click on photo để trở lại trang List Sách Truyện
                                                                   
 

Tố Nữ Kinh - part 03

 

TỨ HẬU VÀ CỬU KHÍ
Như ở một chương Hoàng Đế hỏi về cách thức xử trí khi nữ nhân chưa bột hứng mà nam nhân th́ khí lực tràn trề, nay Hoàng Đế lại hỏi về một trường hợp trái lại, đó là t́nh trạng của nam nhân một khi xông trận mà rụt rè, vấp váp… Đáp lời, Huyền Nữ giải rằng:
Để chuẩn bị cho sự giao ái ḥa hợp người nam cần biết đến “Tứ chí” hay “Tứ hậu” (tức là khí thế) và người nữ cần biết đến “Cửu khí”.
Huyền Nữ giải thích về “Tứ Hậu” như sau:
1. Người nam, dương cụ không phấn chấn ấy là thể lực không đầy đủ.
2. Dương cụ phấn chấn mà không đủ ni tấc, ấy là bắp thịt không ra ǵ.
3. Đủ ni tấc mà chẳng cương cường ấy là do gân sức yếu kém.
4. Có cương cường mà thiếu hăng hái là do nội khí không đầy đủ.
Về “Cửu khí” của nữ nhân, Huyền Nữ nói:
1. Thở ra hít vào gấp rút ấy là phế khí (khí ở phổi) đầy đủ.
2. Rên rên rỉ, ấy là tâm khí sung măn.
3. Hai tay quấn chặt nam nhân ấy là Tỳ khí thịnh vượng.
4. Âm hộ ẩm ướt ấy là thận khí no ấm.
5. Thái độ ân cần, miếng cắn yêu nam nhân, ấy là cốt khí không thiếu.
6. Hai chân quặp lấy đùi nam nhân ấy là gân sức thừa thăi.
7. Thân h́nh mềm dẻo, bóp nắn lấy dương cụ ấy là khí huyết tràn đầy.
8. Đê mê rối rít xoa nắn bộ ngực nam nhân ấy là nhục khí có dư.
GHI CHÚ:
1. Đưa ra những nhận xét về Tứ Hậu và Cửu Khí là để đo lường t́nh trạng về sinh lư của nam nữ. Muốn xem nam có phần nào yếu kém th́ do sức của dương cụ. Muốn xem nữ phần thiếu suy th́ nhận định qua những động tác khi người nữ giao hoan.
2. Đại để biết được phần suy, phần thịnh ta mới có thể t́m phương pháp sửa trị cho quân b́nh âm dương, tạng phủ cường mạnh mà cầu được khoái lạc trong sinh lư, lại cầu được ích thọ diên niên.

CỬU PHÁP
(Chín tư thế giao hợp)


1. THẾ RỒNG UỐN KHÚC
Hoàng đế hỏi Huyền Nữ: “Khanh đă nói đến chín diệu thuật, nay khanh đă tường tả cặn kẽ để ta có thể cho sao lục thành sách cất giữ cho khởi mất đi mật pháp quí giá.”
Huyền Nữ đáp: “Phép thứ nhất có tên là Rồng Uốn Khúc. Người nữ nằm dưới, mặt hướng lên trời để người nam nằm úp lên ḿnh. Hai vế đùi người nam ở trong hai vế đùi người nữ. Người nữ uống cong hạ thể để ngọc hành cọ sát vào âm hạch. Như thế, từ từ, thong thả mới để dương cụ lọt vào vào ṿng cấm địa. Nguời nam có thế rồi mới điều khiển hoạt trượng liên tiếp vào ra theo luật bát thiển nhị thâm, nghĩa là đút vô tám cái cạn rồi mới thọt vào hai cái sâu. Xong mười cái như vậy kể là một chu tŕnh, một hiệp, một luợt. Xong chu tŕnh ấy th́ tạm rút ra ngoài rồi lại vào trở lại làm tiếp hiệp hai, rồi thứ ba, thư tư… liên tiếp như vậy vơí tôn chỉ: lúc cứng rút ra, hơi mềm mềm rồi lại cho vào. Tôn chỉ ấy là: “Chết qua, sống lại” hay “vào sống ra chết”. Làm như thế, ngày ngày người nam thêâm mạnh, người nữ thêm khoái, t́nh xuân dào dạt, âm hộ co thắt, trăm bệnh điều khỏi.”
Trong chín phép, phép này được gọi là rồng uốn khúc v́ âm ở dưới, dương ở trên. Đại đa số nam nữ điều theo cách này mỗi khi giao hợp. Người nam, hai tay hai chân giúp cho thân thể cong lên, uốn xuống tựa như con rồng đang uốn khúc nhất là trong lúc thi hành thuật pháp pḥng chung “tám cạn hai sâu”.
Trong tư thế này người nam có trọn người nữ trong tay, được thêm khoái cảm của sự chinh phục. Người nữ ngực và âm quản được chạm sát thân thể người nam. Như vậy nữ nhân cùng một lúc hưởng sự sướng khoái của giao hợp và sự vuốt ve nhẹ nhàng lúc ban đầu (ngọc hành cọ sát vào âm hạch).

GHI CHÚ:
1. Tư thế này là tư thế hoà hợp, nên tránh sự cuồng bạo, cần sự nhịp nhàng tương đối trong khi dùng sức.
2. “Tám lần cạn hai lầøn sâu” và “vào sống ra chết” (hay chết qua sống lại) là sự áp dụng một cách nhuần nhuyễn hai nguyên lư dưỡng trường và kích thích trong giao hợp. Dưỡng truờng áp dụng cho người nam làm sao cho cuộc hoan lạc dài tới đến gần băn tinh th́ ngưng lại, tránh không bị kích thích quá độ để bị xuất tinh khi cuộc giao vừa mới khởi đầu. Kích thích là áp dụng cho người nữ, tạo cảm xúc tối đa và tránh nhàm chán, cho phải lúc cạn, lúc sâu, sâu, lúc mềm, lúc cứng…
3. Tây Âu gọi tư thế Rồng Uốn Khúc là tư thế chính của Thần Ái t́nh. Ta gọi là Rồng Uốn Khúc và đưa lên làm pháp thứ nhất trong chín pháp đủ biết Đông Tây đồng quan niệm rằng đây là tư thế tuyệt diệu trong thuật pḥng trung.
4. Khi lâm trận ta rất dễ quên nguyên lư tám lần cạn hai lần sâu và vào sống ra chết. Không nhớ dể mà áp dụng th́ nam nhân dễ có khuynh hướng làm hùng hục như trâu, xả láng sáng về sớm, như vậy cuộc mây mưa không kéo dài lại làm cho nam nhân mệt mỏi và nữ nhân ấm ức. Đó là khuyết điểm trong luật pḥng trung.
 

2. THẾ HỔ: HỔ R̀NH MỒI (THế THứ NH̀ TRONG CửU PHÁP)
Tư thế này đ̣i hỏi người nữ nằm áp mặt xuống giường, đầu phục xuống, bộ mông cong lên. Người nam quỳ đàng sau, giữa hai vế người nữ. Hai tay nam nhân ôm lấy bụng nữ nhân, đưa dương cụ vào tận bí cung, hoạt động cho lanh lẹ, lánh sang phải đâm sang trái chừng ba bốn chục lần tùy theo sức khống chế. Bí cung của người nữ lúc co lúc dăn; âm thủy trao ra.Lúc bấy giờ nam nhân tạm hưu binh, nghỉ khoẻ. Như thế trăm bệnh chẳng sinh lại thêm cường tráng.

GHI CHÚ:
1. Tư thế này người nam thật giống như hổ ŕnh mồi. Thế này đích thực là bước tiến hóa của con người so với loài vật. V́ người ta khi giao hợp vẫn thuận nam trên nữ dưới, nhưng trong các loài vật chúng vẫn thuận ôm lưng nhau. Từ thuở xa xưa, các nhi đồng nam nữ bất luận ở đâu cũng đă từng trông thấy những cảng tượng giao hợp của chó méo gà vịt và đă có ấn tương ấy trong đầu. Đến khi động ḷng hiếu kỳ muốn bắt chước xem sao, nam nhân chủ động nhưng phái nữ cũng phải thuận t́nh nên khi đă t́m thấy môät tư thế đầy hứng thú.
2. Người nam ở ngoài sau có cái thú là được ôm hết bờ vai tṛn, tấm lưng trơn mịn, ṿng eo thon thon, ṿng mông chắc nịch. Hai tay nếu không muốn bám cho chắc, th́ có thể dùng để xoa, vuốt từ bộ nhũ hoa xuống đến âm hộ. Trong khi dương cụ vẫn hoạt động vào ra, xiêng ngang tả hữu, càng lúc càng linh hoạt. Thỉnh thoảng, đôi tay lại rời ra để xoa bóp, nắn đôi mông, ép đôi mông lại hoặc căng nó ra. Tuy nhiên có một điều là khi thực hành tư thế này người nữ để âm hộ cùng giang môn một lượt nếu nam nhân không cân thận hoặc vụng về có thể đưa dương cụ lọt vào giang môn tạo cho nữ nhân một cảm giác cực kỳ đau đớn.
3. Trong tư thế này, âm hạch của nữ nhân không hưởng khoái cảm được chạm sát với dương cụ xong bù lại th́ dương cụ tiếp nhận sâu hơn, lại được tự do lúc lắc, nhấp nhô ḥa hợp với cử chỉ của nam nhân. Tiết tấu ấy tuyệt diệu và làm tăng thêm phần nhục cảm. Nam nhân trong khi xoa nắn, vỗ về sẽ vô cùng khoái cảm nếu gặp được bộ mông to nở. Tiêu chuẩn thẩm mỹ quốc tế định là bộ mông phải nở hơn bộ bụng ít nhất là hai mươi phân tây.
4. Nhiều người c̣n sùng thuợng những bộ mông to. Những dân tộc thông minh thường chuộng những bộ mông to, có lẽ v́ mông to th́ xuơng chậu to, dễ sinh sản và dễ sinh những đứa con có bộ xuơng sọ to, điều kiện căn bản của một đứa trẻ thông minh, mạnh khoẻ.
 

3. THẾ VUỢN LEO CÂY (phép thứ ba trong cửu pháp)
Huyền Nữ giảng tiếp: “Thế thứ ba này gọi là thế vượn leo.Người nữ nằm giữa giơ hai cẳng lên không. Nam nhân đối diêän vơí nữ nhân, quỳ xuống, đỡ lấy hai cẳng nữ nhân đặt lên vai ḿnh. Âm bộ nữ nhân lúc này vừa tầm tiếp nhận dương cụ. Âm hạch đuợc chà sát. Người nữ cảm thấy vô cùng khoái lạc và âm thuỷ bắt đầu chảy ra. Dương cụ cứ việc tung hoành và người nữ sẽ đạt đến khoái cảm tột đỉnh. Theo tư thế này trăm bệnh sẽ đuợc tiêu trừ. Nguời nam trong tư thế này ôm lấy hai chân nữ nhân, trông cũng giống như con vượn đang leo cây. Người Trung Hoa rất ưa tư thế này. Hiện c̣n các bản vẽ trong Xuân Cung đồ”.

GHI CHÚ:
1. Hai thế “Hổ Ŕnh Mồi “ và “Vượn Leo Cây “ điều có những ưu thế tuơng đồng. Thế nào cũng giúp cho nữ nhân lộ trọn vẹn cả bộ xuân t́nh và để cho nam nhân măn ư xoay sở. Bộ vị của cả hai cũng dễ dàng thích hợp. Trong thế Hổ th́ người nữ cong mông lên, cao thấp tuỳ theo t́nh h́nh trong thế Vượn th́ dùng một chiếc gối hay đệm tuỳ theo dầy mỏng đặt xuống dưới mông. Như thế dù cho người nam thuộc hạng béo phệ chăng nữa th́ dương cụ cũng sẽ được đưa vào đến tận cùng của xuân cung, không bị cái bụng mỡ cản trở khoái lạc.
2. Những nam nhân mà thằng con không đủ kích thước đều thích thực hành như thế. Áp dụng tư thế này người nam sẽ hoàn toàn hạnh phúc nếu nữ nhân có đôi đùi thon thon và đôi chân nhỏ sạch.
3. Ngày xưangười ta đă khám phá rằng đôi chân có liên hệ nhiều đến tính dục. Chẳng cứ ǵ ở Trung Hoa, mà từ lâu rồi, ở Tây Ban Nha, ở La Mă, chân người đàn bà phải được che đậy kín đáo. Đi hài cũng không đuợc dùng hài hở mũi. Chân chỉ để cho chồng hoặc t́nh lang trông thấy hay ve vuốt mà thôi, tuyệt đối cấm kỵ người ngoài. Trong tư thế “Vượn Leo Cây” này th́ đôi chân nữ nhân có vai tṛ tính dục mạnh ở chỗ tạo thêm khoái cảm cho cả hai bên nam nữ. Người nữ có đôi chân thon thon, tất nhiên có dáng đi uyển chuyển, hoạt động lanh lẹ, ḿnh mẩy dẻo dai, dễ cho sự oằn oại, giúp tạo thêm hứng t́nh cho nam nhân. Những ngón chân hồng hồng nho nhỏ cũng sẽ như những trái bồ đào để cho chàng nếm mút.

Trong cuốn “Tăng Ni Nghiệt Hải” (một cuốn sách đời Minh nói chuyện ái ân trong cửa thiền) có nói đến một vị Đạt Ma sở trường hai món Rồng Uốn Khúc và Vượn Leo Cây này. Sách nói rằng hai phép này hoà hợp vơí nhau làm tăng truởng duơng cụ và là cho nữ nhân đạt khoái cảm tối đa.

4. THẾ VE SẦU: VE BÁM CỘI CÂY (phép thứ tư trong cửu pháp) Huyền Nữ lại nói đến thế Ve Sầu. Trong thế này người nữ nằm sấp ngay ngắn, để người nam nằm úp lên trên lưng, dương cụ được đưa vào xuân cung từ phía sau. Nữ nhân uốn cong bộ mông để dương cụ cọ sát vào hai cánh cửa ngoài cung truớc khi cho phép vào lọt trong cung cấm. Nam nhân hoạt động ra vào chừng năm mươi bốn lần là đă có thể thấy nữ nhân xuân t́nh dào dạt, xuân cung mở rộng, trơn tru. Đạt đến t́nh trạng này th́ nam nhân nên ngưng ngay, thế này có thể khu trừ những chứng bệnh sanh ra do thất t́nh lục dục như: buồn giận, mừng lo, tư lự sợ hăi ghen ghét… gây nên.

1. Trong thế này, nữ nhân nằm úp sấp nên không thoăi mái chân tay và toàn thân, chỉ c̣n hoạt động được bộ mông mà thôi, do đó rất hợp với nữ nhân v́ phụ nữ nào cũng thích uốn éo.

2. Nam nhân tuy rằng nằm úp trên người bạn t́nh nhưng không nên dùng tất cả sức nặng của ḿnh mà đè lên, phải chóng tay xuống giường nâng bớt trọng lượng của thân ḿnh. Hai chân duổi ra bám lấy sàn giường phụ giúp thêm. Nàng, do đó không cảm thấy sức nặng của chàng đè xuống sẽ dễ dàng ngoạ nguậy, lắc lư, sà qua sàn lại khi cao hứng, hơi thở tuy dồn dập mà cảm thấy thản nhiên, không thấy khó khăn không bị tức ngực…

3. V́ thế của người nam bám nhẹ nhàng như vậy người xưa liên tưởng đến h́nh ảnh con ve sầu bám cội cây. Thế này nam nhân hoạt động nhiều, tuy nhiên nếu xuân cung của nữ nhân không được sâu thẳng đúng mức hay cây nấm linh chi của chàng không không dài đủ chỗ th́ nên dùng một cái gôí chêm xuống dưới phần chính của nàng, để vừa vào sâu, vừa tránh trường hợp rạt rào xuân ư, nước nôi mà dương cụ trật vuột ra ngoài, lạc đường lạc sá. Khi sinh hoạt theo thế này có thể hai đàng cùng hội ư để đồng thời chuyển sang thế nằm nghiêng. Nữ nhân năy giờ bị g̣ bó bây giờ nằm nghiêng sẽ lấy lại được phần chủ động, tha hồ lắc lư. Nam nhân cũng giải phóng được đôi tay của ḿnh trong việc nâng cả trọng lượng của ḿnh nên có dịp nghỉ ngơi, nhường lại việc thao túng cho người bạn t́nh.

4. Xưa Vơ Tắc Thiên cùng với Hoàng Đế vẫn thường xuyên dùng lối Ve Sầu Bám Cội Cây này, chứng tích nay vẫn c̣n trong các bích hoạ ở huyện Đông Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc và trong bài phú “Thiên Địa Âm Giao Hoan Đại Lạc Phú” của Bạch Hành Giản.

5. THẾ RÙA: RÙA BAY (phép thứ năm trong chín phép) Huyền Nữ giảng tiếp đến phé thứ năm trong chín phép. Trong thế này người nữ phải nằm ngửa, hai chân lên sát vào bụng người Nam quỳ xuống quay mặt về phía người nữ. Hay tay dang hai đùi người nữ ra và đẩy đùi người nữ cho lên cao chạm tới nhũ bộ (vúù). Lấy dương cụ cọ sát âm hạch, rồi cho vào ḍ thử nông sâu. Người nữ lúc này rất cảm thấy khoái lạc tuyệt cao, tự nhiên ngọ nguậy thân thể. Âm thuỷ rạt rào cứ theo chổ nào trống th́ tràn ra, để cho duơng cụ được ra vào thong thả. Đợi đến khi nữ nhân trào mạnh ra th́ hăy thu chiến thu binh. Nếu lúc này, người nam rút ra kip, tất giữ được tinh lực khiến thân thể cường tráng bội phần.

GHI CHÚ:  Trong tư thế này, khi người nữ cảm thấy khoái lạc mà b́nh thuờng bị kềm chế đôi chân phải co lên cho đến ngực lại bị nam nhân đẩy cho cao thêm tất nhiên phải lồng lộn, lúc th́ uốn lưng, lúc th́ lắc mông, hoạt động mạnh bạo không lúc nào ngơi. Người nam phải theo thế khi tung lên, khi đè xuống, khi đâm bên phải, khi đâm bên trng đằng vân giá vũ trong trận điên đảo tả tơi.
Trong thế “Rùa bay” dương cụ được vào xuân cung sâu nhất v́ hai đùi người nữ co lên cao. Đùi càng co cao th́ mông cũng càng cao bấy nhiêu và âm bộ được phơi bày ra càng thêm ngồn ngộn. Trước mắt người nam trông cũng đủ no mắt. Nhiều người nữ cảm thấy e lệ trong tư thế này.

Nhiều nữ nhân nằm theo phép này, âm mao thấy đen ng̣m một khoảng. Những sợi tơ này không chỉ mọc hạn chế quanh âm hộ mà nhiều khi lan rất xa. Đă có những dân tộc, vào một thời kỳ nào đó thích xén cụt những khu rừng rậm ấy. Ví dụ, như ở cổ La Mă ở Cổ Hy Lạp th́ lại khác ta có thể thấy trên bức tượng “Helen of Troy” nàng có âm mao rơ ràng. Âm mao phái nữ cũng như râu ria nam rất quan trọng về sinh lư cũng như về biểu tượng tính phái cho nên những dân tộc văn minh hiện nay đă biết chăm sóc chải chuốt, vun xới, không cần đợi đến ông thầy tướng nói đến chuyện “có hay không” nữa.

6. THẾ PHƯỢNG: PHƯỢNG MÚA Giảng về thế trên Huyền Nữ nói rằng: “Người nữ phải nằm ngửa cong chân lên và hơi dạng hai đùi để cho nam nhân nằm giữa hai đùi ḿnh. Nam nhân chống tay và đưa dương cụ vào xuân cung, mà sát âm hạch. Người nữ phụ giúp nam nhân lắc lắc lại khoảng 24 lượt. Huyền Nữ nói trong thế này: “Người nữ tiếp nhận dương cụ, xuân cung mở rộng, âm thuỷ sẽ tràn đầy. Hứng lên đến độ này mà biết cuốn cờ, im trống th́ sẽ được tiêu giải trăm bệnh”.

GHI CHÚ: Phượng là con trống, Hoàng là con mái, nhưng ta thường gọi chung là "phượng hoàng” để chỉ sự keo sơn, luyến ái của đôi cặp. Lại cũng thường nói là Rồng, Phượng, nên thế Phượng này cũng tương tự như thế Rồng chỉ có điều khác ở nơi đôi vế. Theo thế Rồng, âm hộ người nữ dễ cong lên, theo thế Phượng Tiên cong xuống. Ấy cũng bởi v́ con người không ai giống ai, từ thể chất đến sở thích và khả năng và cho đến cả thói quen nữa. Những điều khác biệt này, nếu nói rộng ra th́ cũng liên quan cả đến vấn đề quốc thổ, chủng tộc và qua các thời đại: như dân tộc Mỹ, Âu, Phi, trời sinh đă to lớn, đàn bà ngực nở, mông dày…, c̣n người Á, vật thể khiêm nhường v.v… Thời Trung Cổ, người Âu châu có thiên vị yêu chộng những người có ngoại h́nh thon thon (hai ṿng bụng và ṿng mông không xê xích nhau mấy), tiến đến thời kỳ ưa chộng mỹ thuật lưng eo. Ở Trung Quốc xưa người ta thích nguời chân bó, rồi thích thay đổi theo thời thuợng. Con người cũng có những sự khác nhau về thẩm mỹ, về luyến ái quan, người thích béo, người thích gầy, người thích rậm, người thích thưa, thích đen, thích trắng. Do đó tư thế giao quan cần được chấp nhận bởi sự tương thông tương cảm của

cả hai, không nên do đơn phương tự quyết. Vậy th́ tuỳ theo thể lực, sở thích và kinh nghiệm để đi đến sự ḥa hợp.

Thế Rồng Bay hay thế Phượng cũng là giúp ích cho sự ḥa hợp ấy để cho cả hai đạt được tới cao trào.

 

THẾ THỎ: THẾ THỎ LIẾM LÔNG

Huyền nữ giảng đến phép thứ bảy về Thế Thỏ, nói rằng: “Thế này người nam phải nằm giữa, duỗi thẳng chân, người nữ xoay lưng lại dạng chân, chóng tay xuống nệm, quỳ bằng hai đầu gối co, cưỡi lên nguời nam, đầu cúi xuống nḥm chỗ đích. Dương cụ nam nhân chà xát vào hai cánh cửa và âm hạch của xuân cung. Nữ nhân cảm thấy khoái hoạt, âm thủy rạt rào, đưa dương cụ vào tận trong đến lúc đạt tới cao trào th́ hăy ngưng ngay động tác để cho bách bệnh khỏi sinh ra.

GHI CHÚ:

Trong thế này, nữ nhân có lúc cúi đầu cong lưng xuống để tự xem ḿnh, trông hệt như con thỏ bạch cúi xuống liếm lông, liếm bẹn. Người nam nằm duới có cái hứng thú là đôi tay được tự do nâng đỡ bộ mông, bộ đùi nguời nữ và muốn thưởng thức chỗ nào trên thân thể nữ nhân cũng được. Nhưng phần linh hoạt phải nhường cho nữ nhân chủ động; lên xuống qua lại, bốn phía xoay tṛn đều do hạ bàn nữ hoạch định. Nam nhân cũng đôi khi phụ lực nhưng nếu xuân cung quá trơn hoạt th́ duơng cụ dễ bị trượt ra ngoài, cho nên, tốt nhất nên để cho nữ nhân tinh tế nhận xét lúc nào nên nhích lên lúc nào nên nhích xuống, lúc nào nên nghỉ ngơi, lúc nào nên vũ băo. Chớ nên để cho hứng t́nh làm chủ hoàn toàn mà tự tung tự tác làm cho con cá quẩy lội tung tăng khiến cho dương cụ bị tỗn hại.

Ta nên nhớ rằng nữ tính vốn thụ động và đa số phép giao hợp đều để nữ nhân nằm dưới mà tiếp thụ; nên khi ở thế này người nữ có nhiều phát kiến xoay xở, nhiều lúc tựa như nhu nhược, êm ái; nhiều lúc áp dụng áp lực nặng nề khiến cho nam nhân hưởng được hưởng nhiều cảm khoái khác nhau bằng những cường độ kích khích khác nhau.

THẾ CÁ: CÁ TIẾP VẨY

Thế này, - Huyền nữ nói - Người nam cũng phải nằm ngửa duỗi thẳng hai chân để cho người nữ quay đầu về phía ḿnh, dang chân cưỡi lên. Người nữ lựa chiều hạ bộ mông ḿnh xuống từ từ, cho hai cánh của xuân cung mở ra đón dương cụ. Nên nhớ là phải từ từ và đừng vội vă cho vào sâu ngay. Hăy làm như cách đứa trẻ ngậm đầu vú mẹ. Người nam cũng chớ hấp tấp mà hẩy vào ngay. Người nữ cứ thong thả mà hoạt động, tuỳ thời tuỳ lúc, tuỳ hứng. Khi nam nhân thấy nữ nhân đạt được cao trào th́ hăy rút c̣i thu binh để cho thu đuợc phần dưỡng sinh, tiêu bệnh.

GHI CHÚ:

1. Trong thê này, nữ nhân vốn nhu hoà thụ động trao việc thi hành tính giao, nay được nắm phần chủ động nên rất cao hứng, tuy nhiên thiên tính nữ vẫn nhuần nhă C̣n nam nhân, được lợi thê chờ đợi ngắm nh́n nữ nhân hoạt động, hai tay cứ việc thưởng thức sờ soạn toàn bộ sau,bộ trước của nữ nhân. Nữ nhân đuợc nam nhân xoa nắn mông đùi nhũ hoa như thê càng lúc càng cảm thấy phấn chấn rào rạt, quên cả thiên tính ôn nhu, cũng học tập làm anh hùng dũng mănh, thật khác ǵ hổ mọc thêm cánh, cá được chẳng tiếp vây.

Đó là ư nghĩa đặt tên cho phép này.

 2. Đôi nhũ hoa rất có quan hệ đến tính giao. Đại phàm nhũ hoa bị chạm th́ cảm giác cũng lan tới tận hạ bộ. Mà nam nhân nào trông thấy bộ nhũ hoa cũng muốn đưa tay xoa nắn, thế này khác với thế thỏ liếm lông chỉ ở chỗ ấy. Trong thế Thỏ th́ người nữ đưa mông lại phía nam, c̣n như trong thế Cá th́ người nữ quay mặt đế

nh́n mặt người nam đế lộ hai nhũ hoa, dù to, dù nhỏ, cũng muốn cho người nam xoa nắn. Càng được xoa nắn bao nhiêu, xuân cung càng tràn ứa. Cả hai đều được đi đến chỗ no đủ, thoả măn t́nh ư.

THẾ HẠC: HẠC GÁC CỔ

Huyền     Nữ   tiếp tục  giảng     đến  phép cuối cùng là  thế  "[Hạc Gác     Cổ”.

Người nam ngồi theo kiểu quỳ chân xuống, hơi dạng hai đầu gối ra để đỡ bộ mông nữ nhân ngồi lên. Người nữ cũng dạng hai đùi và hai tay quàng quanh cổ người đàn ông đồng thời để xuân cung hạ thấp xuống cho dương cụ chà xát âm hạch trước khi cho dương cụ được phép vào khám hiểm trong tuyệt cùng sâu thẳm của xuân t́nh.

Nữ nhân, trong thế này, cảm thấy khoái lạc, lúc âm thuỷ nhỏ giọt là lúc sướng khoái lên đến cao độ. Lúc ấy biết kềm chế đ́nh chỉ để tránh xuất tinh th́ vạn bệnh thất thương đều trị tuyệt,   con ngườI     ta sống thêm     tuổi thọ, khang trang mạnh mẽ, hưởng khoái cảm thiên nhiên dành sẵn cho thân thể. Dưỡng sinh là cầu khang kiện và trường thọ, lại cũng cho ḥa hợp tâm thần, nữ cũng như nam biết được điều khoái cảm. V́ thế trong sách này không chỉ bảo các tập thế dùng cho trường hợp hai nam một nữ hoặc ngược lại.

Lại nói danh xưng của các thế, th́ trong Tố nữ kinh cùng Song Tu Pháp cũng từa tựa như nhau, cũng thế Long, thế Hổ, thế Ngư, thế Phụng.v.v... Riêng trong Song Tu Pháp không cầu sự hoà hợp và khoái cảm của nữ nhân chỉ cầu mục đích của nam nhân nên chú trọng thời khắc của “vị khác đến thăm xuân cung” nhiều hơn. Song Tu Pháp ghi rằng:

 

Thế Rồng th́

8 lần cạn

5 lần sâu

Thế Hổ th́

5 lần cạn

3 lần sâu

Thế Vượn th́

9 lần cạn

6 lần sâu

Thế Ve sầu th́

10 lần cạn

4 lần sâu

Thế Phượng th́

6 lần cạn

2 lần sâu

Thế Thỏ th́

4 lần cạn

1 lần sâu

Thế Hạc th́

10 lần cạn

7 lần sâu

 

 

 

 

 

C̣n thế Rùa và thế Cá không thấy ghi. (Trong Tố Nữ Kinh có nói đến thế Rồng người Nam th́ phải theo tỉ lệ 8 lần cạn 2 lần sâu).

Các biến thế Hạc gác cổ

CÁC PHƯƠNG THỨC YÊU NHAU CHO KHOẺ MẠNH CƯỜNG TRÁNG.

Các phương thức yêu nhau để chữa trị cho nhau khỏi tổn thương, bệnh hoạn.

Ngoài chín phép hay tư thế đă được lược tŕnh ở trên c̣n tám phép làm cho thân thể thêm cường tráng, bách bệnh tiêu trừ gọi là “Bát Ích” - tám điều lợi ích - lại có bảy phép gọi là “Thất Tổn” - bảy thứ suy kém - để chỉ bảo cho nam nữ cách chữa trị căn bệnh làm suy ṃn thân lực. Tất cả những phép trên đều căm cứ vào mục đích làm cho âm dương điều ḥa, dụng kỹ thuật tính giao mà làm cho nam nữ được thú sướng kiên cố mà trị bệnh và cầu mạnh khỏe sống lâu.

Căn cứ vào Đông Y, phân thành nội ngoại th́ bên trong con người ta có ngũ tạng và đó là gốc rễ đế cho ngoại h́nh (dáng dấp bên ngoài) của ta phát triến. Cả hai nội ^ ngoại bổ cứu, điều ḥa th́ thân thế ta sẽ được cường tráng, vô bệnh, sống lâu.

Trong sách “Hoành Đế Nội Kinh Tố Vấn” có nói rằng:

“Tâm khỏe th́ máu đỏ tươi nhuận, Phổi khỏe th́ da mở, lông trơn, Gan khỏe th́ gân mạnh, móng chân cứng rắn; Tỳ khỏe th́ thịt dai, môi đỏ, Thận khỏe th́ xương thẳng chắc, tóc râu rậm mướt”.

Bát Ích Pháp chính là đế giúp cho Tâm, Phế, Can, Tỳ,^ Thận bổ khỏe ngơ hầu con người ta được vui hưởng cái sức mạnh, sự bền bỉ sáng suốt mà ngũ tạng đă là nguyên động lực. Tư thế nam nữ áp dụng trong Bát Ích Pháp này cũng là do “Chín Thế” đă tŕnh bày ở trên mà biến hóa ra và có nhiều phụ thế nằm nghiêng hơn là ở các “thế mẹ” nguyên thủy. Người nữ trong “Bát Ích Pháp” thường phải co đầu gối, dạng đùi ra lưng phải dẻo đế xoay chuyến hợp tác vận động. làm cho đung th́ lợi ích vô kế, có thế nói rằng kéo dài được thời thanh xuân và tới già vẫn thiếu tráng.

 

1. BÁT ÍCH

1.1 Cố tinh (Bằn bỉ tinh khí)

Người nữ nằm nghiêng, xoạc hai đùi, đùi trên cong cong lại vào thân ḿnh. Nam nhân cũng nằm nghiêng, đối mặt với bạn t́nh. Dương cụ ấn sâu vào mật cung, rút ra ấn vào 18 lần liên tiếp. Hết số đó th́ ngưng, dưỡng thần.

Mỗi ngày “luyện tập” hai lần như vậy. Tập như vậytrong 15 ngày th́ nam nhân dịch đầy đủ; nữ nhân trừ được bệnh nguyệt qúy tháng tháng xuất ra nhiều hơn b́nh thường.

1.2 An Khí (Luyên khí khỏi vong đông, thần thái nhe nhàng)

Người nữ nằm ngữa, đầu gối trên một chiếc ghế cao, hai chân dang thẳng, dạng đùi, nam nhân quỳ xuống giữa hai đùi người nữ, phủ lên người nữ và cho dương cụ xâm nhập vào xuân cung, rút ra cho vào 27 lần. đúng số này th́ rút lui (đế trách xuất tinh). Được như thế tâm thần sẽ được an tĩnh, phong thái săng khoái, thơ thới, không biết âu lo, bồn chồn. Nữ nhân cũng được lợi, khỏi chứng lănh âm, một bệnh diệt trừ khoái cảm giao hợp mà nhiều nữ nhân mắt phải.

Pháp này phải áp dụng ngày 3 lượt; liên tục trong hai chục ngày, sẽ

thấy kiến hiệu.

1.3 Lợi Tạng (Bổ ích cho ngũ tang)

Người nữ nằm nghiêng hai đùi co lên, đế lộ toàn bộ phía mông. Người nam nằm nghiêng phía sau đưa dương cụ vào mật cung, ra vào 36 lượt. Rồi thu quân (thế này ta quen gọi là nằm theo lối úp th́a). Mỗi ngày thực hành 4 lần. 20 ngày sẽ thấy kiến hiệu: trai th́ tâm b́nh, khí ḥa, nữ th́ tuyệt chứng lănh cảm (lợi ích cũng như phép 2).

1.4 Cường Cốt (Manh xương, gân)

Người nữ nằm nghiêng. Đùi bên trái co lên bụng. Chân phải duỗi thẳng. Người trai nằm lên trên, hạ bụng đè lên mông người nữ đưa dương cụ vào mật cung, ra vào 15 lần rồi rút lui luôn.

Mỗi ngày thực thi 5 lượt như thế, trong mười lăm ngày, nam nữ sẽ thấy gân xương khoan khoái, thân thế nhẹ nhàng. Người nữ bị chứng bế kinh (nguyệt bảo chậm hoạt không ra được) cũng khỏi.

1.5 Điu Mach (Thống huyết)

Người nữ nằm nghiêng về bên phải, co chân phải lên vàduỗi thẳng chân trái. Người nam nằm phục lên trên ôm lấy người nữ và liệu chiều cho dương cụ thâm nhập vào mật cung, ra vào 54 lần. Mỗi ngày 6 lượt trong 24 ngày. Được vậy tâm mạch sẽ đều đặn, khí huyết lưu thông;người nữ th́ khỏi chứng bị đau âm đạo, đau dạ con.

Phép thứ năm này cùng với phép thứ tư giống nhau, chỉ khác ở thế nằm người nữ nghiêng về trái hay nghiêng về phải mà thôi.

1.6 Súc Huyết (Nuôi máu)

Người nam nằm ngửa trong tư thế đón chờ (hoặc bị động). Người nữ qùy trên người nam, hai đùi dang ra hai phía háng nam nhân và ngồi xuống đế dương cụ tự do thâm nhập vào mật cung. Nữ nhân nhấp xuống, nhổm lên cho dương cụ vào ra 63 lần rồi đ́nh chỉ hẳn. Mỗi ngày thục hành liên tục trong mười ngày.

Phép này làm cho người nam khí lực tráng kiện, người nữ điều ḥa nguyệt quư.

1.7 Ích Dich (Bổ ích các hạch nhờn, tinh khí nam, nữ)

Trong các phép này người nữ úp sấp, hạ thế đè lên một chiếc gối đế bộ mông được nâng cao. Khẽ hé đùi. Người nam chống tay, qùy gối nằm trên người nữ và cho dương cụ hoạt động vào ra mật cung 72 lần rồi thu quân. Mỗi ngày tập dượt 8 lượt trong ṿng 10 ngày liên tiếp. Trong Tố Nữ Kinh nguyên bản không nói rơ phép này tập dượt mỗi ngày mấy lượt, song xét ra phép thứ sáu phải thi hành mỗi ngày bảy lượt và sau phép thứ 7 này, tức là phép thứ 8, nam nữ phải tập luyện tới chín lần mỗi ngày, th́ ta đoán được phép thứ 7 này đ̣i hỏi tám lần một ngày.

Nam, nữ theo đúng phép này sẽ được cường lực, thận bộ kiên cố (bổ thận).

1.8 Đao Thể (Thông sach thân thể)

Theo phép này người nữ nằm ngửa, hai chân quặp về phía sau, uốn cong người lên. Người nam chống tay nằm phủ lên người nữ, đựa dương cụ vào xuân cung, ra vào 81 lần rồi rút lui.

Mỗi ngày thao diễn như vậy 9 lượt liên tục trong chín ngày. Theo phép này người nữ trị đuợc bệnh xuân cung có mùi hôi hám.
 

Theo phép này người nữ phải quặp chân ra sau để uốn cong hạ thể, lại bị động chịu trận cho người nam luyện tập nếu không cảm thấy khoái lạc th́ tất nhiên thấy đau đùi mỏi vế vô cùng. Nhưng theo Tố Nữ Kinh, nếu không theo đúng phương pháp mà thực hành th́ không thể nào trị được mùi ác xú cả trong bộ phận của nữ nhân cả.

GHI CHÚ:

1. Trong Phương Đông Học từ xưa ai cũng biết rằng: nội tráng tất ngoại cường (Bên trong - ư chỉ các tạng phủ - mà được khỏe mạnh, th́ bên ngoài sẽ kiên cố. Cho nên có rất nhiều môn tu học cốt làm sao cho thân thể kiên khang hầu tiến đến chổ bất  tử. Các phái vơ Thiếu Lâm, Vơ Đang. v.v... ra đời cũng v́ mục đích ấy. Trong các tư thế thượng thừa được chấp nhận có môn Bát Đoạn Cẩm tức là một môn nội công của Thiếu Lâm phái. Học môn này tức là thực thi những tư thế mà giữa nguyên phần hạ thể và hai tay mà làm các động tác mà thôi.

2. Nhưng trong “Bát Ích” lại có những tư thế hoàn toàn trái nghịch, các động tác do phần hạ thể chủ động, mà mục đích cũng là làm cho thân, tâm được khoan khoái, cường kiên, không khác ǵ mục đích của các môn phái y học hoặc vơ học khác. Hơn thế v́ nghĩ rằng đa số bệnh tật cũng là do tiên thiên -khi mới sanh ra con người đă yếu kém - hai là tại bẩm sinh đă được trời cho mạnh khỏe sonh không biết    giữ  ǵn đă để cho phong sương liễm thể hay đă vung vít quá độ   mà đâm    ra   tật kia,chứng nọ. Cho nên Tố Nữ Kinh chín thế và phép Bát Ích muốn lợi dụng những sự ham muốn của người đời, khiến cho ai cũng không phải “khổ công” mới thành mà trái lại có thể vừa hành lạc vừa thâu lượm được kết quả tốt.

3. Cửu thế và Bát Ích mang đến cho mọi người nguồn sinh lực, sự ḥa hợp hạnh phúc, sự ước muốn diên niên trường thọ. C̣n việc sửa đổi t́nh trạng yếu kém, chuyên về điều trị sức khỏe và các chứng bệnh th́ lại có bảy phép khác gọi là “thất tổn” (như vậy, tổng cộng là: 9+8+7 =24 tư   thế).

 

Sau đây là những tư thế trong thất tổn.

2. THẤT TỔN

2.1 Tuvêt Khí

Tuyệt khí tè chứng bệnh thiếu khí, mồ hôi nhiều tim nóng, mắt hoa, nguyên nhân do những sự miễn cưỡng (cố gắng nhiều lần) giao hợp mà sinh ra.

Y học Trung Hoa lấy khí làm quan trọng nhất, nên khí chỉ thiếu một chút làm sự sống của con gnười đă bị đe dọa  rồi,

đừng đến là đi đến chỗ tuyệt nữa.
 

Đế chữa trị chứng bệnh này, người nữ phải nằm ngữa đế người nam nâng hai đùi lên và cho vào dương cụ. Thế này tương tự như thế vượn leo song có điều khác là người nữ phải chủ động, người nam đừng nhúc nhích đế dương cụ nằm yên trong xuân cung. Người nữ chỉ việc chuyến động tuỳ ư thích đến khi thấy xuân thuỷ rạt rào th́ thôi, chớ đế người nam ra theo. Mỗi ngày hăy giúp đỡ nam nhân như thế chín lượt, liên tục trong mười ngày, tất chứng tuyệt khí sẽ hết.

2.2 Dt Tinh

Dật tinh tức là sự ham muốn quá độ, âm dương không thuận, không măn ư hoặc là pḥng sự lúc cơm no rượu say nên khí loạn, tổn phế tạng, gây nên sự nóng giận bất thường. Chứng này phải trị ngay không th kiên tŕ (chếnh mảng đế lâu)được v́ khí ngày càng vọng động càng thiêu đốt,   làm mắt hoa     bụng trướng, hen xuyến v. v... Đế lâu sẽ đi đến chổ bất lực.

Hăy đế nữ nhân nằm ngửa hai chân cong ṿng (như ngồi sắp bàn tṛn) quặp lấy người nam. người nam ngồi xuống đưa dương cụ vào xuân cung, nhưng chớ đưa toàn bộ vào, đưa độ hai phần ba thôi (một tấc rưỡi). Nữ nhân sẽ ngúng nguẩy, lắc xoay, sàn bộ mông. Người nam giữ y thế của ḿnh, chớ động cựa. Chừng nào ngướ nữ thấy xuân thuỷ tràn đầy th́ đ́nh chỉ không sàn nữa, tránh đừng đế cho người nam xuất tinh ra theo.

Mỗi ngày hành sự chín lần liền trong mười ngày, chứng Dật tinh sẽ trị khỏi. Trong phép này, phải đế cho người nam nhàn dật, bớt dụng sức. Lại phải biết ư nam nhân chớ đế nam nhân thỏa măn mà bị “tảo tiết” (ra sớm).

2.3 Đot Mach

Mạch bị đoạt nghĩa là toàn thế tinh mạch ở trong trạng thái lộn xộn, không c̣n chạy theo đúng phương vị của chúng nữa. Kết qủa của chứng này trong thuật pḥng the là dương cụ quá cường dật khiến cho có trường hợp bán đồ mà đă xuất hay tệ hại hơn, khóc ngoài biên ải. Bệnh lâu thành bất lực. và tinh khí khô kiệt. Nếu cứ cưỡng mà tiếp tục hành sự th́ Tỳ tạng thương tổn, sự tiêu hóa không c̣n b́nh thường được nữa.

Đế chữa trị chứng này, nữ nhân dùng vị thế nằm ngửa, hai đùi cặp vào hai bên hông của nam nhân. Nam nhân dùng hai tay đỡ sức nặng của thân ḿnh bằng cách chống xuống giường, thân ḿnh chồm lên phía trên của nàng. dương cụ từ trên đâm xuống. Chỉ có nàng là chủ động xoay trở trong tư thế này, sàng xẩy, đong đưa, tuyệt nhiên chàng không chủ động. Đến khi nàng t́nh xuân măn ư th́ dừng lại ngay và bắt chàng rút ra ngay. Tuy không đến tuyệt đỉnh Vu Sơn nhưng chàng sẽ trị được căn bệnh của ḿnh. Mỗi ngày thực tập chín lần, trong mười ngày th́ căm bệnh tự nhiên sẽ khỏi.
 

2.4 Khí Tiết

Khí tiết v́ nguyên nhân ham  hành lạc trong lúc mệt mỏi, ví dụ vừa làm     công việc nặng nhọc xong chưa kịp nghỉ ngơi lấy lại sức đă vội vă nhập pḥng, nên chi tinh thần bị b́ quyện (u mê không linh hoạt), mồ hôi ra như tắm, bụng càng đầy như bị báng    (cổ trướng).

Đế chữa trị chứng này, người nam nằm ngửa, xuôi tay chân cho thư thái đế nữ nhân quay đầu về phía nam nhân, quỳ xuống, hai đùi áp sát sườn nam nhân rồi từ hạ mông xuống mở cửa mật cung đón dương cụ vào. Chớ cho sâu hẳn, giữ lại nữa chừng rồi lúc lắc. Khi người nữ cảm thấy xuân thủy rạt rào th́ phải thôi ngúng nguẩy và tạm rút lui. Làm như vậy trong mười ngày, mỗi ngày chín lần. bệnh khí tuyết sẽ khỏi.

Thế này tương tự như thế thỏ liếm lông nhưng khác một điều là người nam phải giữ thế yên vị, người nữ phải nhổm mông không được đè sát. V́ thế này nhấp nhổm nên người Trung Hoa gọi thế này là “cúi đầu hái củ ấu” (Đảo thái liên hoa - quay đầu lại hái sen).

2.5 Cơ quan hay là Quyết thương

Quyết thương hay c̣n gọi là nghịch khí thuộc chứng bệng về nội tạng. Bị huyết thương th́ đại tiếu tiện khó khăn, da thịt tiêu hao, gan, thận suy kém có thế đi đến chổ dương suy, âm suy (liệt dương, liệt âm), nặng có thế không c̣n đứng ngồi được. Muốn chữa bệnh này, nam nhân phải nằm thẳng, tay chân duổi dài thoải mái. Người nữ quay lưng lại ngồi xuống cưỡi lên hai vế người nam. Chống tay rồi từ từ hạ bộ mông xuống cho dương cụ lọt vào xuân cung. Mông lưng uốn éo tuỳ nghi đến khi tràn trề xuân thuỷ th́ ngừng. chớ đế người nam vận động và ra theo. Mỗi ngày chín lần liên tiếp trong mười ngày th́ bệnh tật khỏi.

1. Điều nên  nhớ  là phép   thất tổn  đều có    mục  đích là đem sự giao     hợp chuyến thành phương pháp chữa bệnh -nhưng bệnh luôn luôn có liên quan đến tính giao hợp v́ tham lam qúa độ hay v́ nghịch lư -cho nên người nam phải chịu thua thiệt là không bao giờ được phép hưởng khoái lạc đến măn túc, và người nữ cũng phải biết tự ḿnh rào rạt xuân t́nh đến cao độ mà vẫn giữ cho nam nhân trách khỏi sự xuất tinh. Được như vậy th́ hai bênh tinh dịch sung măn, khí huyết lưu thông trường nhuận, sự hô hấp dễ dàng, bệnh tật khỏi lại thêm cường tráng thân tam.

3. TTố Nữ Kinh c̣n ghi rằng các thế vị chữa bệnh nêu trên cần thực thi với nữ nhân trẻ trung xuân t́nh dào dạt, càng xinh đẹp càng hay. Trong khi chữa bệnh mỗi lần hành sự th́ thay nữ nhân khác. Xét cho cùng điều này ngày nay không ai làm được mà Tố Nữ Kinh ghi ra là đế cho người có phương tiện không cảm thấy nhàm chán mà thôi. Không thể thay bạn t́nh mỗi lần th́ ta thay cái tâm lư nhàm chán của ḿnh rằng đây là phương thế chữa bệnh không khó khăn mà lại thêm khoái cảm, mặt dù có trường hợp khoái cảm chỉ mới nữa chừng.

2.6 Bách Bế

Tốn thất thứ sáu gọi là Bách Bế, tức là các đường kinh mạch trong con người bị nghẽn tắc không lưu thông b́nh thường được nữa.

Nguyên nhân là do hứng t́nh qúa độ, giao hợp không hạn chế số lần. Ở nam     có triệu chứng tinh khí khô cạn. Khi giao hợp dù muốn xuất tinh cũng không được.   Cổ   họng khô rát,  tiểu tiện không thông,  đau  buốt; người     yếu, thường cảm thấy choáng váng.

Thể vị giao hợp để trị khỏi bệnh này như sau:

Nam nhân nằm ngữa thoải mái.

Nữ nhân nằm sắp bên trái, hai tay chống xuống giường để nâng đỡ thân ḿnh. Â m hộ giữ dương vật và chuyển động không ngừng (sàn qua sàn lại). Nam nhân giữ nguyên tắc không xuất tinh.

Theo phương pháp này mỗi ngày thi hành bảy lần, trong ṿng mười ngày th́ các chứng bệnh trên sẽ bị triệt tiêu.

2.7 Huyết Khuvết

Tổn thứ bảy gọi là Huyết Khuyết nghĩa là cạn máu, thiếu máu.Nguyên nhân v́ làm việc quá độ hay là quá mệt mỏi (đi bộ) khi mồ hôi xuất ra quá nhiều mà lại giao hợp ngay.giao hợp xong t́nh ư chưa thỏa măn lại tiếp tục trèo lên lần nữa.Tinh khí tiêu hao nên nội tạng yếu. Bệnh chứng là tinh khí rỉ ra không ngừng (di tinh) làm cho máu huyết trong người ra cạn, da dẻ có màu tái xám, mét ch́, lổ đái đau đớn, nước tiểu màu đỏ như có lẫn máu.

Thể vị giao hợp để trị bệnh này như sau:

Nữ nhân nằm ngữa, đít kê trên cái ghế để nâng âm hộ lên cao, hai đùi dang rộng, đưa háng ra rơ ràng.

Nam nhân qùy ở giữa hai đùi nữ nhân, đâm dương vật vào, nữ nhân chuyển động hậu thân liên tục nhưng khi đă thỏa măn th́ ngừng lại tức th́ (để trách kích thích thêm làm cho nam nhân xuất tinh).

Nam nhân vẫn theo nguyên tắc không xuất tinh. Thi hành mỗi ngày chín lần, trong ṿng mười ngày sẽ trị được các chứng bệnh trên.

GHI CHÚ:

1.Ta thấy rơ ràng tổn thứ tư, tổn thứ năm, tổn thứ sáu đều là những điều làm hại cơ thể do sự giao hợp quá độ và không tiết chế sự xuất tinh mà gây ra. Trị các tổn thất này đều cần là các thể vị giao hợp cũa nữ nhân ở trên tạo thoải mái cho nam nhân, không cần phí nhiều sức lực. Chỉ có tổn thứ bảy là cần vị trí của nam nhân ở trên mà thôi.

2.Tất cả các thế vị đế trừ bảy tổn là đế cho nữ nhân nắm vai tṛ chủ động, chủ động việc tạo khoái lạc và chủ động không đế nam nhân xuất tinh. Các vị trí này thay đổi khác nhau là đế thay đổi vị thế kích thích kéo dài thời gian giao hợp..

3. Y học Trung Quốc cho rằng con mắt và lá gan là hai cơ quan cảm ứng đối với nhau, liên hệ nhau mật thiết, cho nên thường thường bệnh gan th́ mắt hoa choáng váng.

4. Người Trung Hoa cho rằng mắt là cửa sổ (song bộ) của nội tạng, phản ánh t́nh trạng của các cơ quan.Mắt cũng là cửa sổ của tính ái, trạng thái t́nh dục. Điều xác định này rất phù hợp với y giới cận đại.

5. Người Trung Hoa cho rằng tṛng đen của mắt mà thật đen là biếu hiện của sự buông thả của nhiệt t́nh. Cặp mắt mà tṛng đen có viền ánh lên màu anh hoa (đen pha nâu) th́ biếu lộ tính khí vượng thịnh, dồi dào, nội tạng mạnh mẽ, kiện khang, không bị tổn hại, sinh hoạt t́nh dục rất b́nh thường.

6. Nếu tṛng trắng mắt có màu anh hoa th́ đó là biếu hiện của nhiệt t́nh sung măng, mạch máu vận hành điều ḥa, sức khỏe tốt. Đối với loại nữ nhân này âm hộ luôn luôn có ôn độ thích hợp (âm ấm), luôn luô n sẵn sàng cho cuộc mây mưa v́ sự ham muốn về tính dục rất mạnh mẽ.

7. Nữ nhân mà mắt nháy măi không thôi tức là biếu thị tính dục bị nguy kịch không c̣n thích thú nữa. Mắt gan liên quan nhau nên gan bị bệnh th́ tâm bất an, mắt nháy chớp.

8. Muốn cho đời sống t́nh dục mạnh phải đế cho nội tạng^ mạnh mẽ, cường tráng, không bị bệnh.Chương này đưa ra nguyên tắc “nghiêng trút mà không đổ”(dốc nhi bất tiết), nam nhân phải giữ đó làm mối chánh.Nguyên tắc này lại dưa trên thế vị chủ động của nữ nhân lúc giao hợp,    không     phải là     thế vị đế làm tăng khoái    cảm  giao hợp  mà là đế chữa các bệnh trạng sanh ra do giao hợp quá nhiều.

9. Ngoài cách giao hợp các thuốc bổ cũng rất cần thiêt.Nêu tinh thần bị giảm yêu th́ phải thường dùng bồ câu đế cho tinh khí trở lại mạnh mẽ.Đời đường Vơ Tắt Thiên đă bảy mươi tuổi mà tinh lực vẫn c̣n mạnh v́ bà ngâm rượu bồ câu gọi là “Vơ Hậu Tửu” loại rươụ này trong sách “Vơ hậu ngoại truyện” có nhắc tới.

“Rượu Vơ Hậu” gồm nguyên liệu đă được bào chế như sau:

Rượu trắng dùng đế đốt nóng một con chim bồ câu sau khi đă bỏ lông, chặt bỏ đầu và vứt bỏ tất cả bộ đồ ḷng.

50 grm Hà Thủ Ô.

10 grm lộc nhung (gạc nai nón)

100 grm nhân sâm triều tiên.

Tất cả bỏ vào một cái tô, đổ thêm rượu trắng vào. Đốt lửa ở dưới tô nấu trong ṿng năm mươi phút. Xong đế nguội. Đem phơi nắng vài ba giờ đế lấy hơi sương và không khí. Đoạn cho thêm rượu vào và nấu lần nữa trong khoảng ba mươi phút, lại đế nguội và đem phơi nắng một lần nữa. Lần này khoảng hai mươi phút thôi. tất cả được đem ngâm vô rượu, thêm một chút mật ong. Niêm phong thật kín đế trong chỗ mát (lấy hơi ấm).Ba tháng sau rượu đă có hiệu lực, dùng đưọc. mỗi ngày uống một ly nhỏ th́ chẳng những vấn đề sinh lư mạnh mẽ mà các chứng bệnh do sinh lư quá độ cũng không thế phát sinh. Rượu Vơ Hậu có tác dụng thức dùng đúng thời tiết theo phương pháp luyện cho thân thế khang kiện của tiên gia: mùa xuân th́ dùng ư dĩ nhân, mùa hạ th́ dùng đậu xanh, mùa thu th́ ăn hạt sen, mùa đông th́ ăn đậu phụng. Mỗi thứ ăn ba tháng trong năm.

10. Gần đây, ư dĩ nhân được dùng đế pḥng ngừa ung thư như trong y học mới.Ư dĩ nhân c̣n là thứ dược liệu dùng đế bổ gan, lợi tiếu, giúp cho bao tử tiêu hóa mạnh mẽ.Ư dĩ nhân c̣n có công dụng ở các bệnh khác. Chẳng hạn bệnh mồ hôi chân, bệnh đường tiếu, bệnh bạch đản.Dối với các bệnh này bào chê như sau:

Ư Dĩ Nhân một lượng

4 grm cam thảo

đổ vô hai chén nước, nấu trong nữa giờ c̣n lại nữa chén.

Buổi sáng trước khi ăn sáng nữa giờ uống một lần. Dùng xác thuốc c̣n lại cho thêm nước vào nấu lại đế uống nước nh́ nữa giờ trước khi đi ngủ (ngày uống hai lần)

11. Ngày  xưa người ta hay dùng hồ đào v́ hồ đào là loại rất bổ cho việc tính giao. Hồ đào c̣n có tính chất làm cho ngủ ngon(trị bệnh mất ngủ) và chữa được vài trường hợp suy yêu thần kinh.

Ông Thái Nhất Phan nói rằng muốn cho dương vật cường tráng th́ ăn hồ đào cả vỏ. Lần đầu ăn một trái, cách năm ngày tăng thêm một trái nữ a, cứ như vậy cho tới khi ăn mỗi ngày hai mươi trái th́ mỗi ngày th́ hiệu qủa trông thấy: thằng nhỏ cứng, nóng lúc nào cũng sẵn sàng lâm trận.

 

Ba mươi vị thế lâm trận

(Theo Đạo gia Động Huyền Tử tiên sinh)

Chương này là chương luận lư về vị thế tính giao do ông Động Huyền Tử tiên sinh là người theo trường phái Đạo Gia, tên thật là Trương Đĩnh.

Ba mươi vị thế là những vị thế rất cơ bản trong sinh hoạt pḥng trung, so với cửu pháp đă nói ở các chương trên là hơi lhác đôi chút nhưng đại để th́ giống nhau. Chỉ khác mục đích Cửu Pháp có mục đích dưỡng sinh, Tam Thập Pháp (ba mươi thế vị) trái lại lấy sự khoái cảm làm cơ bản.

Động Huyền Tử tiên sinh nói:

"Giao tiếp đích tư thế, đại ước bất xuất tam thập chủng, kỳ trung hữu tiền hậu khuất trập, thượng hạ, phủ ngưỡng, đẳng đẳng. ... tuy nhiên đại thể tương đồng, khước dă kỷ cương la nhất thiết phương pháp, tơ hào một hữu di lậu đích."

Nghĩa là: "Tư thế giao t́nh không ngoài ba chục kiểu, trong đó co, thẳng, nằm trên, nằm dưới,đằng trước, đằng sau,đại đồng nhưng tiểu dị. Đem ba mươi kiểu này làm cơ bản th́ bao gồm các kiểu khác, không c̣n kiểu nào khác hơn".

Tự trù mâu: Quấn quít, nam nữ quyện lấy nhau.

Thân khiển quyển:Nam, nữ thân mật nắm tay nhau vuốt ve.

Bạo tự ngư: Khi người nữ hứng t́nh, âm hộ cương lên, cứng gồ giống như cá cong ḿnh nhảy vượt lên trên không trung.

Kỳ lân giác: Như trên, nghĩa là âm hộ nữ nhân cương cứng, cong mu lên như h́nh sừng con kỳ lân.

Bốn trạng thái trên là bốn h́nh thức sửa soạn trước cuộc giao t́nh không ai mà không có. Các h́nh thức sau đây mới là vị thế giao hợp.

Toản mặc cẩm: Nữ nhân nằm ngữa,hai tay choàng qua cổ nam nhân, kẹp hai chân lên lưng nam nhân. Cả tứ chi kéo nam nhân về phía ḿnh. Trong khi đó nam nhân ôm choàng lấy cổ nũ nhân, thân ḿnh choàng xuống giữa hai đùi nàng. Hai cơ quan sinh dục đối mặt. Đâm vào nhau.

Long uyển chuyển: Nữ nhân nằm ngửa, co hai đùi, giơ thẳng lên về phía trước. Nam nhân qùy ở giữa đùi nữ nhân. Hai tay nắm phía sau của hai đầu gối đẩy về phiá trước. Có thể đẩy tới khi đùi nữ nhân đụng được nhũ hoa, ở vị trí này âm hộ tŕnh bày tư thế sẵn sàng nghinh đón dương vật.

Ngư tỉ mục: Hai phái nam nữ nằm ngang. Nữ nhân gác một chân lên ḿnh nam nhân. Miệng và miệng kề nhau. Nút lưỡi.Nam nhân khi hứng t́nh đưa một tay kéo đùi nữ nhân giơ hơi cao lên trong khi đó hai chân ḿnh vẫn thẳng hàng. Dương vật đâm xuyên vào.

Yến đồng tâm: Nữ nhân nằm ngữa, lưng sát giường, hai chân hơi dạng ra và đưa lên trên không. Nam nhân nằm úp lên trên bụng nữ nhân hai tay choàng qua sau cổ người bạn ḿnh. Nữ nhân cũng vậy ôm lưng nam nhân, kéo mạnh về ḷng ḿnh. Dương cụ càng đâm vào càng sâu càng tốt.

Phỉ thuư giao: Nữ nhân nằm ngửa, lưng sát giường, hai chân hơi dạng ra và đưa lên trên không. Hai đùi cong lại. Nam nhân ngồi phía dưới, hai đùi dang ra kềm hai đùi của nữ nhân. Hai tay ôm chặt eo ếch của bạn. Cử chỉ này vừa tạo vị thế tiện lợi cho dương cụ đâm thẳng vào thâm cung vừa kích thích vùng âm hạch của nữ nhân để gợi hứng t́nh.

Uyên ương hợp: Nữ nhân nằm nghiêng. Nam nhân nam phía sau, hai đùi ở giữa hai đùi nữ. Đâm từ phía sau tới chêng chếch. Không phiên diệp:

Nam nhân nằm ngữa, banh hai chân ra. Nữ nhân ngồi lên ḿnh nam chổ hậu bộ, mặt đối mặt, hai tay đè đầu gối ḿnh để giữ thăng bằng. Ngồi lên cọc.

Bối phi cưu: Nam nhân nằm ngữa, banh hai chân ra. Nữ nhân ngồi lên vị thế như trên nhưng đưa lưng về phía mặt của nam nhân (ngược lại vị thế trên ), đầu hơi cúi xuống như nh́n âm hộ ḿnh, để âm hộ căng ra hơn.

Ân cái công: Nữ nhân nằm ngữa hai chân giơ lên không và sát vào nhau, duỗi song song. Nam nhân ngồi hay đứng ở phía dưới hậu thân của nữ, hai tay ôm eo nam. Dâm thẳng vào.

Lâm đàn trúc: Nam nữ đứng thẳng ôm nhau như hai cây tre trong một bụi tre. Miệng hôn lên miệng, phía dưới dương cụ đâm thẳng vào âm hộ.

Loan song vũ: Hoặc nam nằm sấp, hoặc nữ nằm úp lên nam, vị thế là hai bên chồng lên nhau và đối mặt. Hai cơ quan đối diện nghinh tiếp nhau.

Phượng tương xu: Nếu nữ nhân có thân thể to lớn mà giao hợp với nam nhân mảnh dẻ th́ dùng thế nam nhân nằm trên. Vị thế và h́nh dạng này giống như phượng hoàng ôm con vào ḷng cho con bú.

Hải âu đực: Như đàn chim x̣e cách, nam nhân đứng dưới giường nắm hai chân nữ nhân đang nằm trên giường mà banh ra. Đâm vào. Dă mă đề:

Như chân con ngựa hoang, hai chân của nữ nhân gác lên hai vai nam nhân, một chân được chính tay nàng kéo co lên để tạo thế chênh chếch của âm hộ.

Bạch hổ thắng: Nữ nhân nằm ngữa, hai chân dang thẳng ra. Nam nhân quỳ ở chổ hậu thể nữ nhân giữa hai chân nữ. Hai tay câu cổ nữ nhân. Đâm thẳng vào.

Huyền đàn bộ (mất đoạn này)

GHI CHÚ:

Cuộc sống bận rộn kinh tế, đời sống bon chen chật vật, vợ chồng đă hiểu nhau nhiều th́ cuộc giao hợp mất đi nhiều tính hiếu kỳ và hứng thú. Nếu thương yêu nhau mà giao hợp th́ giao hợp cho có, theo bản năng, th́ chỉ là theo lẽ " hứng th́ làm ", phát tiết dục t́nh chứ không hưởng thụ những khoái cảm.

Bởi vậy nam nhân phải chủ động trong việc thay đổi tư thế giao hợp. Hai đàng phối hợp với nhau để hưởng hứng thú cuộc t́nh tránh sự nhàm chán của việc xả xú báp, chơi cho có gọi là, trả bài trả nợ.

Thay đổi tư thế giao hợp, theo quan niệm giáo dục sinh lư mới là điều rất tốt ích lợi về cả hai mặt tâm lư và sinh lư. hai bên nam nữ đều cảm thấy cuộc t́nh như mới mẻ, không nhàn chán. Nhàm chán là con đường đổ vỡ hạnh phúc gia đ́nh chớ không phải chỉ mất hứng trong cuộc giao hợp mà thôi.

Thế giao hợp cơ bản

Chương này nói về các vị thế cơ bản khi giao hợp. Cũng là đại khái ba mươi vị thế cơ bản, những biến thể nho nhỏ không được kể như một vị thế,

I. NAM THƯỢNG VỊ (Nam nhân ở trên)

CHÍNH THƯỜNG VỊ.( Vị thế cơ bản)

Nữ nằm ngữa, hai chân dang ra, không cần bẹt lắm. Nam nhân nằm sấp bên trên. Hai đầu gối và hai cùi chỏ chống lên giường để nâng đỡ sức nặng khỏi đè lên bạn ngọc. Vị thế này căn bản là hai đùi nam nhân ở giữa hai đùi của nữ nhân.

Vị thế phía trên của nam nhân là vị thế nắm quyền chủ động thỏa măn ḷng tự tôn và cảm thức ưu việt của nam nhân. Vị thế này cũng thỏa măn ḷng khao khát được vỗ về ôm ấp, bảo vệ của người nữ.

Trong vài trường hợp đặc biệt nếu dương vật dễ bị trật ra khi đâm vô rút ra th́ nữ nhân nên kê một cái gối phía dưới mông để thay đổi vị thế của âm đạo.

Đây là kiểu phổ biến nhất, chính thức từ đó biến thái thành nhiều kiều khác nhau. Tư thế này tự nhiên nhất v́ khi đến tuyệt đỉnh của sự thống khoái th́ nam nữ ai cũng có khuynh hướng ôm choàng xiết mạnh người bạn ḿnh. Vị thế này thích hợp nhất cho sự cho sự ôm xiết đó.

Khuyết điểm của vị thế này là không áp dụng được đối với người có dương vật ngắn v́ rất dễ trượt ra ngoài, cũng không dùng được đối với người nam quá mập v́ không đút vào sâu trong động tiên được. Nữ nhân khi có thai bụng đă nổi lên th́ tránh dùng lối này, dễ động thai v́ bị đè nặng v́ khi quá sướng người nam không c̣n nhớ để tránh.

THÂN TRIỂN VỊ.( Chân kéo thẳng.)

Dùng vị thế cơ bản nói trên, sau đó nửa chừng cuộc t́nh nữ nhân khép hai đùi lại, duỗi thẳng chân. Hai đùi nam nhân kẹp hai đùi nữ nhân ở giữa. Cách này làm cho âm đạo khép lại, kẹp sát bóp dương vật, cọ sát nhiều, tăng thêm khoái cảm cho nam nhân. Về mặt nữ sự cọ sát này cũng là cho dương vật cọ sát thành âm đạo, kích thích mạnh âm hạch tạo nên trạng thái khoái cảm tuyệt vời mà những vị thế khác ít khi có.

Vị thế này không phù hợp với nữ nhân nào có âm đạo quá nhỏ hoặc tử cung không phát triển toàn vẹn.

Ưu điểm quan trọng của vị thế thân triển vị là kích thích được nam nhân trong trường hợp tinh lực kém, dương cụ căng giương lên không hết sức cũng giao hợp được dễ dàng v́ âm hộ kẹp nó lại, da qui đầu bị tiếp xúc nhiều làm cho sự kích tăng lên thêm.

CAO YÊU VỊ.(Vị thế lưng cao.)

Đây cũng là biến thế của chính thượng vị (vị thế một ), trong đó nữ nhân kê gối phía dưới mông để phù hợp với t́nh trạng của nam nhân. Nam nhân ở vị thế quỳ thay v́ nằm ở giữa hai đùi của nữ. Vị thế này khiến cho dương vật nằm ngang và v́ không có trở ngại nên độ kết hợp sâu hơn hai vị trí nói trên.

Đêm tân hôn vị thế này là tốt nhất v́ dương vật đi theo đường của âm đạo - không kiểu cọ, không đâm ngang, đâm chếch - khiến cho sự đau đớn của lần kết hợp ban đầu được giảm đến mức tối đa. Sau đêm tân hôn một hai ngày cũng nên dùng vị thế này v́ cái đau đớn của khoái lạc đầu đời chưa lành hẳn hoặc v́ âm hạch có thể bị đỏ, sưng sau lần màng trinh bị bị phá rách.

Khuyết điểm của vị thề này là cuộc tiếp xúc không mang đến khoái cảm cực đại cho nữ nhân v́ dương cụ đi thẳng đường quá, không chếch không cọ vào thành của âm đạo.

Bị kê gôí nên nữ nhân cũng không được thoải mái, dễ mệt nên vị thế này kông nên sử dụng khi nữ nhân ốm yếu hay đang mệt nhọc. Lúc có mang càng không nên sử dụng.

KHUẤT KHÚC VỊ. (Vị thế thu ḿnh)

Nữ nhân nằm ngửa, hai đùi co rút lại vào phía thân ḿnh, đầu gối chạm vào ngực, hai chân cách một gốc vừa phải, độ 135 độ là vừa. Nam nhân theo tư thế của chính thượng vị ( vị thế một ) nghĩa là nằm úp lên trên ḿnh bạn vàng, hai tay chống xuống giường, đâm chênh chếch từ sau tới.

Vị thế này kết hợp hai cơ quan sinh dục được sâu v́ đâm thẳng đường của âm đạo. Đó là một vị thế rất dễ thụ thai, tinh trùng được bắn thẳng vào cổ tử cung, dể tồn tại ở đây một thời gian, để kêát hợp với trứng.

Tư thế này người nam có thể tự do lay chuyển, tự do ôm sát hay cách xa nữ nhân để quan sát loă thể của nàng nên có thêm khoái cảm về thị nhục, kích thêm sướng khoái. Nữ nhâân trái lại thành âm đạo không được cọ sát nên không được vui sướng lắm. Đêm tân hôn tuyệt đối không dùng lối này. Cũng vậy không nên dùng đối vơí nữ nhân có âm đạo quá cạn.

II. NỮ THƯỢNG VỊ.(Nữ nhân nằm trên)

PHẢN VỊ.(Vị thế ngược)

Phản vị là vị thế giao hợp ngược với chánh thường vị ở đoạn trước. Phản vị chủ yếu là nam nhân nằm ngửa hai đùi dang ra giao phần chủ động cho nữ nhân, nữ nhân quỳ ở hai đùi của nam nhân, rồi nằm sấp lên trên.

Cách này dương vật không chủ động đươc sự đâm vô rút ra của ḿnh nên dễ trợt ra ngoài. Ta có thể chữa cách này bằng cách kê gối phía eo vừa giữ cho thằng nhỏ khỏi đi lạc vừa tăng thêm kích thích cho nữ nhân v́ không vướng đùi nên thằng nhỏ như là được vươn ḿnh dài ra hơn. Khoái lạc nam giới tăng thêm v́ được quan sát và sờ mó sự ḷng tḥng của đôi nhũ hoa nhiều khi rung chuyển lắc lư theo nhịp điệu dao động của nữ nhân.

Nữ nhân dễ đạt được cao trào hứng thú, v́ nửa thân trên phải cố thẳng làm cho âm đạo đổi vị thế, tử cung g̣ lên, qui đầu của dương vật để tiếp xúc và kích thích. Sự gợi cảm sinh ra là do sự kích thích này. Mặt khác cũng là do tâm lư "làm chủ cuộc t́nh" của nữ nhân.

Thường dùng chánh thường vị, thỉnh thoảng vợ chồng cũng nên đổi món qua phản vị để tạo mới mẻ t́m thêm hứng thú.

KIỂU NẰM NGHIÊNG. (Nghiêng mặt đối)

Thay v́ nằm ngửa lên, vị thế này hai bên nam nữ nằm nghiêng trên giường, đối mặt nhau. Nam nhân dùng tay vỗ về, sờ mó loă thể của nữ nhân, hai đùi nam nhân nằm giữa hai đùi nữ, hai đùi nữ nhân co ôm chặt eo của nam nhân. Tư thế này ít hoạt chuyển nên ít mệt cho cả hai. Khuyết điểm là nam nhân không được tự do, trong việc tấn thúc (nắc) c̣n nữ nhân cả đùi bên duới phải chịu cả sức nặng của hạ bán thể của nam nhân (hai đùi ) nên cảm độ khoái lạc không thể lên được tới mức tôí đa.

Vị thế không thuận lợi nên kiểu nằm nghiêng thằng nhỏ không đi sâu vào tuyệt cùng của âm đạo.

Tuy nhiên ưu điểm của thế này là không ồn ào, ít tiếng động. Nhiều người ngủ chung pḥng, nhà chật cha mẹ ngủ mà có con cái ngủ gần tư thế này lư tưởng không tư thế nào bằng. Ḿnh vui mà không gây sự chú ư và không làm phiền người khác.

Nghiêng mặt lưng.

Như cái tên của nó, hai đàng nằm nghiêng trên giường. Nam nhân nằm phía sau ôm nữ nhân, bắp vế sát mông nữ. Nhưng nếu nam nhân để ngực ḿnh chạm với lưng nữ nhân th́ phía thằng nhỏ khó vào, bởi vậy ngực phải dang ra lưng để hạ bán thân tiếp xúc mà thôi. Nữ nhân cần phải co chân lại để nam nhân dễ xâm nhập.

Nam nhân dùng tay tự do (phía trên) sờ mó vỗ về nữ nhân. Nam nhân chân trên có thể gác lên đùi nữ nhân hoặc xếp vế bên đùi nữ nhân ở trêân giường.

Thế này nam nhân hưởng nhiểu khoái lạc hơn nữ nhân v́ ở vị thế tấn công và hưởng thêm cảm giác ở bắp vế trong khi đó nữ nhân chỉ kích thích ở âm đạo mà không được kích thích ở đầu tử cung nên tuyệt đỉnh khoái lạc có cường độ không cao. Để giải trừ khuyết điểm đó nam nhân nên sờ mó thêm âm hộ của nữ nhân và se se đầu nhũ hoa của bạn ḿnh.

Tư thế này thích hợp cho thời điểm nữ nhân đang hoài thai v́ bụng không bị đè. Mặt khác khoa lâm sàng cho biết khi phụ nữ mang thai th́ tử cung dần dần tới sát xương chậu và âm đạo ngắn hơn lúc b́nh thường, thể vị giao hợp này dương cụ giao hợp không sâu nên rất thích hợp v́ không sợ bị xẩy thai.

Mức khoái cảm do vị thế này đem lại không cao nêân không tạo được tuyệt độ khoái lạc cho nên lúc có kinh cũng có thể áp dụng được. Đối với nữ nhân bị bệnh bất cảm (cảm ứng không được nhiều) đây là vị thế rất phù hợp.

VỊ THẾ LƯNG.(Thế nằm)

Giống như cách thường vị, nhưng ở đây nữ nhân nằm sấp, nam nhân nằm lên trên lưng. Hai đùi nữ nhân có thể bẹt ra hay khép lại. Nan nhân cũng dựa theo đùi của nữ nhân mà hành động, nàng khép haiv đùi, ḿnh ở ngoài ; nàng banh hai đùi, ḿnh ở giữa.

Vị thế này mông của nữ nhân có tác dụng như một cái gối êm xốp cho nam. Trường hợp người nữ gầy ốm, xương xẩu, kiểu thường và kiểu cởi, làm cho nam nhân mất bớt hứng thú v́ chạm các khớp xương, kiểu nằm sấp này tránh những khuyết điểm đó.

Trong trường hợp nữ nhân mập mạp nhiều thịt, mông to vị thế này khôngthích hợp v́ "trái độn" đă ngăn trận sự xâm ngập của dương cụ khiến sự tiến vào không được sâu.

Khi có mang dĩ nhiên là tuyệt đối cấm dùng vị thế này. Khuyết điểm quan trọng của vị thế này là sự sút ra của dương cụ, khi kích v́ miệng âm đạo mở, từ trên xuống dưới (như một cái cổ giếng) trong khi dương vật tấn kích xuyên về phía trước. Nữ nhân không thích vị thế này v́ bị đè, khoái cảm ít, xung kích xâm nhập ngắn, đâm cạn sợt không đến đâu, vận động không đuợc tự do. Nam nhân trái lại thích dùng vị thế này v́ có sự thỏa măn về thị giác, kích thích nhiều, hai tay lại được tự do choàng qua ḿnh bạn mân mê mấy thứ đồ phụ tùng.

THẾ QUỲ

Nữ nhân nằm sấp trên giường, nhưng cong hai đầu gối lên về phía ngực, phía mông hơi chỏng lên cao, phía đầu hơi cúi xuống thấp hơn. Nam nhân quỳ ở chỗ mông của bạn, lưng thẳng hai tay ôm lấy chỗ eo của nàng để điều chỉnh độ kết hợp.

Khi giao hợp bằng vị thế này, qui đầu tiếp xúc với âm đạo mănh liệt. Dương vật được cọ sát nhiều, nên khoái cảm có cường độ rất lớn. Nếu muốn tăng thêm khoái cảm th́ nên dùng gối kê đầu gối của nàng để mông chỏng lên cao hơn nữa làm cho độ nghiêng sau trước được nhiều. Cách này là cho cổ tử cung đưa ra hứng tất cả tinh dịch cho nên là vị thế râát dễ bị thụ thai. Muốn tránh mang bầu không nên dùng thế này.

Đặc biệt, nữ nhân khỏi làm ǵ cả, tất cả điều do nam nhân chủ động, nữ nhân chỉ cần xoay xoay hậu bộ của ḿnh, hoăc làm những động tác ǵ khác tỏ ra ḿnh cũng có khoái cảm, để kích thích thêm nhục t́nh cho nam giới.

Đặc biệt vị thế này thường phát những tiềng động " nhẹp nhẹp " ta không ưa thích, điều này không có hại ǵ, đừng nên chú ư mất vui. Tiếng động phát ra do âm đạo bị đè nén mà mở ra chứa không khí, vận động giao hợp làm cho không khí bị bung ra, tiếng động phát sinh từ đó.

TỌA VỊ ( Vị thế ngồi )

Ngồi đằng trước.

Nam nhân ngồi trên giường. Nữ nhân ngồi trên đùi nam nhân, trở ngược lại.. . Hai người ôm lấy nhau : nữ nhân ôm cổ nam nhân ôm eo.

Nữ nhân phải dạng đùi ra choàng qua ḿnh nam nhân nên miệng âm đạo hở, dương cụ dễ tiến vào. Khi đến cực điểm của khoái lạc, nam nhân nên bỏ eo ôm mông nữ để tăng cường thêm. Vị thế ngồi này khiến cho âm hộ hơi co rút lại, dương vật có cảm giác như bị bóp lại nên càng cương cứng thêm. Khuôn ngực của nữ tŕnh bày trước mặt nam, đặt sát vào hay bú núm vú cũng là điều cần thiết.

Nam nhân rung động hai đùi của ḿnh để kéo theo sự rung chuyển mông của người đẹp. Sự rung chuyển này một mặt kích thích cuộc giao hợp làm cho xương chậu của nàng thay đổi vị thêá khiến cho cuộc kết hợp được lâu hơn, thằng bé đi vào tận cùng trong thâm cung bí sử.

Tư thế này rất thích hợp khi nữ nhân có thai.

Nếu nam nhân không ngồi mà quỳ trên đâàu các ngón chân và đầu gối ḿnh th́ sự xâm nhập cạn hơn vị thế đă nói trên, sự kích thích khoái lạc v́ vậy cũng ở mức độ vừa phải, rất an toàn cho người nữ có mang.

Nếu nữ nhân mập béo mà nam nhân cũng muốn áp dụng tư thế này th́ nên cho nữ nhân ngă về sau, hai tay chống xuống giường, v́ ngồi thẳng như người b́nh thường th́ dương vật không thể đâm lút vào. Nếu nam nhân mập phệ th́ vị thế này cũng phải được cải tiến như trên ( ngă về sau).

Ngồi đằng sau lưng.

Nam nhân ngồi thẳng, hai đùi duỗi ra song song. Nữ nhân ngồi trên đùi chàng, đưa lưng về phía nam nhân, hai chân để bẹt ra để bên ngoài đùi của bạn. Nam nhân hai tay, hoặc ôm eo của nữ để làm cử chỉ kích thích và xung đôïïng, hoặc chồm tới trước tới vuốt nựng đôi nhũ hoa. Phối hợp nhịp nhàng giữa sự lắc đùi của nam và sự đu đưa mông của nữ th́ thời gian giao hợp đuợc kéo dài lâu hơn.

Trong vị thêá này người nữ có vẻ như chủ động : ngồi sâu, nhỏm lên, quay tṛn rút lui. .. Nư tính phát triển tối đa ở vị thế này. Cũng là một cách thay đổi món ăn vốn dễ chán ngấy nếu luôn dùng các món cũ.

Muốn đô kết hợp lâu hơn, đậm hơn, lút hơn nữa nữ nhân nên cong lưng về phía trước và xoạc hai chân rộng ra để âm đạo được nở nhiều. Nam nhân khi dùng vị thế này nên nhớ sờ mó nhũ hoa và khám phá bằng tay âm hạch của nữ để tăng cường cường độ kích thích ....

Lập vị. (Vị thế đứng )

Nam nhân đứng ở sau lưng nữ, cho vào từ phía sau. Cách này chỉ thực hiện dễ dàng khi nữ nhân hơi cong đầu gối và đưa mông về phía sau một chút. Để đứng vững, nữ nhân chống hai tay lên đâàu gối, nam nhâân hơi cúi xuống mới cho vào được. Hai đùi của nữ nhân cũng nên banh ra để đứng được vững đồng thời âm đạo cũng mỡ rộng hơn, tŕnh ra con đường dễ dàng cho dương vâät xông pha. Cho được tối đa sướng khoái, nam nhân luồn đùi ḿnh vào giữa hai đùi nữ nhân, hai tay luồn lên nắm cập nhũ hoa hoặc ôm lấy bụng của nàng.

Phương pháp không xuất tinh khi hứng t́nh lên tột đỉnh

Hoàng Đế hỏi :"Khi giao hợp, lúc khoái lạc lên cực đỉnh gần xuất tinh mà cố kềm lại một ít lâu để kéo dài cuộc vui. Như vậy có hại ǵ không ?".

Tố Nữ đáp :"Không hại mà lợi"

- Lần đầu : muốn xuất tinh cố kềm lại ít lâu, đến khi ư ta muốn xuất tinh mà cơ thể không thể xuất được nữa, sức lực trong người ta sẽ tăng mạnh mẽ hơn.

- Lần thứ hai: mắt, tai sẽ tỏ thính hơn.

- Lần thứ ba: nhiều bệnh sẽ không mắc phải.

- Lần thứ tư: ngũ tạng sẽ b́nh an.

- Lần thứ năm: máu huyết sẽ thông suốt, điều ḥa.

- Lần thứ sáu: bộ phận ở chỗ thắt lưng là chỗ dễ đau khi giao hợp nhiều, được cường tráng nên mặc dầu giao hoan nhiều vẫn b́nh thường, không đau mỏi.

- Lần thứ bảy: mông và đùi sẽ được nở nang, sức lực tăng cường tối đa.

- Lần thứ tám: toàn thân sẽ cường kiện, dũng mănh.

- Lần thứ chín: sẽ được trường thọ, sống lâu.

- Lần thứ mười: cửa thiên đ́nh sẽ mở rộng nghĩa là người đó có một đời sống sảng khoái, tâm hồn luôn được hân hoan, thơi thới ".

GHI CHÚ:

Thuật dưỡng sinh của phép thai tức - phái thai tức là môn phái dưỡng sinh rất lâu đời ở Trung Quốc - có nói đến vấn đề này: "Nhả ra, thở ra ít hơn khi hít vào th́ khí sẽ tồn tại trong cơ thể. Đó là bí quyết làm cho trẻ măi không già". Nguyên tắc hô hấp áp dụng vào thuật giao hợp cũng vậy thôi bởi v́ hai bên có sự giống nhau. Hô hấp là "ái khí", nghĩa là giữ khí tồn tại lại trong ḿnh. Thuật giao hợp gọi là hành động giữ tinh khí lại trong ḿnh là "bửu tinh ái khí", nghĩa là coi trọng "cái tinh", quư "cái khí" của ḿnh. Nguyên tắc "bửu tinh ái khí" chú trọng ở chỗ giữ sao cho tinh khí của ḿnh càng ít xuất ra càng tốt.

Y học Trung Quốc xưa cho rằng máu là một h́nh dạng khác của tinh khí, nói cách khác khí là sự biến hóa của máu mà thành (người ta thường nói khí huyết). Bảo vệ máu th́ phải baỏ vệ khí. Tinh là h́nh thức cao hơn của máu, do đó xuất tinh đi sẽ làm cho ḿnh mất máu đi. Sẽ bị tổn thọ.

Hấp khí là thu khí mà thải ra ít hoặc không thải ra. Bởi thế khi giao hợp, nam nhân cố kéo dài thời gian và không xuất tinh là đă tuân theo nguyên tắc trường sinh trong thuật pḥng trung v́ đă hấp được cái khí của người nữ mà không tổn cái khí của ḿnh.

Vấn đề quan trọng là: giao hợp mà không xuất tinh th́ có khoái lạc hay không, ông Bành Tổ trả lời là có, ḿnh càng kềm chế th́ càng được khoái lạc.

Giao hợp mà kéo dài không xuất tinh (xúc nhi bất tiết) là để thỏa măn khoái cảm, nhưng nếu luyện được xuất tinh theo ư muốn th́ sẽ hưởng được mười điều lợi như Tố Nữ đă nói ở trên. Những điều Tố Nữ nói, Y học Trung Quốc cũng nói tương tự: " Tiết dục để tồn trữ tinh lực, tăng cường hoạt năng của tinh trùng, luyện tập sức đề kháng và duy tŕ trí lực. Tiết dục có lợi cho cả thân thể và tinh thần".

Lăo Tử nói: "Tri túc vi phú" (biết đủ th́ làm giàu), sách Lễ Kư cũng nói: "Lương nhập vi xuất" (tùy theo sự thu nhập mà chi tiêu, xuất phát). Đem hai câu trên áp dụng vào việc pḥng trung và việc xuất tinh th́ rất đúng. Không biết quư khí, trọng tinh có bao nhiêu cũng trút th́ không thể nào tráng kiện được.

Ông Khang Đức có nói: "Ấu tiểu thời bất giáo, dĩ ngưỡng dục ngă, chân thị bất thạnh" có nghĩa là: " Bất hạnh thay cho ai lúc trẻ không được dạy dỗ nên lớn lên ham mê điều nhục dục. Ham mê buông thả mà không biết kiềm chế đó là tự ḿnh bỏ máu của ḿnh vậy".

Y học Trung Quốc khi nói về hô hấp cũng nói tới khả năng trừ áp huyết cao của hô hấp. Bị bệnh này, dùng phương pháp hít thở thật chậm, thật dài để thông suốt kinh mạch th́ có thể khỏi bệnh.

Phương pháp này do Nhật Bản phát động khởi thủy từ bác sỹ Hát Phu Ba, như là một món thể thao trị liệu, trong đó bệnh nhân làm nhiều cử động hô hấp, càng hô hấp nhiều th́ phổi sẽ mạnh và dưỡng khí vào máu càng nhiều.

Trung Hoa c̣n thuật trừ già nua bằng cách hít thở (hố hấp). Tập thở ra mà bụng ph́nh lên và hít vô bụng xẹp xuống. Điều này nghe th́ khó nhưng thực hiện không khó v́ hít vô th́ hít vào phổi, bụng đương nhiên sẽ xẹp xuống.

Phép dưỡng sinh bằng hô hấp của Trang Tử có câu quan trọng: "Người chân nhân đạt đạo dưỡng sinh, hô hấp tới gót chân, thường nhân chỉ hô hấp tới cổ họng. Hô hấp đúng th́ bảo toàn được thân, như một người đầu bếp khéo dùng dao cắt chặt lâu ngày mà dao vẫn không ṃn ". "Người đầu bếp giỏi cũng phải mỗi năm thay dao một lần, người kém hơn th́ mỗi tháng một lần. Ta cũng dùng dao để cắt da, cắt thịt thế mà đă chín mười năm nay rồi mà con dao dùng từ đó đến nay vẫn c̣n mới toanh ". Đó là câu nói thời danh của Trang Tử áp dụng vào thuật giao hợp tiết khí rất là hữu ích.

Phép Yoga của Ấn Độ có dùng xương sống để hô hấp. Phép này không khác ǵ dùng gót chân để hô hấp của Trang Tử của Trung Hoa. Yoga căn bản là hít thật nhiều khí vào trong bụng. Từ bụng chuyển không khí vào đan điền (lỗ rốn).

Về thuật "xúc nhi bất tiết", giao hợp mà không xuất tinh, sách Ngọc Pḥng chủ yếu có đoạn quan trọng như sau: " Lúc sắp xuất tinh không cử động dương vật nữa, thở ra một hơi thật dài, đồng thời cắn chặt răng lại, ngước đầu lên thật lẹ ngó chung quanh, hít vào một hơi dài để phùng bụng lớn lên, tập trung tinh thần vào việc thở hít này, rồi thót bụng lại đồng thời thả hế hơi trong bụng ra. Luôn ngó mắt chung quanh, kỵ ngó người bạn ngọc đang ở dưới ḿnh ḿnh, hàm răng cắn chặt. Khi trong tai nghe tiếng gió thổi ù ù th́ thót bụng lại".

Phương pháp này c̣n lợi ích cho việc chữa trị các chứng mắt kém và điếc tai, làm cho thị lực được tăng cường và thính lực được phát triển.

Mắt ngó chung quanh là cách thế để phân tán sự chú ư của ta vào ngoại cảnh khỏi phải chú ư vào dục t́nh. Hứng thú lúc đó không bị khơi động, tinh khí do vậy không thể dễ dàng xuất được.

Hô hấp có thể kết hợp với đọc kinh có thể luyện cho khả năng hô hấp kéo dài hơn. Ở Nhật Bản có một chi phái Phật Giáo thực hành phép tu dưỡng sau:

Sáng sớm thức dậy đọc kinh ba mươi phút, mỗi khi đọc hết một đoạn kinh th́ hô hấp và uống một ly nước lạnh. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy tín đồ của giáo phái này:

Đường đại tiện, tiểu tiện rất thông suốt.

Hô hấp rất dài hơi.

Tập trung ư chí dễ dàng.

Tinh thần an tịnh, không biết lo âu hồi hộp.

Tục ngữ Trung Quốc có câu: "Hô hấp thi ích dă" nghĩa là sự hít thở rất có ích lợi. Ở đây chỉ có sự hít thở đúng phương pháp, c̣n sự hít thở b́nh thường của thường nhân th́ chỉ để duy tŕ sự sống thôi, không có ích lợi nào khác.

Cười cũng là một phương pháp hô hấp để tinh thần an tịnh cho nên cười cũng là một trong những phương pháp dưỡng sinh và có tác dụng làm cho con người tươi trẻ. Những người thường hay vui cười th́ thâm tâm được quân b́nh, tinh thần được an định.

Những người Ấn Độ thường hay luyện tiết dục bằng phương pháp đè nén. Họ lấy tay đè một vùng gần niệu đạo, gần chỗ con đường dẫn nước tiểu, tức là vùng dẫn tinh khi tinh khí xuất ra ngoài. Theo họ th́ phương pháp này làm cho tinh khí xuất ra không xuất được mà phải chạy trở vô lại.

Một đặc tính để kiềm chế xuất tinh là giao hợp nhiều lần mà mỗi lần đều với người đẹp trẻ tuổi khác nhau.

Sách "Thiên Kim Phương" là sách nói về các phương pháp áp dụng để t́m hoan lạc trong pḥng trung có nói rằng: "Con gnười trước 30 tuổi th́ khí huyết dồi dào, t́nh dục phong phú, khi quá 30 tuổi khí thế so lại hơi giảm. Lúc này thân thể đă yếu nên khám bệnh để coi ḿnh có bị bệnh hay không để trị v́ để lâu sau này hậu quả sẽ khó lường. Lúc này cũng là lúc luyệïn bí thuật pḥng trung. Phương pháp th́ dễnhưng phương tiện lại khó; đó là mỗi đêm giao hợp với mười người con gái khác nhau và không được xuất tinh. Ăn uống những thức bổ dược (phần cuối sách có nóivề những thức bổ dược này). Luyện phép này trong một năm th́ tự nhiên khí lực và thể lực tăng tiến vô cùng, trí óc lúc này lại minh mẫn".

Tiếp xúc với nhiều người con gái trẻ đẹp là ước vọng từ lậu của con người, nhưng đối với cuộc sống ngày nay th́ không c̣n phù hợp nữa.

Bác sỹ Kim Soai có nhận xét rằng phụ nữ sau khi có hôn nhân vẫn có ước vọng giao hợp với nhiều đàn ông khác nhau. Họ cũng thích sướng khoái và thay đổi như nam giới. Nhưng nam giới cũng như nữ giới nếu chỉ thuần túy đi t́m khoái lạc th́ rất dễ hại thân. Quan niệm cổ điển về t́nh dục của Trung Quốc cho rằng tinh khí là thứ quư trọng của con người, bằng mọi giá ta không thể xuất tinh.

Y học có một câu rất hay: "Người nam trong giai đoạn 20 tuổi, giao hợp nhiều hay ít quyết định suy thoái t́nh dục hay không, vào khoảng 30 tuổi sự hay ho của cách giao hợp quyết định sự thất bại hay không, vào khoảng 40 tuổi th́ khoảng cách giữa hai lần giao hợp quyết định sự thất bại hay không" .

Trung Hoa cũng có câu về sinh lư của phụ nữ: "Tam thập quả phụ bất khả thông", nghĩa là đàn bà góa chồng lâu mà tuổi c̣n trẻ th́ sinh lư không c̣n mạnh mẽ như nam giới nữa. Điều này cho thấy sinh lư của phụ nữ mâu thuẫn với sinh lư của nam nhân.

Sách "Thiên Kim Phương" có nói về sự hiệu dụng của cách chữa bệnh bằng phương pháp tọa thiền và hô hấp thật sâu. Thực hành phương pháp này th́ dầu cho thời gian trôi qua tóc râu cũng không mọc ra dài. Sách cổ có ghi lại chuyện một vị ḥa thượng dùng phương pháp "nội quan" để trị bệnh phổi kết hạch của ḿnh. Thật ra đây chỉ là một phương pháp kết hợp giữa sự toạ thiền và sự hít thở sâu đúng phương pháp mà thôi.

Đời Hán có một cuốn dă sử tựa là "Châu lâm dă sử", chuyện viết về đời của nàng Hạ Cơ là một nhân vật sống vào đời Xuân Thu. Hạ Cơ trong một giấc mơ chiêm bao thấy ḿnh học được phương pháp trẻ măi không già của tiên gia bằng hai phương pháp "Hấp Tinh Đạo Khí" và "Tố Nữ Chiến Thuật". Hai bí quyết này là liên tục không ngừng ngẫm nghĩ hấp thụ tinh khí của nam nhân. Khi được Trần Linh Công ôm ấp ân ái, nàng sử dụng phép "Nội Thị" là một bí thuật khác của pḥng trung mà người đời sau cho là thuật điều tức dựa trên nguyên lư "Xúc nhi bất tiết", nghĩa là giao hợp kềm hăm không cho xuất tinh của phái nữ.

Theo "Ca Xuyên đại nhă thị" th́ cái hạch lư tưởng của một người theo Lạt Ma giáo là đạt đến sự "linh nhục nhất chí " nghĩa là tinh dịch từ phần của bộ phận sinh được dùng ư chí điều khiển theo đường xương sống mà chạy lên đỉnh đầu. Trong quá tŕnh thực hành động tác đôi nam nữ đều phải tập trung tinh thần theo kiểu thiền định sao cho đạt được tŕnh độ không xuất tinh. Phái này lấy việc hăm tinh làm cứu cánh cho sự sung sướng.

Không phải ai cũng cổ vơ sự bế tinh, có rất nhiều người cho "Xúc nhi bất tiết" là có hại cho thân thể. Thật ra đây có thể coi như là sự tiết dục và phương pháp luyện cho giao hợp được dài lâu. Các chương sau của kinh Tố Nữ sẽ đề cập đến số lần xuất tinh cần thiết, nghĩa là kinh Tố Nữ không bảo tuyệt đối không được xuất tinh.

Số lần xuất tinh và các thuốc trị liệu

Hoàng Đế hỏi: "Nguyên tắc giao hợp theo Tố Nữ là ái tinh, thương quư cái tinh khí của ḿnh, mà tránh xuất tinh, vậy thời khi muốn có con th́ phải làm như thế nào?"

Tố Nữ đáp: "Người ta thân thể cường nhược khác nhau, niên tuế cũng trẻ già khác nhau cho nên người ta phải tùy theo khí lực của ḿnh mà giao hợp, không được cưỡng quyết (bắt ép thân thể ḿnh làm quá sức chịu đựng của nó), cương quyết tất tổn hại đến thân. Tốt nhất là:

Ở vào tuổi 15 mà khí lực dồi dào mỗi ngày giao hợp và có thể xuất tinh hai lần, ốm yếu th́ mỗi ngày một lần thôi.

Ở tuổi 20 cũng vậy, không nên nhiều hơn, nghĩa là mạnh mẽ th́ một ngày hai lần, trong ḿnh không được khỏe th́ mỗi ngày một lần.

Ở tuổi 30 mà khỏe mỗi ngày một lần, người ốm yếu th́ hai ngày một lần.

Ở tuổi 40 mà khỏe mạnh th́ ba ngày một lần, người ốm yếu th́ bốn ngày một lần.

Ở tuổi 50 th́ năm ngày một lần nếu khỏe mạnh, ốm yếu th́ mười ngày một lần.

Ở tuổi 60 mà khỏe mạnh th́ cỡ mười ngày một lần, ốm yếu th́ hai mươi ngày một lần.

Ở tuổi 70 mà khỏe mạnh th́ mỗi tháng một lần, ốm yếu th́ nên kiêng cữ không nên xuất tinh".

GHI CHÚ :

Sách "Ngọc Pḥng Bí Kiếp" có ghi như sau:

Người ở tuổi 20 thường 2 ngày giao hợp một lần.

Người ở tuổi 30 thường 3 ngày giao hợp một lần.

Người ở tuổi 40 thường 4 ngày giao hợp một lần.

Người ở tuổi 50 thường 5 ngày giao hợp một lần.

Người ở tuổi 60 th́ không bao giờ nên xuất tinh.

Một chỗ khác của kinh Tố Nữ có ghi:

Người 20 tuổi thường 4 ngày giao hợp một lần.

Người 30 tuổi thường 8 ngày giao hợp một lần.

Người 40 tuổi thường 16 ngày giao hợp một lần.

Người 50 tuổi thường 21 ngày giao hợp một lần.

Người 60 tuổi th́ nên bế tinh không nên xuất tinh nữa. Nhưng là nếu thân thể quá mạnh khỏe, cường tinh th́ một tháng giao hợp một lần vẫn được. Nếu đă đến tuổi này mà c̣ sung sức cũng nên giao hợp, không nên quá kiềm chế. Con người thể lực khác nhau không đều, nếu sung sức mà quá kiềm chế thành ra mắc bệnh u uất, có hại hơn là xuất tinh khi giao hợp.

Ta thấy đoạn này có những con số khác với đoạn trên. Sự khác biệt là do qua các thời đại người ta viết nhiều sách, khắc đi khắc lại mà ra. Đại khái các sách về thuật pḥng trung có: "Ngọc Pḥng Bí Kiếp", "Thiên Kim Phương", "Ngự Nữ Chi Pháp", "Tố Nữ Chi Pháp", các con số nói trên đều tương tự như hai bản trên.

Sách "Dưỡng Danh Huấn" của ông Bố Nguyên Ích Hiên cho rằng một đời người chỉ được phép giao hợp tối đa là 1.800 lần mà thôi. Con số này là căn cứ trên quan điểm của sách Tố Nữ.

Mới đây người Nhật nghiên cứu trên con người thời đại mới th́ thấy rằng con số nói trên khác hơn nhiều. Bác sỹ Kim Soai cho biết trung b́nh một người trải qua 55 tuổi th́ cũng đă trải qua 3.831 lần giao hợp. Tuy nhiên cũng có người cho rằng con số này vẫn quá ít, họ cho rằng khi một người đến 40 tuổi th́ số lần giao hợp của họ đă ngang ngửa với con số do ông Kim Soai đưa ra rồi.

Sự khác biệt của hai con số thật ra không sai và cũng không khó hiểu. Người xưa giải quyết vấn đề theo nguyên lư âm dương, tất cả do âm dương bảo tồn tinh khí (xúc nhi bất tiết), từ đó có một con số về lần giao hợp nhỏ, ít. Người thời nay theo nguyên lư thực tế mà tính, vả lại người thời nay cường tráng hơn người thời xưa, bệnh tật cũng ít hơn do đó số lần giao hợp nhiều hơn. Một đàng thiên về "thể" (cái bản thể, căn cơ của giao hợp); một đàng thiên về "nhục" (cái thực tế, ước muốn của vấn đề giao hợp) cho nên lư lẽ của bên là rất khác biệt nhau.

Một người Nhật tên là "Tiểu Lâm Nhất Trà" ghi trong nhật kư của ḿnh về chuyện pḥng sự của ông ta v́ ông ta cưới vợ vào năm 52 tuổi.

...8/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 5 lần.

...12/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...15/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...16/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...17/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...18/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...19/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...20/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...21/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

...22/8... Cúc Nữ về nhà, trời tốt, tối giao hợp 3 lần.

Cúc Nữ là vợ của "Tiểu Lâm Nhất Trà" , nhật kư này ghi lúc ông 54 tuổi, nên nhớ lúc đó Cúc Nữ 28 tuổi.

Nhật Kư cũng ghi lại rằng Tiểu Lâm Nhất Trà bị vô năng về t́nh dục (bất lực), nên ông dùng một thảo dược trợ lực. Thảo dược đó gọi là "Dâm dương thảo" , thứ này có hiệu lực thúc đẩy, tăng cường tính dục và tạo ra tinh trùng cho nam nhân. Về tác dụng của thứ thảo dược này ở Trung Quốc người ta cũng đă biết từ lâu cho nên trong dân gian có câu tục ngữ: "kể cả con dê ăn phải thứ thảo dược này cũng lập tức muốn giao hợp ngay" ("Liên liên khuất liễu dâm dương thảo, dă hội nhiệt trung ư giao tiếp"). Các kinh nghiệm về thứ cây này cho biết tinh dịch sẽ biến thành đặc nếu người nào được ăn loại cây này. Cho thỏ, chuột ăn dâm dương thảo th́ chúng hăng hái sinh hoạt tính dục không biết mệt mỏi đêm ngày. Ngày xưa thứ cỏ này là thuốc kích dâm hạng nhất cho các bậc vua chúa.

Ở Nhật Bản, người Nhật Bản đă biết được dược tính của loại cây này từ lâu, họ chế thành một loại thuốc trợ dâm rất thông dụng.

Ông Thái Nhất Phan kể trong sách của ông về một chuyện người chăn dê già một hôm nhận thấy trong bầy dê có một con dê đực làm t́nh cả ngày hàng trăm lần, theo dơi nó người chăn dê thấy nó ăn một loại cỏ đặc biệt mà mấy co dê khác không ăn. Ông ta mới ăn thử kết quả là xuân t́nh ông trở nên phơi phới và đang yếu về tính dục ông này bỗng trở thành một người mạnh mẽ, chơi không biết mệt.

Tiểu Lâm Thất Trà dùng dâm dương thảo để trị tính vô năng của ḿnh, nhưng ông cũng cho biết rằng dâm dương thảo cũng là thần dược để trị bệnh già yếu suy nhược. V́ tính chất đặc biệt của nó loại thảo dược này được dùng để chế thuốc rượu đặc biệt dùng tăng cường tính năng của người uống thuốc gọi là "Tiên Linh T́ Tửu". Đây là loại rượu thuốc căn bản gồm dâm dương thảo nên c̣n được gọi là "Dâm Dương Tửu".

Toa thuốc cường tinh cường tráng của Thái Nhất Phan bao gồm:

- Dâm dương thảo: 20mgr.

- Phục Linh: 10mgr.

- Táo: 3 trái.

- Nước: 3 chén rưỡi.

Tất cả nấu trên lửa riu riu cho tới khi c̣n lại một chén. Những thứ thuốc khác một gốc như kích dâm, thúc dâm, tiên linh tỳ tửu đều căn bản trên toa thuốc của Thái Nhất Phan với chút ít gia giảm.

Tiên Linh Tỳ Tửu:

Ba thứ dược liệu trên mỗi thứ được tăng liều lượng lên gấp ba. Dùng lửa riu riu chưng cách thuỷ cho tới khi ráo nước rồi đem phơi khô. Đổ nước thêm vô rồi đem chưng như trước, đoạn đem ra phơi nắng như trước. làm như vậy tới lần thứ 3 th́ được một chất khô quánh. Đem chất này ngâm trong rượu rồi thêm độ 100mgr mật ong rồi niêm phong lại, cất vào tối độ một tháng th́ ta có loại tiên tửu nói trên.

 

(xem tiếp part 4)

click on photo để trở lại trang List Sách Truyện >>