động để được xuất ăn đặc biệt.  Họ đă quên rằng làm như thế th́ họ sẽ mất rất nhiều năng lượng mà không thể bù đắp được bởi vài kí lô thực phẫm hàng tháng!  Những người to xác và những người ăn xuất ăn đặc biệt lại là những người bị suy sụp sớm nhất.

 

 

Chương 31. Bến Ngọc

Ḍng suối A-Mai, nguồn cung cấp nước cho trại và cho cả nhân dân sống chung quanh là một trong những con suối đổ vào con sông nhỏ, một nhánh của sông Hồng.  Suối A-Mai thường chảy rất siết nên thuyền bè không thể di chuyển được.  Các nguồn cung cấp cho trại được chuyển đến bằng thuyền bè th́ phải cập vào một cái bến băi tên là “Bến Ngọc”, cách K5 khoảng mười lăm cây số.
Dân chúng địa phương kể lại rằng trước đây có một ông điền chủ trong vùng tên là Ngọc đă làm ra cái bến ấy để làm nơi đổi chác những sản phẩm của ông ta với người khác.  Khi Cộng Sản chiếm miền Bắc, gia đ́nh ông ta bị giết trong đợt đấu tố địa chủ của giai đoạn cải cách ruộng đất năm 1955.  Cái bến đă bị bỏ hoang.  Từ đó dân chúng dùng tên ông ta để đặt cho bến ấy.
Thật ra th́ không có ǵ ở Bến Ngọc ngoại trừ một cái băi cát dài khoảng trên một cây số, rộng khoảng sáu trăm thước về mùa khô và khoảng mười thước về mùa nước lớn.  Dân chúng thường dùng bến ấy để cập những mảng tre bương mà họ chặt ở khu rừng trên thượng nguồn rồi chống theo ḍng suối để đến bến bán cho người khác.
Lương thực, than đá, lá cọ, và xăng dầu cung cấp cho trại được chuyển bằng xe lửa từ ga Hàng Cỏ ở Hà Nội đến ga Ấm Thượng, và rồi người ta dùng một chiếc phà để chuyển đến Bến Ngọc.  Từ đó, họ thường dùng xe trâu để chuyển về trại nếu chỉ có một số lượng nhỏ, nhưng nếu số lượng lớn như tre, lá cọ, than đá, th́ trại viên và cán bộ phải đi ra đó mà lấy để chuyển về.  Trại thường tổ chức một buổi “ra quân” để làm việc này.
Sáng sớm hôm có buổi “ra quân”, khi mở cửa pḥng giam, cán bộ trực trại sẽ bảo chúng tôi sẵn sàng để đi “Bến Ngọc”.  Chúng tôi không mang đồ đạc lỉnh kỉnh của riêng ḿnh mà chỉ mang theo b́nh nước uống v́ khi về chúng tôi sẽ phải mang vác nặng nề trên một lộ tŕnh khá xa!  Chúng tôi xuất trại như thường lệ, nhưng những chiếc xe cải tiến th́ đă được đem về đậu trước cổng trại sẳn sàng.  Trại viên lấy xe của đội ḿnh để kéo theo, quẹo về phía trái ở trước cổng trại rồi quẹo mặt vào con đường đất sét đi về phía Bến Ngọc.  Con đường này rất bụi bặm vào ngày nắng nhưng lại trơn trợt vào ngày mưa.  Các trại viên kéo xe cải tiến đi phía trước, hai hàng trại viên khác đi tiếp theo, và cuối cùng là các cán bộ, chúng tôi phải đi vội vă.
Khoảng nửa đường từ K5 đến Bến Ngọc, có một ngôi trường mà đầu tiên trông thấy đă khiến tôi rất kinh ngạc, đó là “Trường Phổ Thông Công Nông Nghiệp Số 1”.  Học sinh trong trường là các trẻ em khoảng từ mười đến mười lăm tuổi.  Chúng ăn mặc giống hệt chúng tôi và làm việc như chúng tôi!  Các “thầy giáo” là những công an mặc quân phục với súng trên vai trông chừng chúng làm việc trên những cánh đồng.  Đó là loại trường học ǵ vậy?  Chúng cũng có buổi “ra quân” như chúng tôi.  Tôi thử hỏi xem chúng học cái ǵ trong trường th́ chúng cười và nói “học cái ǵ, chúng cháu làm việc như trâu!”  Chúng thường gọi chúng tôi là “bố” và hỏi xin “thuốc lào” dù chúng c̣n rất trẻ.  Chúng là những trẻ bụi đời ở những thành phố lớn ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Pḥng, hoặc những đứa trẻ hư hỏng mà gia đ́nh không dạy được phải đưa vào trại để cải tạo.  Cái gọi là “trường học” thật ra là một trại tù để giam trẻ con mà thôi.  Hầu hết bọn chúng sẽ được chuyển đi các “nông trường” để sống cho hết đời hoặc vào các trại cải tạo khi đến tuổi mười tám.
Cộng Sản không có nhà tù, họ chỉ có “trường học”, “trại cải tạo”, và các “nông trường” mà thôi.
Những đứa trẻ này cũng tả tơi và ốm đói như chúng tôi; chúng kéo xe cải tiến đi về phía Bến Ngọc với những cán bộ vũ trang đi theo sau.  Không có ǵ khác với chúng tôi cả ngoài việc chúng là trẻ con!  Có lẽ có một điều khác hơn là chúng ăn nói dơ dáy với những tiếng lóng mà chúng tôi không thể hiểu nỗi, và chúng chửi thề luôn miệng!
Chúng tôi đến Bến Ngọc khoảng giữa trưa và chờ đợi tất cả đến nơi.  Chiếc phà đầy than chưa cập bến.  Trời bắt đầu mưa.  Không có chổ nào núp mưa; chúng tôi ngồi co ro dưới mưa.  Cái lạnh và cái đói trộn lẫn với nhau làm tôi run rẩy; hai hàm răng tôi đánh ḅ cạp.  Tôi không ước mong ǵ hơn là có được một chén cơm nóng ở trong một căn pḥng ấm áp.  Điều ước muốn ấy thật quá đơn giản, nhưng trong hoàn cảnh này th́ nó c̣n khó hơn bay lên cung trăng!  Tôi nh́n quanh các bạn bè; vài người trong họ đă từng giữ những chức vụ chỉ huy trước đây.  Họ cũng đang co ro và run rẩy như những con mèo ướt.
Cán bộ th́ mặc pon-sô họp nhau cười nói và chia nhau những điếu thuốc lá.  Trại viên th́ ngồi trong hàng run rẩy dưới mưa.  Hai h́nh ảnh trái ngược nhau ở cùng một chỗ!  Tôi chẳng thương mà cũng chẳng ghét ǵ các cán bộ.  Họ cũng là những người Việt Nam; vài người trong bọn họ cũng có tính người.  Lớn lên trong một xă hội được xây dựng trên nền tảng của sự hận thù, họ giống như những người máy.  Tôi vẫn nhớ người bạn cũ của tôi tên là Khiêm, anh ta đă theo VC sau khi tốt nghiệp trung học, trong những ngày đầu “giải phóng”, anh ta đă nói với tôi rằng một khi đă gia nhập đảng Cộng Sản th́ anh ấy giống như có một dây tḥng lọng quấn quanh cổ.  Anh ấy phải làm những ǵ mà họ bảo làm, nếu không th́ anh ấy sẽ bị thắt cổ chết mà thôi.
Chế độ Cộng Sản đă tạo nên những con người làm những ǵ mà họ được ra lệnh làm, nói những ǵ mà họ đă được nhồi nhét vào đầu, và suy nghĩ những ǵ mà họ được chỉ bảo.  Năm này qua năm khác, họ đă được dạy rằng chúng tôi là những kẻ thù của Nhà nước và của Nhân dân, và quan trọng nhất là kẻ thù của Đảng, do đó họ phải đối xử với chúng tôi như những kẻ thù.
Trẻ con ở miền Bắc đă được dạy rằng chúng tôi là những tên quỷ dữ chỉ biết ăn gan uống máu của nhân dân.  Khi các đứa trẻ trong “trường” hỏi chúng tôi về những điều này, chúng tôi không biết làm thế nào để giải thích cho bọn chúng mà chỉ biết cười và bảo đùa rằng chúng tôi cũng đă từng ăn gan và uống máu, nhưng chúng tôi chỉ ăn gan gà và uống máu dê mà thôi!  Trẻ con ở miền Bắc được dạy rằng dân chúng miền Nam đă bị bóc lột đến tận xương tủy, do đó dân miền Bắc phải vào để giải phóng dân miền Nam, những người đang sống trong sự nghèo nàn và đau khổ.  Điều tuyên truyền này đă khiến người miền Bắc nghĩ rằng dân miền Nam nghèo hơn người miền Bắc rất nhiều.
Có nhiều người đă thay đổi cả ư nghĩ sau khi được vào Nam.  Trung úy Trung, cán bộ chấp pháp trong Ban Giám thị của trại, người đă từng có thái độ căm thù chúng tôi ra mặt khi chúng tôi mới đến trại.  Khi hắn ta được vào miền Nam trở về, nh́n thấy những khác biệt giữa sự thật và những ǵ mà hắn ta đă được nghe trước kia về miền Nam, hắn ta đă thay đổi hẳn thái độ và trở nên tử tế hơn nhiều cán bộ khác.  Nhiều cán bộ khác cũng đă thay đổi thái độ sau khi được vào miền Nam.  Tôi tự hỏi thế th́ ai cải tạo ai đây?
Mưa đă tạnh, và chiếc xe trâu của nhà bếp cũng đang mang phần ăn trưa đến cho chúng tôi.  Vài củ khoai ḿ với một lời an ủi là sẽ có phần “ăn tươi” vào bữa chiều đă giúp chúng tôi có một ít năng lực để làm việc.
Chiếc phà đă cập bến.  Bốn trại viên phụ trách một chiếc xe cải tiến; chúng tôi phải thay phiên nhau xúc than đổ lên xe.  Chiếc xe đầy than rất nặng; bánh xe lún vào trong cát không thể di chuyển được dễ dàng dù chúng tôi đă cố đẩy hết sức ḿnh.  Một người trong chúng tôi giữ càng xe, ba người khác đẩy mạnh phía sau, nhưng chiếc xe vẫn không nhút nhích.  Chúng tôi đổi cách làm: một người vẫn giử càng xe để lái, một người đẩy phía sau, hai người c̣n lại nắm vào bánh xe mà xoay để chiếc xe di chuyển từng đoạn ngắn một.  Chúng tôi vật lộn với chiếc xe gần một tiếng đồng hồ mới đem nó được lên đường để chờ mọi người làm xong!  Sau lần đầu đó, chúng tôi rút được kinh nghiệm.  Mỗi lần đi lấy than chúng tôi mang theo vài chiếc ky để khiêng than đá từ chiếc phà lên xe cải tiến để ở trên bờ.
Đi trở về trại cũng rất xa dù khoảng cách chỉ vào khoảng mười lăm cây số.  Đến những dốc ngược hay những đoạn đường lầy lội, chúng tôi lại phải tiếp tục vật lộn với chiếc xe.  Dốc Trinh có độ dốc khoảng ba mươi độ là một đoạn đường khó khăn nhất v́ nó dài khoảng trên một trăm thước.  Dân chúng địa phương bảo rằng họ đặt tên cho cái dốc ấy theo tên của một người con gái vẫn c̣n sống.  Cô ta bị một tên VC cưỡng hiếp trở thành điên loạn.  Trong những đêm có trăng, cô ấy thường khỏa thân đi lại trên dốc với mái tóc xơa ra trông giống như một bóng ma.  Người ta thường gọi tên cái dốc là “dốc Trinh Hồng” v́ tên cô ta là Hồng.
Về đến trại, chúng tôi hoàn toàn hết sức lực!  Cái gọi là “bửa ăn tươi” là một miếng thịt nhỏ khoảng ngón tay cái không đủ để thuyết phục chúng tôi ăn ngay được bửa ăn dù chúng tôi đang rất đói.
Đi lấy lá cọ hay lấy tre cũng chẳng khá hơn.  Ba trại viên một xe cải tiến, số c̣n lại phải vác bằng vai.  Hai bó lá cọ khoảng hai mươi kư lô mỗi bó được xuyên qua bởi một cây đ̣n xóc quả là quá nặng nhất là con đường quá dài và lầy lội với những dốc ngược.  Để chất được nhiều trên xe cải tiến, họ bắt chúng tôi phải buộc những thanh tre vào sườn xe để chất lá lên cao lên khỏi sàn xe.  Muốn kéo xe dể dàng hơn, vài người trong chúng tôi phải buộc dây vào càng xe rồi quấn quanh vai trông giống con trâu mang ách.  Tôi thường đi theo xe cải tiến để lấy lá hay lấy tre mặc dù nó nặng hơn một chút v́ tôi không thể gánh trên vai được; nó khiến vai tôi đau ră rời.
Cuối năm 1979, khi trại cho phép gia đ́nh đến thăm nuôi trại viên, con đường đi Bến Ngọc trở thành con đường của gia đ́nh chúng tôi!  Bến Ngọc cũng trở nên đông đúc hơn.  Một số dân địa phương có thêm một nghề mới, đó là giúp đở gia đ́nh trại viên để chuyển đồ đạc họ từ phà lên bến và đôi khi phụ gánh vào trại.
Cũng kể từ đó, đi Bến Ngọc lại là một niềm vui cho chúng tôi mặc dù cũng vẫn rất mệt.  Chúng tôi có cơ hội để gặp được dân Sài G̣n.  Mặc dù họ không phải là thân nhân ḿnh đi nữa, nhưng ít ra họ vẫn thấy thân quen hơn.
Có lần tôi đi cùng mấy người trong đội đến Bến Ngọc để lấy gỗ về làm nhà, một người đàn bà đến hỏi tên tôi rồi bà ta bật khóc.  Bà ấy là vợ của anh bạn tôi đi thăm chồng đang ở K3.  Bà ta trao cho tôi một ít quà và bảo rằng bà ta không thể nhận được ra tôi v́ tôi thay đổi nhiều quá.  Có lẽ là tôi đă quá tang thương nên không c̣n nhận ra được nữa!  Tôi không nhận quà của bà ta nên sau khi thăm chồng xong bà ta gởi qua cho tôi một ít; đó cũng là lần đầu tiên tôi nhận được món quà của người Sài G̣n.

 

 

Chương 32. Hút Thuốc Lào

Có lẽ mọi trại viên đều biết đến “thuốc lào” dù rằng có người không hề hút thuốc.  Khi ra đến trại Tân Lập, chúng tôi không c̣n được phát thuốc lá nữa mà được phát loại thuốc vụn và thuốc lào.
Thuốc vụn là loại thuốc cắt thừa trong các hảng thuốc lá.  Nó rất khó quấn thành điếu v́ thuốc rất nát, nhất là với loại giấy quyến nhỏ dùng để quấn thuốc lá trong các hảng.  Vài người sáng chế ra cây cờ nhỏ làm bằng miếng giấy dầy hay bằng miếng nilon để cuộn thuốc.  Tôi không thể quấn được thuốc theo cách ấy mà phải dùng mọi thứ giấy có được để quấn bằng tay như quấn thuốc rê.  Nhưng thuốc ấy không thể nào có đủ để hút trong ṿng một tháng hơn để đợi kỳ phát sau.  Ngoài ra th́ c̣n “thuốc lào” nữa!  Chúng tôi làm ǵ đây với loại thuốc này?  Nhiều người không biết hút thuốc lào nên thử cuộn để hút như hút thuốc rê, nhưng nó không thể đốt cháy được.  Tôi cũng thử làm theo cách ấy lúc đầu.  Chỉ một vài người miền Nam là biết hút thuốc lào thôi, họ đổi thuốc vụn cho chúng tôi để lấy thuốc lào.
Thuốc lào hút được lâu hơn v́ mỗi lần chỉ hút một nhúm rất nhỏ.  Có hai loại điếu để hút thuốc lào, đó là điếu bát và điếu cày.  Hầu hết những trại viên từ miền Nam mới ra đều hút thuốc lào bằng điếu bát tự chế.  Điếu bát là một cái hủ kín có hai lỗ trên mặt: một lỗ để chứa thuốc lào và một lỗ để hút.  Cái lỗ để đựng thuốc lào được gắn vào đó một cái “nỏ” h́nh loa kèn để chứa một nhúm nhỏ thuốc lào mỗi lần hút, c̣n cái lỗ để hút th́ được gắn một ống dài thường là ống tre.  Cái “nỏ” được gắn theo chiều ngược để đầu nhỏ của h́nh loa kèn nhúng vào trong nước chứa trong bát trong khi cái loa kèn th́ nằm phía trên nắp.  Khi hút, khói thuốc sẽ đi vào nước trong điếu trước khi vào miệng của người hút.  Trong trại, ít người có được cái điếu bát thật sự.  Vài người chế tạo cái điếu bát từ những hũ chao, nhưng nó không hoàn hảo để mà hút thuốc lào và lại rất khó mang theo ḿnh.
Khi vừa ra tới trại Tân Lập, chúng tôi nh́n thấy những phạm nhân h́nh sự hút thuốc lào bằng một ống điếu làm bằng tre gọi là “điếu cày”, và chính chúng đă chỉ chúng tôi cách hút thuốc lào bằng loại điếu này.
Cái ống điếu gọi là “điếu cày” v́ nó được những người thợ cày mang theo ra đồng mỗi khi họ đi cày ruộng.  Nó được làm bằng một mắt tre dài khoảng sáu hoặc bảy tấc, đường kính khoảng ba phân có một đầu kín để chứa nước và một đầu hở để hút thuốc.  Cách cái mắt tre khoảng năm phân, người ta xoi một lỗ nhỏ để gắn cái nỏ điếu vào theo độ dốc khoảng bốn mươi lăm độ.  Cái nỏ điếu phải được gắn thế nào để đầu nhỏ của nó chấm vào nước trong điếu mỗi khi được giữ khoảng 45 độ và khi được giữ ở chiều gần như ngang th́ nó nằm trên mặt nước.  Nghệ thuật làm nỏ điếu là phải xoi lỗ làm sao cho khi hút nó rít lên một tiếng kêu lớn.  Chúng tôi thường không ai biết làm nỏ điếu, do đó chúng tôi phải đổi chác với các phạm nhân h́nh sự để có được cái điếu cày.
Để đốt thuốc mỗi lần hút, chúng tôi cần phải có giấy hay những thứ nào dễ bắt lửa.  Giấy rất hiếm trong trại cải tạo, do đó chúng tôi thường phải chẻ tre thành những thanh mỏng, ngâm trong nước vài ngày rồi đem phơi khô để làm đóm.
Hút thuốc lào th́ phải học cách hút.  Chúng tôi nhúm một chút thuốc và ṿ nó lại thành những viên nhỏ gọi là “con dế”, đặt con dế ấy lên nỏ điếu, đốt cái đóm, và rồi với chiếc điếu ở vị trí khoảng 45 độ, chúng tôi đặt môi vào đầu điếu.  Cùng lúc ấy, chúng tôi phải vừa đốt thuốc vừa hít nhẹ vào để khói thuốc đi vào trong điếu và con dế được đốt hết.  Giai đoạn kế tiếp là giai đoạn “tuyệt vời” nhất đối với người hút thuốc lào.  Con dế đă bị đốt trọn vẹn sẽ được phun ra, rồi người hút thuốc lào giữ cái điếu gần như ngang với mặt đất để cái nỏ chỉ nằm trên mặt nước trong điếu chứ không ch́m vào trong nước nữa, tiếp theo người hút phải hít một hơi dài; cái điếu kêu rít lên, đó là lúc người hút thuốc lào cảm thấy “say sưa” nhất!
Tôi đă hút thuốc lào không lâu sau khi đến trại Tân Lập.  Phong, một người tù h́nh sự làm chung với tôi khi tôi đi vẽ tấm tranh cổ động cho trại đă cho tôi cái điếu cày và chỉ tôi cách hút.
Cảm giác say sưa của thuốc lào rất khác với cảm giác say thuốc lá hoặc say rượu.  Nó làm cho người hút dường như bị tê ở mặt, dường như đang bay bổng, tay run run, đầu óc th́ rất tỉnh táo nhưng không thể kiểm soát được các cử động của tay chân.  Đôi khi người say thuốc lào có thể bị ngă sấp xuống; mặc dù anh ta đă có ư muốn nắm giử vào vật ǵ đó để gượng lại nhưng anh ta không thể điều khiển cử động của ḿnh được nữa.  Cái cảm giác đầu tiên này chỉ xảy ra trong ṿng năm phút, và rồi “con dế” tiếp theo không thể mang lại cái cảm giác ấy được nữa cho đến một thời gian lâu sau, có khi đến hôm sau.  Đó cũng là lư do khiến các trại viên hay hút thuốc lào vào mỗi sáng sớm khi giật ḿnh thức dậy.  Cảm giác say thuốc lào là một cảm giác rất khó quên.  Một người nào đó đă đặt ra một câu ca dao để diễn tả rằng “Nhớ ai như nhớ thuốc lào, đă chôn điếu xuống lại đào điếu lên!”
Khi Uyển làm đội trưởng của đội 10, Uyển và tôi thường ngồi ăn cơm chung với nhau, vừa ăn vừa hút thuốc lào để kéo dài bửa ăn.  Hai loại thuốc mà trại phát cho chúng tôi lúc ấy là “Sông Cầu” và “An Thái”.  Vào năm 1980, khi các gia đ́nh miền Nam được phép ra thăm nuôi, họ mang loại thuốc lào miền Nam tên là “999”. Tôi đă hút thử thuốc này một lần duy nhất, và nó khiến tôi “gần chết!”  Nhịp tim tôi đập rất nhanh; tôi ngă sấp xuống nền nhà mà không thể kiềm chế được ḿnh.  Tôi bỏ hút thuốc lào kể từ đó, giao điếu cày của tôi cho Nhân, người bạn nấu nước trong đội.  Điếu của tôi trở thành tài sản chung cho đội!
Hàng ngày khi đi lao động, Nhân mang cái điếu ấy theo mặc dù anh ta không hút thuốc lào.  Vào giờ giải lao, các trại viên trong đội tôi thường đến chỗ của Nhân để uống nước và hút thuốc lào.  Đôi khi họ bỏ vào lon guigoz những thứ mà họ thu nhặt được trên hiện trường lao động nhờ Nhân nấu dùm để “cải thiện”.  Chúng tôi không được phép mang vào trại những thứ này, do đó phải ăn những thứ ấy ngay lúc giải lao.
Mỗi đội thường có một người phụ trách nấu nước uống khi đi làm lao động.  Người này thường được gọi là “anh nuôi”, và trại viên trong đội thường phải nhờ những anh nuôi ấy nấu dùm đồ ăn mà họ thu nhặt được để ăn lúc giải lao.  “Anh nuôi” c̣n có nhiệm vụ mang cái điếu cày cho toàn đội v́ trại không cho phép mỗi người mang điếu riêng của họ khi đi làm lao động.  Khi đi lao động, “anh nuôi” gánh một đôi thùng nước có treo lủng lẳng xung quanh những củi nấu, ống điếu cày, và lon guigoz.  Những h́nh ảnh rất quen thuộc của các trại cải tạo là “anh nuôi”, cái lon sữa guigoz bằng nhôm có gắn quai gọi là lon “gô”, và chiếc điếu cày.

 

 

Chương 33. Muông, Người Tù H́nh Sự Đặc Biệt

 Hắn ta vào khoảng năm mươi vào năm 1977.  Tội của hắn là truyền bá thơ văn của nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm”, và hắn không có một án phạt nào cả!  Hắn ở trong trại cải tạo từ năm 1955.
 Tôi gặp Muông lần đầu tiên lúc tôi đang vẽ tấm tranh cổ động cho trại ở pḥng ăn của một đội ở khu B, gần văn pḥng của “Ban Thường Trực Thi Đua”.  Hắn đến để xem tôi vẽ.
 - “Tại sao anh không tự vẽ lấy tấm tranh cổ động?”  Hắn hỏi tôi.
 Tôi ngạc nhiên hỏi lại hắn.  “Sao anh hỏi tôi như vậy?”
 - “V́ tôi nghĩ anh có đủ khả năng để sáng tác tấm tranh chứ không cần phải bắt chước theo tờ báo.”  Hắn trả lời tôi.
 - “Cám ơn anh, nhưng đây là cách làm của tôi trong mọi trại cải tạo.  Điều này dễ cho tôi hơn v́ tấm tranh cổ động này không phải là của tôi, không ai có thể chụp mũ cho tôi được v́ nó không phải ư tôi.”
 - “Anh khôn quá!”
 Hắn ta hơi lùn, nhưng không ốm đói như những người khác.  Tóc hắn đă ngă xám, gần như bạc hẳn mặc dù hắn trông không có vẻ già lắm.  Hắn ta hỏi tôi nhiều điều về miền Nam, hỏi tôi làm ǵ trong chính quyền Nam Việt Nam, hỏi về gia đ́nh tôi, vân vân.  Tôi chỉ trả lời những điều chung chung v́ tôi không biết hắn có phải là “cán bộ” muốn điều tra tôi hay không.
 Tôi muốn hỏi hắn về tội trạng của hắn, án phạt mà hắn bị, nhưng tôi thấy không tiện v́ điều đó rất là bất lịch sự.  Hầu hết các phạm nhân ở khu B đều là những tội phạm h́nh sự mang những tội như giết người, cướp của, hay hiếp dâm.  Án phạt của họ thường ít nhất là mười năm.
 Phong, một phạm nhân h́nh sự vẽ chung với tôi trong pḥng nói cho tôi biết rằng Muông là một “tù nhân chính trị” chứ không phải h́nh sự.  Nhưng Phong không biết loại chính trị ǵ mà Muông bị bỏ tù!
 Muông là một trại viên làm việc ở “ban chỉ huy trại”, nuôi heo cho cán bộ; hắn đă ở trong trại quá lâu nên có thể đi bất cứ đâu cũng không cần có cán bộ canh chừng.  Đôi khi hắn ta mang cho tôi một ít thức ăn, một ít rau, và chúng tôi lần lần quen biết nhau nhiều hơn.  Hắn ta kể cho tôi nghe về những việc xảy ra ở miền Bắc sau 1954 khi bị Cộng Sản chiếm.  Tất cả những nhân viên làm cho Pháp hoặc cho Chính Phủ Quốc Gia đều bị bắt đi cải tạo, và một số lớn đă chết trong các trại.  Số c̣n lại th́ bị chuyển đến những nông trường quốc doanh và sống ở đó cho hết đời.
 Trong phong trào “nhân văn giai phẩm” vào năm 1955, hầu hết những văn thi sĩ có những tư tưởng đi ngược lại đường lối của Đảng đều bị cải tạo.  Hắn ta không phải là nghệ sĩ hay nhà văn ǵ cả mà chỉ lưu giữ những bài viết của nhóm ấy và bị người khác báo cáo.  Điều ấy khiến hắn bị trả một cái giá là cả cuộc đời hắn ở trong trại cải tạo từ năm 1955.  Hai mươi hai năm từ những trại như Lào Kai, Yên Bái, Sơn La, vân vân, hắn được chuyển về trại Tân Lập để chờ đi nông trường.  Hắn bảo rằng không bao giờ có chuyện thả các trại viên không có án ngoại trừ khi người ấy có thân nhân làm cho Cộng Sản ở cấp bậc cao, hoặc là có một “phép lạ” nào đó!
 Tôi hỏi hắn tại sao hắn không về nhà v́ tôi thấy hắn có thể đi bất cứ đâu mà không ai canh chừng.  Hắn nói rằng hắn đă về nhà hai lần rồi, nhưng không có thể trốn đâu được hay sống được trong xă hội của Cộng Sản.  Họ kiểm soát hết mọi thứ kể từ gia đ́nh chúng ta, họ hàng chúng ta, và cả hàng xóm chúng ta.
 Tôi thường xuyên gặp Muông cho đến khi hắn được chuyển đi một trại nông nghiệp của nhà nước tên là “Hồng Trường” vài tháng sau.

Chương 34. Một Ngày B́nh Thường

Ở Trại Tân Lập

Một ngày ở trại Tân Lập bắt đầu khi tiếng kẻng đánh báo thức vào buổi sáng; chúng tôi phải xếp chăn màn và đặt chúng vuông vắn gọn gàng ngay trên đầu nằm.  Họ gọi đó là “chăn vuông chiếu thẳng”, nhưng tôi nghĩ làm như thế để họ dễ kiểm soát đồ đạc mà chúng tôi dấu diếm.  Theo quy định của trại, chúng tôi không có quyền lưu giữ những vật bén nhọn v́ lư do an toàn, không được phép cầu nguyện bất cứ một tôn giáo nào, không được đọc những loại sách vở báo chí “phản động và đồi trụy”, v́ vậy ngoài những “vũ khí bén nhọn” th́ họ luôn luôn lục t́m những loại Kinh Thánh, những kinh của đạo Phật hoặc các tôn giáo khác, và mọi loại sách vở hay bản viết tay tiếng ngoại quốc hoặc không xuất bản ở các nước Cộng Sản.  Có nhiều trại viên đă bị phạt rất nặng v́ lưu giữ những thứ này.
Cán bộ trực trại đến điểm số trại viên sau khi tiếng kẻng đánh không lâu.  Ông ta đứng ở ngưỡng cửa đếm từng người đi ra, và rồi buồng trưởng báo cáo số trại viên đă đi ra ngoài, số trại viên ốm bệnh hay đang ở trong nhà cầu.  Các trại viên không ra được phải la to lên để chứng minh rằng ḿnh có hiện diện trong pḥng.
Vài trại viên tới phiên trực đi đến nhà bếp để lănh nước uống và phần ăn sáng về chia ra cho mọi người trong đội trong khi những người khác cố gắng rửa mặt đánh răng thật nhanh.  Chúng tôi thường không đủ thời gian để ăn sáng nên phải mang phần ăn theo và ăn sau.
Một hồi kẻng khác để báo tập họp trại viên ở sân phía sau cổng chính, chúng tôi có khoảng mười lăm phút vào hàng và đi ra sân tập họp chuẩn bị xuất trại đi lao động.  Sau khi trại viên ngồi xổm xuống chỗ của từng đội, cán bộ trực trại gọi từng đội một để xuất trại.  Đội trưởng đứng lên khi đội được gọi và la lớn lên “tất cả đứng dậy”, “nghiêm”, và rồi “bỏ mũ nón”.  Sau đó anh ta phải quay về phia cán bộ trực trại để báo cáo tổng số trại viên trong đội, số đi lao động, số nghỉ trong trại v́ các lư do.  Các trại viên đi theo hàng đôi qua cổng gác để xuất trại với mũ nón cầm ở tay quay ra hai bên hàng.
Trên đường đi đến nhà lô hay đến cánh đồng để làm lao động, cán bộ quản giáo sẽ cho đội trưởng biết về công việc trong ngày để chúng tôi có thể triển khai việc làm ngay khi tới nơi.
Tới hiện trường lao động, chúng tôi phải đứng nghiêm trong hàng và bỏ mũ nón ra để đội trưởng báo cáo với cán bộ bảo vệ trước khi phân công làm việc.
Từ chín đến mười giờ, chúng tôi có được mười phút giải lao để hút thuốc, ăn sáng, hay uống nước do anh nuôi nấu.  Khoảng trưa khi nghe hồi kẻng, chúng tôi phải thu dụng cụ đem vào nhà lô và xếp hàng để đội trưởng báo cán bộ bảo vệ và trở vào trại.
Đến bờ suối, cán bộ thường cho chúng tôi năm hoặc mười phút để rửa chân tay.  Đôi khi chúng tôi tranh thủ để tắm nhanh với quần áo mặc luôn trên người rồi về trại.
Trước khi nhập trại, đội trưởng lại phải báo cáo cán bộ trực trại hay cán bộ gác cổng chính.  Một vài trại viên đến phiên trực đi thẳng xuống nhà bếp để lănh phần ăn cho đội c̣n những người khác th́ về pḥng để sẳn đồ đựng chờ chia cơm nước hay làm những công việc riêng như phơi quần áo ướt, gặp bạn bè, hoặc chuẩn bị cho buổi lao động chiều.  Chúng tôi chỉ có khoảng một giờ buổi trưa trước khi nghe tiếng kẻng đánh báo thức vào buổi chiều.  Hầu hết trại viên thường cố ngủ để có sức lao động buổi chiều.  Mọi việc lại diễn ra giống như buổi sáng ngoại trừ khi ra về th́ chúng tôi được cho phép tắm giặt khoảng nửa giờ.
Đội tôi là đội làm mộc nên thường làm tại nhà lô và ít khi về trại vào buổi trưa.  Chúng tôi ngưng việc vào lúc nghe tiếng kẻng buổi trưa, đi tắm giặt ở suối gần đó, và ăn trưa.  Anh nuôi đă vào trại để lănh phần ăn trưa và chia ra trước cho mỗi người, do đó chúng tôi thường có nhiều thời gian nghỉ trưa hơn những đội khác.  Tôi thường ngủ ngay trên cái ghế bào của tôi vào buổi trưa.  Khi nghe tiếng kẻng báo thức buổi chiều, chúng tôi thức dậy để chuẩn bị lao động trong khi các đội khác phải tập họp trong sân trại.
Chúng tôi phải điểm nhập buồng vào khoảng bảy giờ chiều.  Vài người đem phần ăn chiều vào trong pḥng để ăn v́ họ không đủ thời giờ ăn uống nếu họ muốn làm việc ǵ đó.  Khi nghe tiếng kẻng báo điểm buồng, chúng tôi phải xếp hàng sẵn để đợi cán bộ trực trại vào.  Buồng trưởng báo cáo tổng số trại viên trong buồng, số nhập buồng, và số trại viên khác với những lư do.  Một ngày làm việc đă qua, nhưng một ngày ở trong trại vẫn chưa chấm dứt!  Chúng tôi c̣n phải ngồi sinh hoạt trong đội để phê b́nh và tự phê b́nh về những mặt yếu, mặt mạnh trong ngày, trong tuần hay trong tháng.  Những buổi họp này thường trở nên rất nghiêm trọng v́ cán bộ hay ban thi đua thường đứng bên ngoài để nghe lén và góp ư.  Chúng tôi thường chỉ được ngủ khi đèn đă tắt.
Bốn trăm mười trại viên đến từ trại Thủ Đức là những trại viên đầu tiên ở phân trại K5, trại cải tạo Tân Lập.  Sau cuộc tuyệt thực, khoảng mười trại viên bị đưa đi biệt giam ở K1, số c̣n lại ở trong hai căn nhà ở khu A.  Khoảng một trăm trại viên trong mỗi pḥng giam có nghĩa là chúng tôi mỗi người có một khoảng trống khoảng vừa một chiếc chiếu cói tám tấc.  Đầu năm 1980, trại viên ở các trại phía Bắc gần biên giới với Trung quốc được chuyển về trại Tân Lập v́ Bộ Đội Trung Quốc tấn công Việt Nam.  Hầu hết các K ở trại Tân Lập đều đầy trại viên!  K5 có khi đạt đến con số hai trăm trại viên trong mỗi pḥng giam!  Khoảng bốn tấc bề ngang cho mỗi trại viên, chúng tôi chỉ c̣n đủ chỗ để nằm nghiêng chứ không thể nằm ngữa được, và phải quay đầu nằm ngược chiều nhau để tránh khỏi đạp vào nhau trong khi ngủ.  Có người c̣n phải ngủ cả dưới sàn nhà.  Nhưng điều đó c̣n không ghê gớm bằng điều kiện vệ sinh của pḥng giam.  Hai trăm người với một cái lỗ cầu duy nhất, quả là ghê gớm!
Rệp đầy dẫy khắp nơi, trong các tấm ván lót sàn ngủ, trong những lỗ nhỏ trên tường, trong chiếu, mùng, chăn, và ngay cả trong quần áo chúng tôi.  Tôi đă phủ tấm pon-sô phía dưới chiếc chiếu mà chúng cũng có thể leo lên mùng và nhảy dù xuống ḿnh tôi, tôi không thể nào tránh chúng được, cũng không thể giết hết chúng được.  Vài người mang ván nằm ra để đập và giết rệp, nhưng chúng lại tiếp tục sinh sôi nẩy nở.  Ruồi, muỗi, rệp, và mùi hôi thối, thật là một địa ngục của trần gian!  Vào buổi sáng khi điểm buồng, tên cán bộ trực trại không dám đứng ngay cửa pḥng mà đứng núp vào vách để tránh mùi hôi thúi từ trong pḥng bay ra.
Không đủ chổ để trại viên chứa đồ đạc, chúng tôi phải làm những căn lều ở sân cạnh mỗi pḥng giam.  Sân càng chật hẹp hơn.  Trong những ngày nghỉ, cái sân trông giống như một cái chợ trời nhất là khi trại viên bày đồ đạc của họ ra để phơi.  Khi điểm buồng vào pḥng, chúng tôi phải đứng trên hàng hiên.
Vào lúc ấy, tôi làm việc với cương vị là phụ trách về kỷ thuật cho đội mộc; trong những ngày nghỉ vài trại viên trong đội cùng với tôi thường hay nói với cán bộ quản giáo để lănh ra nhà lô lao động thay v́ nghỉ ở trong trại.  Không có nhiều công việc làm trong những hôm ấy; nó giúp tôi tránh được t́nh trạng đông đúc trong trại và có dịp để tắm giặt.  Nước cung cấp không thế nào đủ cho trại v́ máy bơm không đủ công suất để bơm cho quá nhiều trại viên.  Thêm vào đó, khi làm việc như thế, nhất là những công việc riêng cho các cán bộ, chúng tôi có thể xin được món này món nọ rất cần cho những người ít được tiếp tế như chúng tôi.  Ngày này qua ngày khác, lâu dần việc làm lao động trong ngày nghỉ của chúng tôi trở thành một thông lệ, chúng tôi thường đi làm hầu như hàng ngày.

 

 

Chương 35. Tết ở Trại Tân Lập

Ba ngày Tết ở trại cải tạo Tân Lập là những ngày mà trại viên mong đợi nhất v́ khỏi phải đi lao động mà c̣n có những bữa ăn “thịnh soạn” nữa!  Để chuẩn bị cho những ngày Tết này, trại phải làm nhiều việc trước đó hàng tháng.  “Ban Thi Đua” và cái gọi là “Bộ phận Văn Hóa” -những người có nhiệm vụ trang trí trong trại và ngoài khu cơ quan nhân những ngày lễ- đă phải tổ chức một nhóm trại viên có những năng khiếu đặc biệt để làm những công việc chuẩn bị cho Tết.  Thường th́ có ba nhóm trại viên phục vụ Tết trong trại, đó là nhóm trang trí, đội múa lân, và đội văn nghệ.
Hàng năm ở trại Tân Lập, nếu không có một công tŕnh xây dựng quan trọng nào th́ tôi được bổ sung vào nhóm trang trí cho Tết.  Chúng tôi sẽ làm đèn lồng, kẻ khẩu hiệu chúc mừng năm mới, sơn vẽ đầu lân cho đội múa lân, và đôi khi phụ trang trí sân khấu cho đội văn nghệ tŕnh diễn.
Vật liệu để trang trí rất là hiếm hoi ở trong trại, do đó tôi phải tận dụng tất cả những ǵ có thể dùng được.  Đèn lồng, thường là loại đèn sáu cạnh gọi là “đèn kéo quân” làm bằng sườn tre, nhưng chúng tôi không có cả dây để cột tre lại nữa, do đó chúng tôi phải thu nhặt bao cát hay bao bố để tháo lấy dây cột.  Giấy màu th́ phải nhuộm những loại giấy ǵ có thể dùng được như giấy báo, bao xi măng, tập sách đă xài rồi, vân vân.  Màu đỏ th́ dùng thuốc đỏ ở bệnh xá hay nhiều khi phải xay nát gạch ra để trộn với nước, màu xanh và tím th́ dùng mực màu, màu vàng th́ dùng thuốc quinine ḥa tan trong nước, màu đen th́ dùng lọ nồi hay than.  Cọ vẽ th́ làm bằng thanh tre giă nát một đầu hay dùng đuôi heo xin ở nhà bếp.  Mọi thứ đều phải “khắc phục” như họ thường nói!  Ban thi đua chỉ đưa riêng cho tôi một hộp màu nước để vẽ hoa trên những tấm giấy trắng dán sáu mặt của đèn lồng.  Chính v́ lư do đó mà công việc trông rất dễ dàng nhưng phải mất rất nhiều thời gian.
Điều quan trọng nhất đối với những trại viên được bổ sung vào nhóm chuẩn bị cho ngày Tết là họ khỏi phải đi lao động mà đôi khi c̣n được những phần ăn thêm – mà chúng tôi thường dùng cái từ “bồi dưỡng”- như khoai ḿ, bo bo, hay đôi khi rau.  Tôi thường là trưởng nhóm trang trí, do đó tôi có thể hỏi xin khoai ḿ để giă ra nấu hồ dán.  Ban thi đua thường đưa cho tôi nhiều hơn số cần thiết và phần dư ra chúng tôi chia nhau trong nhóm.
Trong trại th́ mọi cái đều có một mục đích rơ ràng là kiếm ăn!  Đó là phương cách để sinh tồn!  Đôi khi tôi cũng bị một chút phân vân về việc này v́ tôi được làm những việc nhẹ nhàng mà lại có “bồi dưỡng” trong khi những bạn bè khác th́ phải đi lao động mà không có ǵ cả.  Nhưng trong hoàn cảnh ấy th́ phải làm sao đây?  Phương cách để sống c̣n trong trại là phải t́m mọi cách để sống miễn là không làm hại ai hết là được rồi!
Điều khác biệt chính yếu của việc chuẩn bị cho ngày Tết ở trại miền Bắc và trại ở miền Nam là ở miền Nam các trại viên làm v́ họ thích làm, c̣n ở miền Bắc th́ họ làm v́ họ muốn tránh né lao động!  Tôi hiểu thế, nên tôi không bao giờ vội vă trong việc làm để mọi người đều có thể kéo dài được thời gian nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt.
Trong những ngày Tết, thường chúng tôi được nghỉ lao động trong ba ngày.  Thời tiết miền bắc rất lạnh nên họ cho phép chúng tôi có một cái ḷ trong pḥng giam để nấu nướng và để sưởi ấm, coi như đó là một ân huệ của trại trong những ngày đầu năm mới.  Ḷ thường được làm bằng những cái thùng sắt cũ đốt bằng than bùn trộn với đất.  Nó khiến căn pḥng giam đă dơ dáy sẳn rồi lại thêm đầy bụi than, nhưng không ai c̣n chú ư đến việc ấy nữa bởi v́ có dơ thêm một chút th́ cũng vậy thôi.  Ngoài ra chúng tôi c̣n có thể sưởi ấm thêm một ít và có thể nấu nướng ǵ đó ngay cả chỉ nấu một ít nước sôi để pha trà.
Những phần ăn đặc biệt cũng được phát cho chúng tôi trong những ngày này như cơm trắng không độn, thịt heo, thịt trâu, bánh chưng, và kẹo mứt.  Vài người bị đói quanh năm không thể kềm chế được đă ăn quá nhiều trong một lúc nên bị ói mửa và thổ tả đầy nhà cầu.  Căn pḥng càng lúc càng dơ bẩn hơn!
Trong những ngày đầu năm, vài trại viên cũng c̣n cố giữ phong tục.  Họ mặc áo quần tốt nhất của họ rồi đi gặp gở bạn bè để chúc tụng nhau dù rằng họ vẫn gặp nhau hàng ngày.
Đêm đầu năm, buổi tŕnh diễn văn nghệ thường được tổ chức ở hội trường do đội văn nghệ đảm trách, thường là tuồng cải lương, một loại tuồng của miền Nam.  Không chỉ có sự tham dự của trại viên mà cả các cán bộ và gia đ́nh và đôi khi cả dân chúng vùng xung quanh trại cũng vào xem.  Ở cái vùng hẻo lánh này th́ chẳng có ǵ để họ vui Xuân ngoài việc vào xem cải lương do trại viên tŕnh diễn, đặc biệt là được xem người miền Nam ca cổ nhạc Nam bộ.
Khi chúng tôi mới đến trại Tân Lập, chúng tôi được xem tuồng cải lương tên là “Bà Mẹ Sông Hồng” do các phạm nhân h́nh sự ở phân trại K1 tŕnh diễn.  V́ là người miền Bắc ca vọng cổ miền Nam nên giọng ca nghe rất buồn cười.  Vài tháng sau, ban giám thị trại đă phải cho thành lập một đội văn nghệ gồm những trại viên có những khả năng đặc biệt như Tánh, người có thể đàn được nhiều nhạc cụ như guitar, đàn violon, đàn tranh, đàn c̣, đàn nguyệt; như Dũng, người giả gái rất giống và rất đẹp nữa, vân vân.  Đội văn nghệ thường phải đi lao động phụ với các đội khác trong những công việc lao động hàng ngày và chỉ tập để tŕnh diễn trong những dịp như Tết hay ngày lễ độc lập của VC.
Một bộ phận trại viên trong trại mà tôi muốn nói thêm ở đây là các phạm nhân h́nh sự.  Mọi việc diễn ra hoàn toàn khác với chúng tôi trong các pḥng giam tội nhân h́nh sự trong ba ngày Tết.  Họ treo mùng và chiếu suốt ngày để ngăn riêng chỗ của mỗi người giống như là mỗi người có một pḥng riêng trong pḥng giam.  Họ đặt trà, bánh mứt, thuốc lào, mọi thứ mà họ có được ở ngay chỗ nằm.  Căn pḥng giam trông rất tối tăm và mốc thếch với những đồ đạc dơ bẩn của họ.  Tôi có đến đó một lần khi tôi làm với Phong, một phạm nhân h́nh sự làm trong bộ phận văn hóa.
Ngoài việc không phải lao động ba ngày và có nhiều thức ăn ra, Tết ở trại Tân Lập khiến tôi rất nhớ gia đ́nh.  Kể từ năm 1980, khi trại quá đông trại viên, Tết c̣n là những ngày ghê gớm đối với chúng tôi v́ nước không cung cấp đủ cho các trại viên trong trại.  Gần hai ngàn trại viên mà chỉ có một cái máy bơm cũ kỹ, lúc th́ chạy được lúc th́ không quả là một điều kinh khủng!  Không ai thích đi lao động, nhưng trong điều kiện ấy th́ chẳng thà đi ra ngoài để được tắm giặt ở suối c̣n hơn là ở dơ trong trại.  Vài trại viên trong đội 10 cùng với tôi thường hỏi cán bộ quản giáo đội để ra nhà lô làm việc, và trên tất cả là để tránh sự đông đúc và dơ bẩn ở trong trại.

 

 

Chương 36. Tôi Nằm Bệnh Xá.

Chúng ta có thể xem bệnh xá của trại cải tạo Tân Lập như là một nhà xác cũng là đúng v́ nó không có thuốc men ǵ cho bệnh nhân.  Đó chỉ là nơi để các trại viên bệnh hoạn nằm chờ Thần Chết hoặc chờ một Phép Lạ mà thôi.  Chỉ có những cái gọi là “thuốc dân tộc”, cỏ khô, rễ và lá cây khô, và thuốc đỏ cho những người bị vết thương!  Và quan trọng nhất là cũng không có một y sĩ hay người nào có một chút kiến thức về y học cả.
Bệnh xá là một căn nhà gạch duy nhất trong trại có  mái ngói với mục đích để tŕnh diễn khi có khách đến thăm trại.  Đi vào từ cổng trại th́ nó nằm phía góc phải gần với hàng rào trại; bao bọc bởi hàng rào kẽm gai và cây dâu tằm ăn trồng gần nhau.  Cây dâu tằm c̣n được dùng làm thuốc ngủ nữa.
Trong một khu vực trơ trụi của trại giam th́ màu xanh của khu vực bệnh xá được nổi bật lên như một điểm tương phản trong một bức tranh đồng màu.  V́ lư do an ninh, cây cối và bụi rậm không được trồng trong khu vực trại ngoài khu bệnh xá và một ít ở khu bếp.  Trong khu bệnh xá, người ta trồng rau và cây thuốc nam, trồng cây đu đủ để làm thức ăn cho bệnh nhân và vài loại hoa để làm cảnh.
Nhân viên làm việc trong bệnh xá là những trại viên được Ban Giám Thị tín nhiệm chứ không cần phải có một kiến thức ǵ về y học.  Khi tôi mới đến trại th́ Khôi, một phạm nhân h́nh sự mang tội giết người trong ban Thường Trực Thi Đua làm ở đấy.  Hắn ta là ông vua trong bệnh xá; hắn có thể cho phép bất cứ trại viên nào được nghỉ bệnh khỏi phải đi lao động để được đút lót phẩm vật.  Khi hắn ta bị chuyển đi K1 th́ vài trại viên khác vào làm trong bệnh xá, và một trung úy cán bộ phụ trách ở đó.
Vào mùa Đông năm 1978, cuối cùng th́ tôi cũng bị kiệt sức!  Mặc dù tôi không làm những công việc quá nặng nhọc nhưng tôi cũng vẫn không c̣n sức đề kháng nữa.  Mọi năng lượng dự trữ đều đă cạn.  Tôi hầu như là một bộ xương biết đi mà thôi!  Mỗi sáng thức dậy tôi bước xuống các bậc của tầng gác nằm một cách rất khó khăn.  Một hôm th́ tôi không c̣n gượng dậy được nữa, và các bạn tôi đă khiêng tôi xuống bệnh xá.  Trí óc tôi lúc đó vẫn tỉnh, nhưng tôi phải giả như mê man v́ nếu không th́ họ sẽ buộc tôi phải đi lao động.  Không có ai là bác sĩ, do đó tôi không sợ ai phát hiện được tôi đang giả vờ, và cũng không có thuốc men ǵ ở bệnh xá nên tôi cũng không sợ bị uống phạm thuốc.
Mọi người nghĩ tôi đang chết dần ṃn.  Họ đặt tôi nằm trên một chiếc giường ở gần cửa sổ phía trước trong bệnh xá.  Có hai dăy khoảng hai mươi chiếc giường trong pḥng ấy.  Căn pḥng tất nhiên là sạch sẽ hơn pḥng giam rất nhiều v́ chỉ có khoảng trên dưới mười bệnh nhân mà lại được dọn vệ sinh hàng ngày.  Nhà cầu th́ nằm bên ngoài.  Ngoài hai trại viên được ban giám thị cho phép làm việc ở đó ra th́ các bệnh nhân khác đều hầu như kiệt sức hay gần chết, do đó họ không để ư nhiều đến vấn đề an ninh.
Để trị bệnh cho tôi th́ họ cho tôi uống những viên thuốc bột sâm dại mà họ thu nhặt ở trong rừng và trồng trong bệnh xá.  Điều quan trọng là tôi được nghỉ ngơi không phải làm ǵ và c̣n được ăn uống khá hơn với cơm trắng và nhiều rau.
Vài người bạn của tôi đến thăm, nhưng tôi vờ không nhận ra họ.  Tôi nghe những người làm trong bệnh xá nói với tên cán bộ phụ trách rằng tôi bị kiệt sức về tinh thần lẫn thể xác, do đó tôi hơi bị thần kinh!  Họ cần giữ tôi ở đó để đoán bệnh!  Giống như những trại viên khác bị kiệt lực, không ai có thể sống sót được, nên họ nghĩ sớm muộn ǵ th́ tôi cũng sẽ chết mà thôi.
Trong những ngày đầu nh́n thấy các bệnh nhân lần lượt chết, tôi nghĩ chắc tôi cũng không tránh khỏi.  Tôi cảm thấy mất tinh thần.  Nhưng khoảng một tuần sau, tôi cảm thấy ḿnh khá hơn.  Cái bản năng sinh tồn lại khiến tôi chiến đấu với chính tôi.  Tôi cố dấu sự hồi tỉnh của tôi đi, nhưng trong thâm tâm th́ tôi biết rằng tôi sẽ qua được cơn khó khăn này.  Tôi cố làm sao để ở được trong bệnh xá càng lâu càng tốt.  Chỉ có ở đây mới cung cấp cho tôi được những bữa ăn khá hơn một chút và không phải lao động!  Tôi đă không bị bệnh ǵ nặng mà chỉ bị thiếu ăn.
Đầu tiên tôi nằm suốt ngày suốt đêm khoảng một tuần lễ.  Mỗi khi tỉnh dậy, tôi làm bộ như đang lầm bầm ǵ đó mà tôi không nhớ được.  Đôi khi tôi hát nhỏ mấy câu hát tự nhiên đến với tôi.  Tôi nghe họ nói với cán bộ phụ trách bệnh xá rằng tôi bị thần kinh nhưng không có triệu chứng ǵ nguy hiểm!  Điều này tốt cho tôi v́ tôi có thể ở bệnh xá chứ không bị cách ly.
Một tháng sau tôi cảm thấy khỏe hơn mặc dù chỉ uống mấy viên thuốc làm bằng sâm dại và uống nước dâu tằm như là một phương thuốc an thần.  Tôi biết rằng tôi không thể nằm măi, do đó tôi giả vờ nửa tỉnh nửa mê và tự ḿnh kiềm chế ḿnh trong sự giả vờ ấy.  Tôi nhận biết sự việc hay vờ như không biết ǵ cả tùy theo ư của tôi.  Hàng ngày, khi họ cho rằng tôi tỉnh th́ họ bảo tôi làm những việc lặt vặt như lau sàn nhà, nhặt rau cho bửa ăn của bệnh nhân.  Khi họ thấy tôi đi tới lui và lầm bầm cái ǵ đó th́ họ không bảo tôi làm ǵ cả.  Đôi khi tôi cảm thấy buồn cười cho những hành động của chính ḿnh rồi tự nhiên bật thành tiếng cười giống như tôi đang điên thật vậy.  Mọi người cũng tưởng rằng tôi điên thật!  Nhưng mà tôi cần ǵ?  Tôi chỉ muốn lấy lại sức trước khi phải trở về buồng giam.  Tôi cũng không cảm thấy mắc cỡ chút nào bởi v́ tôi nghĩ rằng ḿnh phải thực hiện câu cách ngôn của người Việt rằng “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma th́ mặc áo giấy” để giả dại qua ải trong lúc này.
Ba tháng sống trong bệnh xá giúp tôi rất nhiều sau này, nhưng tôi lại phải chứng kiến biết nhau sự đau khổ của những trại viên.  Hầu hết những trại viên bị bệnh đưa vào đó đều đă chết v́ đuối sức, chết v́ bệnh mà không có thuốc và đói mà không có ǵ để ăn và không được nghỉ ngơi.  Vài bệnh trạng thông thường dễ dàng giết chết họ bởi v́ họ không c̣n sức đề kháng nào cả, và cũng không có ǵ để chửa trị.  Một trại viên bị vết thương làm chứng uốn ván đă bị bỏ mặc cho chết một cách đau đớn.  Nhiều trại viên bị thổ tả bị chết v́ chỉ uống mấy thứ cỏ dại mà thôi.  Vài người khác bị thương trong lúc làm lao động đă chết v́ nhiễm trùng mà không có thuốc kháng sinh.  Một trại viên bị các cán bộ đánh nằm chết ói máu bên cạnh giường tôi.  Tôi không nhớ hết đă có bao nhiêu người chết trong thời gian ba tháng mà tôi nằm trong bệnh xá, nhưng tôi nghĩ cái danh từ “nhà xác” được dùng cho bệnh xá quả thật không sai chút nào!
Trong thời gian nằm ở đó, tôi c̣n được chứng kiến một hoạt cảnh rất lạ lùng.  Một hôm nọ có một phái đoàn của Bộ Nội Vụ đến thăm trại, các cán bộ trong trại đă dời hết những bênh nhân nặng đi đâu mất và thế vào bằng những trại viên khác.  Tôi được ở lại v́ lúc đó tôi cũng đă khá hơn nhiều.  Sau đó họ dọn dẹp sạch sẽ bệnh xá rồi đặt ở mỗi đầu giường một hộp sữa đặc, một bộ quần áo tù mới, một gói đường với lời dặn là chúng tôi không được dùng những thứ đó mà chỉ để biểu diễn thôi.  Khi phái đoàn đă đi khỏi trại, họ thu lại hết các thứ ấy rồi mới đưa các bệnh nhân trở về.  Đó chỉ mới là phái đoàn của VC; nếu là một phái đoàn khác th́ không biết họ sẽ biểu diễn tới mức nào?
Tôi rất là may mắn đă xuất khỏi bệnh xá một cách lành lặn.  Những “nhân viên bệnh xá” và ông “cán bộ bác sĩ” phụ trách ở đó cho tôi được trở về đội 10 với đề nghị là tôi phải thường xuyên trở lại để tái khám hàng tuần (mặc dù họ không biết khám bệnh là thế nào!)  Họ rất hănh diện là đă trị cho tôi hết bệnh mà chỉ cần dùng các thứ “thuốc dân tộc”.
Kể từ khi đó, tôi chỉ làm việc như một trại viên coi về kỷ thuật xây dựng cho trại ở đội 10.  Tôi không phải leo lên mái nhà hay khuân vác đồ nặng nề nữa.

 

 

Chương 37. Làm Thợ Vẽ.

Những tấm h́nh mà tôi vẽ vợ con tôi đă đưa tôi đến với công việc vẽ vời ở trại cải tạo Tân Lập.  Khi khám đồ đạc tôi, các thường trực thi đua và cán bộ đă trông thấy chúng và sau đó không lâu tôi được gọi lên để làm điều mà họ gọi là làm “văn hóa” -vẽ và kẻ chữ.
Lần đầu tiên th́ Long, người đă tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài G̣n cùng với tôi phải vẽ hai tấm tranh cổ động cho phong trào thi đua cải tạo của trại viên.  Một tấm lấy đề tài là “lao động” và một có đề tài “học tập”.  Long đă chọn đề tài “lao động” và tự vẽ phát lấy tấm tranh theo ư anh ta; riêng tôi th́ hỏi Bích, trưởng ban thường trực thi đua đưa tôi h́nh trong một tờ báo và vẽ theo đó.  Tôi cảm thấy không an tâm khi vẽ tranh cổ động tự ư ḿnh v́ “họ” thường có ư nghĩ về tấm tranh ấy theo cái nh́n của họ, nhất là đối với loại tranh có tính cách tuyên truyền.
Tấm tranh cổ động đầu tiên của tôi rất là đơn giản: một cây bút cắm vào một b́nh mực và một quyển sách mở rộng nằm trên một cái bàn với một người ngồi phía sau như hậu cảnh.  Tấm h́nh ở trong tờ báo vẽ theo kiểu đường nét rơ ràng, do đó tôi chỉ có việc phóng đại nó ra cho vừa với khổ của khung vải.
Với một khả năng về nghệ thuật, Long phát tấm tranh của anh ta rất cẩn thận.  Long đă chọn một đề tài khá phức tạp v́ việc “lao động” trong trại có nhiều ngành nghề khác nhau.  Anh ta đă tập trung vào đề tài chăn nuôi: Hai trại viên trong bộ đồng phục tù đang cho heo và gà vịt ăn.  Long lại không vẽ bằng đường nét mà vẽ theo h́nh khối với những màu sắc tương phản để biểu diễn cấu h́nh của tấm tranh.  Đó rơ ràng là một tấm tranh rất xuất sắc, nhưng tôi lại nghĩ chưa chắc ǵ nó thích hợp với những người không hề biết và cũng không cần biết ǵ về nghệ thuật!
Tôi cũng muốn kể lại rằng việc vẽ vời ở trong trại, nhất là trại Tân Lập không đơn giản như ta nghĩ.  Để có được tấm khung vải, chúng tôi đă phải tự làm khung lấy, và lại phải nối những cái mền của những trại viên được thả ra để căng khung vải.  Sau đó, chúng tôi phải cà củ khoai ḿ ra để nấu hồ trộn với phèn chua để tránh bị lên men rồi phết lên khung vải trước khi bắt đầu vẽ.  Việc này dù sao cũng là một công việc vui v́ chúng tôi có thể có thêm khoai ḿ để ăn.  Màu vẽ lại cũng là một vấn đề.  Chúng tôi không có ǵ cả ngoài những ǵ mà chúng tôi có thể thu lượm được trong trại: lọ chảo trộn với dầu hôi để làm màu đen, mực xanh và tím, thuốc đỏ làm màu đỏ, vôi bột làm màu trắng, thuốc ki-nin làm màu vàng, vân vân.  Ngoài ra phải lấy đuôi heo hay thanh tre để làm cọ vẽ.  Mọi cái đều phải “khắc phục khó khăn” như họ thường nói!
Hai tấm tranh cổ động khổ hai thước rưỡi, ba thước được hoàn tất sau một tháng trường.  Rồi lại đến lúc để duyệt trước khi cho treo lên!  Ban Giám Thị trại, Hội Đồng Cán Bộ, và Ban Thi Đua đă họp trong pḥng mà chúng tôi để hai bức tranh để phê b́nh.  Đối bức tranh của Long, họ nói rằng nó rất đẹp, nhưng h́nh ảnh của hai trại viên trông rất buồn, điều này có nghĩa là Long vẫn chưa an tâm cải tạo và không tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước!  Đối với tấm tranh của tôi th́ họ bảo rằng cái bút cắm thẳng vào b́nh mực trông giống như con dao đâm vào tim!  Bích, trưởng ban thi đua nói rằng tấm tranh của tôi được vẽ từ một tấm tranh cổ động trong tờ nhật báo “Nhân Dân”, do đó họ không có thêm phê b́nh nào khác.
Sau đó Long bị đưa sang K1 để nhốt biệt giam và tấm tranh của anh ta th́ được Phong, một phạm nhân h́nh sự làm trong bộ phận văn hóa sửa lại.  Tôi không biết rơ tại sao họ lại nhốt kỷ luật Long, v́ bức tranh hay v́ những hành động trước đó của anh ta.  Long là người đă góp phần trong việc đánh ăn ten trên chiếc tàu “Sông Hương” khi chúng tôi được đưa từ Nam ra Bắc.  Đó là một bài học cho tôi ở trong trại.  Kể từ đó trở đi, tôi không bao giờ tự sáng tạo bất cứ tấm tranh nào.  Khi nào làm công việc “văn hóa”, tôi luôn luôn đ̣i hỏi những h́nh mẫu và giử những bản mẫu ấy để tự đề pḥng.
Một lần khác, họ bảo tôi vẽ chân dung Hồ Chí Minh, tôi cố tránh bằng cách bảo rằng tôi không quen vẽ chân dung mà chỉ mới học vẽ h́nh vợ con tôi mà thôi.  Họ bảo Long vẽ chân dung Hồ Chí Minh c̣n tôi th́ vẽ chân dung của Các Mác và Lê Nin.  Tôi chỉ vẽ đen trắng bằng than mà thôi và bảo với họ rằng tôi không biết vẽ chân dung bằng màu.  Long đă vẽ h́nh của Hồ Chí Minh rất đẹp, nhưng anh ta vẫn bị phê b́nh là màu da của Hồ trong tranh giống như một xác chết!  Màu sắc tự chế lấy không thể tạo được tấm tranh như ư họ muốn là “sống động”.  May mắn là lần ấy Long chỉ sửa lại thôi chứ không bị kiên giam.
Làm công việc “văn hóa” trong trại đôi khi cũng nguy hiểm, nhưng lại là một việc nhẹ nhàng và có lúc cũng có những “bồi dưỡng”.  Trong những ngày lễ của VC như ngày Độc Lập, ngày Công An Nhân Dân, hay ngày Quân Đội Nhân Dân, công việc của tôi là cắt chữ dán vào vải để làm khẩu hiệu, và rồi chúng tôi đem treo chúng trong hội trường cùng với vài thứ trang hoàng khác.  Sau khi hoàn tất công việc, chúng tôi thường được một bữa ăn đặc biệt, điều này rất có ích cho chúng tôi trong t́nh trạng thiếu ăn trong trại.
Tôi luôn nhớ ngày Giáng Sinh năm 1977, ngày lễ Giáng Sinh đầu tiên ở trại Tân Lập.  Sáng sớm ngày 24 tháng chạp năm 1977, thường trực thi đua bảo tôi đi trang trí cho khu cơ quan.  Tôi rất ngạc nhiên v́ VC không bao giờ cho phép chúng tôi có bất kỳ một thứ lễ nghi tôn giáo nào trong trại.  Tôi không tin là họ tổ chức Lễ Giáng Sinh!  Nhưng sau đó th́ tôi khám phá ra rằng họ ăn mừng ngày “Công An Nhân Dân” của họ chứ không phải là ngày lễ Giáng sinh!
Sau khi hoàn tất công việc, họ cho tôi một ít kẹo đậu phọng và đưa tôi trở vô trại.  Mọi thứ đều đă thay đổi.  Để ngăn ngừa trại viên ăn mừng Giáng Sinh, họ đă khám đồ đạc trại viên rồi biên chế để xáo trộn trại viên trong các đội với nhau.  Tôi vẫn ở lại đội 10, đội làm mộc, và các bạn tôi đă giúp tôi mang đồ đạc sang pḥng giam khác.  Tối hôm đó chúng tôi có được một ít kẹo của họ cho để ăn lễ Giáng Sinh!
Sau khi được tha ra khỏi biệt giam, Long làm việc trong bộ phận văn hóa c̣n tôi th́ vẫn ở đội 10.  Tôi chỉ làm công tác “văn hóa” trong những ngày lễ hoặc khi họ cần.  Ngoài ra th́ tôi cũng không thích làm việc ấy một cách thường trực v́ nó khiến tôi phải ở măi trong trại.  Làm công việc xây dựng khiến tôi cảm thấy có chút ǵ đó tự do hơn mặc dù có hơi nặng nề hơn.

 

 

Chương 38. Vợ Tôi Đến Thăm Nuôi

 Năm 1978, sau gần hai năm ở trại Tân Lập, tôi gần như kiệt sức!  Tôi không c̣n nhận được ra ḿnh nữa khi nh́n vào gương.  Tóc thưa hẳn đi v́ nước suối A-Mai có chất độc ǵ đó đă làm nó rụng quá nhiều.  Mặt mũi th́ xanh xao và hai quai càm th́ lại bạnh ra do chất độc của acid cyanhydric trong khoai ḿ ăn hàng ngày chất chứa trong tuyến dưới càm.  Tôi gầy rộc hẳn đi mặc dù trước kia th́ tôi cũng vốn đă gầy rồi.
 Nh́n các bạn lần lượt ngă ra chết, tôi tự hỏi liệu ḿnh có thể vượt qua được cơn khó khăn này hay không.  Tôi không sợ chết nữa bởi v́ điều đó chỉ làm tâm hồn và thể xác tôi trở nên thanh thản hơn mà thôi.  Cái đói hành hạ tôi hàng ngày.  Do sự thiếu ăn và do ăn uống thiếu dinh dưởng, tôi luôn cảm thấy đói ngay cả sau khi vừa ăn xong.  Tôi nghĩ tôi sẽ chết trong vài ngày, vài tuần, hay vài tháng nửa mà thôi, nhưng tôi chẳng quan tâm đến điều ấy nữa.  Hàng đêm, tôi chỉ mong ḿnh ngủ trong b́nh yên và không bao giờ thức dậy vào sáng hôm sau để khỏi phải chịu đựng cái đau khổ này nữa.  Nhưng tôi không chết!  Tôi nghĩ chắc là tôi đă mắc nợ quá nhiều trong tiền kiếp nên kiếp này phải trả cho dứt.  Dân tộc ḿnh có cái tội là đă diệt chủng một dân tộc Chiêm Thành ở phía Nam của Việt Nam nên chúng tôi phải trả món nợ ấy.
 Kể từ tháng tư năm 1977, khi chúng tôi đến trại Tân Lập cho đến tháng sáu năm 1978, chúng tôi không được phép viết cho gia đ́nh một chữ nào.  Sau này gia đ́nh tôi kể lại rằng họ tưởng tôi đă chết ở một nơi nào đó ở miền Bắc rồi.  Họ đă nhờ những người quen biết làm trong chính quyền của VC hỏi dùm, nhưng không ai biết ǵ về tôi cho đến khi nhận được thư tôi hơn một năm sau.
 Cuối năm 1978, sau khi thấy chúng tôi chết quá nhiều, VC mới cho chúng tôi được nhận quà của gia đ́nh với quy định năm kí lô mỗi ba tháng và với một số giới hạn như không được gởi thực phẩm khô, gia vị và muối để đề pḥng trốn trại.  Tôi đă nhận được gói quà đầu tiên của gia đ́nh gồm những món rất thông thường nhưng gói ghém biết bao t́nh thương: mắm ruốc, muối mè, bột gạo lứt, đường đen, và vài loại thuốc men để trị cảm cúm.  Qua bức thư của gia đ́nh, tôi biết được gia đ́nh tôi cũng đă rất nghèo khi họ nói rằng đó cũng là t́nh trạng chung của đất nước sau chiến tranh.  Họ đă phải chia xẻ cảnh nghèo khổ ấy cho tôi.
 Những vật trông rất tầm thường đối với xă hội bên ngoài nhưng rất quư giá đối với trại viên trong trại cải tạo, nó có thể giúp chúng tôi vượt qua được bao nhiêu là sự khó khăn ngay cả nó có thể giúp chúng tôi sống sót được nữa.  Giống như cây cối bị khô hạn lâu ngày, một cơn mưa rào có thể làm nó xanh tươi lại!  Với một ít thêm vào bữa ăn hàng ngày khiến sức khỏe chúng tôi phục hồi rất nhanh; một vài loại thuốc thông thường như Aspirine, Tylenol, Vitamin, có thể trị được những bệnh đă tiềm ẩn lâu ngày v́ chỉ uống mấy thứ “thuốc dân tộc” -những thứ lá cây rừng phơi khô-
 Đầu năm 1979, gia đ́nh trại viên được phép đến trại để thăm nuôi, nhưng rất hiếm hoi.  Chỉ một vài gia đ́nh có thân nhân ở miền Bắc là đến được v́ phương tiện di chuyển từ Nam ra Bắc c̣n rất khó khăn và hạn chế.  Để đến trại từ Sài G̣n, thân nhân chúng tôi phải mất hàng mười ngày cho một chuyến đi!  Họ c̣n phải xếp hàng đợi thật lâu mới có thể mua được vé xe lửa, đôi khi phải mất hai ba ngày.  Từ Sài G̣n đến Hà Nội, xe lửa chạy mất ba bốn ngày.  Rồi lại chờ “tầu chợ” (loại xe lửa đường ngắn) ở ga Hàng Cỏ để đến ga Ấm Thượng, mất thêm hai ngày nữa.  Từ ga Ấm Thượng đến Bến Ngọc phải đi đ̣ dọc theo sông Hồng và suối A-Mai.  Đi vào trại từ Bến Ngọc, gia đ́nh chúng tôi không có phương tiện nào khác ngoài cách đi bộ mười lăm cây số với đồ đạc nặng nề trên vai.  Cho đến khi có nhiều thân nhân đến thăm nuôi, trại mới dùng một chiếc xe ngựa để đưa rước.
 Bên cạnh sự khó khăn về di chuyển, cướp bóc dọc đường c̣n là một điều rất thường xuyên xảy ra nữa.  Rồi c̣n chuyến đi về Nam, do đó người đi thăm nuôi phải mất hàng tháng cho một chuyến đi để chỉ được gặp trại viên trong thời gian mười lăm đến hai mươi phút.  Điều đó có đáng hay không?  Chỉ có t́nh thương mới giúp họ làm được việc ấy mà thôi.
 Trong bức thư gửi cho tôi năm 1979, vợ tôi dường như có ư định đi thăm tôi.  Vợ tôi viết rằng ít ra th́ cũng có thể gặp tôi được một lần, nhưng mà cô ấy chưa có tiền!  Bức thư ấy khiến tôi ở trong t́nh thế lưỡng nan.  Tôi rất muốn gặp vợ tôi, nhưng lại không muốn cô ấy chịu cực khổ v́ chuyến đi.  Vợ tôi không khỏe mạnh như nhiều người khác.  Tôi viết thư trả lời để ngăn cản ư định ấy của vợ tôi.  Tôi bảo rằng tôi luôn yêu thương cô ấy, nhưng tôi không muốn cô ấy phải chịu cực khổ v́ chuyến đi như thế.  Vài gói quà của gia đ́nh là đă giúp tôi nhiều lắm rồi, tôi chỉ muốn cô ấy an tâm để nuôi con mà thôi.  T́nh yêu mà cô ấy dành cho tôi là một động lực để giúp tôi vượt qua được cảnh ngộ này rồi.
 Vào tháng sáu năm 1979, khi mà tôi không trông mong ǵ cả th́ một hôm tôi lại được gọi ở lại trong trại trong khi đội xuất trại đi lao động.  Họ bảo rằng tôi có người đến thăm nuôi.  Tôi rất kinh ngạc và đoán rằng có lẽ là vợ tôi đến.  Không c̣n bộ quần áo cá nhân nào, tôi phải lựa một bộ đồng phục tù c̣n tương đối mới để mặc.  Tôi không có được tấm gương để trông xem ḿnh ra thế nào, nhưng tôi biết tôi trông rất kỳ khôi!  Tôi không muốn vợ tôi trông thấy tôi như thế này, nhưng tôi phải làm sao đây?  Hai năm rưỡi về trước gặp nhau ở trại Thủ Đức, tôi đâu đến nỗi như thế này.  Ở trại Thủ Đức th́ dù sao chúng tôi cũng đủ ăn và không phải lao động quá nặng nề, và tôi c̣n có quần áo riêng để mặc khi ra thăm không đến nỗi kỳ quặc như thế này.  Hai năm ở trại Tân Lập gần như đă giết chết tôi, dù không giết chết ngay tức th́ nhưng cũng đă từng bước một.  Tôi không c̣n là tôi nữa!
 Tôi bước đi trên con đường đến nhà thăm nuôi như một người không có linh hồn.  Chỉ có một phần hạnh phúc xen lẩn với không biết bao nhiêu nỗi lo lắng trong ḷng!  Vợ tôi ra sao?  Làm sao cô ta có thể chịu đựng được một cuộc hành tŕnh xa xôi và vất vả như thế?  Gia đ́nh tôi thế nào?  Con tôi ra sao?  Hàng trăm câu hỏi xâm chiếm lấy đầu óc tôi trên con đường đi đến nhà thăm nuôi.
 Vợ tôi đang đứng ở ngưỡng cửa với những người khác khi tôi đi đến nơi.  Chúng tôi ngồi hai bên chiếc bàn lớn với tên cán bộ ngồi ở đầu bàn quan sát.  Tôi cố vói qua nắm lấy tay cô ta và siết chặt.  Những ǵ mà chúng tôi đă nói với nhau tôi không thể nhớ được, nhưng tôi nghĩ rằng tôi chỉ đủ thời gian để hỏi về gia đ́nh, về con tôi, về cuộc sống của vợ tôi khi không có tôi ở nhà!  Hơn một tuần lễ đi đến và rồi c̣n thời gian trở về mà chỉ gặp nhau được hai mươi phút, tôi nghĩ là không đáng cho sự chịu đựng của vợ tôi chút nào.
 Cô ấy trông vẫn trẻ, vẫn “mỏng manh”, vẫn là t́nh yêu của tôi như thuở nào, nhưng tôi thấy dường như xa xôi làm sao, dường như đến từ thiên đàng để gặp một người ở địa ngục!  Cô ấy cho biết rằng cô ấy đi cùng với Ngọt, vợ của Tuân.  Họ là bạn ở trung học, bạn có chồng làm chung với nhau, và bạn có chồng cùng ở tù chung nữa!  Tôi cảm thấy hơi an ḷng một chút khi biết rằng vợ tôi không phải đi một ḿnh.  Khi từ giă, tôi nh́n thấy ngón chân vợ tôi bị băng.  Cô ấy cho tôi biết rằng thùng quà đă bị rơi khi cô ấy chất nó lên xe ngựa.  Họ đă phải đi bộ từ Bến Ngọc vào đến trại v́ có nhiều người đến thăm hôm ấy; chiếc xe ngựa đă chất quá đầy.
 Vợ tôi đă chịu bao nhiêu là khó khăn để đến thăm tôi, và c̣n con đường về nữa?  Điều ấy cứ lởn vởn trong đầu óc tôi măi khi tôi trở vào trại.  Tôi đặt hai thùng và một giỏ quà lên chổ rồi nằm đó mà nghĩ đến vợ tôi.  Cô ấy vẫn c̣n ở ngoài nhà thăm nuôi để chờ Ngọt đang thăm chồng bên K3.  Chỉ có một hàng rào ngăn cách giữa vợ tôi với tôi, nhưng sao mà xa xôi quá như vậy!  Hai mươi phút gặp nhau trôi qua như một giấc mơ mà tôi không thể nào quên được.  Tôi c̣n có thể gặp được vợ tôi nữa không hay đây là lần cuối cùng?  Những gói quà này chứa đầy t́nh yêu.  Nó sẽ giúp tôi rất nhiều trong những ngày tháng sắp tới, nhưng điều quan trọng nhất đối với tôi lúc ấy chính là t́nh yêu của vợ tôi dành cho tôi vẫn c̣n hiện hữu.
 Tôi không thể chợp mắt được suốt đêm, mong tiếng kẻng báo thức.  Điều đầu tiên khi ra đến nhà lô là hỏi Lung, cán bộ quản giáo của đội, dẫn tôi trở lại nhà thăm nuôi, nhưng mà vợ tôi đă đi cùng với Ngọt rồi.  Tôi thất vọng đi trở về nhà lô không c̣n làm được ǵ nữa cả.
 Vợ tôi viết trong bức thư sau đó rằng cô ấy chỉ muốn ở lại với tôi một đêm thôi để có thể tâm sự được với nhau.  Hai mươi phút trôi qua quá nhanh, nhưng cô ấy cảm thấy hănh diện v́ các bạn đi cùng bảo rằng tôi trông vẫn c̣n trẻ và trông không đến nỗi tệ hại như họ nghĩ! (ngay cả trong bộ đồng phục tù!)
 Kể từ khi có nhiều trại viên được thăm nuôi th́ bộ mặt của trại thay đổi hẳn ra.  Những trại viên có thân nhân ở nước ngoài gởi tiền về được thăm nuôi thường xuyên, vài người không ăn cả phần ăn của trại và chia nó ra cho những người khác.  Các trại viên “cô nhi” có thêm được một ít trong tiêu chuẩn ăn hàng ngày, và giống như nắng hạn gặp mưa rào, mọi người trở nên khỏe mạnh hơn lên.
 “Đội lâm sản” và “đội vận chuyển” đă được giao cho các trại viên miền Nam.  Chúng tôi bắt đầu liên hệ với dân chúng sống trong vùng quanh trại, và họ cũng đă bắt đầu làm quen với người miền Nam thông qua gia đ́nh trại viên.  Một số người dân có thêm một công việc mới, đó là giúp gia đ́nh đến thăm mang đồ đạc và chuyển vào trại bằng xe đạp.
 Ở vùng hẻo lánh như nơi đó th́ thời trang Sài G̣n là một điều rất hấp dẫn đối với những người dân không đủ quần áo để mặc.  Khi những người Sài G̣n đến nơi th́ trẻ con chạy theo nh́n, những cô gái th́ ngắm nh́n rồi bàn tán, những người đàn ông th́ huưt sáo.  Trong một bức thư vợ tôi gửi tôi sau này, cô ấy nói rằng khi Ngọt và cô ấy đi vào trại th́ thấy các đứa trẻ quần áo tả tơi chạy theo và bảo nhau đi xem các “tài tử”.  Cô ấy không thể ngờ rằng lại có những người dân c̣n nghèo khổ đến như thế.
 Khi đă có nhiều người đến thăm nuôi, dân chúng trong vùng và cả gia đ́nh cán bộ có thêm được một nghề mới, bán đồ đạc cho thân nhân và cho trại viên.  Dân chúng đi mua những món hàng từ các thành phố gần đó về bán dọc theo con đường từ Bến Ngọc đến trại.  Người đi thăm nuôi không phải mua những thứ nặng nề hoặc những thức ăn tươi từ Hà Nội nữa.  Cán bộ và gia đ́nh c̣n mang cả đồ vật vào trại bán cho các trại viên đă dấu tiền khi thăm nuôi.  Mặc dù nội quy không cho mang tiền vào trại, nhưng rồi họ cũng làm ngơ.
 Cuộc sống trong trại càng lúc càng dễ dàng dần.  Cán bộ trực trại có lúc đă bán cả rượu cho trại viên và vào uống với trại viên.  Vào Tết năm 1982, họ nói rằng tổng số rượu mang vào trại lên tới con số trên hai trăm lít!  Các cán bộ nữ th́ bắt đầu học khiêu vũ với trại viên trong đội văn nghệ.  “Nhạc vàng” vẫn bị cấm trong trại, nhưng các cán bộ lại bảo trại viên dạy cho họ hát.  Tất cả những thứ đó trông giống như một sự tranh đấu giữa hai thứ văn hóa: cái văn hóa của người thắng trận và cái văn hóa của kẻ bại trận.  Điều đó khiến tôi nhớ tới t́nh trạng của dân Măn Thanh sau khi chiếm được nước Trung Hoa lập nên nhà Thanh rồi sau đó lại bị người Trung Hoa đồng hóa ngược lại v́ Măn Thanh là một dân tộc không có nền văn hóa phát triển như Trung Hoa.
 Cộng Sản thường nói rằng “ai thắng ai giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Tư Bản”.  Tôi nghĩ đây là một dịp để nh́n thấy được sự thật ấy.  Họ đă thắng trong cuộc chiến, nhưng chiến tranh của hai nền văn hóa vẫn c̣n tiếp tục.  Họ đă đốt hết sách vở của miền Nam, cấm ca hát “nhạc vàng”, cấm thời trang miền Nam, và thay vào đó bằng sách vở, ca nhạc, và thời trang của họ.  Giờ đây họ lại muốn nghe nhạc vàng, muốn khiêu vũ kiểu miền Nam.  Đó chính là dấu hiệu đầu tiên để trả lời câu hỏi “ai cải tạo ai, hay là ai thắng ai?”

Chương 39.Đi Về Miền Nam

 Năm năm ở trại Tân Lập quả là quá dài để chịu đựng biết bao nhiêu đau khổ, đặc biệt vào những năm đầu tiên.  Nhiều người đă chết, nhiều người bị bệnh kinh niên, và nhiều người th́ bị thương tật.  Bệnh trĩ của tôi càng lúc càng nặng mà không có thuốc men ǵ để trị hay để làm giảm đau!  Tôi không thể biết được có bao nhiêu người c̣n lại trong số bốn trăm mười trại viên đầu tiên đến trại Tân Lập v́ đă có nhiều lần di chuyển xáo trộn, đến và đi.  Theo tôi nghĩ th́ chắc phải có ít nhất là khoảng một phần ba trại viên đă chết trong số bốn trăm mười người đến Tân Lập trên chuyến tàu “Sông Hương”.  Vài trại viên đă bị đưa đi khỏi K5 của trại Tân Lập để biệt giam ở một nơi nào đó và rồi mất biệt luôn.
 Sau khi Trung Quốc tấn công vào các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 1979, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên căng thẳng.  Việt Nam và Trung Quốc không c̣n ở t́nh trạng “môi hở răng lạnh” nữa mà bây giờ là răng cắn môi chảy máu!  VC chia miền Bắc ra thành ba khu vực: khu một gồm các tỉnh giáp với biên giới Trung Quốc, khu hai là miền Trung Du Bắc Việt, và khu ba là đồng bằng sông Hồng.  Sau khi bị Trung Quốc tấn công, họ đưa hết các trại cải tạo ở khu một về khu hai, và kể từ khi đó th́ trại Tân Lập rất đông trại viên.  Chúng tôi đă phải đào giao thông hào trong sân sát với buồng giam để chuẩn bị cho trận tấn công của Trung Quốc vào khu hai.
 Dự tính của VC thành lập những “nông trường” quốc doanh cho chúng tôi sống ở đó suốt đời đă không thành công.  Hai “nông trường” được thành lập ở Thanh Hóa có tên là Thanh Phong và Thanh Lâm cuối cùng đă trở thành hai trại cải tạo mà thôi!  Họ bắt đầu phải đưa trại viên trở về miền Nam từ năm 1980, nhưng cuộc nổi dậy của các trại viên ở một trại ở Hàm Tân vào đầu năm 1981 khiến việc này bị đ́nh lại cho đến năm 1982.  Kể từ tháng tư năm 1982, trại Tân Lập bắt đầu chuẩn bị cho cuộc di chuyển vào Nam.
 Từ Tết năm 1982, các tin đồn về sự thay đổi của trại từ “tù chính trị” sang “tù h́nh sự” được loan truyền khắp nơi trong trại.  Hầu hết những tin đồn này đều phát xuất từ các cán bộ.  Nhưng chúng tôi không biết được điều đó sẽ là chúng tôi sẽ được thả ra khỏi trại hay di chuyển vào Nam.  Cũng đă có vài cuộc phóng thích nhưng không bao giờ đạt đến con số một trăm trại viên.  Thời gian ấy, trại Tân Lập rất đông trại viên từ K1 đến K5; tôi nghĩ toàn trại có thể đạt đến con số ba ngàn trại viên.  Phạm nhân h́nh sự chỉ là thiểu số so với số trại viên đến từ miền Nam.  Tôi không tin họ có thể thả một số lớn trại viên như thế, do đó tôi nghĩ rằng có lẽ sẽ có một cuộc di chuyển.
 Vào sáng ngày 7 tháng tư năm 1982, chúng tôi đi ra nhà lô để lao động như thường lệ.  Nhưng từ ngày hôm qua, chúng tôi đă nghe các trại viên trong đội vận chuyển và đội lâm sản cho biết rằng ở các phân trại K1, K2, K3 và K4 đă đọc tên trại viên được chuyển vào Nam rồi.  Nhưng mọi việc dường như vẫn diễn ra b́nh thường ở phân trại K5.
 Tôi đang làm một cái “ḥm” bằng gỗ cho một cán bộ ở nhà lô đội 10.  Đó là một cái rương bằng gỗ đặc biệt v́ nó được làm bằng loại gỗ “lác”, một thứ gỗ quư ở miền Bắc.  Tôi đă bào xong bốn tấm ván hông, chỉ đợi để cắt mộng và ráp vào mà thôi.  Nhưng đó lại là một giai đoạn khó nhất trong việc đóng “ḥm” v́ tôi phải cưa những cái mộng đuôi cá nhỏ cho thật khít khao nếu không th́ lúc ráp nó sẽ bị nứt hết.  Tôi không thể tập trung được vào việc làm này mà chỉ đứng ở cầu bào nh́n về phía cổng trại.  Phân trại K5 là bộ chỉ huy của toàn trại, nếu có việc di chuyển như vậy th́ nhất định các trại viên sẽ phải tập trung về đây trước khi đi nơi khác.
 Cán bộ quản giáo đội 10 không nói ǵ với tôi mà chỉ nói với Vui và Nam, hai trại viên trong đội rằng sẽ không có ǵ hết và chúng tôi phải làm việc như thường lệ.  Tôi nghe ông ta nói và trả lời lại rằng tôi có thể làm mọi việc mà ông ta bảo, nhưng chắc chắn là sẽ không hoàn hảo như ư muốn v́ đầu óc tôi không thể điều khiển hai tay tôi được nữa!  Sống quá lâu trong trại và ở đội 10, tôi trở nên quen thuộc với từng cán bộ một và không c̣n sợ họ như lúc đầu nữa, nhưng tôi lại luôn luôn giữ một khoảng cách để họ không có lư do ǵ mà phạt tôi.  Ngoài ra th́ làm một cái “ḥm” gỗ cho cán bộ là công việc làm có tính cách riêng tư; họ không có cách ǵ để bắt buộc tôi được!
 Hầu hết các cán bộ trong các trại cải tạo đều rất nghèo.  Họ cần những thứ rất là tầm thường như những cái rương bằng gỗ, cái ghế nhỏ, cái bàn, và đôi khi chỉ cần một quyển sổ có vẽ h́nh bông hoa mà thôi.  Làm những việc này là những công việc riêng tư nên đôi khi phải dấu cả Ban Giám Thị, nhưng nhờ đó mà tôi sống được dễ dàng hơn trong trại!  Đôi khi tôi muốn đi ra ngoài chỉ để tắm giặt mà thôi, nhưng tôi bảo với tên cán bộ gác cổng rằng tôi phải ra nhà lô để làm việc.  Hắn ta là người đang nhờ tôi vẽ dùm mấy bông hoa trong cuốn sổ cho nên hắn sẽ cho tôi đi một cách dễ dàng với điều kiện là tôi đừng trốn trại và làm dùm công việc mà hắn nhờ!  Đó là cách sống của tôi trong trại: làm những điều có lợi cho tôi mà không hại ai hết là được rồi.
 Khoảng mười giờ sáng, các trại viên ở các phân trại khác bắt đầu đến nơi.  Họ mang xách đồ đạc trên vai.  Chúng tôi nh́n một cách kích thích, nhưng chưa thể vào trại được cho đến trưa.
 Chiều hôm ấy, tiếng kẻng báo giờ đi lao động vang lên như thường lệ.  Chúng tôi tập họp ở sân để chuẩn bị xuất trại th́ thấy có một cán bộ cầm giấy vào đọc tên các trại viên ở lại trong trại.  Những người không có tên th́ đi lao động.  Có khoảng mười lăm trại viên trong đội tôi được ở lại, trong đó có tôi; chúng tôi trở vào buồng để lấy đồ đạc và di chuyển sang một buồng khác ở khu B với các trại viên từ K1 đến.
 Một tiếng đồng hồ sau th́ cán bộ quản giáo đội 10 vào dẫn tôi ra nhà lô để hoàn tất cái “ḥm”.  Nam, người bạn thân với tôi trong đội vẫn ở lại; anh ta trông buồn buồn nhưng cố dấu đi.  Tôi giao lại cho anh ta tất cả đồ đạt trong cầu bào của tôi –đó là tài sản của tôi.  Tôi thường dấu nhiều thứ trong ấy như cam (hái lén từ vườn cam ở gần nhà lô), khoai lang, khoai ḿ, bắp cải, gạo, bo bo, vân vân; những thứ mà các cán bộ cho tôi khi tôi làm những công việc riêng tư cho họ.  Tôi cũng giao cho Vui, phụ tá của tôi ở đội 10, những dụng cụ và chỉ anh ta cách hoàn tất cái ḥm sau khi tôi đă làm xong phần hông và nắp.
 Những sự chia tay trong trại diễn ra thường xuyên.  Các trại viên ở lại thường ái ngại cho những trại viên phải ra đi, nhưng lần này th́ mọi việc đều ngược lại.  Nh́n dáng vẽ buồn rầu của họ, tôi không biết nói ǵ hơn là an ủi họ rằng chắc rồi sẽ c̣n những cuộc di chuyển tiếp theo.  Nam và Vui đều được thả ra sau lần di chuyển thứ hai của trại Tân Lập.
 Một điều ngộ nghĩnh là nhiều cuộc chia tay khác lại diễn ra giữa trại viên với cán bộ nữ và giữa trại viên với các phụ nữ sống quanh trại!  Vài cán bộ c̣n bảo rằng họ không muốn chúng tôi đi v́ không thích các phạm nhân h́nh sự thay thế chúng tôi.  Mọi người đều đă thay đổi quan điểm, và đôi khi tôi tự nghĩ không biết ai cải tạo ai đây?
 Đêm hôm ấy, hầu như mọi người đều thức để tṛ chuyện.  Vài trại viên c̣n biết trước rằng chúng tôi sẽ được chuyển vào trại Thủ Đức.  Thủ Đức là trại mà từ đó tôi được đưa ra trại Tân Lập năm năm về trước!  Nếu thật sự chúng tôi được chuyển về trại Thủ Đức th́ đó chỉ là giai đoạn ngắn mà thôi v́ Thủ Đức chỉ là một trại trung chuyển, và chúng tôi đều mong rằng chúng tôi sẽ được thả ra khi về đến miền Nam.
 Ngày hôm sau, tôi xếp mọi thứ vào cái ba lô để chờ đợi.  Đă có kinh nghiệm từ lần di chuyển trước từ Nam ra Bắc, tôi cố giữ lại những thứ thật cần thiết để được càng nhẹ càng tốt dù rằng ở trong trại th́ mọi thứ đều cần.  Thời tiết tháng tư vẫn c̣n lạnh, do đó tôi mặc cái áo khoác thay v́ nhét nó vào ba lô.  Cái áo khoác của tôi đă rách nát và phải mạng vá lại bằng nhiều thứ vải.  Chỉ có hai bộ đồng phục tù là tương đối c̣n coi được nên tôi bỏ chúng vào ba lô cùng với mùng mền.  Tôi cũng đă cắt cái pon-sô của tôi thành hai phần, một để làm áo mưa c̣n một tấm để làm tấm trải phía dưới chiếu ngăn rệp.  Tôi cuộn chiếc chiếu và tấm pon-sô ấy vào với nhau và cột vào nắp ba lô, cái bi-đông đựng nước uống và cái hũ đựng cơm th́ được treo vào hông ba-lô.  Tôi đă sẵn sàng, nhưng tôi nghĩ họ sẽ di chuyển vào ban đêm v́ đó là thói quen của họ.
 Tôi cố đi ngủ sớm ngay lúc vừa điểm nhập buồng v́ tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ di chuyển vào tối hôm ấy.  Khoảng nửa đêm, các cán bộ vào để kiểm trại viên trước khi di chuyển.  Chúng tôi phải xếp vào hàng và họ c̣ng hai người lại với nhau trước khi dẫn chúng tôi ra khỏi cổng trại.  Đó là sáng sớm ngày 9 tháng tư năm 1982; tôi đă ở trại Tân Lập được bốn năm, mười một tháng, mười tám ngày!
 Không có chiếc xe nào phía trước cổng trại.  Dưới sự dẫn đường của cán bộ vũ trang, chúng tôi đi về phía bờ suối hướng qua phân trại K3.  Hướng đó ngược với hướng đi về phía Bến Ngọc nếu chúng tôi thật sự đi về Nam.  Tất cả chúng tôi đều lo lắng biết đâu đây lại là một tṛ ma mảnh nào đó của họ.  Đến bờ suối nơi tôi vẫn thường băng ngang v́ nơi đó tương đối cạn, chúng tôi băng qua suối.  Đôi dép râu của tôi vuột mất quai nên tôi phải bỏ nó vào ba-lô và đi chân không kể từ khi ấy.  Nhiều người có quá nhiều đồ đạc nặng nề di chuyển rất khó khăn nhất là với chiếc c̣ng trên tay nên đă phải bỏ bớt đi một phần.
 Qua bờ suối bên kia, chúng tôi quay ngược lại về phía Bến Ngọc.  Tôi thở dài nhẹ nhơm!  Tôi đoán có lẽ đó là chỗ duy nhất để có thể băng qua suối.  Con đường ṃn đi đến Bến Ngọc từ phân trại K3 phải băng qua một khu rừng bồ đề.  Trong bóng đêm, tôi không thể tránh khỏi những bụi gai mắc cỡ và những viên đá sắc cạnh ở khắp nơi.  Với chiếc quần ướt và đôi chân trần bị cắt đứt bởi đá và gai nhọn, tôi phải rán theo kịp mọi người trong sự đau đớn và lạnh lẽo.  Nhưng trong thâm tâm th́ tôi vẫn luôn hy vọng vượt mọi thứ để được về miền Nam, để ít nhất được gặp lại gia đ́nh và quê hương tôi.
 Đó là lần thứ hai tôi đi qua phía bên kia bờ của Bến Ngọc.  Lần đầu tiên là lúc tôi mới đến trại Tân Lập năm năm về trước; đoàn xe ngừng một lúc để đợi nhau rồi chạy thẳng xuống suối để đi qua bờ bên kia.  Lần này th́ chúng tôi đến Bến Ngọc lúc sáng sớm, và đoàn xe đă chờ sẵn ở đó!  Tôi không biết tại sao nó không chịu đi vào trại dù lúc ấy suối A-Mai chảy cũng không đến nỗi mạnh lắm.  Đó là đoàn xe “Molotova” chứ không phải xe đ̣ như lúc chúng tôi đi đến trại.  Chúng tôi leo lên sàn của những xe không mui ấy và đợi tất cả trại viên đến nơi.
 Khi mọi người đến nơi th́ trời cũng đă sáng tỏ.  Rất đông người đứng hai bên đường để tiễn đưa chúng tôi, vài người c̣n ném thức ăn lên xe.  Khi chúng tôi đến đây th́ họ nh́n chúng tôi với sự nghi ngại; bây giờ, khi chúng tôi rời nơi đây th́ họ tiễn chúng tôi với t́nh cảm của họ.  Kể từ khi gia đ́nh trại viên đến thăm, dân chúng sống quanh vùng trại bắt đầu tiếp xúc với dân miền Nam.  Họ cũng bắt đầu biết ít nhiều về sự thật của miền Nam, những điều mà họ đă bị che đậy hằng bấy lâu nay.
 Chúng tôi rời Bến Ngọc vào sáng sớm.  Quang cảnh nơi này trông có vẻ đông đúc hơn khi chúng tôi đến.  Nhà cửa mọc nhiều thêm lên, vài nhà gạch chen lẫn với nhà lá, dân chúng cũng đông đúc hơn, đất đai cũng không c̣n hoang vắng như trước, đồi trọc đă được che phủ bởi cây trà và khoai ḿ.
 Đoàn xe đến con đường nhựa khoảng một giờ sau.  Vài chiếc xe gắn máy Honda chạy trên đường.  Khi đoàn xe chạy ra khỏi thị xă th́ đường xá trống trải hơn.  Chúng tôi đứng lắc lư trên xe khi đoàn xe chạy trên con đường đầy những ổ gà.  Năm năm sau khi chiến tranh chấm dứt, không có ǵ gọi là “cải tiến” trên những phương tiện giao thông ở Bắc Việt ngoài vài chiếc Honda du nhập từ miền Nam!  Xe cộ cũng phải lao xuống suối, đường xá cũng đầy những ổ gà, và dân chúng cũng dùng xe đạp như một phương tiện vận chuyển chính của họ.
 Tôi không biết đoàn xe chạy theo hướng nào, nhưng vào khoảng trưa th́ bắt đầu thấy vài chiếc xe hơi chạy trên đường.  Một chiếc xe có vài người ngoại quốc -với da trắng tóc vàng- chạy theo đoàn xe chúng tôi một lúc lâu.  Họ không có một dấu hiệu ǵ cho biết họ là người nước nào, do đó chúng tôi cũng không biết họ là ai.  Một người trong bọn họ chào chúng tôi với dấu hiệu h́nh chử V bằng hai ngón tay, và vài người trong chúng tôi giơ c̣ng lên để cho họ thấy hoàn cảnh của chúng tôi.  Chúng tôi hy vọng họ là những phóng viên, nhưng tôi không biết rơ họ là người nước nào v́ trong quốc gia của Cộng Sản, các phóng viên nhất là của Phương Tây không thể đi lại dễ dàng như thế.
 Tôi đoán rằng đoàn xe sẽ chạy về phía cảng Hải Pḥng để chúng tôi lên tàu về Nam, nhưng tôi lại thấy con đường có vẻ khác hơn lúc chúng tôi đi đến.  Rừng núi từ từ biến mất; đoàn xe chạy trong một vùng đồng bằng.  Khoảng chiều, xe cộ càng lúc càng đông.  Con sông Hồng với bờ cát trải dài ra xa xuất hiện dọc theo đường đi.  Đó là mùa nước cạn.  Đoàn xe chạy qua cầu vào giờ tan việc.  Xe cộ rất đông trên cầu.  Có rất nhiều xe gắn máy Honda và dân chúng ăn mặc quần áo sặc sỡ hơn là những h́nh ảnh mà chúng tôi thường thấy về thành phố Hà Nội.  Thời trang miền Nam đă du nhập ra miền Bắc sau khi chúng bị cấm đoán ở miền Nam, thật là một chuyện khôi hài!  Đó là cây cầu Thăng Long xuyên qua sông Hồng, cây cầu dài nhất miền Bắc.  Chúng tôi đang vào thành phố Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam Xă Hội Chủ Nghĩa.
 Dân chúng nh́n chúng tôi một cách ṭ ṃ, nhưng tôi không thấy một dấu hiệu nào của sự thù hận.  Vài người vẫy tay dường như chào chúng tôi.  Dân Hà Nội đă bắt đầu thay đổi lối sống và thay đổi cả cái nh́n của họ!
 Đoàn xe không đi thẳng vào Hà Nội mà chỉ đi ṿng quanh.  Tôi nh́n thấy ánh phản chiếu từ mặt nước hồ ở xa xa nhưng không biết có phải đó là Hồ Gươm hay không.
 Sau khi qua Hà Nội, đoàn xe chạy thẳng hướng Nam khi trời đă bắt đầu tối.  Chúng tôi không thể nào ngủ được trong t́nh trạng ấy cho nên chỉ ngồi dựa vào đồ đạc để cố nghỉ ngơi một chút.  Tôi tự hỏi làm thế nào để chịu đựng được một chuyến đi về miền Nam trên chuyến xe như thế này.  Đoàn xe tiếp tục chạy trong đêm tối; tôi không thể nh́n thấy được ǵ ở hai bên đường để đoán biết ḿnh đang đi đâu.
 Cuối cùng th́ mặt trời cũng bắt đầu mọc; tôi thấy những cánh đồng lúa ở chung quanh.  Vài nhà lá với cái ao phía trước là đặc điểm của miền đồng bằng miền Bắc.  Chúng tôi đang đi trong địa phận tỉnh Hà Nam Ninh, một tỉnh mới bao gồm ba tỉnh Hà Tây, Nam Định và Ninh B́nh.  Đoàn xe quẹo phải và rồi ngừng lại ở cuối một con đường đi đến một ḍng sông khi trời sáng tỏ.  Vài người cho biết đó là con sông Đáy chảy qua thị xă Phủ Lư của tỉnh Nam Định.
 Hai bên con đường từ khúc rẽ vào đến bờ sông, nhà cửa cất theo nhiều loại nằm san sát với nhau.  Một khu chợ ngoài trời nằm gần bờ sông.  Dân chúng khá đông đúc.  Vài chiếc đ̣ chở khách từ bờ kia sông sang đang cập bến.  Không thấy có cây cầu nào băng qua sông, tôi đột nhiên nhớ tới chiếc phà mỗi lần chỉ chuyển được một chiếc xe chở chúng tôi qua sông khi chúng tôi đi ra miền Bắc năm năm về trước.  Chẳng lẽ câu chuyện đời xưa ấy lại diễn ra ở một thị xă như thế này hay sao?
 Chiếc ca-nô kéo theo một cái mảng nh́n thấy từ xa.  Đó không phải là một chiếc mảng tre mà làm bằng cây bọc thép, và nó có thể chở được hai xe mỗi lần.  Chiếc ca-nô th́ quá cũ kỹ và không được bảo tŕ, trông giống như loại tàu nhỏ của Hải Quân miền Nam trước đây.  Mười lăm chiếc xe qua sông vào khoảng giữa trưa, chạy khoảng một tiếng đồng hồ qua một dăy núi đá vôi để đi vào phân trại A của trại cải tạo Nam Hà.
 Trại cải tạo Nam Hà trông có vẻ rất kiên cố hơn trại cải tạo Tân Lập với nhà gạch bao quanh bởi tường cao.  Tôi không có dịp để biết nhiều về trại này v́ chúng tôi chỉ ở trong một khu biệt lập.  Nền chỗ nằm làm bằng xi-măng chứ không bằng gỗ như ở trại Tân Lập và chắc là cũng ít rệp hơn.
 Khoảng nửa đêm ngày thứ hai, chúng tôi được chuyển ra ga Phủ Lư để chờ xe lửa.  Địa danh này tôi đă từng biết đến qua các tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn viết khoảng những năm 1930.  Nhưng cái gọi là ga “Phủ Lư” chỉ là một căn nhà nhỏ có hai vách ở hai đầu c̣n hai mặt kia th́ trống trơn.  Nó được xây có lẽ từ thời Pháp thuộc mà không được sửa sang lại bao giờ.  Một bóng đèn treo phía dưới mái nhà không có trần chiếu ánh sáng mờ mờ vàng vọt cho căn pḥng khoảng sáu thước ngang mười thước chiều dài.
 Trên sáu trăm trại viên chen chúc trong căn pḥng ấy; chúng tôi chỉ có thể ngồi co ro ở chỗ để đợi xe lửa.  Sau một lúc th́ đầu gối và đùi tôi bị tê mà không thể duỗi chân ra được.  Tôi bảo Tâm, người bạn bị c̣ng chung c̣ng đứng dậy và đổi vị trí để ngồi dựa lưng nhau.  Tôi cảm thấy dễ chịu hơn một chút, nhưng các tên cán bộ canh gác ở đó không cho phép chúng tôi được cử động nữa.  Họ muốn chúng tôi ngồi yên để dễ kiểm soát.
 Xe lửa đến khi mặt trời đă xuất hiện ở chân trời, lúc ấy khoảng bảy đến tám giờ sáng.  Các cán bộ đọc tên chúng tôi một lần nữa trước khi cho chúng tôi từng cặp một bước lên xe lửa.  Chúng tôi chiếm chỗ trên ba toa xe.  Điều khó khăn là cái ghế ngồi trên xe lửa làm cho ba người.  Hai cặp có thể ngồi được ở hai hàng ghế nhưng một cặp khác không thể ngồi ở hai bên ghế của đường đi ở giữa với cái c̣ng không dây trên tay.  Chúng tôi phải chia xẻ sự khó khăn này bằng cách đổi chỗ với nhau: hai cặp ngồi trên ghế và một ngồi dưới sàn xe.
 Mặc dù với cái c̣ng trên tay, tôi vẫn thấy cảm thấy thoải mái hơn ở trong hầm của chiếc tàu “Sông Hương” năm năm trước.  Đây là chuyến xe lửa chở khách, do đó chúng tôi có pḥng vệ sinh và có phục vụ thức ăn hàng bữa với thực đơn của khách.  Chúng tôi không phải bước trên sàn dơ bẩn như trên tàu nữa, và trên tất cả là chúng tôi đang được đi về miền Nam, quê nhà của chúng tôi!  Vài người có vẻ lạc quan tếu c̣n phát biểu rằng “ngày đi đau khổ, vinh quang ngày về!”  Tôi th́ không chắc rằng có vinh quang ǵ không, nhưng ít ra th́ tôi cũng biết được ḿnh đang đi đâu và tôi có thể gặp lại được gia đ́nh tôi.
 Con đường xe lửa chạy dọc theo đường quốc lộ số một, con đường duy nhất chạy từ Bắc vô Nam Việt Nam.  Tôi nh́n thấy những hố bom nằm rải rác trên những cánh đồng, dấu hiệu của chiến tranh vẫn c̣n vương lại trên miền Bắc Việt Nam.  Đường quốc lộ số một quá hẹp và đầy ổ gà.  Chiếc xe lửa cũ kỹ với đầu máy chạy bằng than phun đầy bụi khói!  Đến những ga dọc đường, xe không ngừng nhưng chạy chậm lại, do đó chúng tôi có thể nh́n thấy những sinh hoạt của dân miền Bắc.  Những người bán hàng rong, phần lớn là trẻ con mang những cái rổ đựng đầy hàng bánh chạy theo xe rao mời khách.  Ở vài ga đầu tiên, cán bộ không cho chúng tôi mở cửa sổ, nhưng rồi sau đó họ có vẻ lờ đi.  Vài trại viên có tiền đă mua hàng của những đứa trẻ bán hàng rong này.  Khi chúng nhận ra chúng tôi là những người khách hàng đặc biệt, chúng không chịu nhận tiền nữa, nhưng không ai muốn lợi dụng chúng.
 Các chiếc xe lửa khách đường ngắn -gọi là tàu chợ- đầy khách đứng ngồi ngổn ngang và ngay cả có nhiều người đeo bám ở cửa; thật là một quang cảnh lộn xộn mà tôi chưa từng thấy bao giờ!  Tôi đột nhiên rùng ḿnh nghĩ đến chuyến đi của vợ tôi khi cô ấy đến thăm tôi vào năm 1979.  Làm thế nào để vợ tôi có thể chịu đựng được một chuyến đi dài đăng đẵng và lại lộn xộn như thế?  Chỉ có t́nh yêu mới giúp được cô ấy vượt qua được những vất vả và có đủ sức để làm việc ấy mà thôi.  Trên chuyến tàu từ Nam ra Bắc, ngoài t́nh trạng hỗn loạn c̣n có cả cướp giật, và ngay cả giết người nữa.  Những người đàn bà với đồ đạc ngổn ngang rỏ ràng là mục tiêu của bọn này.  Tôi nghĩ những chuyến tàu ấy c̣n tệ hơn là chuyến tàu mà chúng tôi đang đi mặc dù hành khách không bị c̣ng như chúng tôi!
 Tới một ga mà tôi không nhớ tên, xe lửa ngừng lại một lúc.  Vài đứa trẻ bán hàng rong nhảy lên xe để bán hàng.  Tôi mua hai trái chuối nướng bọc trong nếp bằng tiền mà tôi dấu trong ba-lô rồi ngồi ăn một cách ngon lành như một món ăn rất đặc biệt.
 Tôi ngồi mệt mỏi trên sàn tàu và chợp mắt được một lúc.  Một đêm chờ đợi ở ga “Phủ Lư” làm tôi mệt nhoài, nhưng tôi không thể ngủ được.  Tới phiên tôi được ngồi lên ghế khi trời vừa tối.  Chiếc xe lửa đi qua sông “Bến Hải” trên một chiếc cầu song song với chiếc cầu nổi tiếng mang tên là “Hiền Lương” ở vĩ tuyến thứ mười bảy nơi đă từng là ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam.
 Có bao nhiêu cuộc chiến đă diễn ra trên chiếc cầu mang cái tên “hiền lành và lương thiện” này và trong cái vùng mang tên là vùng “phi quân sự” này?  Thật là một sự lạm dụng danh từ!  Con sông quá nhỏ bé, và chiếc cầu cũng vậy!  Nhưng chúng đă đi vào lịch sử Việt Nam như một địa danh không thể quên được.  Đă hai lần đất nước bị chia cắt, và những tên như sông Gianh hay sông Bến Hải đă khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt như những vết nhơ không thể xóa sạch được.
 Việt Nam đă thống nhất!  Vấn đề là những người Cộng Sản đă lợi dụng ḷng yêu nước của người dân để xây dựng một chế độ vô nhân đạo trên đất nước.  Chẳng những họ đă cướp công của nhân dân trong chiến tranh mà họ c̣n cướp cả tài sản của người dân sau khi cuộc chiến chấm dứt nữa.  Với những khẩu hiệu như “tất cả để xây dựng chủ nghĩa xă hội” họ cướp tất cả của cải của người dân!  Sau chiến tranh th́ người dân trong nước càng lúc càng nghèo dần.  Con sông “Bến Hải” đă đi vào lịch sử, nhưng chủ nghĩa Cộng Sản th́ vẫn tồn tại.  Dân tộc Việt Nam đă vượt qua được một cuộc chiến tranh ghê gớm nhưng rồi lại phải sống trong nghèo khổ dưới sự cai trị của Cộng Sản.  Chỉ có những người Cộng Sản là độc quyền yêu nước.  “Yêu nước tức là yêu xă hội chủ nghĩa” quả là một định nghĩa kỳ quặc!
 Trời tối hẳn khi tàu tiến vào thành phố Huế, cố đô của Vương Quốc Việt Nam. Vào Tết Mậu Thân 1968, Việt Cộng đă tạm chiếm thành phố này và tạo nên một cuộc thảm sát dă man. Tôi cố nh́n xem sinh hoạt của Huế nhưng không thể được v́ trời quá tối. Chiếc xe lửa ngừng ở một trạm và tôi ngủ thiếp đi ở chổ ngồi.
 Người bạn mang chung c̣ng với tôi là Tâm cử động khiến tôi giật ḿnh tỉnh giấc lúc xe lửa đang đi ở một nơi nào đó ở miền Trung Việt Nam.  Tôi ngạc nhiên khi thấy những hàng cột điện chạy ngược lại trước mặt ḿnh.  Đêm qua tôi vẫn nhớ tôi ngồi ngược với chiều của tàu chạy, có nghĩa là hàng cột phải chạy từ phía sau lưng tôi.  Điều ǵ đă xăy ra đêm qua?  Xe lửa đi ngược lại về miền Bắc hay đi vào nơi nào đó của miền Trung?  Tôi tự hỏi.  Mọi người cũng cảm thấy lo lắng.  Sau đó th́ chúng tôi được biết rằng xe đă đổi đầu máy chạy bằng dầu sau khi ngừng ở Huế do đó nó cũng đổi chiều của chiếc xe luôn.
 Đến vài ga ở miền Trung, dân chúng bắt đầu nhận được ra chúng tôi nên vẫy tay chào.  Khi đến ga Quy Nhơn vào khoảng trưa, hàng trăm dân chúng đă đứng dọc hai bên đường rầy, ném quà bánh lên xe, la ḥ, và vẫy tay chào đón chúng tôi giống như là thân nhân của họ.  Sau khi rời ga Quy Nhơn, các cán bộ không cho chúng tôi mở cửa xe nữa.  Nhưng xuyên qua cửa kính, chúng tôi vẫn nh́n thấy dân chúng tụ họp ở sân ga và vẫy chào chúng tôi khi thấy xe lửa đến nơi.
 Đến Nha Trang, một thành phố biển nổi tiếng của miền Trung, tàu chạy chậm lại v́ đó là giờ tan sở.  Hàng ngàn dân chúng đă đứng sẵn dọc theo đường rầy đi qua thành phố.  Tin tức loan truyền nhanh hơn tàu chạy!  Vài trại viên mở cửa xe ra và thấy cán bộ không nói ǵ.  Chúng tôi đồng loạt mở cửa xe.  Dân chúng la ḥ, vẫy khăn tay, ném quà bánh lên xe, và vài người c̣n chạy theo xe như là họ nh́n thấy được thân nhân của họ vậy.  Ga Nha Trang đầy người.  Xe lửa chạy chậm lại.  Dân chúng chào đón chúng tôi giống như một “đoàn quân chiến thắng”.  Nhà cửa hai bên đường rầy đều bật đèn sáng trưng, và dân chúng th́ đứng để đợi đoàn xe đi qua.  Dù họ thật sự vui mừng khi thấy chúng tôi hay chỉ là sự ṭ ṃ, họ đă gây cho tôi một cảm giác mà tôi không thể nào quên được suốt cả cuộc đời ḿnh!
 Xe ra khỏi thành phố Nha Trang khi trời đă tối.  Chúng tôi đóng cửa sổ lại để ngủ.  Tôi nằm trên sàn xe nghe tiếng bánh xe siết vào đường rầy rồi ch́m vào một giấc ngủ say cho đến khi trời hừng sáng.  Tàu chạy chậm lại rồi ngừng ở một ga tên là ga “Mường Mán”.  Đoàn xe đ̣ đă chờ sẳn ở đó để đón chúng tôi.
 Mường Mán là một ga xe lửa nằm trong địa phận tỉnh Phan Thiết, phía Đông Nam của miền Trung Việt Nam.  Từ đó đến trại Thủ Đức cũng c̣n một khoảng khá xa nếu quả thật chúng tôi được đưa về trại Thủ Đức như tin đồn.  Tôi nghĩ có lẽ chúng tôi đă bị lừa, và chắc là chúng tôi đang được đưa về một trại nào đó ở miền Trung.
 Trạm xe lửa im ĺm một cách khác thường.  Không thấy một hành khách hay một người bán hàng rong nào.  Chúng tôi ngồi trên xe đ̣ chờ đợi cho đến giữa trưa, và rồi đoàn xe chạy về phía Bắc trên Quốc Lộ số một qua thị xă Long Khánh, rẽ mặt vào một nơi khá nổi tiếng trong chiến tranh tên là “Rừng Lá” thuộc chiến khu của Việt Cộng tên là núi “Mây Tào”.
 Trại mà chúng tôi đến có bí danh là Z30D và tên thật của nó là trại “Thủ Đức”, không phải là trại “Thủ Đức” ở thị xă Thủ Đức gần Sài G̣n, mà là trại “Thủ Đức” ở Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.  Lúc đó vào khoảng ba giờ chiều ngày 18 tháng Tư năm 1982.
 

Chương 40. Trại Cải Tạo Z30D, Hàm Tân, Thuận Hải.

Trại cải tạo Z30D là thế hệ tiếp theo của trại ở thị xă Thủ Đức gần Sài G̣n.  Nó cũng lấy tên là trại Thủ Đức, nhưng dân chúng thường gọi nó là trại Z30D theo bí danh của nó.
Muốn đến trại từ Quốc lộ số 1 th́ người ta phải đi khoảng hai cây số trên một con đường ṃn xuyên qua khu rừng buông và cẩm lai (một loại cây gỗ quư trồng trong vùng này).  Khi tôi mới đến trại th́ nó gồm có ba phân trại là K1, K2 và K3.  K1 là phân trại chính và cũng là bộ chỉ huy của trại.  K2 nằm cách K1 khoảng ba cây số về phía Bắc và K3 khoảng bốn cây số về phía Nam.  Một ḍng suối, nguồn cung cấp nước cho toàn trại chảy qua cả ba phân trại, nó rất cạn về mùa nắng nhưng lại chảy rất mạnh về mùa mưa.
Trại Z30D thay đổi từng ngày kể từ khi tôi đến cho đến lúc tôi rời trại.  Đầu tiên, K1 chia làm bốn khu tên là khu A, B, C và D.  Khu A bao quanh bởi hàng rào và tường gạch, và gồm bốn ngôi nhà xây, mỗi nhà chia làm hai buồng giam.  Khu B gồm bốn nhà lá bao quanh bởi một hàng rào bằng tre gai.  Khu C là một nhà lá nằm riêng rẽ gần với nhà bếp.  Khu D nằm phía sau của trại là một căn nhà gạch xây dựng chưa hoàn chỉnh nằm riêng rẽ không có hàng rào bao quanh.
Chúng tôi gồm khoảng sáu trăm trại viên được đưa vào hai khu A và B.  Trong khu A, chúng tôi được nhốt trong ba nhà 2, 3 và 4.  Nhà 1 th́ dành cho những trại viên bị kỷ luật.  Năm mươi trại viên trong mỗi buồng giam rộng khoảng sáu thước, dài mười hai thước với một nhà vệ sinh ở một đầu trong đó có một cái hồ nhỏ chứa nước bơm từ suối vào.  Ở giữa mỗi nhà phía bên ngoài có một cái hồ xây lớn hơn chứa nước dùng cho trại viên.  Cấu trúc của các căn nhà tương tự như các nhà giam ở trại Tân Lập nhưng các bục nằm th́ xây bằng xi măng lót gạch bông thay v́ bằng ván gỗ lót trên khung sắt.  Và mái nhà th́ lợp bằng tôn xi măng chứ không lợp bằng lá cọ như ở trại Tân Lập.  Các căn nhà lá ở khu B th́ có vẻ rất sơ sài với vách làm bằng tre và lá buông và các cửa sổ có song làm bằng tre.  Tôi không hiểu sao họ lại nhốt chúng tôi trong những căn nhà quá sơ sài như thế?  Tuy nhiên các nhà này đều lần lượt thay thế bởi nhà gạch.
Từ khu A sang khu B, trại viên phải đi qua một cổng đóng kín suốt ngày ngoại trừ khi đi lấy cơm dưới sự hướng dẩn của cán bộ hoặc ban thi đua.  Nhà bếp nằm phía cuối trại về phía mặt ở gần với láng mộc bên ngoài ṿng rào gần với bờ suối.  Mỗi khu đều có cửa riêng để đi ra con đường chính của trại, do đó có tất cả ba cổng trại.  Hàng rào quanh trại làm bằng hai lớp: hàng rào kẽm gai và tre gai trồng sát nhau.  Một cái hào sâu chứa đầy nước đào dọc theo hàng rào ngăn cách hàng rào với khu trại.
Trong khu A c̣n có hai hàng rào khác, một hàng rào tre ngăn cách khu A với khu B và một bức tường gạch ngăn cách nhà 1 với các nhà khác.  Chúng tôi có thể liên lạc nhau được trong cùng một khu ngoài nhà số một dành cho những trại viên bị phạt kỷ luật v́ lư do này hay lư do khác.
Khu D của K1 là một căn nhà gạch chưa xây dựng hoàn chỉnh và không có rào ngăn.  Các trại viên ở khu này là những người trong ban thi đua và các bộ phận lẻ: những người được ban giám thị trại tin tưởng và làm việc ở khu cơ quan.
Đối diện với trại giam là khu cơ quan chia làm ba phần từ trái sang phải là: nhà ở của các cán bộ, văn pḥng và nhà kho.  Hầu hết nhà trong khu cơ quan đều làm bằng gạch lợp ngói ngoài khu nhà ở của gia đ́nh cán bộ th́ làm bằng cây lá.
Một con đường đất sét chạy từ quốc lộ số 1 vào trại và đi thẳng đến bờ suối ngăn cách khu cơ quan với khu trại giam.  Cây so đũa, một loại cây lá nhỏ và có hoa màu trắng, được trồng khắp nơi trong trại.  Chúng tôi thường thu nhặt bông so đũa để nấu canh cải thiện cho những bữa ăn của chúng tôi.
Quanh trại toàn là rừng.  Vài khu đất trồng bắp c̣n rải rác những gốc cây đốt cháy dở dang.  Cây lá buông mọc khắp nơi, do đó dân chúng gọi đây là khu rừng lá.  Dân trong vùng lấy lá buông để lợp nhà và những đọt buông nhỏ để đan quạt và làm nón lá, một loại nón của người Việt Nam.  Những cọng buông già th́ được làm đũa và làm cần câu.  Vào mùa Xuân, những cây buông này trổ bông, có trái rồi chết.  Trái buông có chất độc có thể giết chết cá, do đó dân chúng thường giă nát trái buông để đổ xuống suối bắt cá.
Cây cối trong khu rừng này được chính quyền miền Nam Việt Nam trồng rất lâu đời.  Các loại cây như Cẩm Lai, Trắc, Gỏ, Thao Lao, và Mun là những loại cây cung cấp gỗ quư.  Trong chiến tranh, khu này là khu trắng, một khu oanh kích tự do.  Có một đồn địa phương quân nằm cạnh quốc lộ để giữ an ninh cho quốc lộ số 1.
Ḍng suối, nguồn cung cấp nước cho trại bắt nguồn từ trên núi; nó chạy ṿng quanh ra tận quốc lộ số 1 ở gần phân trại K3 rồi trở vào đến phân trại K1.  Trại làm một cái cầu bắt ngang suối bằng cách cột những thân cây theo h́nh chử X đặt vào ḷng suối rồi lót những tấm ván ngang qua.  Nó trông giống như những chiếc cầu khỉ ở đồng bằng miền Nam.  Suối rất sâu vào mùa nắng, nhưng chảy xiết vào mùa mưa.  Mặt nước đôi khi lên gần đến những tấm ván lót cầu, và chiếc cầu đong đưa rất mạnh mỗi khi chúng tôi đi trên ấy.  Bên cạnh cầu, ở sát bờ suối là một nhà nhỏ đặt máy bơm cung cấp nước cho trại và khu cơ quan.  Phía bên kia suối hoàn toàn hoang vu.  Tre gai, cây buông, và nhiều loại cây rừng mọc san sát.  Chỉ có một con đường ṃn nhỏ chạy dọc theo bờ suối từ K1 sang K3.
Điều khác nhau giữa rừng miền Nam và rừng ở miền Bắc là ở miền Nam th́ có rất nhiều loại thú trong rừng: rắn, thỏ, chim, khỉ, heo rừng, và đôi khi có cả voi nữa.  Suối th́ đầy cá và ṣ ốc.  Những thứ ấy có thể là nguồn thức ăn cho chúng tôi sau này!  Ngoài ra th́ măng tre, cây chuối rừng, và nấm mối là những thứ mà tôi dự kiến.  Năm năm ở trại Tân Lập đă dạy cho tôi cách để kiếm ăn mỗi khi có cơ hội!  Một vài cái bẫy c̣ ke đặt ở đâu đó trên khu lao động, vài sợi dây với chiếc lưỡi câu tự chế cắm vào bờ suối, đó là những thứ mà tôi nghĩ tôi có thể làm được một cách dễ dàng.
Hầu hết trại viên ở trại Z30D trông không đến nỗi tệ hại như trại viên ở Tân Lập.  Khi đi lao động về hầu như mọi người đều có những thứ thu nhặt ở hiện trường lao động.  Đó chính là một dấu hiệu tốt!  Hầu hết những trại viên cũ ở đây đều mặc quần áo làm bằng bao cát.  Tôi nghĩ họ đă thu nhặt bao cát này quanh khu trại v́ nơi đây đă từng là chiến khu, hầm hố với bao cát nằm rải rác khắp nơi.
Trại viên ở trại Z30D gồm những người thuộc chế độ cũ, một số người trong những lực lượng chống Cộng sau năm 1975, và những thuyền nhân bị bắt khi vượt biên thất bại.  Chưa có tội phạm h́nh sự cho măi đến năm 1985 khi những nữ can phạm được đưa đến trại, và rồi đến năm 1988, phạm nhân h́nh sự hầu như chiếm đa số trong trại sau đợt thả rộng rải các trại viên thuộc chế độ cũ.
Một số trại viên ở lại trại Thủ Đức khi tôi bị đưa ra miền Bắc năm 1977 như Cang, Trang, Lương, vân vân, vẫn c̣n ở lại trại Z30D, nhưng Nhàn, cựu nhân viên của tôi th́ lại bị đưa đi đến một trại khác để biệt giam sau vụ nổi dậy của trại viên vào Tết năm 1981.  Nhàn đă chết sau khi vừa được thả ra năm 1988, mặc dù anh ta mới khoảng trung tuần ba mươi tuổi.
Ban thi đua trại viên lúc ấy do Trí, cựu thiếu tá cảnh sát, làm trưởng ban khám xét chúng tôi rất cẩn thận khi chúng tôi vừa đến trại.  Những người trong Ban Thi Đua này gồm những sĩ quan của Nam Việt Nam trước đây.  Vài người bạn của tôi lưu ư tôi nên cẩn thận đối với một người trong ban thi đua tên là Cung, nguyên là một thiếu tá Nhảy dù, chồng của một vũ nữ khoả thân ở Sài G̣n vào những năm 1970.  Sau đó th́ Cung đă bị chuyển vào làm ở bếp.  Trại viên trong trại thường gọi hắn là “Cung Củ Đậu” (nói lái lại là “cẩu đụ”).
Cơ cấu tổ chức của trại Z30D hầu như giống ở trại Tân Lập, và tôi nghĩ đó cũng là một h́nh thức chung cho các trại cải tạo của Cộng Sản.  Trong trại là Ban Thường Trực Thi Đua và Hội Đồng Tự Quản.  Ở cơ quan là Ban Giám Thị và Hội Đồng Cán Bộ.  Không có ǵ khác ngoại trừ cách điều hành trại.
Ban Giám Thị của trại Z30D cũng là Ban Giám Thị của trại Thủ Đức năm năm về trước với Mạch là trại trưởng, Phúc trại phó, và Ninh là trưởng phân trại K1.  Một tên cán bộ tên là Nhu là một người rất đặc biệt về sau này; hắn ta chỉ là trung uư phụ trách về hậu cần lúc ấy.  Nhưng rồi hắn ta càng ngày càng có thế lực và đă làm thay đổi tất cả từ trong trại giam đến ngoài cơ quan.  Kể từ khi nắm quyền hành vào năm 1985, Nhu đă leo từ trưởng K1 đến trưởng trại và rồi kết hợp luôn cả hai trại Z30D và Z30C thành một.  Trại viên sau đó phải làm việc rất vất vả để phá rừng lấy gỗ quư, chuyển đá về lót ḷng suối, đắp đập làm thuỷ điện, xây dựng nhà cho riêng Nhu và xây dựng khu vui chơi.  Hắn ta trở thành một hung thần không những đối với trại viên mà cả đối với các cán bộ nữa.

 Z30 Hàm Tân

 

Chương 41. Những Ngày Đầu Tiên Về Miền Nam.

Những phấn khởi khi được về miền Nam đă trôi qua sau mấy ngày; tôi cũng phải trở lại với sống một cuộc sống b́nh thường trong trại cải tạo.  Chúng tôi vẫn c̣n ở cùng đội như lúc di chuyển khỏi trại Tân Lập và đi lao động như thường lệ.  Công việc hàng ngày là làm cỏ cho các mảnh đất trồng bắp.  Cỏ tranh là một loại cỏ rất khó dẫy sạch v́ rễ nó ăn luồn dưới mặt đất.  “Một cái cuốc cho mỗi trại viên”, đó là phương pháp lao động ở trại Z30D.
Đất trồng bắp chen lẫn với rừng rậm.  Các cây nhỏ đă được dọn sạch, nhưng những cây lớn vẫn c̣n.  Bắp được trồng quanh các cây này.  Chúng tôi phải đào gốc buông dọn thêm đất để trồng bắp.  Những cây buông có đường kính ở gốc khoảng một thước với rễ ăn sâu xuống đất, do đó chúng tôi phải đào cái hố khoảng ba thước đường kính để bứng gốc của chúng.  Chỉ tiêu cho mỗi trại viên là hai cây buông mỗi ngày.  Đó quả thật không phải là một công việc dễ dàng.
Nhà lô của đội chúng tôi núp trong rừng rậm, do đó cán bộ quản giáo đội là ông vua trong vùng.  Bất cứ ai muốn đến nhà lô đều phải đi qua một con đường ṃn nhỏ đầy gai mắc cỡ, và đôi khi rắn rết hay ḅ cạp khắp nơi.  Ban giám thị trại ít khi nào muốn đến đó nên cán bộ quản giáo cùng cán bộ vũ trang có thể dùng bất cứ trại viên nào mà họ cần để làm những công việc riêng tư cho họ.
Với khả năng về vẽ và về mộc, thời gian này tôi hầu như là làm trong nhà lô mà thôi.  Các trại viên khác đặt cho những người làm công việc riêng cho cán bộ là “sĩ quan nhà lô”.  Tôi biết đó là một ư nghĩ không tốt, nhưng tôi không có sự chọn lựa nào khác.  Ở trong trại, chúng tôi phải làm những ǵ mà các cán bộ bảo chúng tôi làm nếu chúng tôi muốn sống.  Vă lại việc vẽ vài cái bông hoa trong cuốn sổ hay làm một cái rương gỗ cho họ cũng chẳng phải là một công việc “dơ bẩn” hay “xấu xa” ǵ.  Chẳng qua chỉ là công việc nhẹ nhàng hơn các người khác mà thôi, do đó vài người trở nên ganh tỵ!  Sống trong trại không dễ dàng hơn cuộc sống trong xă hội v́ tôi phải va chạm hàng ngày với nhiều người mà không thể tránh né họ được.  Làm thế nào để làm vừa ḷng hết mọi người?
Vào ngày Chúa Nhật hai tuần sau khi viết thư cho gia đ́nh, tôi được gọi đi thăm nuôi.  Tôi rất ngạc nhiên!  Đứa em trai út của tôi là Tuấn từ Phan Thiết vào thăm tôi.  Tuấn đă tốt nghiệp Đại Học Kinh Tế và đang làm việc ở thị xă Phan Thiết thuộc tỉnh Thuận Hải.  Chắc là em tôi đang làm việc cho chính quyền của VC nên tôi mới được phép thăm v́ hôm ấy không phải là ngày thăm nuôi.
Ngày thứ hai hôm sau, tôi đi lao động như thường lệ.  Hôm ấy đội chúng tôi không làm ở nhà lô mà đi làm vệ sinh cho một miếng đất ở phía sau nhà thăm gặp.
Nhà thăm gặp nằm phía bên phải của một con đường đất sét cách trại khoảng năm trăm thước về hướng quốc lộ số 1.  Đó là một căn nhà gạch dài khoảng hai mươi thước rộng sáu thước nằm bên trong ṿng rào bằng kẽm gai. Cổng trước của nhà thăm gặp đi thẳng vào pḥng thăm nuôi. Phía bên mặt là pḥng làm việc của cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi và làm pḥng để các thân nhân trại viên đến đăng kư, c̣n phía bên trái là một căn pḥng lớn làm pḥng chờ đợi.  Mỗi pḥng đều có cửa cửa trước, cửa sau và nhiều cửa sổ.
Phía sau khu nhà thăm nuôi là miếng đất trồng bắp.  Chúng tôi đang làm cỏ ở đấy mà mọi con mắt đều hướng về phía nhà thăm nuôi.  Đột nhiên tôi thấy vợ tôi và mẹ tôi ở trong pḥng chờ đợi.  Tôi vẫy tay làm dấu gọi và hai người cũng nh́n thấy tôi.  Tôi không biết tại sao trại lại không gọi tôi ở lại để được ra thăm nuôi.  Vợ tôi bảo con tôi đến gặp tôi, nhưng nó chỉ đứng ở xa xa.  Có lẽ tôi c̣n quá xa lạ với nó!  Tôi dẫn con tôi đến gặp cán bộ quản giáo để hỏi về trường hợp của ḿnh.  Hắn ta đang nhờ tôi làm những công việc riêng tư, cho nên hắn đi vào hỏi cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi và trở lại cho tôi biết rằng tôi đă được gặp gia đ́nh vào ngày hôm qua cho nên họ không giải quyết cho tôi nữa.  Tôi giải thích cho hắn biết rằng hôm qua chỉ là em tôi ghé để xem có phải tôi đă về đây không để báo cho mẹ và vợ tôi biết đến thăm tôi hôm nay.  Tên cán bộ quản giáo vào gặp cán bộ phụ trách thăm nuôi lần nữa rồi ra báo cho tôi biết là tôi được vào thăm ngay nhưng không được vào trại để thay quần áo.  May mắn cho tôi là hôm ấy tôi làm lao động ở sau nhà thăm nuôi, nếu không th́ chắc gia đ́nh tôi đành phải quay về.
Vợ tôi trông có vẻ khoẻ mạnh hơn ba năm trước khi gặp nhau ở trại Tân Lập; có lẽ v́ cô ấy không phải trải qua một đoạn đường quá dài như lúc đi từ Nam ra Bắc!  Đặc biệt là con tôi, lần đầu nó biết được cha, người cha thật sự chứ không phải chỉ qua mấy tấm h́nh chụp.  Sau một lúc bỡ ngỡ, nó đến với tôi và gọi “ba”!  Nó đă gần bảy tuổi và đang học lớp một ở trường tiểu học.
Mẹ tôi th́ trông già và gầy hơn.  Bà đă chịu đựng qua nhiều khổ đau kể từ khi cha tôi đi vào chiến khu.  Cuộc đời bà chỉ là một chuổi dài phấn đấu cho cuộc sống của gia đ́nh, cho chồng và cho con.
Điều mất mát lớn lao đối với tôi là cái chết của bà ngoại tôi, điều mà tôi cảm thấy lâu lắm rồi.  Gia đ́nh tôi đă dấu tôi việc này suốt ba năm trường.  Nhiều lần tôi có hỏi về bà ngoại tôi, nhưng mọi người trong gia đ́nh đều tránh không nói tới.  Tôi biết họ không muốn tôi đau buồn bởi v́ bà ngoại là người gần gũi với tôi nhất.

 

Chương 42. Cậu Học Tṛ Tên Tâm.

 

Đầu năm 1983, tôi được biên chế vào đội 2, họ gọi đó là “đội mía” với công việc làm hàng ngày là trồng và chăm sóc các ruộng mía ở phân trại K3 thuộc trại Z30D.
K3 nằm cách K1 khoảng bốn cây số về phía Nam, và vào lúc ấy th́ nó chỉ là một trại nuôi ḅ cho toàn trại.  Chỉ có vài trại viên được ban giám thị trại tin tưởng ở đó cùng với hai cán bộ trong một ngôi nhà lá không có rào ngăn nào cả.  Hàng ngày, họ dẫn khoảng năm mươi con ḅ vào đồng cỏ ở gần chân núi Mây Tàu để cho ḅ ăn và rồi buổi chiều lùa ḅ trở về chuồng.  Phân trại K3 đă từng là một phần của trại nơi giam giữ các trại viên, nhưng khi một số đông trại viên được thả vào năm 1980 th́ nó bị bỏ hoang.
Ngày đầu tiên đi lao động ở các cánh đồng ở K3, tôi gặp Tâm, nguyên là học tṛ của tôi ở lớp 12 trường trung học Hoàng Gia Huệ nơi tôi đă dạy từ năm 1970 đến năm 1975.  Hoàng Gia Huệ là một trường trung học công giáo thuộc một giáo xứ ở Trung Chánh, của đồng bào di cư từ Bắc vào Nam năm 1954.  Hiệu trưởng của trường ấy đồng thời cũng là cha xứ tên là Diêng, linh mục phụ trách nhà thờ ở trong xứ đạo.  Trong cuộc nổi dậy của Công Giáo chống lại Cộng Sản vào năm 1976, vài giáo sư của trường cũng như một phần đồng bào trong xứ đạo ấy đă bị bắt giam, số c̣n lại th́ chuyển đi nơi khác hay trốn biệt.  Tâm cho tôi biết là cha Diêng trốn vào “mật khu” để chống lại VC.  Chính Tâm cũng bị bắt trong cuộc nổi dậy đó.
Tâm khoảng hai mươi lăm tuổi vào lúc ấy, nhưng trông có vẻ trẻ hơn số tuổi có lẽ v́ dáng dấp nhỏ nhắn.  Da sạm nắng v́ thường làm việc ngoài đồng mà không bao giờ đội nón.  Thật ra th́ tôi không thể nhận ra học tṛ của ḿnh được cho đến khi Tâm đến nói chuyện với tôi.  Nhưng kể từ đó hắn ta rất cần thiết đối với tôi v́ Tâm vừa trẻ lại vừa lanh lẹ.  Chúng tôi lần lần trở thành hai người bạn thân và tôi bảo Tâm gọi tôi bằng “anh” thay v́ bằng “thầy”!  Hàng ngày khi đi lao động ở các cánh đồng mía ở phân trại K3, Tâm thường thu nhặt những thứ ăn được và nấu ăn cho cả hai.  Rắn, chuột, ếch nhái, và ngay cả thỏ cũng khó có thể thoát khỏi bàn tay của hắn ta v́ hắn “nhanh như sóc”!  Tôi chỉ cho Tâm cách làm bẫy và chúng tôi bắt được khá nhiều các thú nhỏ để cải thiện các bữa ăn.
Chúng tôi phải đi vào K3 bằng một con đường ṃn nhỏ dọc theo bờ suối.  Khoảng cách chỉ khoảng bốn cây số, nhưng phải mất hàng hai tiếng đồng hồ mới đến nơi được v́ con đường ṃn đầy những gai mắc cỡ và đá nhọn, và chúng tôi c̣n phải lội qua những con suối nhỏ nữa.  Vào những ngày mưa lớn th́ càng khó khăn hơn v́ chúng tôi phải đi vào rừng để tránh ḍng suối chảy siết.  Chúng tôi thường không về trại vào buổi trưa, và họ chỉ cho phép một trại viên là  “anh nuôi” đi cùng với cán bộ vũ trang về lănh cơm và thức ăn cho cả đội.
Công việc hàng ngày của chúng tôi là làm luống để trồng mía.  Luống mía rộng khoảng một thước rưỡi, cao khoảng năm tấc và dài tuỳ theo chiều dài của miếng đất.  Chúng tôi phải nối những đọt lá buông non lại với nhau để căng song song cách nhau khoảng bốn thước để làm chuẩn cho các luống mía.  Nếu luống mía đụng phải cây nào th́ chúng tôi phải đào gốc cây ấy.  Các cánh đồng quanh phân trại K3 đă bỏ hoang lâu ngày nên cỏ tranh và bụi rậm đầy dẫy.  Đặc biệt là các cây buông mọc cùng khắp rất khó bứng đi.  Làm luống mía quả thật là một công việc nặng nhọc v́ chúng tôi chỉ có mỗi người một cây cuốc mà thôi, tuy nhiên điều tốt nhất là chúng tôi cảm thấy chút nào đó tự do và quan trọng hơn cả là chúng tôi có cơ hội để thu nhặt được những thức ăn thêm.
Sau khi các luống đă thành h́nh, chúng tôi trồng vào đó những hom mía mà họ mua ở nơi nào đó.  Những hom mía này được cắm vào luống với góc độ khoảng ba mươi độ.  Trong ṿng ba tháng lao động nặng nhọc, bốn mươi trại viên chúng tôi làm được khoảng mười mẫu mía.  Chúng tôi lại phải khai phá thêm nhiều đất và chờ cho mùa thu hoạch vụ đầu để có hom trồng cho khu đất mới v́ họ không muốn bỏ tiền thêm ra mua hom mía nữa.  Cùng lúc ấy, chúng tôi phải làm cỏ cho các ruộng mía đă trồng để giúp mía dễ mọc lên.  Vụ thu hoạch mía đầu tiên diễn ra khoảng một năm sau khi cây mía bắt đầu có cờ.  Chúng tôi chặt mía sát gốc lấy ngọn trồng cho các ruộng mới và thân mía th́ đem đi bán cho các ḷ đường.  Chúng tôi c̣n phải đốt lá mía ở các ruộng đă thu hoạch để giúp cho cây mía mọc lên mùa thứ hai, và họ bảo rằng mùa thứ hai này mới là mùa thu hoạch có năng suất cao nhất.  Hai mươi mẫu mía này là những ruộng mía đầu tiên mà chúng tôi đă làm ở trại Z30D.  Vài năm sau, trại thành lập ḷ đường và mua thêm mía của nơi khác về để nấu đường cộng thêm với mía trồng trong trại.
Đầu năm 1984, Tâm và tôi chuyển về đội mộc.  Tâm làm trong nhóm làm mộc c̣n tôi th́ thuộc nhóm xây dựng.  Thỉnh thoảng chúng tôi cũng c̣n gặp nhau cho đến khi Tâm được thả ra vào cuối năm 1984.

 

 

Chương 43. Vợ Tôi Nói Tiếng “Giả Từ!”

 Sau lần thăm nuôi đầu tiên th́ vợ và con tôi thường lên thăm tôi khoảng hai hoặc ba tháng một lần.  Chúng tôi bắt đầu có dịp để nói được những điều mà chúng tôi muốn nói.  Cán bộ phụ trách nhà thăm gặp lần lần dễ dăi hơn.  Hắn ta không c̣n ngồi ở bàn nữa và c̣n cho chúng tôi được gặp nhau dài hơn hai mươi phút như thời hạn mà trại ấn định v́ cũng không c̣n nhiều trại viên thăm gặp như lần đầu nữa.
 Kể từ khi ấy, tôi cảm thấy chút nào đó gần gũi với vợ tôi hơn trước.  Nhưng tôi lại thấy một vài điều ǵ đó chia cắt chúng tôi, những điều mà tôi không thể giải thích được.  Vợ tôi trông cũng “mỏng manh”, ít nhất là diện mạo bên ngoài, vẫn là người mà tôi yêu, nhưng tôi nghĩ có lẽ cô ấy đă thay đổi.  Cô ấy có vẻ tự tin hơn trước, và tôi nghĩ cô ấy thật sự không c̣n “mỏng manh” như trước nữa.  Cô ấy không c̣n cần tôi nữa.  Ngược lại chính tôi mới là người cần cô ấy!  Tôi cũng không biết rằng v́ t́nh yêu hay chính là những quan niệm cổ xưa đă là sợi dây trói buộc chúng tôi với nhau.  Tôi cảm thấy tội nghiệp cho vợ tôi đă phải uổng phí cuộc đời v́ tôi.  Đôi khi tôi bảo vợ tôi rằng mặc dù tôi vẫn rất yêu thương cô ta nhưng tôi không muốn cô ấy phụ thuộc vào tôi nữa v́ tôi không thể biết bao giờ tôi mới được thả ra.  Tôi rất mong việc ấy, nhưng mọi cái đều không c̣n tùy thuộc vào tôi nữa!  Tôi chỉ mong cô ta hăy nuôi dạy con chúng tôi trở nên người tốt trong xă hội mới này mà thôi.
 Cuối năm 1983, trại bắt đầu cho phép những trại viên mới về từ trại Tân Lập được thăm nuôi qua đêm.  Điều này trước đây chỉ áp dụng cho những trại viên thuộc diện đặc biệt như các “đội trưởng”, “ban thi đua”, và các trại viên làm trong các “bộ phận lẻ”.  Vợ tôi bảo tôi t́m cách hỏi cán bộ để chúng tôi được gặp nhau qua đêm ít nhất một lần để chúng tôi có dịp nói những điều xảy ra trong thời gian dài mà tôi xa nhà.  Không hiểu tại sao tôi lại cảm thấy chút nào đó lo lắng về ư định này của vợ tôi.
 Cán bộ quản giáo của đội lúc ấy tên là Tư.  Hắn ta cũng đang nhờ tôi làm một vài công việc riêng.  Hắn ta bảo tôi rằng hắn chỉ có thể giúp tôi được việc này nếu tôi là đội trưởng hay đội phó mà thôi v́ đó là quy định của ban giám thị trại.  Hắn ta dựng ra một chức vụ mới cho tôi là “đội phó đặc trách về đời sống” cho trại viên trong đội, và đó là lần đầu tiên mà tôi được gặp vợ tôi qua đêm vào tháng mười năm 1983.
 Nhà thăm gặp cho trại viên và gia đ́nh ở qua đêm là một căn nhà lá nằm trong ṿng rào đối diện với khu thăm nuôi.  Nó có bốn pḥng ở hai đầu nhà để thăm gặp và một căn pḥng ở giữa dành cho cán bộ.  Pḥng thăm gặp là một pḥng nhỏ h́nh vuông mỗi cạnh khoảng ba thước, vách lá và nền đất.  Chỉ có một cái giường nhỏ với chiếc chiếu cói và một cái bàn không có ghế ở bên trong pḥng.  Một bóng đèn điện treo phía dưới mái nhà cung cấp một ánh sáng vàng vọt cho căn pḥng.
 Đêm ấy, vợ tôi đă nói rất nhiều về cuộc sống của cô ấy kể từ khi rời trường Chu Văn An để về nhà, và điều chính yếu là cô ấy muốn tôi nói với gia đ́nh tôi để cô ấy được phép về sống với gia đ́nh ba má cô ấy.  Tôi cũng đă biết về những sự xung khắc giữa vợ tôi với gia đ́nh tôi từ lâu, nhưng tôi nghĩ cô ấy có thể vượt qua được những điều ấy.  Vợ tôi luôn luôn dễ ḥa hợp với mọi người!  Ở lại với vợ tôi, tôi đă không thể ngủ được, suốt đêm nằm nghe những điều cô ấy nói cộng với tiếng dế và tiếng côn trùng rên rỉ bên ngoài pḥng.  Trở vào trại vào chiều ngày hôm sau, tôi suy nghĩ rất nhiều về những điều mà vợ tôi đă tâm sự và bỗng cảm thấy một cái ǵ đó không ổn mà tôi sẽ phải đối phó trong những ngày sắp tới.  Đó không đơn giản như mọi việc b́nh thường.  Tôi không thể từ chối những yêu cầu của vợ tôi, nhưng tôi biết rằng tôi sẽ mất cô ấy.  Tám năm chờ đợi đă quá dài đối với cô ấy; tôi không thể nào ích kỷ!  Cô ấy phải có cuộc sống riêng, ngay cả không có tôi trong đó.  Cô ấy có thể làm việc ấy một ḿnh, nhưng cô ấy đă hỏi tôi trước, chính điều này khiến tôi lâm vào t́nh trạng tiến thối lưỡng nan.  Tôi vẫn c̣n yêu vợ tôi quá nhiều, nhưng tôi lại không muốn cô ấy bỏ phí cuộc đời v́ tôi.  Cô ấy có thể bắt đầu làm lại cuộc đời ở cái tuổi ba mươi hai; nếu không th́ sẽ quá trễ!  Với ư nghĩ ấy, tôi đă viết thư cho gia đ́nh tôi.
 Hai tháng sau, vợ tôi lại lên thăm tôi lần nữa.  Cô ấy cảm ơn tôi về quyết định của tôi.  Chúng tôi ở lại với nhau đêm ấy, và đó cũng là lần cuối cùng!  Cô ấy đă dời trở về nhà với cha mẹ.
 Ba tháng sau đó, vợ tôi lại lên thăm tôi.  Nhưng lần này th́ cô ấy không muốn ở lại và chỉ cho tôi biết cô ấy đang sửa soạn đi ra nước ngoài với người “anh họ” của cô ấy.  Theo lời vợ tôi cho biết th́ ông anh họ ấy đă di tản sang Mỹ vào năm 1975, và hiện đang có ư định bảo lănh cô ấy sang đó với anh ta.  Tôi hoàn toàn không biết ǵ về ông “anh họ” này, và tôi nghĩ tôi cũng không cần phải biết.  Điều duy nhất tôi biết là lần ấy sẽ là lần cuối cô ấy lên thăm tôi.  Cô ấy trông có vẻ xa xôi đối với tôi mặc dù vẫn đang ngồi gần nhau trong nhà thăm gặp.  Cô ấy ăn mặc cũng có vẻ sang trọng hơn những lần trước.  Và cô ấy nhất định quay về nhà sau giờ thăm gặp mặc dù tôi đă xin được ở lại đêm ấy.  Vợ tôi chưa nói tiếng “từ giă” nào cả, nhưng qua thái độ của cô ấy tôi biết đó là lời nói giă từ.  Tôi phải chấp nhận bất cứ điều ǵ xảy ra cho tôi v́ “đất nước mất vào tay Cộng Sản là mất tất cả.” 
 Trong lần gặp nhau cuối cùng ấy, vợ tôi đă nhờ tôi kư tên vào giấy cho phép con tôi đi với cô ấy ra nước ngoài.  Tôi đợi tờ giấy ấy, nhưng măi vẫn không thấy.  Tôi biết tôi cũng sẽ mất cả con tôi một khi tôi kư vào giấy ấy.  Tôi luôn luôn sẳn sàng chấp nhận mọi mất mát, và chỉ cầu mong cho vợ con tôi được một cuộc đời khá hơn.  Tôi đă viết rất nhiều bức thư cho vợ tôi nhưng rồi lại xé đi!  Tôi không muốn cứ măi làm một vật cản đường tiến của cô ấy.  Cô ấy phải được đền bù cho những mất mát mà cô ấy đă phải chịu suốt tám năm trường!
 Tôi phải ở trong trại bao lâu nữa đây?  Không ai biết được điều này.  Cô ấy đă hoàn toàn đúng khi viết cho tôi trong một bức thư sau đó rằng cô ấy phải “thực hiện những điều thật tế trước mắt chứ không thể mất thời giờ để chờ đợi một sự viễn vông!”  Đó là một lời “từ giă” mà tôi nhận được từ vợ tôi.  Để ghi khắc điều này, tôi quyết định bỏ hút thuốc.  Tôi trao lại cho bạn bè tất cả thuốc hút mà tôi có và nói với họ rằng kể từ giờ phút ấy sẽ không bao giờ tôi đặt một điếu thuốc lên môi.  Điều ấy quả là một điều không dễ dàng đối với một người nghiện thuốc lá như tôi, nhưng tôi quyết phải làm được việc này để chứng tỏ cho mọi người thấy tôi sẽ làm được cái mà nhiều người vẫn thường cho rằng họ chỉ có thể “bỏ được người yêu chứ không thể bỏ được thuốc lá.”  “Cô ấy đă bỏ tôi; tôi sẽ bỏ hút!”  Tôi nghĩ đó có lẽ sẽ là chấm dứt cho chuyện t́nh của ḿnh, nhưng rồi nó vẫn đeo đẳng tôi măi măi trong suốt thời gian tôi ở trong trại cải tạo.  Nó chỉ mới là lời “từ giă” chứ vẫn chưa phải là lời “vĩnh biệt”!

Chương 44. Đội Mộc.

Vào đầu năm 1984, tôi được chuyển về đội làm mộc của trại Z30D.  Các trại viên làm ở đội này thường là những người t́nh nguyện khi trại có nhu cầu tuyển một số trại viên có tay nghề để bổ sung cho đội.  Lần này th́ tôi không t́nh nguyện v́ tôi cảm thấy làm nông nghiệp ở trại Z30D cũng không đến nỗi quá nặng nề như ở trại Tân Lập và nhất là chỉ làm rẫy, không có những con đĩa mà tôi kinh khiếp nhất.  Thêm vào đó, đi làm nông nghiệp c̣n có cơ hội để thu nhặt được những thức ăn cải thiện nữa!  Tuy nhiên chính cái lịch sử làm mộc ở trại Tân Lập đă đưa tôi vào đội mộc của trại Z30D.
Nhà ở của đội nằm cuối khu trại, gần nhà bếp và đó cũng là nhà ở cho các trại viên làm trong đội bếp.  Đó là một dăy nhà lá dài và không ngăn riêng thành từng pḥng giam.  Vách nhà làm bằng lá buông đắp vào lớp tre đan và những song cửa sổ làm bằng những thanh tre dọc.  Đây quả thật là một kiến trúc rất sơ sài đối với một nhà giam.
Khoảng một trăm năm mươi trại viên thuộc ba đội được nhốt trong căn nhà giam dài khoảng sáu mươi thước ngang sáu thước.  Các trại viên thuộc đội bếp ở một đầu nhà, đội mộc ở giữa, và đội xây dựng ở đầu kia.  Có hai nhà vệ sinh ở hai đầu nhà.  Các trại viên nằm ngủ trên những vạt đan bằng tre và đặt lên một khung gỗ hai tầng.  Cách bố trí trong nhà giam cũng tương tự như ở trại Tân Lập chỉ có điều mọi thứ vật liệu được làm rất cẩu thả.  Chúng tôi không có kệ để đồ đạc cho nên phải đặt ngay trên đầu chổ nằm.  Căn pḥng tuy thế vẫn c̣n chỗ trống cho nên chúng tôi cũng không đến nỗi quá chen chút!  Điều tệ hại nhất là nền nhà bằng đất nên trong nhà rất bẩn thỉu.  Ba đội ở trong nhà giam này thường làm từ sáng đến tối mới về pḥng để ngủ, v́ vậy cũng không ai quan tâm nhiều đến vấn đề vệ sinh này!
Khi về đây, tôi gặp lại những người bạn và những sếp cũ của tôi, những người đă ở lại trại Thủ Đức khi tôi bị chuyển ra trại Tân Lập năm 1977.  Họ đều làm ở đội bếp.  Trong thời gian sống ở đây, tôi chỉ nhớ có một người bị chết v́ bệnh, đó là ông Cựu Tổng Trưởng Phát Triển Sắc Tộc của nội các cuối cùng của chính phủ Nam Việt Nam.  Một số khác th́ đă ở trại Z30D với tôi cho đến đợt thả rộng răi năm 1988 như Lương, cựu trưởng ban A10, Trang, cựu trưởng ban A8, và một số khác th́ ở lại trại với tôi cho đến chung cuộc như Cang, nguyên Đặc Ủy Trưởng, Nghi, nguyên trưởng toán đặc nhiệm Cảnh Sát Đặc Biệt.
Đội mộc là đội có số trại viên đông nhất toàn trại Z30D, nó được chia ra làm bốn nhóm: nhóm mộc, nhóm xây dựng, nhóm xẻ gỗ, và nhóm rèn.
Nhóm làm mộc và nhóm xây dựng khoảng ba mươi trại viên thường làm việc hỗ trợ nhau trong những công việc như đóng đồ mộc trong nhà, làm cửa nhà, và làm những công việc của xây dựng như gắn cửa, gắn đ̣n tay và v́ nhà, và làm nhà bằng cây gỗ hay tre nứa.
Nhóm xẻ gỗ khoảng mười lăm trại viên có nhiệm vụ xẻ gỗ bằng cưa ṿng và cưa mâm, cung cấp gỗ thành phẩm cho mộc và xây dựng.
Nhóm rèn khoảng mười trại viên chuyên làm dao cho đội lâm sản, làm và sửa cuốc cho các đội nông nghiệp.
Nhà lô của đội mộc nằm gần con suối.  Đó là bốn căn nhà lá nằm trong một khoảng đất độ một mẫu, rào quanh bởi dây kẽm gai: một láng dành cho nhóm mộc và xây dựng, một dành cho nhóm rèn và xẻ, một dành cho những trại viên ở lại làm vào buổi trưa, và nhà cho các cán bộ.  Căn nhà duy nhất có vách là nhà ở cho các cán bộ.  Láng xẻ và rèn nằm song song với một con đường đất sét đi từ K1 sang K2 và nằm đối diện với nhà bếp (bếp sau đó dời vào một nơi khác).  Căn nhà dành cho cán bộ nằm cạnh cổng chính đi vào khu mộc và gần với láng rèn và xẻ.  Nhà dành cho trại viên ở lại làm buổi trưa nằm thẳng góc với nhà dành cho cán bộ, và căn láng mộc và xây dựng nằm cuối khu đất, song song với láng rèn và xẻ.  Tất cả các cấu trúc được làm theo h́nh chử U với khu đất trống ở giữa dùng để chứa cây gỗ.
Làm công việc xây dựng ở trại Z30D tương đối dễ dàng hơn ở trại Tân Lập v́ cây gỗ đă được cắt sẳn theo h́nh dáng và kích thước với cưa xẻ và cưa mâm.  Chúng tôi không phải đẻo và bào tṛn.  Các lỗ mộng th́ h́nh vuông và dùng đinh để đóng, do đó cũng đơn giản hơn làm mộng đuôi cá.
Đầu tiên th́ chúng tôi chỉ có nhiệm vụ làm và sửa chữa các nhà lô của các đội, sửa chữa các nhà của khu trại và khu cơ quan.  Khoảng sáu tháng sau, một cán bộ tên là Nhu nắm quyền điều hành đội và mọi việc đều bắt đầu thay đổi.  Trại viên phải làm việc nhiều hơn tám giờ mỗi ngày và đôi khi c̣n phải làm cho tới tối mịt.  Tổng số trại viên của đội lên tới con số trên một trăm người.  Nhu đốt các căn láng trong khu mộc và cho xây dựng mới, và nhà ở cho trại viên làm ngoài giờ được trang bị lại với những sàn ngủ v́ chúng tôi không những phải làm trưa mà c̣n phải ở lại làm đêm.  Căn láng xẻ và rèn được xây hai tầng: tầng trên dành cho cán bộ canh gác láng mộc và tầng dưới th́ đặt máy cưa và làm pḥng cho những người làm mũi cưa.  Một căn nhà h́nh bát giác nằm cạnh cánh cổng được xây dựng cho Nhu mỗi lần đến kiểm tra công việc của đội và sau đó dành cho Giới, trại viên phụ với Nhu trong công tác xây dựng.
Khi công việc của đội quá nhiều, Nhu đă thành lập ba nhóm cưa xẻ gồm một nhóm của các cán bộ để liên tục xẻ gỗ hai mươi bốn giờ mỗi ngày.  Trại viên phải ở lại nhà lô và thay phiên nhau làm việc.  Buổi tối, Nhu buộc các trại viên trong các đội khác chuyển mạt cưa đem đổ dấu vào các ruộng mía.  Đội kiểm lâm của tỉnh Thuận Hải cũng thường đến kiểm tra về việc phá rừng, nhưng không thể t́m thấy dấu vết.  Đôi lúc họ cũng đă bắt giam các trại viên đi lấy gỗ, nhưng rồi cũng phải thả ra v́ họ không thể giử các trại viên đang ở trong trại cải tạo.  Khoảng chừng sáu tháng sau, rừng quanh trại hoàn toàn bị khai phá.  Nhu cho các trại viên trồng cây bạch đàn xen lẫn với mía để thế vào.  Gỗ quư được xẻ và chuyển đi nơi khác.  Nhu càng lúc càng giàu và càng có thế lực.
Công việc xây dựng trong trại cũng được tiến hành để thay thế các căn nhà lá.  Đầu tiên th́ nhóm xây dựng chỉ phụ các nhà thầu làm nhà trong khu B của trại.  Sau đó, chúng tôi phải tự xây nhà lấy.  Những căn nhà được xây lên rồi phá xuống rồi xây lại nhiều lần.  Tôi không biết tại sao, nhưng vài cán bộ cho biết rằng Nhu làm như thế để thu tiền của “nhà nước” về cho “trại”, v́ hắn ta sẽ báo cáo tổng số diện tích xây dựng lên trên để nhận ngân khoản.
Trong thời gian ấy th́ Giới, một trại viên trước là thiếu tá dù của VNCH, phụ cho Nhu trong công tác xây dựng và nắm hết mọi quyền hành mặc dù Tứ là đội trưởng của đội mộc.  Tôi cảm thấy không an toàn chút nào trong công tác xây dựng v́ công việc làm rất cẩu thả, do đó tôi đă nói với Tứ chuyển tôi về nhóm xẻ gỗ.  Trong nhóm này, tôi phụ đẩy máy cưa và đôi khi đi đo và tính gỗ do đội lâm sản chuyển về khu đất bên cạnh khu mộc.  Cây gỗ hầu hết là loại gỗ quư như Cẫm Lai, Trắc, Gỗ Tếch, Gơ Đỏ vân vân được đem về quá nhiều đến nỗi đôi khi tôi phải đo cả ngày và tối lại mới có thời giờ để tính toán khối lượng.
Làm việc trong đội mộc, tôi không thể thu hoạch được thêm thức ăn như lúc làm trên các cánh đồng.  Nhưng được cái là nhà lô của đội nằm gần bờ suối, do đó tôi làm một số câu cắm đặt ở bờ suối và bắt cá góp thêm vào bửa ăn.  Đôi khi tôi có thể dùng buổi trưa để đi câu ở suối nữa.
Cho đến năm 1986, khi nhiều nhà đă được xây dựng, Nhu chuyển tôi về làm công việc vẽ tranh để trang trí nội thất, tuy nhiên tôi vẫn thuộc nhân số của đội mộc.

 

Chương 45. Nhu Và Sự Thay Đổi Của Trại Z30D

 Cuộc sống của chúng tôi ở trại Z30D tuỳ thuộc rất nhiều vào một cá nhân.  Tên hắn ta là Trịnh Văn Nhu.  Hắn ta điều hành trại theo đường lối riêng của hắn, và là một bóng ma không những đối với trại viên mà cả đối với cán bộ nữa.
 Trại trưởng trước của trại là Đoàn Mạch, người đă từng làm trại trưởng của trại Thủ Đức từ những năm 1975.  Khi tôi mới chuyển về trại Z30D th́ Mạch vẫn c̣n là trại trưởng và Phúc là trại phó.  Trưởng phân trại K1 là Ninh.  Nhu lúc ấy chỉ là trung úy phụ trách về hậu cần.  Ban Giám thị trại lúc ấy điều hành trại theo một đường lối mà tôi vẫn thấy ở trại Tân Lập với mục đích là giữ cho trại viên trong một kỷ luật và lao động như thường lệ.  Chúng tôi làm lao động tám giờ một ngày và chỉ làm công việc lao động hàng ngày trên những cánh đồng bắp nhỏ hay làm việc trong các nhà lô.  Khu vực quanh trại vẫn c̣n hoang vắng; cây cối và bụi rậm c̣n mọc dầy đặc.  Trại lúc ấy c̣n có vẻ rất tạm thời ngoài các kiến trúc ở khu A.
 Nhu bằng với tuổi của tôi, lúc ấy khoảng bốn mươi, nhưng hắn trông có vẻ già hơn.  Hắn ta lùn, ốm, và có diện mạo trông rất rơ ràng là của một người bần nông miền Bắc mặc dù hắn đă cố t́m cách che đậy bằng mọi phương tiện!  Da ngâm đen, và hàm răng hô được gắn rất nhiều vàng, điều mà chúng tôi thường nói đùa lén với nhau là “khi hắn ta cười th́ cả bầu trời này đều rực rỡ.”  Cái kỳ cục nhất của hắn ta là cách ăn mặc khác thường.  Khi tôi gặp hắn ta lần đầu ở nhà kho, hắn ta mặc một bộ vét màu xanh lá mạ rất rực rỡ mặc dù trời hôm ấy rất nóng.  Tôi cũng thấy nhiều lần khác hắn ta mặc đồ pi-da-ma đi khắp nơi trong trại cũng như trong các hiện trường lao động của trại viên.  Khi nói chuyện với các trại viên lớn tuổi, hắn ta cố dùng những từ ngữ thân thiện, nhưng tư cách th́ lại tỏ ra rất mất dạy.
 Vào năm 1985, tôi nghe nói rằng Nhu được bầu vào chức vụ Bí thư của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản của trại, đó là một chức vụ quan trọng ở cơ quan trại.  Trong quốc gia của Cộng Sản, luôn luôn có hai tổ chức trong cùng một đơn vị: tổ chức chính quyền và tổ chức Đảng (Đảng Cộng Sản).  Ở cơ quan trại th́ có hai đơn vị chính là Ban Giám Thị và Hội Đồng Cán Bộ, và hai tổ chức Đảng của hai đơn vị này là Đảng Bộ và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản.
 Do nhu cầu xây dựng trại, Nhu bắt đầu nắm lấy quyền điều hành đội mộc.  Hắn ta không làm Cán Bộ quản giáo, nhưng v́ là Cán Bộ hậu cần và là Bí Thư đoàn Thanh Niên, hắn ta điều hành hết mọi công việc của đội.  Cán bộ quản giáo lúc ấy chỉ là bù nh́n!  Nhu thay đổi cán bộ quản giáo của đội bất kỳ lúc nào.  Hắn ta tái tổ chức đội, đặt hai tổ mộc và xây dựng lại với nhau, và biên chế nhiều trại viên vào đội.  Đội mộc trở thành một điểm nóng của toàn trại với tổng số trại viên lên đến trên một trăm người.  Hắn ta buộc trại viên làm việc nhiều hơn là tám giờ một ngày, và đôi khi hắn ta lấy đồ vật trong nhà kho của cơ quan để “bồi dưỡng” cho trại viên.  Chẳng ai dám phê b́nh hắn v́ hắn ta là cán bộ hậu cần, và hắn cũng thường bảo rằng: “thủ kho to hơn thủ trưởng.”
 Nhu nổi lửa đốt nhà lô của đội mộc rồi cho xây dựng mới.  Căn nhà dành cho các trại viên làm ngoài giờ được làm vách và đặt sàn nằm v́ hắn ta buộc trại viên của đội làm cho đến tối mịt và không được nhập trại vào buổi trưa.  Căn láng của máy cưa xẻ th́ được xây hai tầng; tầng trên dành cho cán bộ canh gác khu nhà lô ngày lẫn đêm, và tầng dưới th́ để máy cưa.  Một căn nhà cho cán bộ quản giáo ở gần cổng và một căn nhà h́nh bát giác ở cạnh đó dành cho riêng hắn ta mỗi lần đến nhà lô.
 Sau khi đội mộc đă được tái tổ chức, Nhu bắt đầu nắm lấy đội xây dựng.  Đội này đang phụ với các nhà thầu xây dựng căn nhà ở khu B của trại.  Khi đội xây dựng đă được tái tổ chức, Nhu đuổi các nhà thầu và cho đội xây dựng tự làm các nhà trong khu B.  Những căn nhà này được làm rất cẩu thả so với các nhà khác với tường mười thay v́ hai mươi phân, và các sàn nằm th́ xây bằng xi măng thay v́ lát gạch.  Nhu không quan tâm đến chất lượng xây dựng mà chỉ chú ư đến thời gian.  Đôi khi hắn ta buộc trại viên phải hoàn tất công việc trong một hai ngày không kể ngày đêm hay phẩm chất tốt xấu.  Hắn ta thường xuyên hiện diện ở các điểm nóng.  Hắn ta thưởng cho những trại viên làm việc siêng năng và xử phạt các trại viên tỏ ra lười biếng.  Những tưởng thưởng này chỉ là một ít thịt, một ít đường, hay đôi khi là một bộ đồng phục tù, nhưng chúng tôi cũng phải ra sức lao động v́ không ai muốn bị nhốt kỷ luật.
 Trong thời gian này, trại viên nằm đầy trong các pḥng giam kỷ luật.  Các cán bộ đôi khi phải dời các trại viên ở quá lâu trong ấy về cùm ở pḥng giam để dành chỗ cho những trại viên mới vào.  Một khi trại viên bị nhốt kỷ luật, họ phải ở trong đó cho đến khi Nhu nhớ và thả ra.  Đôi khi cán bộ trực trại c̣n phải nhắc Nhu về những trại viên bị cùm quá lâu.  Nhu thưởng phạt trại viên một cách rất bất thường.  Tôi nghĩ rằng hắn ta muốn cảnh cáo cho những trại viên khác để họ làm lao động tích cực hơn.  Ngoài ra, hắn ta cũng muốn chứng tỏ cho các trại viên biết rằng hắn ta có quyền hành vô giới hạn; hắn ta có thể làm mọi việc mà không cần biết đến giới hạn của luật pháp.
 Do nhu cầu xây dựng, đội lâm sản sau đó đă bị Nhu nắm lấy quyền hành.  Nhu đốt khu rừng phía bên kia suối nơi đội lâm sản dựng nhà lô.  Hắn ta cho xây lại nhà lô của đội lâm sản ở khu vực K3, gần chân núi Mây Tàu.  Hắn ta biên chế thêm trại viên vào đội này và cho nhiều cán bộ vào cùng làm với các trại viên đồng thời quản chế trại viên luôn.  Đội lâm sản đôi khi phải ở luôn trong rừng cả ngày lẫn đêm.  Cây cối được hạ và chuyển về nhà lô đội mộc dấu ở khu đất trống bên cạnh.  Rừng chung quanh trại bị phá quá nhanh cho nên toán kiểm lâm của tỉnh Thuận Hải thường vào để kiểm tra trại.  Nhu cho trại viên đem dấu mạt cưa trong các ruộng mía, và che dấu các cây gỗ bằng lá buông và mía.  Hắn ta tổ chức tiệc tùng cho các nhân viên kiểm lâm mỗi khi họ đến kiểm tra trại, và rồi dần dần các toán kiểm lâm này đă bị mua chuộc.
 Kể từ khi Nhu nắm lấy đội mộc th́ trại Z30D cũng bắt đầu thay đổi.  Đầu tiên các khu nhà giam tạm thời của khu B và C bị hạ.  Khu D biến thành khu B với bốn căn nhà mới xây thêm.  Khu nhà bếp mới được xây dựng ở gần với khu B, và khu bệnh xá ở gần khu A.  Khu trại được rào quanh bằng tường gạch và chỉ có một vọng gác nằm thẳng với hội trường giửa hai khu A và B.  Khu nhà giam kỷ luật nằm phía sau hội trường.  Hai bức tường ngăn cách khu A và B với khu hội trường.  Khu đất nằm giữa khu nhà bếp và khu bệnh xá được dùng làm khu vực tập họp trại viên đi lao động.  Sau đó Nhu cho xây dựng một thư viện ở gần bệnh xá, đào và xây hồ nuôi cá vàng, và làm một vườn hoa bên cạnh.  Muốn đi vào bệnh xá, mọi người đều phải đi qua một cây cầu bắt ngang hồ nước.  Thư viện được làm hai tầng: tầng dưới làm thư viện c̣n tầng trên th́ làm pḥng nơi Nhu tiếp khách vào thăm trại.  Hai kiốt nằm hai bên đường vào hội trường dùng làm “căn tin” bán đồ đạc cho các trại viên có tiền.  Khu hội trường sau đó biến thành cái gọi là “khu vui chơi.”
 Không những ở trong trại mà cả khu cơ quan và khu vực chung quanh trại cũng hoàn toàn thay đổi.  Trại viên phải đào ao trong khu cơ quan và xây cầu cùng các nhà nổi trên các hồ nước.  Khu vực phía trên suối được đào để làm hồ nước thủy điện.  Ḷng suối th́ được cẩn bằng đá lấy từ núi về.  Rất nhiều công viên được thành h́nh ở hai bên suối.  Nhu cho xây lại khu thăm nuôi phía bên kia suối, cất nhiều nhà cho thân nhân ở lại qua đêm để thu tiền và làm một căn tin để bán đồ cho thân nhân.  Mọi việc đều được thực hiện bằng lao động nặng nhọc của trại viên.
 Sau khi các kiến trúc của trại gần hoàn chỉnh th́ Nhu đưa một số trại viên đi xây những căn tin và khách sạn ở lề đường của Quốc Lộ Số Một và đi xây đập thủy điện ở thị xă Tân Xuân, cách trại khoảng sáu mươi cây số.  Cùng khi ấy th́ đội lâm sản được dời vào khu mới để hạ cây gỗ và phá rừng để trồng mía và bạch đàn.  Khoảng sáu tháng sau th́ khu vực rừng rậm chung quanh trại khoảng trên mười lăm cây số đều bị tàn phá.  Cây bạch đàn được trồng vào để thay thế cho các loại cây gỗ quư đă được trồng hàng trăm năm trước.  Nhu càng lúc càng trở nên giàu có và có thế lực!
 Sự thay đổi c̣n xảy ra trong nội bộ nhân sự ở cơ quan nữa.  Sau khi trại trưởng Đoàn Mạch nghỉ hưu, “trung ương” cử Ư vào thay, và Nhu lên làm trưởng phân trại K1 mặc dù lúc ấy hắn ta chỉ mới mang lon trung úy.  Nhu bắt đầu nắm hết quyền hành ở cơ quan và Ư chỉ là một bù nh́n.  Trại phó Phúc th́ là một bóng mờ, không ai để ư ǵ đến hắn ta.  Ninh, nguyên trưởng phân trại K1 được chuyển đi nơi khác khi Nhu thay thế.  Mọi việc từ K1 đến K2 đều nằm trong tay Nhu.  Sau một thời gian th́ cả hai phân trại K1 và K2 được nhập vào nhau và Nhu trở thành trưởng trại mặc dù lúc ấy hắn ta chỉ mới mang quân hàm đại úy.  Sau khi nhiều trại viên được thả vào năm 1988, trại Z30C ở cách trại Z30D khoảng ba mươi cây số được sát nhập vào và Nhu biến thành trại trưởng của liên trại, lúc ấy th́ hắn ta mang lon thiếu tá.  Hắn ta leo lên bốn cấp chỉ trong ṿng ba năm.  Hắn đặt các “đàn em” vào các chức vụ trưởng phân trại K1 và K2 để dễ dàng hành động theo ư.
 Các cán bộ cũng rất sợ Nhu.  Các cán bộ quản giáo và vũ trang luôn phải canh chừng để loan báo cho các trại viên biết khi thấy Nhu đi đến từ xa v́ nếu có điều ǵ đó xảy ra th́ không những trại viên bị cùm mà các cán bộ cũng có thể bị chuyển đi.  Có một lần tôi đi vẽ bức tranh tường ở khu cơ quan; các trại viên th́ đang đào ao gần đó, và các cán bộ cũng đang làm lao động ở gần để chặt bỏ các cây xoài.  Một cán bộ đang chặt nhánh một cây có đầy kiến vàng.  Hắn ta nhảy ra xa để phủi kiến đeo đầy cổ.  Tôi nghe Nhu la lớn lên: “Mày sắp là Đảng viên mà lại sợ mấy con kiến vàng à?”  Tên cán bộ đành phải tiếp tục làm việc, một tay cầm dao chặt nhánh xoài c̣n một tay th́ phủi mấy con kiến đang đeo ở cổ.  Thật là một cảnh tượng mà tôi chưa hề trông thấy bao giờ!  Nhu đối xử với các “đồng chí” của hắn ta c̣n như vậy th́ đối với chúng tôi hắn ta sẽ đối xử ra sao?
 Nhu lại là một con người rất mê tín.  Hắn ta dùng riêng Văn như một người bói toán và coi địa lư.  Trần Hồng Văn, một tên thọt và từng là một kư giả trong chế độ Cộng Sản, bị tù v́ tội ǵ th́ tôi không được biết.  Hắn ta quả thật là một tên ba hoa!  Văn được Nhu cho làm việc ở thư viện và được ở trong một căn pḥng riêng ở gần thư viện.  Hắn ta bảo với Nhu rằng ḍng suối phía sau trại là một con rồng mà cái đầu rồng th́ nằm ở gần với tảng đá phía sau khu láng mộc.  Nhu cho xây một căn nhà h́nh bát giác ngay trên con suối ở đó cho riêng hắn ta, và xây một vườn hoa trông giống h́nh một ngôi mộ ngay trên bờ suối.  Hắn tin rằng đó là mộ của hắn và khi nó được hoàn tất th́ hắn ta sẽ đứng vào ngôi mộ ấy coi như hắn ta đă được chôn ở đó để kiếp sau được tốt.  Tôi biết được điều này nên mặc dù không tin tôi cũng muốn phá ư đồ của hắn ta bằng cách đem chôn một con cá ḷng tong mà tôi câu được trong ḍng suối.  Tôi khấn rằng nó sẽ biến thành một con ḱnh ngư sau này thay v́ Nhu biến thành vương tướng như ư hắn mong muốn!
 Trong “thời đại” của Nhu, các trại viên phải làm việc rất nặng nhọc mà lại bị xử phạt một cách rất vô lư.  Vài trại viên đă bị thương tật, bị chết, và vài người bị què khi khai thác vùng đất đầy ḿn ở một đồn địa phương quân cũ phía bên kia Quốc Lộ Số Một, để trồng cây bạch đàn.  Trại viên phải làm việc cả ngày lẩn đêm không đủ thời giờ nghỉ ngơi.  Đội mộc phải làm việc hai mươi bốn giờ trong một ngày với hai nhóm làm việc thay phiên nhau trong ba ca.  Những đội khác th́ phải làm thêm những việc làm ban đêm như đào ao, đào hồ thủy điện, phụ đội xây dựng.  Nhu tưởng thưởng những đội đi làm đêm bằng cách chiếu phim chưởng của Tàu và bắt buộc mọi người phải ở lại xem với hắn ta cho đến khuya rồi lại phải thức dậy sớm sáng hôm sau để đi lao động hàng ngày như thường lệ!
 

Chương 46. Trại Viên Nữ.

 Đầu năm 1985, sau khi trại vừa hoàn tất cơ bản việc xây dựng bên trong khu trại giam th́ chúng tôi được lệnh phải dồn lại nhường hai căn nhà để đón các trại viên mới; đó là những trại viên nữ.  Họ gồm khoảng hai trăm người và chia làm ba thành phần.  Thứ nhất là các trại viên thuộc dạng “chính trị” gồm nhân viên chế độ cũ và những người bị bắt tham gia các tổ chức chống Cộng sau ngày 30 tháng tư năm 1975.  Thứ hai là các người bị bắt v́ vượt biên thất bại hay tổ chức vượt biên và những người không có tội trạng rơ ràng nên bị xử án “tập trung cải tạo”.  Thứ ba là những tội phạm h́nh sự mang trọng tội như cướp của, giết người và mang án tù từ mười năm trở lên.
 Hôm ấy tôi đang vẽ bức tranh nền trong hội trường th́ các trại viên này được chuyển vào đó để khám xét trước khi cho về pḥng giam.  Trông họ cũng chẳng khác ǵ các trại viên khác, cũng dơ dáy luộm thuộm; đặc biệt là đồ đạc của họ rất nhiều và cồng kềnh hơn các nam trại viên.  Tôi không thể phân biệt được ai cho đến khi nghe có người gọi nhỏ tên ḿnh, và tôi rất ngạc nhiên khi nhận ra đó là bà thiếu tá Thủy, nguyên trưởng toán “Thiên Nga” thuộc Cảnh Sát nữ trước đây.  Có lẽ Thủy là người nữ trại viên duy nhất thuộc “chế độ cũ” bị giữ lại sau gần mười năm cải tạo!
 Cũng vào đêm hôm trước đó, trong một tṛ chơi “bói Kiều” với các bạn trong pḥng giam, tôi đă bắt trúng một câu là: “Ở đây âm khí nặng nề, bóng chiều đă ngă, dặm về c̣n xa! “  Ở trong trại giam mà lại bắt trúng câu ấy th́ quả thật là “bất hạnh!”  “Bóng chiều đă ngă”; thời gian ở tù đă chín muồi rồi, đă dài đăng đẳng rồi, thế mà “dặm về c̣n xa”; đường về c̣n quá xa xôi, vẫn c̣n phải ở tù tiếp!  Riêng hai chử “âm khí” th́ chúng tôi chỉ đoán là nó ám chỉ đến những oan hồn uổng tử đă chết trong trại vẫn c̣n vất vưởng đâu đây chứ không hề nghĩ đến những người nữ tù sắp chuyển đến trại!
 Trong số các trại viên nữ này tôi muốn nói một ít đến một thành phần được lănh một cái án rất “kỳ khôi” của Cộng Sản, đó là án “tập trung cải tạo”.  Cũng như những nam trại viên, ngoài những thành phần của “chế độ cũ” th́ c̣n có những người không có một tội danh rơ ràng và không thể có bằng chứng xác thực để kết án, VC đă ban cho họ một cái án “tập trung cải tạo” và chỉ được tha ra khỏi trại khi đạt được “tiến bộ”.  Có những người được ghép những tội danh rất lạ lùng như “âm mưu lật đổ chính quyền”, như “t́nh nghi vượt biên”, cũng có những người không có tội danh ǵ mà chỉ là những gái măi dâm bị bắt trong những vụ càn quét và rồi bị tù thật lâu với cái án “tập trung cải tạo”.  Một thí dụ điển h́nh là trường hợp của Thoáng, một cô gái bị bắt vào năm mới mười sáu tuổi.  Anh rể cô ấy ăn cướp trên tàu hỏa bị bắt và bị kết án mười năm, được thả ra sau bảy năm tù.  Người chị bị kết án ba năm v́ lưu trử tang vật.  Thoáng th́ không có tội danh ǵ mà chỉ là người ở chung nhà với cô chị nên bị kết án “tập trung cải tạo” và được thả ra năm 1986 sau mười năm tù!  Quả là sự “ưu việt” của chế độ Cộng Sản!
 Hai dăy nhà 1 và 2 ở khu B, phía bên phải hội trường nh́n từ cổng vào được rào riêng ra dành cho các trại viên nữ.  Đầu tiên th́ họ cũng được biên chế vào các đội đi làm nông nghiệp như đa số các trại viên ở trong trại.  Lúc ấy th́ trại đang trồng hai loại nông sản chính là mía để cung cấp cho ḷ đường và ớt để xuất khẩu.
 Sau khoảng hai tháng th́ Nhu cho thành lập xưởng may để may đồng phục tù cung cấp cho các trại cải tạo trong cả nước và xử dụng hai đội nữ để may.  Nhu tách riêng một phần của khu cơ quan nơi từng là nhà ở của các cán bộ độc thân ra để làm xưởng may.  Tường bao quanh khu xưởng may được xây sau đó và trại viên lại phải đào ao xây hồ, làm nhà nổi, xây cầu bắc ngang để đi vào xưởng may.  Cứ mỗi lần có những công việc như vậy th́ toàn thể trại viên trong trại lại phải đi lao động thêm vào ban đêm và làm cả những ngày chúa nhật.  Các đội mộc và xây dựng th́ làm và sửa sang nhà cửa; các đội khác th́ đào ao, lát đá quanh bờ ao, làm các công viên.
 Xây dựng đập thủy điện cho trại là một công tŕnh tốn nhiều công sức của trại viên nhất trong thời gian này.
 Ḍng suối chảy ngang qua khu vực trại rất nhỏ.  Mùa mưa th́ bề ngang khoảng hai mươi thước, nước chảy rất siết.  Mùa nắng th́ nó trông giống như một cái mương nhỏ, nhiều chỗ có thể đi ngang qua được v́ nước chỉ tới mắt cá chân.  Chỉ có một vài chỗ là có thể tắm được nhưng lại giống như một vũng nước bùn v́ mọi trại viên đều được dẫn đến đó để tắm sau giờ lao động.
 Khi Nhu ra lệnh làm đập thủy điện th́ chúng tôi rất lo sợ v́ ở trại không có một công cụ nào để đào đất ngoài mấy cây cuốc hay xà-beng và sức lực của trại viên!  Thêm vào đó không có một ai hay một chuyên viên nào biết về việc xây đập thủy điện.
 Công việc trước tiên mà trại viên phải làm là nới rộng ḷng suối từ chiếc cầu trở lên.  Hai người một chiếc ky đan bằng tre để di chuyển đất đá đắp vào bờ, dự kiến là sẽ cách bờ suối cũ khoảng một trăm thước.  Số trại viên trẻ và tương đối khỏe hơn th́ dùng cuốc, xẻng, hay xà-beng để đào đất.  “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm.”  Câu “châm ngôn” này của VC đă được áp dụng một cách triệt để.  Trại viên c̣n thêm vào: “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, nếu thấy chẳng êm, làm thêm ngày nghỉ!”  Thế là tất cả trại viên chúng tôi đều phải thực hiện cho được chỉ tiêu ấy và làm cả ngày lẫn đêm và không có ngày Chúa Nhật hay ngày lễ nào cả!
 Đây là lúc mà toàn thể trại viên đều lao động rất vất vă. Người nào cũng thiếu ngủ, thiếu ăn.  Chúng tôi có thể ngủ bất cứ lúc nào ở bất kỳ nơi đâu.  Một trại viên nào đó đă diễn tả t́nh trạng ấy trong một bài ca được đổi lời từ một bài hát được nghe gần như hàng ngày trên các đài phát thanh của VC lúc bấy giờ.  Bài hát mang tên “Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” đă được đổi thành “Mùa Xuân trên trại Z30D”:
 

“Mùa Xuân này mẹ đi thăm con.

 

“Mới biết đường lên Ba Mươi Đê (Z30D)

 

“30D cuốc đất đào ao, cho con tôi thân xác tiêu điều!

 

“Mờ sương, năm giờ sáng mẹ xuống xe vô thăm,

 

“Lúc này con ốm nhom, xanh xao gầy c̣m.

 

“C̣n cần chi con nói me tường.

 

“Đường đen trong lon guigoz,

 

“Lon ruốc xào với bao cơm khô.

 

“Đây bánh chưng hai cái mẹ mua

 

“Cho con ăn cho đở đói ḷng.

 

“Và đây hai ngàn rưởi mẹ chắt chiu cho con,

 

“Con cầm dấu đem vô, lo giử hộ ḿnh.

 

“Cần th́ con cứ lấy ra xài.

 

“Ngày mai me không lên thăm,

 

“Có ít tiền con lo thân con.

 

“Bao nhiêu năm trong chốn khổ sai,

 

“Mong con tôi được sống qua ngày!

 

“Mùa Xuân trên rừng lá Hàm Tâm xa xôi

 

“Là mùa Xuân khổ nhất trên đời!”

 Việc đào hồ để làm đập thủy điện là một công việc tốn rất nhiều công sức và thời gian, do đó Nhu lựa một số trại viên trẻ và khỏe mạnh để làm thường xuyên, số c̣n lại th́ phải làm những công việc lao động hàng ngày ở trại và chỉ đào hồ vào ban đêm hay ngày nghỉ.  Nhân dịp có số nữ trại viên chuyển về trại, Nhu cho thành lập nhóm đào hồ hỗn hợp nam nữ và Nhu thường gọi đó là toán “mũi nhọn xung kích”.  Đây là nhóm lao động hỗn hợp nam nữ đầu tiên ở trại.  Cũng từ đó, việc “quan hệ nam nữ” bắt đầu diễn ra một cách phức tạp trong trại.
 Trong những đêm lao động trên công tŕnh “đập thủy điện”, Nhu thường cho dựng một chiếc lều ở phía trên khu đất tương đối cao và đặt bàn ghế ngồi nghe nhạc, uống trà.  Trại viên lao động bên dưới, Nhu và một số cán bộ ngồi bên trên cao để quan sát trông giống như những phim La Mă diễn lại thời đại vua chúa đang trông coi các nô lệ làm các đền đài lăng tẩm.  Cũng từ đó, nhạc vàng bắt đầu được nghe một cách công khai trong trại v́ Nhu luôn mở băng cát sét nhạc vàng để nghe trong những buổi làm lao động ban đêm.
 Một thay đổi khác kể từ khi có các trại viên nữ chuyển đến là đội văn nghệ.  Từ trước th́ các vai tṛ nữ trong những vở diễn là do các trại viên nam giả gái, do đó tuồng tích, nhất là cải lương, rất khó tập v́ phải chọn những vở có ít nhân vật nữ.  Kể từ khi có đội văn nghệ hỗn hợp th́ đội văn nghệ càng trở nên có nhiều sắc thái hơn, nhưng cũng trở thành phức tạp hơn.  Có vài nữ trại viên đóng tuồng cải lương rất xuất sắc như Sương, mặc dù không có nhan sắc nhưng lại rất dễ bắt đèn sân khấu và ca diễn cũng rất khá.  Vài người khác có khả năng ca hát cả tân và cổ nhạc như Ngọc, Thương, Chuyên vân vân.  Nhiều vở cải lương rất khó tập như “Thái Hậu Dương Vân Nga”, “Tấm Cám” đă được đội văn nghệ hỗn hợp này tŕnh diễn rất thành công.
 Khi thành lập đội văn nghệ hỗn hợp th́ ngoài công việc vẽ tranh để trang trí trại, Nhu giao cho tôi thêm nhiệm vụ phụ đội văn nghệ để làm các công việc về y trang, đạo cụ, và phong màn.  Thật quả là một việc làm rất phức tạp!  Vật liệu trong trại luôn luôn rất hiếm hoi.  Để thực hiện các y trang cho các vở tuồng xưa, tôi đă phải dùng các loại quần áo tù và dùng cả mùng mền rồi nhờ đội may may theo sự tưởng tượng của tôi v́ cũng không có một tài liệu nào trong trại để nghiên cứu cả.  Sau đó dùng bột màu và giấy bạc của các bao thuốc lá để trang trí cho các quần áo ấy.  Gươm giáo và các thứ khác th́ dùng tre gỗ hay giấy để làm.  Khi hóa trang th́ tùy theo t́nh trạng của từng trại viên mà thực hiện.  Thường th́ vài trại viên nữ có sẵn các son phấn riêng của họ, họ giữ để dùng riêng khi hóa trang ra sân khấu.  Ai không có th́ tôi đành phải dùng bột màu ở pḥng vẽ để bôi lên mặt!  Đây là một việc làm có hại cho làn da, nhưng ai cũng phải chấp nhận v́ dù sao th́ việc tập để diễn văn nghệ vẫn khỏe hơn là đi lao động.  Có lần Nhu đă cho phép tôi đi cùng với một nhóm trại viên đặc biệt về chợ Bến Thành để mua sắm các son phấn cho đội văn nghệ, nhưng không thể nào đủ v́ không có ngân khoản nào cho việc này mà chỉ là tiền riêng của các trại viên nữ đưa nhờ tôi mua dùm.
 Đội văn nghệ thường chỉ tập tŕnh diễn mỗi năm hai hay ba lần, mỗi lần khoảng hai hay ba tháng, nhất là trong các ngày lễ Tết hay ngày lễ Độc Lập của VC.  Thời gian c̣n lại th́ bổ sung nhân lực cho những công việc lao động cần thiết trong trại.
 Một vấn đề phức tạp xảy ra sau khi các trại viên nữ chuyển đến trại là vấn đề “quan hệ nam nữ”.  Sở dĩ nói rằng đây là một vấn đề phức tạp v́ có việc khác xảy ra từ sự quan hệ này.  Trước hết, theo nội quy của trại cải tạo th́ luôn luôn nghiêm cấm việc quan hệ giữa các trại viên với nhau cho dù đồng phái hay khác phái.  Trại trưởng Nhu th́ ra lệnh phạt rất nặng việc quan hệ nam nữ này, nhưng hắn ta lại khuyến khích nam nữ làm việc chung với nhau.  Hắn ta bảo rằng làm như thế th́ kích thích họ hăng say lao động.  Mỗi khi lao động đêm trên công tŕnh làm hồ thủy điện, hắn ta bảo hai trại viên khác phái phải khiêng chung một ky đất, nhưng rồi khi không thích th́ hắn ta lại bắt họ nhốt vào nhà biệt giam.  Một điều nữa là mỗi người có một cái nh́n về việc này, người th́ kết án hay chê bai, kẻ th́ thờ ơ hoặc không có ư kiến.
 Sự quan hệ nam nữ này lúc đầu thường xảy ra một cách bí mật qua những bức thư xếp nhỏ lại dấu một nơi nào đó gọi là “kẹo”, hay những cái nh́n, cái liếc mắt từ xa gọi là “chích”.  Rất khó đánh giá được đây là một sự liên hệ t́nh cảm thật sự hay chỉ là sự lợi dụng để t́m cách thỏa măn những nhu cầu về vật chất hoặc t́nh cảm!  Đa số trại viên nữ, nhất là những người thuộc dạng h́nh sự thường rất thiếu thốn v́ không có sự tiếp tế của gia đ́nh.  Họ thường là những người đă bị gia đ́nh từ bỏ hay vô gia cư.  Các trại viên nam th́ dù ít dù nhiều cũng có gia đ́nh tiếp tế, tuy nhiên lại sống xa gia đ́nh quá lâu nên thường thiếu thốn t́nh cảm hoặc chưa có vợ hoặc vợ đă sang ngang(!)  Hai thành phần như thế rất dể gặp nhau nhất là trong hoàn cảnh hạn hẹp của trại cải tạo.  Sự đổi trao một ít vật chất để lấy một ánh mắt, một nụ cười cho dù có giả dối th́ cũng là một điều tự nhiên, có tính chất con người.  Nhiều người trong số trại viên cũng đă phê b́nh gay gắt hay tỏ vẻ chê bai việc quan hệ này, nhưng rồi cũng không thể tránh được sự việc phải xảy ra.
 Riêng Nhu th́ lợi dụng việc này khi cần thiết và lại xử phạt khi thấy hết cần.  Trong lúc ấy th́ chính Nhu lại lập một “cấm pḥng” cho riêng hắn ta.  Năm nữ tù được hắn ta chọn riêng ra để ở riêng một giang sơn mà chỉ có Nhu mới được quyền tới lui, trại viên và cả cán bộ đều không dám bén mảng.  Các trại viên đặt tên cho năm người này là “ngũ long công chúa”.  Đó là: Loan, Mai, Châu, Anh, và Phi (sau khi Phi được thả ra th́ Tú vào thế).  Bốn người làm trong tiệm may để may và sửa quần áo cho các cán bộ c̣n Phi th́ phụ trách căn-tin. Trong số này th́ Loan là người mà Nhu canh chừng chặt chẽ nhất.  Mọi người trong trại không ai bảo ai đều biết rằng cô ta chính là “người của Nhu”.  Liên lạc với một trong số “ngũ long công chúa” là một điều mà các trại viên ít ai dám.  Lộc một trại viên trong đội văn nghệ chỉ v́ sự liên hệ với Loan mà bị cùm ở nhà biệt giam nhiều lần.  Nam , trại viên phụ trách kỷ thuật ḷ đường và âm thanh cho đội văn nghệ, người được Nhu rất tin cẩn đă tự tử bằng thuốc rầy chết v́ sự quan hệ với Tú.
 Trong thời gian này th́ tôi thường đi vẽ các bức tranh tường chung quanh trại và khu cơ quan, cũng như ở những nơi vừa xây dựng xong.  Những viên “kẹo” thường xuyên được bỏ vào thùng sơn với những lời lẽ rất buồn cười.  Tuy nhiên tôi chỉ cảm thấy tội nghiệp cho họ mà thôi, nhất là khi nghĩ lại hoàn cảnh của chính bản thân ḿnh trong thời gian khổ sở nhất ở trại Tân Lập.  Tôi thấy cho dù họ có muốn lợi dụng sự quan hệ để kiếm ăn th́ cũng là một điều tự nhiên của bản năng sinh tồn, giống như chính tôi đă phải kiếm cái ăn bằng cách này hay cách khác những khi có dịp.
 Riêng có một cô gái mà tôi cảm thấy rất tội nghiệp, đó là Phi, một trong “ngũ long công chúa”.  Tôi biết cô ấy có nhiều t́nh cảm đối với tôi nhưng lại sợ Nhu nên không dám biểu lộ.  Cô ta vẫn thường để một ca nước sữa đậu nành phía trước pḥng vẽ cho tôi mỗi lần có dịp đi ngang qua.  Sau khi được thả ra khỏi trại lại c̣n viết thư vào cho tôi, tuy nhiên tôi không thể trả lời v́ không muốn gieo vào ḷng cô ấy một hy vọng.  Lúc ấy th́ quả thật nỗi đau v́ sự chia tay với vợ tôi vẫn c̣n cho nên tôi chưa thấy có được một t́nh cảm nào với ai cả!
 Một việc khác rất phức tạp xăy ra trong số các trại viên nữ là việc quan hệ “đồng phái!”  Tôi không biết lư do ǵ mà trong số nam trại viên lại ít khi thấy có hiện tượng này mà nó lại xăy ra rất phổ biến trong số những trại viên nữ.  Họ giành giật nhau, ghen tuông nhau, thậm chí đánh đập nhau đổ máu v́ những “người t́nh đồng phái”.  Xá, cô gái giử nhiệm vụ đánh trống trong đội văn nghệ có lẽ là một người được nhiều các nữ trại viên “yêu thương” nhất mặc dù trông diện mạo bên ngoài th́ rất là luộm thuộm.
 Lần lần về sau th́ sự liên lạc nam nữ trong trại càng lúc càng trở nên công khai hơn khi trại cho phép các trại viên được ra “khu vui chơi” vào buổi tối.  Đến khi một số trại viên nữ được cho đi làm “diện rộng”, tức làm những việc trong khu vực quanh trại mà không có quản chế, th́ có vài trại viên nữ đă có mang và sanh con ngay trong trại.  Lúc ấy th́ số nam trại viên thuộc “chế độ cũ” đă được thả ra, chỉ c̣n lại một số ít, và các nam phạm nhân h́nh sự được đưa vào chiếm đa số trong trại.
 

Chương 47. Pḥng Vẽ Của Tôi.

 Không có ǵ ngạc nhiên bằng có được một pḥng vẽ riêng ở trong trại cải tạo.  Vậy mà điều ấy đă đến với tôi trong trại Z30D.  Năm 1985, khi Nhu, tân trại trưởng, sắp hoàn tất việc tái thiết hội trường trong trại, hắn ta bảo các trại viên trong Ban Thường Trực Thi Đua t́m một họa sĩ để vẽ một bức tranh nền cho hội trường.  Hắn ta muốn bức tranh phải được vẽ vĩnh viễn lên tường chứ không vẽ lên màn để mọi người khi vào hội trường có thể nh́n thấy ngay.
 Một hôm trong khi tập họp để chuẩn bị đi lao động th́ Thường Trực Thi Đua gọi tôi ở lại trong trại để gặp Nhu.  Tôi rất ngạc nhiên và cũng hơi lo sợ v́ tất cả các trại viên đều biết rằng gặp Nhu thường có nghĩa là sắp có tai vạ.  Làm việc trong đội mộc, tôi đă cố gắng tránh né hắn ta bằng cách nói với Tứ, đội trưởng, đổi tôi qua nhóm cưa xẻ thay v́ làm trong nhóm xây dựng.  Vào thời gian ấy, trại đang bắt đầu cho tái thiết.  Nhu có mặt hầu như thường trực với nhóm xây dựng, và hắn ta cũng đă đưa rất nhiều trại viên vào các pḥng kỷ luật v́ hắn ta cho rằng những trại viên ấy “có vẻ” lười biếng.
 Tôi đợi Nhu ở hội trường cho đến trưa.  Nhóm xây dựng của đội mộc cũng đang làm trong ấy.  Nhu vào và chỉ cho tôi tấm pa-nen bằng tôn ở cuối hội trường rồi hỏi tôi:
 -“Mày liệu có vẻ được một tấm h́nh lớn ở đó không?”
 -“Có thể được, nhưng tôi chưa biết “ban” muốn vẽ ǵ.”  Tôi trả lời hắn ta với một tiếng thở dài nhẹ nhơm.
 -“Chỉ vẽ phong cảnh mà thôi!”  Hắn ta nói xong rồi hát nho nhỏ một câu trong bài ca cũ: “Đường quanh co quyện gốc thông già!” -“Tao muốn mọi người vào hội trường nh́n vào bức tranh của mày sẽ có cảm tưởng rằng hội trường trải ra xa xa.”  Hắn ta nói thêm.
 -“Tôi sẽ cố gắng với khả năng có được của tôi, tôi chỉ xin “ban” cấp cho tôi sơn và cọ vẽ.”
 Tôi đi theo hắn ta ra kho của cơ quan để lănh sơn và cọ rồi bắt đầu vẽ bức tranh.
 Đó là bức tranh phong cảnh đầu tiên tôi vẽ trong trại cải tạo.  Như tôi đă nói, làm việc vẽ trong trại cải tạo rất nguy hiểm v́ mỗi một cán bộ có cách đánh giá khác nhau, và mọi lời phê b́nh của họ đều không có một ích lợi nào cho người vẽ tranh.  Nhiều trại viên đă bị nhốt kỷ luật v́ việc này.  Nhưng trong hoàn cảnh như thế th́ tôi không có điều chọn lựa nào khác hơn là làm những điều mà Nhu bảo tôi làm nếu không muốn bị vào pḥng kỷ luật!  Để ngăn ngừa, tôi đă vẽ phác mẫu bức tranh và đưa cho Nhu xem trước.
 Tôi đă vẽ phong cảnh hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, cao nguyên miền trung Việt Nam làm bối cảnh và vài cây thông để làm tiền cảnh; một con đường ṃn chạy ṿng từ xa và đổ vào cái bục ở cuối hội trường.  Đi vào từ cửa hội trường, người ta có cảm giác dường như đi vào một rừng thông để đến cái hồ ở xa xa.  Tôi hoàn tất bức tranh trong bốn tuần lễ.  Nhu rất bằng ḷng và đưa cho tôi một ít tiền để “bồi dưởng”.  Lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi đă nhận tiền từ một cán bộ.  Tôi chẳng màng nhiều đến số tiền ấy ngoài việc biết rằng kể từ đó tôi có thể tránh được công việc lao động nặng nhọc, thay vào đó là chỉ có việc vẽ tranh mà thôi.  Tôi tự nhủ là chỉ nên vẽ tranh phong cảnh v́ ít nhất th́ chúng có vẻ chung chung, và không ai có thể phê b́nh ǵ ngoài việc nó đẹp hay xấu.
 Sau đó th́ Nhu bảo đội xây dựng xây ba tấm tường ở ngoài trời quanh khu vực tập họp trại viên trong sân trại.  Tôi vẽ ba tấm tranh tượng trưng cho ba miền của Việt Nam: Bắc, Trung, và Nam .  Tôi vẽ phong cảnh chùa một cột ở Hà Nội trên bức tường ở gần cổng vào khu B, tháp chuông Thiên Mụ trên bức tường xây gần bệnh xá, và quang cảnh chợ Bến Thành ở bức tường vào cổng khu A.  Mỗi bức tranh ấy cao khoảng hai thước rưỡi, dài khoảng ba thước, và tôi đă phải bỏ ra hàng tháng trường để hoàn tất ba bức tranh ấy.  Sau đó tôi lại phải vẽ lại nhiều lần v́ các bức tranh ấy nằm ngoài trời mà lại vẽ bằng loại sơn để sơn trong nhà nên rất dể bị phai dưới mưa nắng.
 Tôi được chuyển sang làm công việc vẽ và trang trí, nhưng cũng vẫn thuộc đội mộc.  Hàng ngày, tôi xuất trại cùng với đội ra tới nhà lô rồi xách sơn và cọ vẽ đi vẽ, hầu hết là tranh tường nơi nào mà Nhu bảo tôi vẽ.  Tôi chỉ làm theo lệnh của hắn ta mà thôi.  Để được dễ dàng hơn trong công việc, một hôm tôi nói với Nhu rằng có nhiều cán bộ phê b́nh tranh tôi với nhiều ư kiến khác nhau khiến tôi cũng không biết phải làm sao cho đúng.  Tôi không biết hắn ta làm ǵ, nhưng kể từ sau khi ấy chẳng có cán bộ nào đến phê b́nh tranh của tôi nữa.  Tôi thầm biết Nhu đang cần tôi, nhưng tôi vẫn cố giữ một giới hạn để hắn không có lư do để kỷ luật ḿnh.
 Ở trong trại lúc ấy th́ mọi trại viên đều phải làm lao động cho dù mưa nắng.  Có một lần Nhu buộc tôi phải vẽ lúc trời đang mưa lâm râm, tôi pha loăng sơn ra trong dầu hôi rồi vẽ lên tường.  Những giọt nước mưa làm sơn chảy nḥe nhoẹt khắp bức tường.  Sau đó th́ tôi lại phải cạo hết bức tường rồi vẽ lại từ đầu.  Kể từ hôm ấy, tôi có lư do để nghỉ lúc trời đang mưa.
 Đầu năm 1986, trong khi tôi đang vẽ trong căn-tin th́ Nhu bảo tôi t́m thêm một họa sĩ nữa để vẽ chung với tôi.  Tôi giới thiệu Điệp, một trại viên vừa chuyển về từ trại Z30C.  Điệp cũng là bạn của tôi lúc làm việc ở cơ quan, và anh ta cũng từng có một pḥng tranh riêng ở Sài G̣n trong những năm 1970.  Điệp không quen vẽ phong cảnh.  Khi anh ta mới về trại Z30D th́ vài người quen đến nói với tôi t́m cách giới thiệu anh ta ra làm ở pḥng vẽ để Điệp không lên làm trong Ban Thi Đua v́ ở những trại miền Bắc anh ta đă bị mang nhiều tai tiếng rồi.  Tôi chẳng biết ǵ về Điệp ở các trại khác, nhưng tốt nhất là giới thiệu anh ta để có người quen biết làm việc chung v́ lúc đó cũng rất nhiều công việc mà Nhu giao cho.
 Với hai người, Nhu giao cho chúng tôi một cái pḥng nằm trong căn nhà, nơi từng là pḥng cho cán bộ quản giáo của đội mộc, để làm pḥng vẽ.
 Pḥng vẽ của chúng tôi là một cái nhà mái lá dài khoảng sáu thước ngang bốn thước với nền xi măng và tường bằng ván gỗ.  Nó nằm dọc theo con đường phía trước của nhà lô đội mộc.  Cửa trước pḥng vẽ mở ra đường và cửa hông th́ nh́n ra miếng đất trống nối liền xưởng mộc với căn-tin kế bên đập thủy điện.  Ngồi từ cửa trước của pḥng, tôi có thể trông thấy mọi người đi đến nhà lô đội mộc từ mọi phía; đó là địa điểm quan sát lư tưởng để canh chừng Nhu mỗi lần hắn ta đến quan sát công việc của đội mộc.
 Trong pḥng vẽ, tôi ngăn riêng ra một góc nhỏ theo bề ngang của pḥng và rộng khoảng một thước để làm kho chứa sơn và cũng chứa cả những thứ thuộc “tài sản riêng” của tôi.  Chúng tôi bắt đầu vẽ tranh trên khung vải, hầu hết là tranh phong cảnh.  Khung th́ chúng tôi hoặc là tự làm lấy hoặc nhờ đội mộc, vải là loại vải để may quần áo cho trại viên.  Các bức tranh này không thể giữ lâu được, nhất là những bức tranh có kích thước lớn, nhưng chẳng ai cần v́ dù sao th́ cũng là “nước sông, công tù!”
 Cũng trong thời gian này th́ Linh, anh rể của vợ tôi, được chuyển về trại Z30D và làm “anh nuôi” trong đội của anh ta.  Hàng ngày, anh ấy đi gánh nước ở bờ suối gần chổ pḥng vẽ để về nấu nước uống cho đội anh ấy, và anh ta cũng mang thức ăn cho chúng tôi.  Điệp và tôi th́ đưa những thứ mà chúng tôi có như cá tôi câu được ở dưới suối hay những thức ăn mà chúng tôi được “bồi dưởng” từ đội mộc v́ đội ấy đang làm cả ngày lẫn đêm để hoàn thành những công tŕnh xây dựng cho trại.
 Vào những buổi trưa, tôi thường bỏ đi câu cá ở bờ suối giao cho Điệp ở lại giữ pḥng vẽ.  Điệp là “ông từ giữ chùa”!  Gia đ́nh anh ta thường xuyên đến thăm hoặc gửi quà tiếp tế nên anh ta cũng không cần thiết phải kiếm ăn như tôi.  Thời gian này có thể nói là thời gian mà tôi được thoải mái nhất trong cuộc đời cải tạo.  Bên cạnh không phải làm việc nặng nhọc, tôi c̣n có cơ hội để đi câu cá kiếm ăn thêm, có thể nuôi mấy con vịt xiêm và nuôi cả con mèo nữa.
 Nhu không cho phép bất cứ cán bộ nào được đến pḥng vẽ ngoài hắn ta ra, do đó chúng tôi chỉ cần để ư đến hắn ta mà thôi.  Kể từ lúc hắn ta bảo rằng các tấm tranh của chúng tôi vẽ chính là ư kiến của hắn th́ tôi không c̣n nghe một lời phê b́nh bất lợi nào nữa cả!  Một vài cán bộ chỉ lén đến pḥng vẽ của chúng tôi là để nhờ chúng tôi làm những việc riêng tư như đóng dùm mấy quyển sổ, vẽ vài bông hoa trong sổ, hoặc giúp các đồ đạc trang trí đám cưới.  Điệp thường làm những việc ấy.  Tôi th́ dùng hầu hết thời giờ rảnh ở dưới suối để câu cá, cá nhỏ hay cá lớn đều bắt hết!  Tôi phải tự làm lưỡi câu, và lần lần trở thành một chuyên viên!  Da tôi trở nên sậm hơn, nhưng tôi lại cảm thấy khỏe hơn.  Kể từ khi ḍng suối trở thành cái đập thủy điện, cá càng lúc càng hiếm hoi dần.  Đôi khi tôi phải đi xuống phía dưới để câu cá, nhưng tôi vẫn có thể t́m đủ thức ăn.  Điều ấy có thể tiết kiệm được cho gia đ́nh tôi v́ tôi chỉ cần thêm một ít gia vị, nước mắm, và vài thứ cần thiết cho đời sống mà thôi.
 Hàng ba hay bốn tháng th́ mẹ tôi thường lên thăm tôi một lần.  Đôi khi th́ con tôi cũng đi theo; thường là vào dịp nghỉ hè hay Tết.  Khi đến sớm nó có thể lẻn vào pḥng vẽ để gặp tôi trước khi tôi đi ra nhà thăm gặp.  Tôi cũng không biết nhiều về tin tức của vợ tôi kể từ khi cô ấy nói tiếng “từ giă”.  Con tôi cũng không đề cập nhiều đến mẹ.  Ngoài ra th́ tôi cũng không muốn biết nhiều về cuộc sống mới của cô ấy.  Có một lần tôi đi ra nhà thăm gặp để gặp chị vợ tôi khi chị ấy lên thăm chồng là Linh, nhưng chị ấy không muốn gặp tôi và bảo Linh vào nói với tôi rằng tốt hơn th́ tôi không nên ra gặp.  Tôi cũng tránh luôn từ đó.  Tôi biết họ không muốn tôi làm phiền đến cuộc sống mới của vợ tôi nữa.  Tôi không rơ cô ấy có làm giấy ly dị hay chưa v́ tôi cũng không hỏi.  Tôi nghĩ rằng tôi vẫn c̣n yêu vợ tôi, nhưng tôi lại thấy nhẹ nhàng hơn v́ tôi không c̣n là một vật cản đường cho cuộc đời của cô ấy nữa!  Trong những bức tranh của tôi đôi khi tôi thêm vào bóng h́nh một người con gái đi từ xa: một chút buồn, nhưng lại là một sự trống vắng b́nh yên.  Nhiều người hỏi tôi về sự tĩnh lặng của những bức tranh mà tôi vẽ; tôi thường bảo với họ rằng đó chỉ là biểu hiện nỗi buồn trong nội tâm tôi khi tôi đang ở trong hoàn cảnh này.
 Trong thời gian này th́ Điệp và tôi vẽ rất nhiều tranh, ít nhất cũng đến con số năm trăm tấm lớn nhỏ, quả thật là một số lượng khổng lồ!  Chúng tôi thường rất phân vân mỗi lần bắt đầu vẽ một tấm tranh mới.  Đôi khi chúng tôi phải dời cái cây, đổi bối cảnh, đổi chiều ḍng sông hay ḍng suối, thay đổi màu sắc vân vân từ một tấm tranh đă vẽ để biến thành một tấm tranh mới.  Dần dần chúng tôi làm quen với sự tạo h́nh của tranh phong cảnh!  Chúng tôi có thể vẽ được năm đến mười bức tranh từ một tấm h́nh mẫu.  Những bức tranh của chúng tôi được treo khắp nơi: trong trại, trong cơ quan, trong nhà thăm gặp, trong căn-tin.  Đôi lúc Nhu lại dùng chúng như một món quà để tặng khách đến thăm trại.  Điều đáng buồn là những tranh này được vẽ bằng sơn để sơn trong nhà và lại vẽ lên loại vải thô rất xấu nên chúng không thể giữ được lâu mà không bị nứt nẻ, phai màu, hay đôi khi bị rách!
 Điệp được thả ra vào tháng giêng năm 1988.  Pḥng vẽ vẫn tiếp tục hoạt động cho đến khi Lập, một phạm nhân h́nh sự với cái án chung thân ra làm với tôi năm 1990.  Đến khi ấy th́ pḥng vẽ được dời vào trong trại, chiếm một pḥng nhỏ ở đầu nhà số 1 khu A, gần với văn pḥng của “thường trực thi đua”.  Họ sợ Lập sẽ trốn trại nếu được làm ở pḥng vẽ bên ngoài.  Tôi không thích làm bên trong trại v́ không c̣n được đi câu cá, nhưng lại không được một sự chọn lựa nào khác.  Lập không biết vẽ tranh, do đó hắn ta chỉ làm công việc trang trí cho ban thi đua.  Thời gian này tôi cũng không có nhiều việc để làm v́ mọi thứ đều phụ thuộc vào đội mộc.  Tôi phải đợi họ đóng khung, đợi sơn, đôi lúc phải đợi lệnh của Nhu v́ hắn ta không thường xuyên vào pḥng vẽ ở trong trại.  Có những ngày tôi không làm ǵ cả.  Tôi chỉ cho Lập làm những công việc xong rồi nằm lắt lư trên chiếc vơng treo trong pḥng vẽ hoặc đi đấu láo với các bạn, hoặc lên hội trường phụ trang trí cho đội văn nghệ.  Quả thật là những ngày buồn tẻ!
 Vào tháng Chín năm 1990, tôi bị chuyển qua đội lâm sản sau khi bị nhốt vào nhà kỷ luật.  Pḥng vẽ cũng đóng cửa từ đó.  Căn pḥng biến thành pḥng “văn hóa” cho ban thi đua.  “Vắt chanh bỏ vỏ” là cách mà Nhu đối xử với các trại viên khi hết cần thiết. Tôi thừa biết điều này, nhưng quan niệm sống của tôi trong trại cải tạo là “tránh né lao động” được lúc nào hay lúc ấy.  Ít ra th́ tôi cũng đă được gần năm năm không phải lao động nặng nhọc!

Chương 48. Đợt Thả Năm 1988.

 

Ở trong trại cải tạo th́ quả thật không có ǵ buồn cho bằng mỗi lần thấy bạn bè được thả ra mà chính ḿnh th́ vẫn c̣n tiếp tục ở lại.  Niềm vui nh́n thấy bạn được ra về không thế nào bù đắp cho được nỗi buồn cho thân phận ḿnh không biết ngày mai sẽ ra sao.
Gần mười ba năm tù đă trôi qua với không biết bao nhiêu lần ngồi trong hàng để nghe đọc tên những người được ra khỏi trại.  Bao nhiêu lần hồi hộp chỉ mong có tên ḿnh trong danh sách ấy, rồi cũng bao nhiêu lần thất vọng lủi thủi đi theo đội xuất trại lao động trong khi những người được ra về th́ vui cười trở vào pḥng dọn dẹp đồ đạc trước khi rời trại!  Mười ba năm qua từ Nam ra Bắc rồi lại từ Bắc vào Nam, tôi không thể nào nhớ nỗi đă có bao nhiêu lần như vậy đă xăy ra.  Có lần dăm mười người, cũng có lần vài chục người.  Lúc đầu c̣n thấy chán nản, xôn xao, c̣n có những đêm nằm suy tư mất ngủ, nhưng dần dần chỉ c̣n thấy một chút ǵ đó xao xuyến rồi đâu lại vào đấy!  Cuộc sống hàng ngày trong trại vẫn phải tiếp tục, phải cố gắng phấn đấu để sinh tồn.
Có người bảo rằng khi ở tù quá lâu th́ con người bị chai lỳ đi, nhưng tôi lại nghĩ đó không phải là sự chai lỳ mà là sự chấp nhận, chấp nhận những cái ǵ xảy đến ngoài tầm tay ḿnh, cho dù điều đó tốt hay xấu.  Ở tù không thể là một sự chai lỳ, không phải là một thói quen, mà là một sự chấp nhận hoàn cảnh.
Khi trở về miền Nam, được gặp gia đ́nh thường xuyên hơn, được nghe gia đ́nh kể về cuộc sống của những người bạn đă được thả ra.  Có người kết luận rằng họ được ra khỏi cái nhà tù nhỏ là trại cải tạo để sống trong một nhà tù lớn hơn, đó là xă hội của những người Cộng Sản.  Thậm chí c̣n có người cho rằng ra ngoài “xă hội” họ thấy c̣n “mệt” hơn là ở trong “trại cải tạo”!  Nói th́ nói thế thôi chứ có mấy ai không thấy vui mừng khi được nghe tên ḿnh rời khỏi trại cải tạo, và có ai lại muốn đánh đổi cuộc sống ở bên ngoài để vào trở lại trại cải tạo?
Từ năm 1985, trại Z30D cũng có những chuyển biến khác lạ.  Từ khi Nhu bắt đầu nắm quyền hành th́ chúng tôi thấy nhiều dấu hiệu khác thường!  Ngoài việc phải lao động vất vă hơn th́ có nhiều điều trước kia rất cấm kỵ mà lúc này lại trở nên rất thông thường.  Hát  “nhạc vàng” trước đó có thể coi như một là một trọng tội.  Khi chúng tôi muốn nghe anh Nghiêm Phú Phát hát cho nghe mấy bản “nhạc hải ngoại” như bản “Một chút quà cho quê hương” của Việt Dzũng hoặc bản “Sài G̣n vĩnh biệt” của Nam Lộc th́ chúng tôi phải cắt người canh chừng hai đầu nhà và lại c̣n phải lựa chọn “thính giả” nữa.  Những người hát nhạc vàng mà bị báo cáo hay bắt gặp là vào ngay nhà kỷ luật.  Thế mà khi Nhu lên nắm quyền, vào những đêm lao động đào hồ thủy điện, những băng cát sét nhạc vàng và nhạc hải ngoại lại được hát một cách công khai cho mọi người nghe để lấy “khí thế” lao động!  Những bộ phim chưởng Trung Hoa lại biến thành những buổi chiếu bóng “bồi dưởng” cho trại viên đi lao động đêm.  Tiếp theo đó th́ đội văn nghệ được phép chọn một số những bản nhạc vàng để tŕnh diễn kèm với nhạc “cách mạng”.
Các gia đ́nh lên thăm nuôi cũng cho biết rằng những hiện tượng này cũng là những điều đang xăy ra ở ngoài xă hội.  Những bản nhạc gọi là “nhạc cách mạng” và những phim có tính cách tuyên truyền không c̣n được dân chúng ủng hộ nửa.  Ngay cả những người làm cho VC cũng không muốn thưởng thức chúng nửa mà mọi người bây giờ lại bắt đầu trở lại với “nhạc vàng” và “phim chưởng”.
Thêm vào đó th́ nền kinh tế của đất nước hiện đi vào t́nh trạng khủng hoảng trầm trọng.  Sau khi chính sách “ngăn sông cấm chợ” của nhà nước VC bị thất bại, họ bắt đầu cho nới rộng việc giao thương buôn bán, tuy nhiên vẫn không thể cứu vản nỗi một nền kinh tế vốn đă suy tàn của đất nước.  Cuộc chiến tranh với Trung Quốc ở các tỉnh ở biên giới phía bắc Việt Nam đă biến Việt Nam và Trung Quốc trở thành hai “kẻ thù trước mắt”.  Trung Quốc không c̣n là một hậu thuẩn vững mạnh của Việt Nam nữa.  Liên Sô và các nước Đông Âu bắt đầu giai đoạn đổi mới để mong hồi phục phần nào nền kinh tế đang què quặt của các nước ấy, do đó họ cũng không c̣n có thể giúp cho Việt Nam được.  Trong nước th́ chính sách hợp tác xă nông nghiệp hoàn toàn thất bại.  Nông dân rời bỏ ruộng vườn lên thành phố để kiếm ăn.  Các vùng “kinh tế mới” không thể phát triển được và những người đi “kinh tế mới” lục tục kéo về lại thành phố tạo nên một thành phố ăn không ngồi rồi.  Nền kinh tế của Việt Nam dựa vào nông nghiệp mà ruộng đất th́ lại bỏ hoang, thành phố th́ phi sản xuất.
Cùng lúc ấy th́ chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam càng làm cho nền kinh tế tồi tệ hơn.  Việt Nam giờ đây chỉ c̣n dựa vào số hàng hóa và ngoại tệ cung cấp bởi những người di tản gởi về cho thân nhân trong nước.  Xă hội lúc ấy th́ ngoài hai giai cấp thống trị (những người Cộng Sản cao cấp) và giai cấp bị trị, th́ bắt đầu sản sinh một giai cấp mới, đó là những người có thân nhân nước ngoài gởi về để “viện trợ”.   Kinh tế đất nước trở thành một nền kinh tế “ăn bám”.
Ngoài ra th́ thân nhân trại viên cũng cho biết rằng Mỹ đang có những đợt đàm phán với VC về vấn đề “tù binh chiến tranh” (P.O.W.) và “những người Mỹ mất tích” ở Việt Nam (M.I.A.).  Củ “cà rốt” của “Chú Sam” là việc bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam.  Trong những cuộc hội đàm này, họ cũng có đề cập đến những người tù “cải tạo” của Việt Nam Cộng Ḥa.  Một lần nửa, chúng tôi lại có một chút hy vọng; hy vọng ở những người “đồng minh” đă bỏ rơi ḿnh suốt mười mấy năm trong lao tù Cộng Sản.
Quả thật th́ chúng tôi không c̣n ǵ để mong đợi.  Mười mấy năm qua chúng tôi không c̣n một tổ chức nào để làm chổ dựa, không c̣n một chính quyền nào để mà trông chờ.  Có một chút hy vọng cho dù mong manh vẫn c̣n hơn không có ǵ cả.  Tôi vẫn luôn nhớ lời của anh bạn Muông, người tù thời “Nhân văn giai phẫm” ở miền Bắc Việt Nam rằng “ở tù Cộng Sản mà không có án tức là không bao giờ có ngày về ngoại trừ có một phép lạ”, và chúng tôi đang trông chờ cái phép lạ ấy.  Vẫn biết rằng người Mỹ chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ hơn là số phận của chúng tôi, nhưng ít ra đó cũng là một chút bám víu để mong một “phép lạ” xăy đến.  Có c̣n hơn không!
Những ngày tháng vẽ tranh với Điệp, bạn tôi, trong pḥng vẽ cũng là những ngày tháng mà tôi căm thấy bơ vơ và lạc lơng nhất.  Mặc dù lúc ấy quả thật tôi rất nhàn hạ, nhưng cứ mỗi lần anh bạn ḿnh được vợ con vào thăm rồi lại được ở lại qua đêm th́ tôi lại thấy hụt hẩng làm sao!  Tôi vẫn thường tự nhũ rằng “đất nước mất vào tay Cộng Sản là mất tất cả”, cũng như tôi vẫn tự an ủi rằng tôi không c̣n là “vật cản đường tiến” của vợ tôi nữa.  Nhưng cứ mỗi khi nh́n cảnh đầm ấm của người rồi nh́n lại ḿnh tôi vẫn căm thấy có một điều ǵ đó đau ḷng và chán nản.  Nhiều khi tôi tự hỏi tại sao trong cùng một hoàn cảnh mà người thế này kẻ lại thế kia?  Tôi không ganh tị với hạnh phúc của người khác mà chỉ căm thấy buồn cho thân phận của ḿnh mà thôi.  Dù thế nào th́ cũng phải chấp nhận hoàn cảnh.  Chấp nhận rồi lại đổ cho “phần số”, đó là phương cách dể dàng nhất để tự an ủi ḿnh.
Đầu năm 1988, những tin tức về một đợt phóng thích rộng răi càng lúc càng dồn dập.  Trại Z30D lúc ấy là trại cải tạo duy nhất ở miền Nam c̣n giam giữ các trại viên thuộc “chế độ cũ”.  Tất cả các trại viên thuộc dạng này ở trại Z30C đều đă được chuyển sang trại Z30D, và trại Z30C chỉ c̣n giam giữ phạm nhân h́nh sự.  Con số trại viên thuộc dạng “chế độ cũ” trong hai phân trại K1 và K2 của trại Z30D lúc ấy lên đến con số trên một ngàn người.  Tôi nghĩ chắc phải có một biến chuyển nào đó th́ VC mới chịu thả chúng tôi ra để mà “đóng cửa trại” như chúng tôi vẫn thường nói.
Những ngày cận Tết có một phái đoàn Bộ Nội Vụ của VC vào trại và gọi nhiều trại viên lên để “làm việc”.  Qua thời gian ở các trại cải tạo, chúng tôi đă biết rằng đó là giai đoạn gặp gỡ sau cùng ở trong trại để “họ” có dịp dụ dỗ, hăm doạ ngơ hầu những người ra về sẽ cộng tác với họ sau này.
Tối ngày 18 (?) tháng giêng năm 1988, Điệp và tôi c̣n phải ở lại trễ trong pḥng vẽ v́ Nhu đang ở đó để xem chúng tôi làm việc.  Đột nhiên, hắn hỏi tôi: “Không biết trước kia mày làm ǵ mà các ông ấy nhất định không chịu thả mày mặc dù tao đă đề nghị nhiều lần?”  “Mày tao” là cách nói chuyện của Nhu với các trại viên.  Tôi ngạc nhiên và cũng có hơi ngỡ ngàng trả lời hắn: “Tôi làm ǵ th́ chắc là ban cũng đă biết v́ tất cả đều nằm trong hồ sơ!  Tôi nghĩ chắc là ban chưa đề nghị đúng mức mà thôi!”
Hắn không nói ǵ thêm mà cũng không đề cập ǵ đến Điệp dù lúc ấy th́ Điệp cũng đứng gần đó.  Tuy nhiên lời nói của hắn đă đủ cho tôi biết rằng lần này cũng sẽ không có tên của tôi trong danh sách ra trại.  Đó là lần đầu tiên trong trại cải tạo tôi biết trước số phận của ḿnh, và cũng là lần đầu tiên mà tôi căm thấy buồn v́ ḿnh sẽ không được ra về cùng với bạn bè.
Đêm ấy trong pḥng giam, tôi không ngủ được ngồi đàn hết bản nhạc này đến bản nhạc khác, tất cả mọi bản nhạc cổ điển mà tôi đă học được trong thời gian ở trại Z30D.  Những bản nhạc Việt Nam soạn riêng cho Tây Ban Cầm cũng như những bản nhạc Tristesse của Chopin, Serenade của Schubert, hợp khúc cung đô trưởng của Paganini vân vân đă được tôi đàn đi đàn lại nhiều lần.  Tôi không biết hôm ấy tiếng đàn của tôi có buồn bă lắm hay không, hoặc là mọi người đều đang hồi hộp mong chờ ngày mai, nhiều người trong pḥng giam cũng đang nằm thao thức.  Thỉnh thoảng tôi nghe đâu đó có tiếng thở dài.
Buổi sáng hôm sau, sân tập họp lao động có không khí khác lạ, các cán bộ hiện diện đông hơn mọi khi.  Sau khi các đội nữ xuất trại, một số cán bộ mang cặp giấy vào và bắt đầu gọi tên những người được “tha ra khỏi trại.”
Mặc dù biết trước sẽ không có tên ḿnh, nhưng khi nghe họ đọc tên từng người một, tôi vẫn cảm thấy hồi hộp.  Danh sách thả quá dài!  Hầu như mọi người đều được đọc tên.  Tôi bàng hoàng cả người, chẳng lẽ họ thả nhiều như thế mà cũng vẫn không có tên ḿnh?  Điệp ngồi cạnh tôi được đọc tên lúc nào tôi cũng không hay, và anh ta cũng không có dấu hiệu ǵ khiến tôi nhận ra.  Bạn bè ai được về ai ở lại tôi cũng không biết.  Tôi chỉ cố nghe xem có tên ḿnh hay không; tôi chỉ mong Nhu đă nhớ lầm!  Đến lúc chấm dứt cũng vẫn không nghe tên ḿnh, tôi thẩn thờ đứng dậy đi vào buồng.  Lúc đó mới biết mọi người hầu như được thả ra, số không có tên quá ít ỏi so với số ra khỏi trại.
Những người được ra về gọi nhau ơi ới, chuẩn bị đồ đạc để chia chác cho những người ở lại, hoặc cho các trại viên có án mà họ quen biết trong trại, hay gởi qua ban thi đua để cho các trại viên nữ.  Tôi ngồi nh́n mọi người ra về mà không có một phản ứng nào hết.  Điệp và các bạn đến giao đồ đạc lại cho tôi mà tôi cũng không hay biết ǵ.
Cuối cùng th́ tất cả đă ra văn pḥng cơ quan để làm thủ tục ra khỏi trại.  Số c̣n lại chưa tới hai mươi người.  Chúng tôi giật ḿnh nh́n nhau.  Tại sao lại thế này, tại sao họ có thể thả gần hết mọi người mà chỉ giữ lại một số ít ỏi như thế này?  Họ đang làm ǵ đây?
Chúng tôi, số c̣n lại được dồn vào buồng số 1 của khu A để trống các buồng khác cho Thường Trực Thi Đua điều động các trại viên quét dọn để đón các tù mới.  Chiều hôm ấy th́ lệnh từ trại trưởng Nhu đưa chúng tôi ra các nhà lô để ở.  Các người thuộc đội mộc như Hùng, Diễm, và tôi th́ ra nhà lô đội mộc.  Các người làm ở bếp như Cang, Nghi th́ qua nhà bếp.  Các người ở phân trại K2 th́ ở lại bên ấy để chăn ḅ và gà v́ sau đó phân trại K2 được bỏ trống và biến thành trại chăn nuôi ḅ và gà vịt của trại Z30D.
Đêm đầu tiên ngủ ngoài trại, tôi nằm một ḿnh trong pḥng vẽ thao thức nghe tiếng ếch nhái và côn trùng rên rỉ mà suy nghĩ về số phận của ḿnh.  Giờ này chắc là Điệp đă về đến nhà, và chắc gia đ́nh tôi cũng đă biết tôi vẫn c̣n ở lại trong trại.  Không biết gia đ́nh tôi nghĩ ra sao khi thấy tôi không thể “tiến bộ” được mặc dù đă gần mười ba năm cải tạo?
Sau đó khoảng hai tuần th́ số c̣n lại ở trại Nam Hà được đưa vào trại Z30D để nhập chung với chúng tôi.  Tổng số trại viên c̣n lại trong trại cải tạo sau đợt thả năm 1988 là 210 người, trong số có một số cấp tướng lănh như: Đảo, Tất, Trường, Thân, Sang, Giai, một số cấp đại tá như Xảo, Của, Hản, Tấn, Phô, vân vân.  Số c̣n lại đa số thuộc các thành phần An Ninh Quân Đội, Cảnh Sát Đặc Biệt, Trung Ương T́nh Báo của VNCH.  Chúng tôi bước vào giai đoạn bốn năm cuối của ḿnh trong trại cải tạo Z30D.
Đài phát thanh Hà Nội sau đó loan báo rằng họ đă thả hầu hết những người của “chế độ cũ”.  Số rất ít c̣n lại là thành phần “có nợ máu với nhân dân và không chịu cải tạo nên không thể thả ra được”.  Cách nói này của Cộng Sản đă quá quen thuộc đối với chúng tôi, do đó không làm chúng tôi suy nghĩ nhiều.  Chỉ có một điều mà chúng tôi không hiểu là họ có dự định ǵ đối với chúng tôi, số rất nhỏ c̣n lại này!

 

 

Chương 49. Tôi Đi Lâm Sản.

Sau đợt về tháng giêng năm 1988, tôi ra ở và làm việc tại pḥng vẽ.  Đáng lư ra th́ tôi phải ngủ chung với các bạn thuộc đội mộc của tôi ở một pḥng nằm cuối láng mộc, nhưng v́ trong pḥng vẽ cũng có một chiếc giường nên tôi ngủ một ḿnh ở đó cho tiện.  Hàng ngày tôi làm việc theo giờ giấc của đội mộc, trưa và tối th́ thường thả dọc theo bờ suối để câu cá.  Rất ít khi tôi vào trong trại, chỉ khi nào có ngày nghỉ th́ tôi mới vào để gặp gỡ bạn bè số mới từ trại Nam Hà về.
Thời gian sống một ḿnh trong pḥng vẽ, tôi đi lại và làm việc chỉ cần phải để ư có một ḿnh Nhu mà thôi.  Có đêm dù không đi lao động nhưng tôi vẫn có thể đi xem phim “chưởng” mà Nhu chiếu để “bồi dưỡng” cho các đội làm đêm, sáng hôm sau có thể ngủ dậy trễ một chút cũng được v́ Nhu cũng ít khi nào dậy sớm!  Khi mẹ tôi và con tôi lên thăm, tôi có thể gặp nó riêng ở pḥng vẽ khi nó vừa đến nơi, tôi có thể nói với cán bộ phụ trách nhà thăm gặp để ra gặp gia đ́nh trước giờ thăm, hoặc có thể gặp nhau ngay bờ suối trong lúc tôi câu cá!  Ở ngoài sân kế bên pḥng vẽ, tôi nuôi cả mấy con vịt xiêm và gà để lấy trứng.
Đến đầu năm 1990, Lập, một phạm nhân h́nh sự, được đưa ra làm chung trong pḥng vẽ.  Tôi nghe nói Lập nguyên là một công an của VC có nhiệm vụ đặc trách việc tổ chức vượt biên giả mạo để bắt những người vượt biên.  Anh ta lại có ư định vượt biên thật sự nên đă giết chết đồng bọn để đi.  Việc không thành nên bị bắt và lănh án tù chung thân.  Chuyển đến trại Z30D, anh ta bị thương ở mắt v́ bị ḿn nổ trong khi khai phá một đồn địa phương quân cũ ở phía bên kia quốc lộ số 1 để trồng cây bạch đàn.  Sau khi đi bệnh viện về th́ anh ta được Nhu đưa ra pḥng vẽ để làm chung với tôi v́ anh ta cũng biết chút ít về trang trí.
Khoảng một tuần sau khi Lập ra th́ có lệnh dời pḥng vẽ vào trong trại.  Họ sợ Lập trốn trại v́ anh ta mới ở trại không bao lâu mà án lại quá dài.  Pḥng vẽ được dời vào chiếm một căn pḥng đầu nhà số 1 của khu A, nằm gần văn pḥng Thường Trực Thi Đua.  Vào trong trại, tôi không có nhiều việc phải làm v́ tất cả đều lệ thuộc vào đội mộc như đóng khung, làm pa-nen.  Lập th́ làm cho ban thi đua c̣n tôi th́ thỉnh thoảng chỉ phụ với đội văn nghệ để vẽ phong màn, làm trang trí sân khấu.  Tranh lúc này cũng được vẽ rất ít v́ trại cũng không cần nhiều như trước.  Các khu nhà đă xây cất quá nhiều, bây giờ chỉ c̣n đập phá để xây cái mới.  Tranh th́ cứ dời nơi này đến nơi khác.  Lúc này th́ trại cũng đang khai phá khu mới ở tận khu vực của trại Z30C, bấy giờ đă trở thành phân trại K2 của trại Z30D.  Thỉnh thoảng tôi cũng phải đi theo đội vào đó để sơn nhà, vẽ tranh tường vân vân.  Về sau th́ họ cho Lập đi c̣n tôi th́ đôi lúc không làm ǵ cả.
Mặc dù làm ở pḥng vẽ nhưng tôi vẫn thuộc đội mộc và ở chung pḥng với đội này.  Đội mộc lúc ấy chỉ toàn phạm nhân h́nh sự.  Nhiều lần, tôi yêu cầu cán bộ Tư, trưởng phân trại K1 chuyển tôi về đội 20 với các bạn ở Hà Nam Ninh về, nhưng không được.  Một hôm trong lúc điểm số để nhập buồng, tôi được gọi đi họp với số trại viên “chế độ cũ” nên đứng riêng một bên.  Tên cán bộ vũ trang không biết nên đă đánh tôi v́ lư do tôi không chịu vào buồng.  Tôi ra báo cáo với cán bộ trực trại và sau đó chính Nhu phải xin lỗi trước buổi họp với các trại viên.  Vài hôm sau tôi được đưa về chung buồng với đội 20.
Trong một lần đi vẽ ở căn tin nằm bên lề quốc lộ số 1, Nhu bảo tôi phải vá lại tấm tranh đă bị rách.  Tôi bảo hắn ta là để tôi vẽ tấm khác thế vào v́ tấm cũ bị rách quá nhiều khó có thể vá và sửa lại được.  Thế là hắn ta la lối om ṣm rồi gọi tên cán bộ đứng gần đó đưa tôi vào trại nhốt vào pḥng kỷ luật!
Tôi nghĩ đây là hành động mà hắn ta trả thù về việc phải xin lỗi tôi trước mặt các trại viên, và cũng là cái cớ để dẹp pḥng vẽ v́ lúc đó cũng hết cần thiết.
Khi bị đưa về nhốt vào pḥng biệt giam, điều đầu tiên tôi suy nghĩ là không biết ḿnh sẽ phải ở trong đó bao lâu.  Đối với Nhu th́ không cần phải thắc mắc lư do bị nhốt v́ hắn nhốt bất cứ ai mà hắn không thích, không cần nêu lư do và cũng không cần đọc lệnh phạt.  C̣n thời gian ở trong đó bao lâu th́ tuỳ theo hắn mà thôi.
Tên cán bộ trực trại trước khi đưa tôi vào pḥng biệt giam đă cho tôi biết rằng theo điều lệ ở đó th́ tôi chỉ được mặc một cái quần đùi mà không được mặc áo v́ họ muốn tránh trại viên dùng văi áo để kết thành dây thắt cổ tự tử.  Tuy nhiên đối với tôi th́ hắn ta “nhân nhượng” cho phép tôi được mặc áo v́ trong đó rất nhiều muỗi!  Suốt 15 năm ở các trại cải tạo, tôi đă cố tránh việc phải bị giam vào nhà “kỷ luật” bởi v́ điều ấy rất dể dẩn đến sự suy sụp tiếp theo.  Lần này th́ tôi cũng không thể thoát được.
Nhà “kỷ luật” là một căn nhà xây rất kiên cố, trông giống như một lô-cốt bề ngang khoảng sáu thước dài khoảng mười thước nằm phía sau hội trường.  Nó được ngăn cách với hội trường bởi một bức tường cao và ngăn cách hai khu A và B bởi tường rào khu.  Có hai cửa nhỏ ở hai đầu nhà với cánh cửa được khoá kín ngoại trừ lúc cán bộ hay ban thi đua đưa cơm nước vào hoặc đưa người vào làm vệ sinh.  Phía sau cánh cổng là một lối đi rộng khoảng một thước dẩn vào một lối đi ở giữa rộng khoảng một thước rưỡi.  Hai bên lối đi này là hai dăy pḥng biệt giam với những cánh cổng bằng sắt khép kín.
Pḥng “biệt giam” là một pḥng kín dài khoảng hai thước ngang một thước không có một cửa sổ nào cả mà chỉ có cửa cái nhỏ và thấp, khi đi vào phải cúi ḿnh xuống.  Trên cánh cửa cái c̣n có một lỗ nhỏ với một cánh cửa được đóng chốt ở phía ngoài để đưa thức ăn vào.  Ánh sáng chỉ được cung cấp bằng một bóng đèn điện trần treo trên cao, bóng đèn này cũng ít khi được thắp sáng do đó căn buồng luôn tối tăm.
Đi qua cửa buồng, về phía bên trái là bệ nằm xây bằng xi măng cao khoảng năm tấc và ngang cũng khoảng năm tấc.  Phía bên phải là khoảng trống có để một cái sô nhỏ bằng nhựa cho trại viên tiêu tiểu tiện vào đó.  Trại viên bị nhốt trong pḥng biệt giam phải nằm đưa chân về phía cửa v́ phía đó có một thanh sắt dài luồn qua các pḥng.  Chân trại viên th́ được c̣ng bằng một c̣ng sắt h́nh chữ U dính vào thanh sắt ấy.  Nếu chỉ bị c̣ng một chân th́ trại viên có thể chọn chân mặt hay chân trái.  Chân bị c̣ng phải gác lên thanh sắt dài và rất khó xoay trở v́ chiếc c̣ng rất chật.  Ở tư thế này th́ người bị c̣ng chỉ có thể nằm ngửa hay nghiêng về một bên tuỳ theo chân bị c̣ng hay có thể ngồi lên nằm xuống để vận động cho đỡ bị cóng chứ không thể đứng dậy được.
Căn pḥng rất ẩm mốc và hôi thúi v́ chẳng những không có ánh sáng bên ngoài lọt vào mà trại viên c̣n phải ăn ngủ ỉa đái tại chổ và lại không có ǵ để lau rửa ngoài một ít giấy báo phát hàng ngày và một ca nước khoảng một lít để vừa uống vừa làm vệ sinh cá nhân.  V́ pḥng rất tối tăm nên không có ruồi, nhưng muỗi th́ bay cùng khắp cả ngày lẫn đêm!  Mặc dù mới lần đầu bước chân vào nhà kỷ luật nhưng tôi đă nghe nói đến điều này.  Để tránh phần nào bệnh sốt rét, tôi đă uống trước hai viên quinine khi được cho về thay quần áo trước khi đi vào đấy.  Chưa quen với muỗi bay vo ve bên tai nên suốt ngày đêm hôm ấy tôi không hề chợp mắt; tay th́ cứ đuổi muỗi không ngớt
Nằm trong pḥng biệt giam, tôi chẳng thấy buồn mà chỉ thấy tức cười và thấy lo.  Tức cười bởi v́ một duyên cớ không đâu mà lại bị đi kỷ luật.  C̣n lo v́ không biết bao giờ mới ra và khi ra th́ thân thể sẽ ra sao đây?  Bất cứ ai khi đă bị Nhu nhốt rồi th́ ít ra cũng phải hai ba tháng mới được cho ra dù với bất kỳ một lư do nào, và khi ra khỏi nhà biệt giam th́ cũng thân tàn ma dại, đi đứng vật vờ như bóng ma, thân h́nh th́ giống như một bộ xương biết cử động!  Đó là chưa kể đến những bệnh hoạn này nọ.  Muỗi, rệp, cùng những đêm mất ngủ, những khẩu phần ăn ngày hai bữa chỉ một chén nhỏ cơm độn khoai với một ít nước muối và một lon nước vừa uống vừa rửa ráy hàng ngày.  Con người dù khoẻ mạnh hay có sức chịu đựng tới đâu cũng không thể chịu nỗi một điều kiện sống như vậy!  Tôi vẫn nhớ những lúc chính ḿnh phải mua chuộc cán bộ hay ban thi đua để gởi được một cục đường hay một chút mắm ruốc cho các bạn trong nhà kỷ luật trước đây.  Giờ đây tới phiên ḿnh không biết có ai làm việc ấy hay không?
Tôi lại nghĩ không biết làm sao nhắn được cho gia đ́nh đừng lên thăm nuôi trong lúc này bởi v́ họ sẽ không cho gặp mặt trong lúc đang bị giam trong nhà kỷ luật.  Đủ thứ suy nghĩ diễn ra trong đầu óc trong khi tay tôi th́ cứ phải xua muỗi không ngớt bám vào chân tay, vào mặt, vào ḿnh mẩy và đốt xuyên qua cả áo!  Cuối cùng th́ tôi phải ngồi dậy xé một cánh tay áo ra để làm đồ đuổi muỗi, vậy mà hôm sau dấu muỗi đốt cũng đầy khắp người.
Sáng sớm có tiếng lanh canh mở cửa.  Thật ra nằm trong đó th́ không biết ngày đêm là ǵ cả, chỉ khi ra ngoài th́ mới biết trời đă sáng tỏ!  Tên cán bộ trực trại vào mở khoá cho tôi và nói với tôi rằng “Ban bảo thả anh ra và đưa anh đi theo đội lâm sản ngay tức khắc!”
Tôi có hơi ngạc nhiên nhưng không trả lời ǵ cả mà chỉ theo hắn về pḥng để chuẩn bị đồ đạc đi “lâm sản”.  Đội ấy đă xuất trại chỉ c̣n cán bộ quản giáo đứng đợi để dẩn tôi ra nhà lô của đội ở khu vực K3 cũ.  Đội lâm sản lúc bấy giờ gồm toàn những phạm nhân h́nh sự, chỉ ḿnh tôi lạc lơng trong đó mà lại là người “già” nhất đội!
Giống như những trại viên khác thuộc đội lâm sản, tôi phải trang bị một con dao đi rừng.  Không có thắt lưng đeo dao, tôi phải dùng dây lá buông cột quanh hông rồi treo lủng lẳng con dao một bên c̣n bên kia th́ đeo bi đông đựng nước uống.  Trang bị xong xuôi, tôi theo các đội viên khác bắt đầu vào rừng.
Mặc dù đă nhiều lần đi rừng từ Bắc vô Nam , nhưng tôi chưa hề đi rừng với mục đích lấy gỗ.  Ở đội mộc trại Tân Lập, tôi chỉ đi vào b́a rừng để cưa cây về làm cột nhà.  Trong thời gian ở trại Z30D này th́ tôi chỉ đi rừng để đo khối lượng của cây gỗ mà đội lâm sản hạ sẳn. Lần này th́ chính tôi phải hạ những cây gỗ ấy!  Không biết phải làm thế nào đây?
Khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi bắt đầu rời nhà lô đội lâm sản.  Rừng ở Z30D đă bị khai phá đến tận chân núi; chúng tôi phải đi bộ về phía Z30C, lúc ấy đă là phân trại K2 của trại Z30D.  Ngang qua những ruộng bắp, các đội viên lâm sản khác rẽ vào để hái một vài trái bắp ngon mang theo ḿnh, họ c̣n đi thăm những chiếc bẩy c̣ ke mà họ đặt vào hôm trước.
Lâm sản là một đội thuộc “diện rộng” đi không có cán bộ quản chế, do đó trông họ rất có vẽ tự do!  Hấu hết đội viên lâm sản là những người sắp măn án tù nên không ai có ư định trốn trại.  V́ chưa biết đường nên tôi phải đi theo anh nuôi của đội, số khác th́ đă rẽ ra để đi thăm bẩy hay đi đến những điểm hẹn riêng của họ.  Hiện trường lao động của đội lúc ấy là một khu rừng rậm cách nhà lô khoảng 15 cây số.
Khi đến nơi th́ đă trưa, tôi phụ với anh nuôi nấu cơm cho đội và chia sẳn ra từng phần cho mỗi người.  Các đội viên khác cũng lần lượt đến nơi, ăn uống xong th́ bắt tay vào việc.  Hôm đó họ hạ những cây trắc, gơ, cẩm lai, thao lao mà họ đă chọn sẵn.  Chỉ tiêu là mỗi người một cây.  Tôi thuộc nhóm cắt ngọn và cành cây.
Đầu tiên, một số người leo lên cây chặt hết những dây leo quấn quanh các cây với nhau để đề pḥng cây bị vướng hay bị treo khi được cắt đứt.  Giai đoạn này có lẽ là giai đoạn khó khăn nhất.  Tiếp theo th́ từng hai người một cưa “mở miệng” ở gốc cây bằng loại cưa giống cưa khung nhưng lớn hơn và răng cưa cũng to hơn, các cưa này vẫn thường được mài ở đội mộc.  Họ phải chọn hướng để cây ngă.  Sau đó th́ cưa ngang phía đối diện bằng loại cưa “cá mập”.  Khi cây đă ngă th́ đến giai đoạn cắt ngọn và cắt cành cây, dọn đường cho xe vào kéo gỗ.  Giai đoạn này được coi là công việc nhẹ nhàng nhất và dành cho những người chưa quen việc hay những người “già yếu” trong đội.  Tôi thuộc toán này!  Nói là “nhẹ nhàng” nhất, nhưng khi làm xong th́ mồ hôi tôi cũng ướt cả áo quần và tay chân th́ mỏi nhừ.  Đêm ấy vào trại tôi ngủ như chết, một ngày đêm không ngủ trong nhà kỷ luật và một bửa lao động nặng khiến tôi không c̣n biết trời đất ǵ nữa hết!  Cũng may là họ cho tôi về pḥng của đội 20 chứ không ngủ chung với đội lâm sản.  Đă từng ở chung với các phạm nhân h́nh sự ở đội mộc, tôi cũng không lạ ǵ cách sống của chúng.  Được cái là họ cũng vị nể chúng tôi nên cũng không đến nỗi nào.
Sau vài hôm đi theo đội lâm sản, tôi bắt đầu trổ tài đánh bẫy.  Họ rất ngạc nhiên là tôi luôn luôn bắt được nhiều thú hơn mọi người khác.  Mỗi loại thú có một thói quen của chúng, do đó tôi đă áp dụng phương pháp mưu sinh để đánh bẫy.  Tất cả những thứ bắt được tôi đều giao cho anh nuôi cùng với gia vị của riêng tôi để nấu ăn chung cho cả đội.  Nhờ thế mà các đội viên đội lâm sản bắt đầu thích tôi, họ làm dùm chỉ tiêu cho tôi để tôi có thời gian đi “cải thiện” cho đội.  Ngoài việc bẫy thú ra th́ rừng c̣n có rất nhiều thứ có thể ăn được như măng tre, nấm, cua cá ở các ḍng suối nhỏ, vân vân.  Lần lần tôi trở thành phụ tá cho “anh nuôi” của đội.  Một số khác trong đội thấy vậy cũng bắt đầu góp chung vài thứ họ thu nhặt được để ăn chung vào bữa ăn trưa.
Ngoài việc thực hiện chỉ tiêu của trại ra, một số đội viên lâm sản c̣n kiếm được tiền bằng cách cắt lá buông cho dân đi lấy lá, hạ cây gỗ và cắt sẳn thành đoạn ngắn cho những người dân đi lấy gỗ.  Số tiền này họ phải chia với các cán bộ phụ trách đội lâm sản.  Chỉ một số có sức khoẻ mới làm được việc này.  Thường đó là số chuyên hạ cây, sau khi hạ xong cây th́ họ đi làm thêm kiếm tiền.  Đây là phương cách sinh sống của tù và của cả cán bộ thuộc đội lâm sản!
Bên cạnh việc lấy gỗ cho toán xẽ, đội lâm sản c̣n có nhiệm vụ lấy đọt lá buông cung cấp cho tổ chằm nón lá của trại, lấy tre cho đội xây dựng, lấy măng cung cấp cho bếp cơ quan, và lấy củi đốt cho bếp trại và bếp cơ quan.
Việc lấy lá buông tương đối nhẹ nhàng hơn nên thường dành cho các trại viên yếu.  Chúng tôi dùng câu liêm để cắt những đọt lá buông xuống rồi chất lên xe ḅ chở về trại.  Riêng việc đi lấy tre th́ rất mới lạ đối với tôi v́ nó không đơn giản như tôi nghĩ từ đầu.
Tre rừng là loại tre gai, thân và cành đầy gai nhọn.  Không thể chặt đứt gốc tre rồi kéo cây tre ra khỏi bụi v́ cành đầy gai vướng chằng chịt vào nhau.  Đầu tiên chúng tôi phải dùng câu liêm để dọn một “cái thang” leo lên trên bụi tre.  Đó là một khoảng trống với những cành tre ngang làm bậc thang.  Tiếp theo th́ người chặt tre phải leo lên đến nơi nào mà họ dự định cắt ngọn, dùng dao chặt đứt ngọn tre ném qua một phía.  Từ nơi ấy họ phải róc cành tre từ trên xuống dưới, và phải róc nhiều cây cùng một lúc để có thể dọn sạch các cành tre.  Khi các cây tre đă trơ trụi, họ leo xuống bên dưới chặt đứt gốc tre và lúc ấy mới kéo được cây tre ra v́ chúng không c̣n vướng vào nhau nữa.
Khi chặt tre như vậy th́ hầu như phải chặt cả bụi tre cùng một lúc chứ không chỉ chặt vài cây trong một bụi, do đó phải chọn những bụi tre đủ độ già để lấy được nhiều cây.  Khu vực quanh trại đă phát quang hết nên không c̣n tre, mỗi lần đi lấy tre th́ chúng tôi phải đi rất xa, thường th́ phải có xe chở chúng tôi đi và chở cây tre về.
Tôi chỉ đi theo đội lâm sản khoảng hai tháng th́ được trở về đội 20 với các bạn.  Tuy nhiên thời gian này có thể nói là thời gian mà tôi đi nhiều nhất khắp các khu vực quanh trại và cả ngoài dân chúng và đó cũng là thời gian tự do nhất trong cuộc đời cải tạo của tôi.

 

 

Chương 50. Trại Z30D Tiếp Tục Thay Đổi.

Đợt thả đầu năm 1988 đă khiến trại Z30D giăm hẳn con số trại viên xuống, do đó phân trại K2 đă được loại bỏ và trở thành một trại nuôi ḅ và gà vịt.  Số ḅ trước đó được nhốt ở chuồng ḅ trong phân trại K3 cũ được chuyển hết sang K2.  Các phạm nhân h́nh sự lần lượt được điều về lấp đầy phân trại K1 và trở thành lực lượng lao động chính của trại.  Nhu đă nắm giữ chức vụ trại trưởng sau khi loại trừ được Ư.  Tất cả các “đối thủ” khác đều bị Nhu t́m cách này hay cách khác loại ra khỏi trại.  Hắn ta đưa người của ḿnh lên nắm các chức vụ then chốt trong trại.  Một nữ cán bộ tên là Phúc được đưa lên làm trại phó, trưởng phân trại K1 lúc đầu là Binh sau đó là Tư, mới chỉ là trung úy.  Mọi quyền bính thật sự đều nằm trong tay của Nhu; hắn ta tha hồ làm mưa làm gió ở trại Z30D.
Hai lănh vực lớn mà Nhu nhắm tới vẫn là lâm sản và xây dựng.  Đập thủy điện sau khi hoàn tất đă cung cấp được điện cho trại và khu cơ quan trong mùa mưa và một phần trong mùa nắng.  Tuy nhiên ḷng hồ cứ cạn dần, do đó trại viên phải ra công để vét và nới rộng ḷng hồ không lúc nào ngưng.
Các phạm nhân h́nh sự đa số trẽ, vào trại chưa bao lâu nên lao động có năng suất hơn so với chúng tôi, những trại viên lớn tuổi.  Khu đất phía bên kia bờ suối đă hoàn toàn khai phá, Nhu cho làm một con đường đất đi từ K1 vào tới khu vực K3 cũ.  Đất khu này đều được trồng ớt để “xuất khẩu” và trồng mía để nấu đường chén ở ḷ đường của trại.
Một khu vực thăm nuôi được thành lập mới ở bên kia bờ suối, phía dưới láng mộc.  Khu thăm nuôi gồm một nhà thăm gặp chính và nhiều nhà khác dùng làm nhà thăm gặp qua đêm.  Lúc đầu việc thăm gặp qua đêm chỉ giới hạn một số ít trại viên, về sau Nhu ra lệnh rộng răi hơn và thân nhân muốn ở lại qua đêm phải đóng tiền pḥng, ngoài việc “lót đường” cho các cán bộ phụ trách thăm nuôi, cho cán bộ kư giấy cho phép và quà cáp cho chính Nhu nữa!  Từ khi ấy, có nhiều trại viên và thân nhân được ở lại không những một đêm mà có khi cả tuần lễ hay mười ngày.  Thân nhân th́ không những là vợ, mà mẹ con hay bất cứ ai cũng có thể xin ở lại.  Nhà thăm gặp lúc đó trở thành nơi tiệc tùng cho các cán bộ với gia đ́nh trại viên.  Các chiếc xe đ̣ chở người đi thăm nuôi lúc đầu c̣n ngừng ở nhà đón khách bên cạnh quốc lộ số 1 rồi trại cho xe ra đón vào, sau đó được chạy thẳng vào tới góc căn tin gần đập thủy điện.
Căn tin này lúc đầu chỉ bán một ít đồ đạc và nước uống, chủ yếu là phục vụ các trại viên lao động đêm.  Dần dần nó biến thành địa điểm buôn bán cho các thân nhân trại viên đến thăm nuôi và ở lại.  Nước đá, nước ngọt, thịt heo, gà vịt, trứng, chuối, vân vân được mua về bán tại đây.  Căn tin khi ấy được nới rộng ra sát bờ suối với một sàn gác ở phía trên làm ve ra khỏi bờ suối.  Trại viên sau khi gặp thân nhân ở nhà thăm gặp th́ được dẩn ra căn tin để ngồi uống nước và nói chuyện tiếp.  Mọi thứ đều nhằm mục đích kiếm tiền!
Băi đất trống giữa láng mộc với căn tin được sửa lại thành công viên với cầu nổi, vườn hoa, tượng và băng đá.  Một con đường nhỏ chạy dọc theo bờ suối từ nhà thăm gặp đến căn tin được thành h́nh để thân nhân trại viên đi mua sắm.  Đá được đem về lát dọc theo bờ suối và trong các vườn hoa cũng như trên các con đường đi.  Các công việc này tốn rất nhiều công sức của trại viên.  Đá được đập từ núi chuyển về rồi lại phải đẻo ra theo h́nh dáng kích thước để lát xuống ḷng suối.  Nước lũ vào mùa mưa dâng lên cuốn đi rồi lại phải làm lại nhiều lần.
Càng ngày càng có nhiều trại viên được thăm gặp ở lại nhiều ngày, Nhu cho làm một số căn nhà lá nằm riêng rẽ dọc theo con đường phía bên kia đập thủy điện hướng về phân trại K3 cũ.  Mỗi căn nhà lá này chỉ có một pḥng, nằm cách xa nhau và chỉ được dùng cho một số trại viên chọn lựa v́ khu ấy rất khó kiểm soát nếu trại viên có ư định trốn trại.
Gần khu thăm nuôi đặc biệt này là khu “nhà lô” của đội 23, đội của các “bác già” như Nhu vẫn thường gọi.  Đó là đội của các trại viên nguyên là các tướng lănh và các cấp đại tá và một số trung tá thuộc quân lực VNCH; đội do tướng Lê Minh Đảo làm đội trưởng.  V́ nằm gần nên khu thăm nuôi này cũng được các “bác già” chăm sóc cẩn thận.  Đường đi luôn luôn được quét dọn sạch sẽ, nhà cửa luôn luôn được dọn dẹp ngăn nắp, cây cối chăm bón tươi tốt.  Đa số những người thuộc đội 23 này khi thăm gặp qua đêm thường được ưu tiên ở khu vực ấy.  Nhu cũng thường dẩn khách đến thăm trại đi qua khu vực ấy để “giới thiệu”.
Khu rừng dọc theo bờ suối lần lượt được khai hoang sạch sẽ.  Cây bạch đàn được trồng thay vào đó.  Tiếp theo th́ Nhu cho trồng thuốc lá vàng loại giống Virginia để bán ra ngoài.  Trong trại th́ hắn ta cũng tổ chức một tổ làm các loại thuốc lá mang những nhản hiệu giả mạo thuốc ngoại quốc như Jet, 555, Dunhill, Craven A, vân vân.  Tổ làm thuốc này do các phạm nhân bị bắt vào về tội làm thuốc lá giả mạo.  Các phạm nhân này muốn sống thoải mái trong trại th́ phải cung cấp vật liệu và công sức để làm những cái mà họ đă bị kết án để rồi Nhu lại có dịp tung những thứ này ra trở lại thị trường.  Quả thật là một điều “khôi hài đen!”
Quanh trại c̣n được đào nhiều ao nuôi cá trắm cỏ và cá rô phi mà các cá giống đều do các phạm nhân cung cấp nếu họ muốn được làm công việc nuôi cá ở trại thay v́ đi lao động cực nhọc.
Bên cạnh Quốc Lộ Số 1, Nhu cho xây dựng một “khách sạn” và quán cà phê do Dũng và gia đ́nh làm quản lư.  Dũng là một phạm nhân trẽ bị án chung thân v́ tội bắn chết công an ở Sài G̣n.  Gia đ́nh của hắn ta cũng rất có thế lực trong nhà nước Cộng Sản nên Dũng đă tránh khỏi tội tử h́nh.  Vào trại hắn ta lại được hưởng nhiều ưu đăi nữa.  Khách sạn và quán cà phê này cũng là nơi mà Nhu và các khách của hắn ta làm địa điểm “ăn chơi”.  Ngoài ra, một quán “cà phê nhạc” cũng được lập ở thị xă Long Khánh do các phạm nhân nữ làm chiêu đăi viên.  Hầu hết những nơi này tôi đều có dịp đến để thực hiện công việc gọi là “trang trí nội thất”: sơn và vẽ bảng hiệu cùng treo tranh ảnh.
Căn nhà “bát giác” nơi trước kia Nhu xây cho riêng hắn ta bên bờ suối gần với láng mộc đă được dành cho một nữ phạm nhân mà chúng tôi thường gọi là “bà trời!”  Nữ phạm nhân này bị bắt về tội truyền bá đạo giáo mê tín.  “Bà trời” biến nơi này thành nơi “tu hành” và cũng là nơi để chụp h́nh cho khách, nhất là thân nhân đến thăm trại viên.
Sau khi nhập chung hai trại Z30D và Z30C thành một, Nhu bắt đầu nới rộng địa bàn sang Z30C lúc đó là phân trại K2 của trại Z30D.  Hắn ta cho cất nhà và lập bản doanh riêng ở bên ấy.  Máy cưa cũng được dời sang và bắt đầu khai phá rừng để lấy gỗ khu vực này.
Sự thay đổi trong trại cũng được thực hiện một cách nhịp nhàng.  Kể từ khi có sự trộn lẩn giữa hai thành phần trại viên “có án” và “tập trung cải tạo” thuộc chế độ cũ, cơ cấu của Ban Thi Đua trại viên cũng được thay đổi.  Lân, Nuôi, Pḥ, vân vân là những trại viên ở trại Tiên Lănh miền Trung bị xử án trong trại v́ tội làm và nghe lén đài phát thanh ngoại quốc.  Người ráp máy thu thanh th́ bị án tử h́nh.  Lân th́ lănh án chung thân c̣n Nuôi, Pḥ, Sang vân vân th́ từ mười lăm đến hai mươi năm.  Khi được chuyển về trại Z30D th́ Nhu đă dẹp Ban Thi Đua cũ để cho Lân, Nuôi và Pḥ vào thế chổ.  Theo tôi th́ hắn ta đă bước một bước khéo léo trong việc này.  Hắn ta đă xữ dụng thành phần này như một trung gian giữa số trại viên thuộc chế độ cũ và số bị kết án để dể điều hành công việc trong trại.  Về phía trại viên nữ th́ hắn ta đưa Tâm lên làm Thi Đua.  Tâm có người cha đă bị giết chết trong cuộc tấn công ngày 30 tháng tư năm 1975 của VC, sau đó cô ta lấy một cán bộ VC rồi lại “chiêu hồi” chồng tham gia tổ chức chống lại Cộng Sản.  Bị bắt và bị kết án 20 năm c̣n chồng th́ bị tử h́nh.
Khi phạm nhân h́nh sự chiếm đa số trong trại th́ một lần nữa Nhu lại thay đổi Ban Thi Đua.  Lân vẫn ở nhiệm vụ trưởng ban, nhưng Nuôi và Pḥ được thay thế bằng Hạnh, một phạm nhân h́nh sự.  Châu, một phạm nhân nữ mang tội phạm về kinh tế thay cho Tâm được thả ra khỏi trại.  Nhu cũng thường xuyên “bồi dưởng” cho các thành viên trong Ban Thi Đua, do đó theo tôi thấy th́ đây là một Ban Thi Đua làm được việc nhất mà lại ít gây căm thù nhất trong trại viên và phạm nhân.
Một thay đổi lạ lùng nhất ở trong trại là việc thành lập cái gọi là “Khu Vui Chơi”.  Trong thời gian đầu của việc xây dựng đập thủy điện th́ vào những đêm lao động để đào hồ, các trại viên trước khi ra về thường được ghé qua “căn tin” ở gần đập để ngồi nghe nhạc và uống nước.  Đôi lúc cũng có những buổi chiếu vidéo phim chưởng Trung Quốc nhưng chỉ ở khu cơ quan.  Năm 1988, Nhu bắt đầu cho thành lập “Khu Vui Chơi” trong trại.  Khu trồng bạch đàn ở hai bên con đường đi vào hội trường được trang bị những băng ghế ngồi và bàn nhỏ làm bằng b́a gỗ xẽ lấy từ đội mộc.  Các bàn và băng ghế này được chôn cố định.  Ở đầu đường vào hội trường được dựng một cổng với tấm bảng “Khu Vui Chơi”; hai bên cổng là hai ki-ốt bán nước uống và bánh kẹo, thuốc lá vân vân.  Ngoài việc được phục vụ nước uống, thường là sửa đậu nành, trại viên ra khu vui chơi c̣n được phép ngồi nói chuyện tiếp xúc nhau dù là khác phái!  Sau đó tất cả được vào hội trường để xem vidéo phim chưởng hay ca nhạc, nhất là các băng nhạc vidéo hải ngoại như “Thúy Nga Paris”.  Đôi khi trại c̣n tổ chức ca nhạc ngoài trời do các trại viên lên ca với sự đệm nhạc của các trại viên trong đội văn nghệ.  Các trại viên khác th́ tự do khiêu vũ.  Nhạc vàng lúc này được ca hát không c̣n cấm đoán trong trại nữa.
Có ba thành phần trại viên được ra khu vui chơi.  Thứ nhất là những người bỏ tiền ra mua vé; khi đóng cửa buồng th́ những người này được đứng riêng ra để ra khu vui chơi, số c̣n lại th́ vào buồng và khóa cửa pḥng lại.  Thứ hai là những trại viên trong toán lao động đêm, nhóm này thường nhập trại khi các trại viên trong khu vui chơi đă vào hội trường để xem phim.  Thành phần thứ ba là “các bác già”, ở nhà số 1 khu A, các trại viên thuộc thành phần “chế độ cũ” không bị khóa cửa cho đến sau khi tan buổi chiếu phim.  Mặc dù được tự do đi ra khu vui chơi, nhưng thành phần này cũng ít khi tham dự ngoài những buổi chiếu vidéo ca nhạc hải ngoại mà các băng nhạc này thường do gia đ́nh mang lên để “ủng hộ” cho trại.
Khu vui chơi lần lần biến thành chổ hẹn ḥ cho các cặp “nhân t́nh” trong trại!  Không chỉ những đêm văn nghệ mà cả những ngày nghỉ hay buổi trưa đi lao động về, các cặp “quan hệ nam nữ” này thường ra đó để gặp nhau.  Sự quan hệ nam nữ giữa các trại viên với nhau lúc đầu c̣n lén lút dần dần trở nên công khai từ khi thành lập cái gọi là “khu vui chơi”.
Để tận dụng “tài nguyên”, các hào nước sát hàng rào trại được cho vét lại và cho đấu thầu nuôi cá rô phi và cá trắm cỏ.  Trại viên nào muốn ở trong trại nuôi cá th́ phải cung cấp cá giống và nuôi cá cho trại.  Mọi phương tiện đều dẩn đến việc đầu tư để lấy thêm tiền “gây quỷ”, như các cán bộ giải thích. Thực hiện kế hoạch “tự túc” do nhà nước VC đề ra cho các cơ quan, đơn vị, trại cải tạo dần dần biến thành một cơ sở kinh doanh dưới mọi h́nh thức.

 

 

Chương 51. CT: Cải Tạo hay Con Tin?

 Chúng tôi, một số rất nhỏ c̣n lại sau đợt thả đầu năm 1988 quả thật đă bị một cú sốc khá nặng.  Hàng ngàn trại viên được ra về mà chỉ có trên dưới hai mươi người bị giữ lại!  VC đang suy tính ǵ đây?  Mỗi người chúng tôi đều có trong đầu một suy nghĩ.  Ngay ngày hôm ấy, thay v́ nhốt kỹ chúng tôi để đề pḥng việc trốn trại th́ họ lại “thả lỏng” chúng tôi ra, đưa chúng tôi ra ngủ bên ngoài trại mà không cần một sự canh giữ nào.  Thật là một điều nghịch thường!  Chúng tôi bảo nhau rằng sau Tết có thể họ sẽ thả chúng tôi v́ theo chúng tôi nghĩ th́ cũng chẳng có một lư do ǵ để họ giữ lại một số quá ít như thế này trong khi có thể thả hầu hết mọi người khác.  Thêm vào đó, nếu so sánh số c̣n lại với số ra về th́ cũng chẳng có ǵ khác biệt nhau mấy.  Chúng tôi đành chuẩn bị một cái Tết điều hiu nhất từ trước tới nay ở trong trại cải tạo với một hy vọng mong manh là chúng tôi sẽ ra về sau Tết.
 Hùng và Diễm làm ở láng mộc, một ḿnh tôi ở pḥng vẽ.  Phải làm công việc hàng ngày nhưng tôi không c̣n đầu óc đâu mà suy nghĩ tới việc làm.  Tôi vẽ giống như một người máy, cứ tô màu cho kín khung vải chứ chẳng để tâm đến những ǵ ḿnh đang vẽ.  Chỉ mong cho tới giờ nghỉ là thả rong xuống suối câu cá và suy nghĩ vẩn vơ.  V́ không c̣n Điệp làm “ông từ” giử chùa nên tôi phải khép cửa pḥng vẽ lại mà đi.  Nhu cũng không thường xuyên ghé qua như trước; có lẽ hắn ta cũng biết tôi đang bị xáo trộn đầu óc nên không muốn gặp tôi trong t́nh trạng này.
 Đội mộc bắt đầu bổ sung các phạm nhân h́nh sự.  Bạn bè đă về hết nên tôi thường ăn uống sinh hoạt chung với Thực, một người bị bắt về tội vượt biên và ở đội mộc cũng đă khá lâu.  Thực hàng ngày đi làm và nhập trại cùng với đội mộc.  Những con cá câu được vào đêm hôm trước tôi rộng vào một thùng nước để hôm sau giao lại cho Thực tùy nghi nấu nướng, và chúng tôi ăn trưa và chiều với nhau.  Ngoài ra c̣n có Nam cũng thường hay lui tới pḥng vẽ với tôi.  Nam là người bị bắt v́ tội tổ chức vượt biên, làm ở ḷ đường và là chuyên viên về âm thanh và ánh sáng của đội văn nghệ.  Cũng nhờ Nam mà không bao giờ tôi thiếu số đường dự trử.  Sau này, Nam tự tử chết bằng thuốc rầy v́ t́nh yêu vô vọng với một tù nữ tên là Tú, bán ở căn tin.
 Tin tức từ những người mới ra về cho biết rằng họ không c̣n bị quản chế như những đợt thả trước kia mà được nhập “hộ khẩu” với gia đ́nh ngay sau khi tŕnh diện.  Về cuộc sống ở ngoài xă hội th́ họ cũng cho biết ngoài số những người có thân nhân ở ngoại quốc chi viện về th́ số c̣n lại đa số sống cũng rất vất vă.  Công việc làm không có mà sức khỏe cũng không đủ để cáng đáng những công việc nặng nề như đạp xe xích lô, xe ba gác, hay làm phu khuân vác vân vân.  Điều này không chỉ xảy ra đối với những người cải tạo về mà cũng là t́nh trạng chung của mọi người dân trong nước.
 VC thường nói rằng đất nước ta nếu có khó khăn th́ cũng chỉ là “tạm thời”, c̣n thuận lợi mới là “cơ bản”.  Đă mười ba năm qua kể từ ngày chấm dứt chiến tranh, thế mà t́nh trạng đất nước ngày càng khó khăn hơn.  Không biết cái gọi là “tạm thời” này bao giờ mới chấm dứt?
 Khoảng hai tuần sau, số trại viên c̣n lại ở trại Hà Nam Ninh được chuyển về nhập chung với chúng tôi nâng tổng số trại viên c̣n giử lại trong trại cải tạo lên con số khoảng hai trăm mười người.  Sau đó ít lâu họ lại thả một vài người mà họ cho rằng “già yếu bệnh tật”.  Số c̣n lại bước vào một giai đoạn cải tạo hoàn toàn mới.
 Không lâu sau đó, đài phát thanh Hà Nội loan báo rằng họ đă thả hầu hết số “ngụy quân và ngụy quyền” ở trong các trại cải tạo.  Họ c̣n nói rằng số rất ít c̣n giử lại v́ lư do những người này thuộc thành phần “có nợ máu với nhân dân và không chịu cải tạo” nên không thể thả ra được!  Như vậy là rơ ràng rằng chúng tôi sẽ không thể nào ra về ngoại trừ có một “phép lạ” nào đó.  Không biết họ sẽ đối xử với chúng tôi như thế nào đây?  Đưa ra ṭa án “nhân dân” để xử, đưa đi đày ở những hải đảo nào đó, hay đưa đi những nông trường để sống ở nơi ấy trọn đời?  Chúng tôi nghĩ rằng đúng lư ra th́ họ phải đưa chúng tôi ra trở lại miền Bắc để “gần với trung ương” cho dể thi hành các biện pháp chế tài chứ tại sao họ làm ngược lại là đưa vào miền Nam.
 Cùng lúc ấy th́ cũng có những tin tức về các cuộc hội đàm của phái đoàn Mỹ do tướng Vessy dẩn đầu với phái đoàn Hà Nội về vấn đề “Người Mỹ Mất Tích” và “Tù Binh Chiến Tranh”, trong đó có đề cập đến những “quân nhân và nhân viên của chính quyền Nam Việt Nam” đang ở trong các trại cải tạo.  Thế là một bên tung một bên hứng.  Vô h́nh chung chúng tôi cũng như những “tù binh chiến tranh” và “người Mỹ mất tích” lại trở thành những món hàng để ngă giá, một thứ “con tin” trong cuộc mua bán giữa Mỹ và VC!
 Riêng cuộc sống của chúng tôi trong trại cải tạo th́ hoàn toàn thay đổi.  Không biết v́ chúng tôi đă trở thành một nhóm “thiểu số và già nua” hay v́ lư do ǵ khác mà những công việc lao động nặng nhọc không có mặt chúng tôi nữa.  Ngoài số chăn ḅ và gà vịt ở K2 cũ và vài người ở đội mộc và đội bếp, số mới về từ trại Hà Nam Ninh được biên chế thành hai đội: đội 20 và đội 23.
 Đội 23 gồm những cựu tướng lănh của quân lực VNCH cũ như các tướng Đăo, Giai, Trường, Tất, Sang (tướng Thân làm ở Bệnh Xá) và các người thuộc cấp đại tá như Hản, Xảo, Của, Phô, Tấn vân vân cùng vài người cấp trung tá.  Số c̣n lại thuộc đội 20, đa số thuộc các thành phần: An Ninh Quân Đội, Cảnh Sát Đặc Biệt và Trung Ương T́nh Báo.
 Công việc của hai đội này chỉ làm lao động quanh khu vực nhà lô của đội.  Nhà lô đội 23 nằm gần bờ suối phía bên kia đập thủy điện từ cầu hướng về phía K3.  Nhà lô của đội 20 nằm cách trại khoảng bốn cây số hướng về phía Quốc Lộ Số 1.  Mặc dù trại Z30D lúc ấy đang lao động rất vất vă cả ngày lẫn đêm với các công việc như đào ao, vét ḷng hồ thủy điện, xây dựng, vân vân, nhưng hai đội 20 và 23 th́ chỉ sáng đi chiều về chứ không hề đi lao động đêm như các đội khác.
 Ngoài ra mỗi buổi tối các pḥng của nhà số 1 khu A dành cho hai đội này được mở cửa cho đến khi các đội làm đêm vào nhập buồng hoặc đến khi khu vui chơi chấm dứt.  Riêng các trại viên nguyên cấp tướng th́ được ở riêng một căn nhà nằm cuối sân của nhà 1 và các trại viên cấp đại tá th́ được ở một buồng nhỏ ở đầu nhà, hai nơi này không bị khóa cửa về đêm và có giường riêng cho mỗi người.  Chúng tôi c̣n được xem truyền h́nh ở một pḥng TV nằm ở góc cuối bệnh xá.  Những khi có trận đá bóng quốc tế hay có những chương tŕnh đặc biệt c̣n có thể xem cho đến khi chấm dứt, có lúc đến sau nửa đêm, miển là “biết điều” với cán bộ trực trại và có gói thuốc lá 555 để hắn ta “xông muỗi”!
 Đến thời gian này th́ những tin tức không c̣n bị che dấu hoàn toàn như trước kia.  Một số sách báo ngoại quốc được mang vào trại như các tuần báo “Times”, “Newsweek” của Mỹ hay tạp chí “Le Monde” của Pháp.  Tin về việc đổi mới ở Liên Sô và các nước Đông Âu không thể bị bưng bít được.  Ngay cả hôm mà người dân Đông Đức giật sập bức tường Bá Linh, ngày 9 tháng 11 năm 1989, chúng tôi cũng được xem trên truyền h́nh ở căn tin với một số cán bộ!
 Tôi thấy h́nh như họ không c̣n quan tâm nhiều đến những vấn đề chính trị nữa mà chỉ chú ư đến việc “kiếm ăn”.  Những tô “ḿ tôm có người lái” (ḿ ăn liền nấu với thịt hay trứng) quan trọng hơn tin về sự sụp đổ của bức tường Bá Linh hay của cả Đông Đức.  Những gói thuốc “ba số có cán” (thuốc lá 555 đầu lọc) cần thiết hơn sự tồn tại của nhà nước Cộng Sản Liên Sô!
 Đầu năm 1990, việc lập thủ tục HO cho những người tù cải tạo đă được thả ra để đi sang Mỹ trở nên rầm rộ.  Tin tức về những người bạn này đă ra đi, người bạn kia th́ đang chờ chuyến bay khiến chúng tôi ở trong trại sốt ruột hơn lúc nào hết.  Chúng tôi nghĩ rằng cái “phép lạ” đang xăy ra, nhưng bao giờ th́ đến với chúng tôi?  Một số người lại tỏ ra lạc quan cho rằng có thể chúng tôi sẽ không được thả để đi theo diện HO mà sẽ được đi thẳng từ trong trại cải tạo.  Mỗi tối thường có những nhóm nhỏ ngồi bàn tán và phóng đại những tin tức do gia đ́nh đưa lên.  Người nào đi thăm nuôi vào cũng cố gắng moi cho được những “thang thuốc bổ” (những tin tức có lợi cho chúng tôi).  Thậm chí có người c̣n cho rằng khi sang đến Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ được lănh “ráp ben” nữa!  Quả là một sự “lạc quan tếu!”  Tôi th́ nghĩ rằng cho dù đó là những phóng đại sai lệch sự thật, nhưng chính chúng lại thật sự là những “liều thuốc bổ” giúp những người c̣n lại như chúng tôi vượt qua được một chặng đường đầy dẫy những thử thách và chán nản trong thời gian ấy!
 Từ khi các trại viên ở trại Hà Nam Ninh chuyển về, phong trào thăm nuôi trở nên mạnh mẽ hẳn lên.  Lúc đầu th́ gia đ́nh vợ con lên thăm c̣n ở lại một đêm.  Dần dần thời gian thăm gặp kéo dài hàng tuần lễ, mười ngày.  Nhất là kể từ lúc trại cho phép trại viên được ở lại dể dàng miễn là “đóng tiền pḥng” và “biết điều” với các cán bộ kư giấy và cán bộ phụ trách nhà thăm gặp.  Nhiều người nhờ có thân nhân ở ngoại quốc gởi tiền về sống một cách rất sung túc, họ không ăn cả phần ăn của trại nữa.
 Đến giữa năm 1990, có những người trung gian lên giới thiệu các phụ nữ cho các trại viên c̣n độc thân hoặc đă bị vợ bỏ với hy vọng sẽ được gán ghép vào danh sách “đi Mỹ”.  Những người tù th́ v́ nhu cầu sinh lư và vật chất c̣n những người phụ nữ kia th́ lại muốn ra đi.  Hai đối tượng này kết hợp nhau giống như một khế ước tạm thời!  T́nh căm chỉ là một sự gượng ép, giả dối.
 Tương lai của những người tù cải tạo chúng tôi khi ấy là ǵ?  Có phải chăng là cái vé để đi đến một chân trời xán lạn của xứ Hoa Kỳ vàng son?  Quả thật là một sự mĩa mai!  Đối với chúng tôi th́ chỉ mong điều ấy là một “phép lạ” để cứu chúng tôi ra khỏi trại giam mà thôi.  Mười mấy năm khổ sở, có những lúc xuống tận cùng địa ngục của trần gian, chúng tôi chỉ mong thoát khỏi nơi ấy để nh́n thấy lại gia đ́nh, để sống bên những người thân cho hết phần đời c̣n lại của ḿnh.
 Quả thật chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam mà người dân lại có giấc mơ “đào tẩu” lớn như vậy!  Ngoài xă hội cũng như trong trại giam, đàn ông, đàn bà, trẽ em, tất cả chỉ muốn bằng mọi cách rời khỏi cái đất nước có đầy những bậc “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đăm đang” này.  Thật là một điều lạ lùng.  Có ai đó đă nói một câu rất cay đắng “nếu cái cột đèn mà biết đi th́ nó cũng đi khỏi đất nước này nữa!”  Một câu nói đùa, nhưng chắc cũng không xa với thật tế.  Vậy th́ chúng ta có nên đặt lại câu hỏi mà VC thường dùng trong những ngày chúng mới vào miền Nam rằng “ai thắng ai giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Tư Bản” hay không?
 Riêng cá nhân tôi th́ giống như nhiều người khác, cuối cùng dục tính trong con người tôi cũng không thể khắc phục được, tôi đă bước chân vào “cái ṿng lẩn quẩn” với một người phụ nữ.  Mặc dù mỗi người có một trường hợp khác nhau nhưng tựu chung th́ cũng là vấn đề sinh lư và nhu cầu vật chất.
 Cô ta là con gái của một trại viên ở trại Hà Nam Ninh chuyển về.  Lúc ấy tôi c̣n đang ở pḥng vẽ bên ngoài trại.  Cô ấy và hai đứa con trai thường lên thăm ba và ông ngoại.  Mỗi lần như vậy th́ con của cô ta hay đến pḥng vẽ chơi với tôi.  Thỉnh thoảng cậu con mang cho tôi món này món nọ.  Tôi nghĩ đó cũng là một sự cư xử thường t́nh của một người dân đi thăm nuôi đối với một người tù.  Ngoài cô ấy ra th́ cũng có nhiều người khác biếu quà cho tôi.  Do đó tôi chỉ nhận và căm ơn về ḷng tốt của mọi người.
 Tháng 11 năm 1989, ba cô ấy được thả ra với lư do già yếu bệnh tật, và sau đó th́ pḥng vẽ của tôi cũng được dời vào trong trại.  Tôi không có ǵ để nhớ!  Đến đầu năm 1990, trong lúc thăm gặp tôi th́ mẹ tôi cho biết rằng có một người nào đó muốn thay thế bà lên thăm nuôi tôi.  Tôi rất ngạc nhiên nhưng lại bảo mẹ tôi từ chối dùm.
 Tháng 8 năm 1990, trong lúc phong trào các phụ nữ được giới thiệu lên thăm các trại viên nỗi lên rầm rộ th́ cô ấy lại lên.  Một lần, hai lần, rồi nhiều lần liên tiếp cho đến khi cô ấy xin được ở lại.  Trong hoàn cảnh ấy tôi không biết đối phó ra sao, thêm vào đó v́ đă “ăn chay” quá lâu lại tự nhiên có một người đàn bà dâng hiến cho ḿnh, tôi không thể cưởng lại được dục vọng.  Cô ấy lại là một người đàn bà rất đ̣i hỏi về xác thịt!  Thế là tôi đă nhắm mắt xuôi tay cho “cuộc thế xoay vần!”  Đến khi nhận ra được rằng ḿnh đang đùa với lửa th́ mọi việc đă muộn màng, tôi không làm thế nào để bước lui được nữa.
 Vào tháng 11 năm 1990, chỉ mới hơn ba tháng sau lần đầu tiên cô ấy lên thăm tôi th́ trại có lệnh cho chúng tôi khai báo những thân nhân sẽ đi theo với chúng tôi sang Mỹ!  Các cán bộ th́ bắn tin rằng việc này là do phía của phái đoàn Mỹ yêu cầu.  Nghe tin này tôi nghĩ ngay đến vợ con tôi; thế là tôi đă viết thư gửi về yêu cầu vợ tôi cho tôi được ghi tên hai mẹ con vào danh sách thân nhân rồi sau này ra sao tôi cũng chấp nhận.  Nói là nói vậy thôi chứ tôi biết trong thâm tâm tôi vẫn c̣n yêu vợ tôi, tôi chỉ có một hy vọng duy nhất là sẽ nối lại t́nh xưa!  Vợ tôi đă từ chối đề nghị này và bảo rằng hăy để yên cho vợ tôi mà chỉ nên lo cho mẹ và con tôi mà thôi.
 Không biết tại sao cô ấy biết được việc làm này của tôi.  Thế là một “trận giặc” đă xăy ra ở nhà thăm nuôi đêm hôm đó.  Cô ấy chỉ muốn chiếm đoạt cả linh hồn lẫn thể xác tôi cho một ḿnh cô ấy.  Cô ấy c̣n nói với tôi rằng “con cái th́ muốn đẻ lúc nào mà không được!”  Cô ta không muốn tôi lo cho cả con tôi nữa.  Tôi rất bực ḿnh bảo cô ta đừng bao giờ lên gặp tôi nữa nhưng rồi cô ta vẫn cứ lên.  Ở trong hoàn cảnh của trại cải tạo th́ tôi không c̣n cách nào khác hơn là phải ra gặp.  Một phần v́ chán nản bởi lời từ chối của vợ, một phần v́ dục tính, câu chuyện cứ kéo dài măi cho đến ngày tôi ra khỏi trại, rắc rối măi cho đến ngày tôi rời khỏi đất nước.
 Đây là trường hợp của cá nhân tôi; tôi không biết các trường hợp khác xăy ra như thế nào.  Nhưng có điều tôi nghĩ chắc ít ai có thể giử được lâu dài cái chuyện mua bán t́nh căm như vậy!
 Vào thời gian này th́ ngoài việc đi lao động cầm chừng và đợi đi thăm nuôi, chúng tôi có thêm một sinh hoạt khác, đó là học tiếng Anh.  Có lẽ mọi người đang chuẩn bị để đi Mỹ!  Từ trước việc này bị cấm đoán rất chặc chẽ trong các trại cải tạo.  Bất cứ một tài liệu sách báo nào viết bằng tiếng ngoại quốc như Anh, Pháp vân vân mà bị khám phá đều bị tịch thu, người lưu trử th́ bị giam kỷ luật.  Nội quy của trại cũng có nói rằng “không được nói tiếng nước ngoài” v́ họ cho rằng điều đó là việc truyền bá một nền văn hóa “phản động và đồi trụy”.  Đến giờ th́ họ lại “bỏ ngỏ”, chẳng những không cấm đoán mà c̣n nhờ cả trại viên dạy cho họ tiếng Anh nữa.
 Học tiếng Anh trong trại th́ chỉ học qua sách vở, tạp chí và tự điển.  Tuy nhiên lúc ấy có một trại viên nguyên là một giáo sư Anh ngữ ở Sài G̣n trước đây tên là Việt Huy, hay Nguyễn Đ́nh Huy.  Và rồi ông Huy đă trở thành “ông thầy” cho nhiều người.  Sau này khi được thả ra ông Huy đă ở lại nước hoạt động tiếp và lại bị bắt vào trong trại.
 Đầu năm 1991, lần đầu tiên chúng tôi được nhận mỗi người một gói quà do các bạn đă sang Mỹ góp nhau gởi về làm quà Tết cho chúng tôi.  Những món quà mà đă bao lâu rồi tôi không thấy, trong đó có cả những lon bia Budweiser, những gói thuốc lá Marlboro.  Họ c̣n gởi cho chúng tôi cả tiền dollar nửa, nhưng phải đổi ra tiền Việt Nam để xài.  Thế là các cán bộ lại có dịp vào ăn Tết với trại viên!  Giờ đây họ lại đề cập cả việc “xuất cảnh” đối với chúng tôi.  Họ mong rằng khi sang Mỹ rồi th́ chúng tôi hăy “nhớ” đến họ -nghĩa là nhớ gởi cho họ những món quà như vậy!  Thật là một sự “duy vật” hơn bất cứ một sự duy vật nào.
 Thêm vào đó th́ thời gian này là lúc mà Liên Sô và các nước Đông Âu bắt đầu tan ră.  Những cán bộ VC lúc ấy rất lo lắng không biết số phận của nước Việt Nam Xă Hội Chủ Nghĩa và số phận của chính họ rồi sẽ ra sao.  Tôi vẫn nhớ vào tháng tám năm 1991, khi các đơn vị Cộng Sản bao vây điện Cẫm Linh, các cán bộ trong trại đă tỏ ra rất vui mừng.  Họ đến pḥng chúng tôi và “cá” với chúng tôi rằng Gorbachev sẽ thất bại và Liên Sô sẽ trở lại với chủ nghĩa Cộng Sản.  Nh́n thấy hoàn cảnh chúng tôi, họ liên tưởng đến t́nh cảnh của chính họ; họ lo sợ một khi Cộng Sản Việt Nam sụp đổ th́ số phận của họ sẽ ra sao.  Tên cán bộ trực trại c̣n nói với tôi sau khi nghe tin Yeltsin làm chủ trở lại t́nh h́nh ở Liên Sô rằng: “Các anh đi cải tạo c̣n có Mỹ nhận đi, đến phiên chúng tôi không biết ai sẽ nhận chúng tôi đây?”
 Từ khi mới bước chân vào trại luôn luôn nghe những lời sắt máu, chửi bới, nào là “Đế Quốc Mỹ là quân xâm lược”, nào là “lũ ngụy quyền là bọn tay sai” đến bây giờ th́ tất cả đều xoay ngược chiều.  Chúng tôi nghĩ đó quả thật là một phép lạ!  Nếu không có cái “phép lạ” này có lẽ là chúng tôi đă rũ xương ở chốn rừng thiêng nước độc của miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa rồi.  Tôi nghĩ rằng dù cho có cố gắng bóp méo lịch sử tới đâu đi nữa th́ rồi họ cũng không thể thoát được sự đào thải của định luật phát triển tự nhiên.  Con người vẫn măi măi là con người chứ không bao giờ là những con khỉ biến thành người, càng không thể là những rô bô được điều khiển bởi những nút bấm!
 

 

Chương 52. Ngày về.

 Sau gần hai tháng đi lâm sản với các phạm nhân h́nh sự rồi cuối cùng th́ tôi cũng về với các bạn của tôi.  Nhu ra điều kiện là trước khi cho về đội 20 th́ tôi phải vẽ cho hắn ta mười lăm bức tranh để trang trí trong khu vực mới ở Z30C, tức là K2 của trại Z30D.  Tôi thấy đó không phải là một điều kiện mà là một mệnh lệnh.  Hắn ta là trại trưởng mà tôi là tù, vậy th́ tôi phải làm những ǵ mà hắn ta ra lệnh.
 Trước đó th́ Lê Minh Đăo, đội trưởng đội 23, có cho tôi biết là Nhu có ư định trả tôi về với nhóm của chúng tôi.  Ngẫm nghĩ, tôi thấy rất tức cười về việc này.  Nhu là ông vua trong trại, muốn làm ǵ th́ có mọi quyền hành để làm có ǵ mà phải đánh tiếng trước?  Tuy nhiên tôi biết hắn ta muốn tôi phải có lời “xin xỏ” với hắn để tôi được hắn ban “đặc ân”!  Do đó tôi nói với anh Đăo rằng anh ấy hăy nói với Nhu để tôi được về đội 20.  Thế là sau thời gian khoảng hai tháng để hoàn tất 15 bức tranh, tôi được chuyển về đội 20 và đi lao động với đội này.
 Lúc c̣n ở pḥng vẽ bên ngoài trại, mỗi buổi trưa tôi vẫn thường đi câu cá ở khu vực gần nhà lô của đội 23 gần bờ suối, tuy nhiên tôi không biết rơ đội này làm lao động như thế nào.  Đội 20 có nhiệm vụ chính là chăm sóc một vườn trồng điều nằm cách trại khoảng bốn cây số về hướng Quốc Lộ Số 1.  Mỗi buổi sáng, chúng tôi xuất trại như thường lệ để đi đến nhà lô của đội.  Hơn năm năm kể từ ngày bắt đầu đi vẽ tranh, tôi chỉ làm việc có một ḿnh hoặc với Điệp, bây giờ đi lao động chung với các bạn bè, tôi căm thấy vui hơn.  Công việc làm của chúng tôi cũng không có ǵ là vất vă, chỉ làm cỏ vun gốc những cây điều hay trồng một ít bắp.  Chính yếu là có hoạt động ngoài trời cho bớt cuồng chân tay trong trại giam.  Buổi trưa th́ treo vơng nằm ngủ một giấc trong nhà lô cho đến lúc báo thức để làm lao động tiếp tục.  Chiều về ghé tắm ở bờ suối hay tắm ở giếng nước trong nhà lô rồi nhập trại.
 V́ tương đối gần Quốc Lộ nên chúng tôi có cơ hội thuận tiện để mua sắm các thứ cần thiết.  Hàng ngày cán bộ quản giáo cho phép Ḥa hay một vài người khác đi chợ mua sắm cho chúng tôi.  Có lúc có những người dân ghé qua nhà lô để bán cho chúng tôi thịt rừng mà họ đánh bẩy được hoặc chuối, bánh vân vân.  Đôi khi các cán bộ c̣n làm “thịt cầy” và mua rượu về nhậu với trại viên nữa!
 Các cán bộ quản giáo và vũ trang đi theo đội 20 thường có những bữa ăn đặc biệt v́ hầu như ngày nào trong đội cũng có người đi thăm nuôi.  Một chút ít quà cáp để mua lấy sự thoải mái cũng là chuyện thường t́nh.
 Vào lúc này th́ Nhu đang chú tâm vào việc khai thác khu vực mới ở Z30C, nếu có dịp th́ hắn chỉ ghé qua đội 23 chứ không khi nào đến khu vực của đội 20.  V́ thế chúng tôi không phải lo việc đối phó với hắn.  Đây cũng là lúc mà tôi tránh gặp mặt Nhu để khỏi phải bị hắn nhắc nhở tới việc vẽ tranh nữa.  Những thời gian đi lao động vất vă th́ làm công việc vẽ tranh là một cách để tránh né lao động, c̣n lúc này tôi không thích làm việc ấy một chút nào!
 Hàng ngày đi lao động với đội; tối về tôi tập thể dục ở ngoài sân khu nhà số 1.  Nếu thích th́ vào xem truyền h́nh hay ghé qua khu vui chơi để đấu láo với các nữ tù ở đội văn nghệ, hoặc vào hội trường xem vidéo.  Có lúc th́ vào pḥng ngồi tṛ chuyện với bạn bè, nghe những tin tức “sốt dẽo” hay uống vài thang “thuốc bổ” để mà hy vọng.  Cứ thế mà thời gian trôi qua!
 Sáng ngày 16 tháng giêng năm 1992, chỉ c̣n hơn mười ngày nữa đến Tết th́ tôi được thả ra khỏi trại!  Có khoảng phân nữa chúng tôi được thả trong một đợt trước Tết, số c̣n lại th́ được thả ra sau Tết năm ấy.
 Nhiều lúc tôi suy nghĩ rằng khi được nghe tên ḿnh trong lệnh phóng thích chắc là tôi sẽ rất vui mừng, nhưng thật tế th́ không có như vậy.  Tôi hoàn toàn dững dưng khi nghe tên ḿnh được ra khỏi trại cải tạo.  Xem đó như là một điều tất nhiên.
 Trở vào buồng để dọn dẹp đồ đạc trước khi ra về, tôi giao cho Uy một vài món cần thiết c̣n bao nhiêu th́ cho Lập, phạm nhân h́nh sự làm chung với tôi trong pḥng vẽ.  Tôi chỉ mang về chiếc ba-lô đă cũ và cái mùng là hai thứ mà tôi mang theo từ lúc vào trường Chu Văn An, tôi cũng không quên mang về một bộ đồ tù c̣n mới để ghi nhớ.  Tôi lại phải d́u anh Sỹ ra cổng trại để nhận giấy ra trại.  Anh ấy quá yếu v́ bị bệnh.  Số tiền trại phát để đi đường th́ hầu hết chúng tôi góp nhau gữi vào cho Lân, đang là trưởng ban Thi Đua, là một trại viên cải tạo đă bị xữ án chung thân ở trại Tiên Lănh.
 Cầm tờ giấy ra trại trên tay, tôi lững thững đi bộ ra tới con đường đất hướng về phía Quốc Lộ Số 1 th́ nghe có tiếng xe gắn máy ở phía sau lưng.  Tư, lúc ấy là trưởng phân trại K1 của trại Z30D ngừng xe lại bảo tôi leo lên để anh ta đưa tôi ra tới đường cái đón xe đ̣ về nhà.  Tư đă từng là cán bộ quản giáo của đội “mía” lúc tôi mới về trại Z30D, người đă giúp tôi gặp vợ tôi qua đêm để giải quyết chuyện gia đ́nh vào năm 1983, là cán bộ quản giáo đội mộc vào thời gian tôi c̣n làm ở đội này, và cũng thường lén Nhu ghé vào pḥng vẽ để nhờ tôi vẽ dùm những bức tranh cho vợ anh ta dạy học trường cấp một ở thị xă.  Bên cạnh Nhu giống như một hung thần th́ Tư lại là một con người có cách cư xữ rất nhă nhặn.
 Một chủ thuyết sai lầm không nhất thiết phải sản sinh những con người xấu, tôi nghĩ.
 Trên chuyến xe đ̣, mọi người nh́n tôi ḍ hỏi.  Họ đều biết tôi vừa mới được ra khỏi trại cải tạo.  Tất cả đều rất ngạc nhiên khi biết rằng tôi đă đi cải tạo từ năm 1975, sau gần 17 năm trường.  Họ cứ tưởng rằng không c̣n chúng tôi trong các trại cải tạo nữa!  Anh tài xế và anh lơ xe từ chối không nhận tiền mà tôi trả anh ấy lại c̣n bảo rằng tôi vừa mới được ra trại th́ tiền đâu mà trả!
 Ngồi trên xe đ̣, tôi suy nghĩ về hoàn cảnh của ḿnh khi về đến nhà rồi bỗng nhiên tôi lẫm nhẫm bài thơ “Ngày về” của Tố Hữu, một thi sĩ của Bắc Việt:
 “Rồi một hôm nào cổi áo xanh,
 “Hết cùm, hết xích, hết roi canh.
 “Nghiêng vai trút nhẹ đời giam cấm,
 “Anh trở về anh của gia đ́nh.
       “Đây nẽo làng quen tự bé thơ,
       “Tre non ngoặt ngọn ư mong chờ.
       “Nóc nhà ai khói lam lên đó,
       “Có phải nhà anh tự thuở xưa?
 “Có lẽ con anh lớn lắm rồi?
 “Chúng đương đùa nghịch hét vang cươi.
 “Anh về nên chúng ngừng vui lại,
 “Bỡ ngỡ rồi la: Cha, cha ơi!
       “Và vợ anh đương thổi lữa chiều,
       “Rung mừng quẳng đủa, bỏ nồi niêu.
       “Đôi hàng tóc xơa tung không búi,
       “Ôm lấy anh mà khóc, giận, yêu!
 “Nhưng ngỏ nhà xưa đă tới đây,
 “Cột sơn c̣n đó, liếp tre gầy.
 “Bảng mờ ai khắc tên lên đó,
 “Anh thấy sao như kẻ lạc loài.
       “Chân muốn vô song lại ngập ngừng.
       “Chó nhà đâu đă sủa người dưng?
       “Anh nh́n len lén vườn cau mới,
        “Và tấm b́nh phong đứng lạnh lùng.
 “Vâng chính xưa anh ở chốn này.
 “Tre già c̣n đó, miếu c̣n đây.
 “Ḷng bâng khuâng măi ôn ngày cũ,
 “Chợt tiếng người đâu: Chú hỏi ai?
       “Anh hỏi nhà anh? Không phải đây!
       “Rồi thôi quay đóng cửa then cài.
       “Để ngoài sương gió chiều se lạnh.
       “Bên khóm tre già, khách đứng ngây!”
 Bao nhiêu giấc mơ “tương phùng” thế mà giờ đây trên đường về tôi lại căm thấy bơ vơ, lạc lỏng làm sao!  Làm ǵ có được cái cảnh “Rung mừng quẳng đủa bỏ nồi niêu, đôi hàng tóc xơa tung không búi, ôm lấy anh mà khóc giận yêu!”  Phải chăng chính v́ vậy mà khi nghe tên ra về tôi chẳng thấy một chút ǵ là vui mừng hớn hở?
 “Anh sẽ về, em ơi, anh sẽ về.
 “Dù đêm khôn cùng, hay mất hết người thân yêu,
 “Hay em không c̣n như thiên đường xưa,
 “Cũng gắng trở về chết nơi ra đời!”
 Vâng, rồi cũng đến ngày tôi phải về mà thôi, dù về để mà nh́n thấy cảnh đau ḷng, để nh́n thiên đường hạnh phúc đă đổ vỡ, th́ cũng phải về để “chết nơi ra đời!”  Lời của bài hát sao mà đúng với tâm trạng của tôi quá như vậy!
 Xe đă đến Ngă Tư Hàng Xanh.  Con đường Xa Lộ Sài G̣n – Biên Ḥa ở đoạn này quá tấp nập hơn cả những ngày tháng trước năm 1975.  Xe xích lô rất nhiều, họ bu quanh chiếc xe đ̣ để mời khách.  Tôi định đi bộ về nhà, nhưng rồi không hiểu tại sao tôi lại bước lên một chiếc xích lô và nói với anh phu xe: “Anh cho tôi về Ngă Tư B́nh Ḥa.”
 Anh ta vừa đạp xe vừa hỏi chuyện:
 - “Có phải anh mới ra trại cải tạo không?”
 - “Sao anh biết?”
 - “Th́ nh́n cách ăn mặc và cái ba lô của anh là biết ngay mà!”
 - “Chắc anh đă đón nhiều người như tôi rồi phải không?”
 - “Cũng khá khá!”  Anh ta cười  “Tôi cũng đi cải tạo hết gần một năm, trước là trung sĩ Thủy Quân Lục Chiến.  C̣n anh sao mà về trễ quá vậy?”
 - “Tôi cũng không biết sao, có lẽ không tiến bộ nên họ cứ giữ măi!”
 - “Chắc các cha khai báo thành khẩn quá chứ ǵ?”
 Tôi cười với anh ta mà không trả lời.  Tôi đă nghe quá nhiều cách nói này.  Thành khẩn hay không thành khẩn.  Tiến bộ hay không tiến bộ.  Tại sao có những người trước kia có cấp bậc và chức vụ cao mà vẫn được thả ra sớm hơn những người có cấp bậc và chức vụ thấp?  Tại sao chúng tôi phải ở lại thêm bốn năm trong khi hầu như mọi người đă được ra về từ năm 1988?  Tất cả những điều đó đối với tôi giờ này không có ǵ là quan trọng cả.  Điều mà tôi đang suy nghĩ chính là tôi đang trên đường về nhà và tôi sẽ phải chứng kiến một số phận hẫm hiu mà tôi đă biết trước!
 Con đường từ Hàng Xanh qua Bà Chiểu đông nghẹt xe cộ.  Chiếc xích lô đạp với chiếc càng xe cao ngóc lên khác hẳn với những chiếc xích lô đạp trước kia cứ ủi vào những chiếc xe đạp và xe gắn máy để tiến tới khiến tôi phát khiếp.  Sài G̣n không c̣n là Sài G̣n nữa.  Sài G̣n bây giờ là Thành Phố Hồ Chí Minh.  Cũng v́ vậy mà tôi không c̣n nhận ra một nét quen thuộc nào của Sài G̣n ngày xưa.  Đường xá nhộn nhịp hơn, cái nhộn nhịp bừa băi!  Hàng quán đầy dẫy khắp mọi nơi, mọi nhà, mọi ngơ ngách.  Những con đường trông chật hẹp hẳn lại v́ nhà cửa lấn ra tới tận lề đường, nhiều căn nhà c̣n bao luôn cột đèn đường vào bên trong.  Xe cộ chạy ngang dọc không theo một trật tự nào hết.  Đúng là họ đă “giải phóng” Sài G̣n và giải phóng luôn cái “ư thức” của người dân Sài G̣n!
 Chiếc xích lô quẹo phải qua đường Lê Quang Định.  Khu chợ Bà Chiểu với cái tên chợ vẫn c̣n kia, nhưng ngôi trường “Nam Tỉnh Lỵ” và “Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn” không nh́n thấy được.  Hàng quán đă che lấp cổng trường và hàng rào quanh trường.  Bao nhiêu kỷ niệm thời ấu thơ của tôi đang hiện về khi xe chạy trên đoạn đường này; một đoạn đường mà không biết bao nhiêu năm tháng từ thời bắt đầu cắp sách đến trường cho đến năm cuối của bậc trung học tôi đă lê bước đi qua.  Tôi đă thuộc ḷng gần như từng viên đá, từng bậc thềm.  Thế mà giờ đây nó hiện ra trước mắt tôi lạ lẫm làm sao!  Chỉ c̣n có con đường nằm trơ trọi c̣n hai bên lề đường th́ không c̣n đâu nữa.  Bộ hành và xe cộ cùng chia xẽ ḷng đường vốn đă quá nhỏ hẹp này!
 Xe đă đến Ngă Tư B́nh Ḥa.  Con đường cắt ngang là con đường ǵ đó nhỉ?  Tôi rất ngỡ ngàng khi nh́n thấy cái tên rất kỳ khôi trên tấm bảng chỉ tên đường: “Nơ Trang Long!”  Tôi không thể nào quên được tên của con đường này.  Cái tên Nguyễn Văn Học mà ngôi mộ vẫn nằm trong một công viên ở góc đường ấy với đường Chi Lăng, đối diện với “Trường Vẽ”.  Giờ đây nó đă đổi thành con đường Nơ Trang Long, một cái tên rất xa lạ.  Thôi cũng phải như vậy mà thôi; bởi v́ Sài G̣n đă là Thành Phố Hồ Chí Minh th́ đường Nguyễn Văn Học trở thành đường Nơ Trang Long cũng quá đúng với lư lẽ của nó.
 Tim tôi bắt đầu đập nhanh hơn, tôi cố hướng mắt nh́n về phía căn nhà của ḿnh, nơi mà tôi đă sống suốt quảng đời thơ ấu.  Quang cảnh đă hoàn toàn thay đổi.  Những bải đất trống phía bên kia đường không c̣n nữa.  Những cái sân nằm yên lặng sau những hàng rào phía trước các căn nhà cũng không c̣n thấy đâu.  Thay vào đó là những kiến trúc tạp nhạp lấn ra tới tận mặt đường.  Dẫu sao th́ tôi vẫn không quên được vị trí của nhà ḿnh; tôi ra dấu cho anh phu xích lô dừng lại.
 Bỗng tôi nghe có tiếng la lớn ở nhà bên cạnh: “A!  Tụi bây ơi, anh Hai về ḱa!”
 Quay lại nh́n người vừa nói, tôi không thể nhận ra được là ai.  Ngày tôi đi th́ những cô gái này chỉ là những đứa bé mà giờ đây th́ chúng đă tay bồng tay mang.  Hai đứa em tôi đang bán hàng trong nhà chạy ra, và rồi mẹ tôi cũng ra đón tôi vào.  Tôi đă trở về nhà sau mười sáu năm bảy tháng hai ngày!

-       Hết -
 

Princess City, Indiana - Mùa Xuân năm 2002.

KALE - thongtinlls3@gmail.com

 

 

click on photo để trở lại trang List Sách Truyện >>