[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

 

 

 

 


 

 

 

 

Hát cho Biển Đông và quyền con người (Vũ Hoàng, phóng viên RFA)

&&&

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

Ghi chú về tác giả:

ROBERT KAGAN là một thành viên cao cấp ở Brookings Institution và một nhà b́nh luận chuyên mục cho tờ The Washington Post. Ông cũng là tác giả của The Return of History and the End of Dreams, Dangerous Nation, Of Paradise và Power, and A Twilight Struggle. Kagan đă phục vụ tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ 1984 đến 1988.

Đây là cuốn sách mỏng bàn về trật tự thế giới hiện hành từ sau Chiến tranh Thế giới II cho đến nay, mà tác giả gọi là trật tự thế giới Mỹ. Trật tự thế giới Mỹ được đặc trưng bởi một số lượng chưa từng có các quốc gia dân chủ; một sự thịnh vượng toàn cầu lớn hơn bao giờ hết, mặc dù có cuộc khủng hoảng đang diễn ra; và một nền ḥa b́nh dài giữa các cường quốc lớn phản ánh những nguyên tắc và kỳ vọng của Mỹ, được xây dựng và duy tŕ bởi sức mạnh Mỹ trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế và quân sự. Với sự trỗi dậy của Trung Quốc, với khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế hiện nay, với sự tŕ trệ của nền kinh tế Mỹ và Châu Âu. Nhiều câu hỏi được đặt ra. Chẳng hạn như, có phải Mỹ đang trong t́nh trạng suy tàn, như nhiều người hiện đang tin như thế? Hay liệu có phải người Mỹ đang theo đuổi cú tự sát liều lĩnh của một siêu cường do sợ hăi không đúng chỗ về sự suy giảm quyền lực của chính bản thân họ? Liệu Trung Quốc có thể trở thành siêu cường thay thế Mỹ trong tương lai gần?

DẪN NHẬP

     TRONG CUỐN SÁCH kinh điển của Frank Capra, cuốn It’s a Wonderful Life – Một Cuộc sống Tuyệt vời, nhân vật George Bailey có cơ hội để quan sát xem thế giới của ông giống cái ǵ giả như ông đă chẳng bao giờ sinh ra. Thật thú vị nếu chúng ta có thể làm cùng thứ đối với Hoa Kỳ, để quan sát xem thế giới trông ra sao giả như Hoa Kỳ đă không là cường quốc vượt trội, định h́nh nó trong sáu thập kỷ qua, và để tưởng tượng xem thế giới có thể trông thế nào giả như nếu Mỹ suy tàn, như rất nhiều người ngày nay tiên đoán.

Chúng ta coi nhiều dáng vẻ của thế giới ngày nay – quyền tự do phổ biến, sự thịnh vượng toàn cầu chưa từng có (bất chấp ngay cả cuộc khủng hoảng kinh tế hiện thời), và sự không có chiến tranh giữa các cường quốc – là dĩ nhiên. Năm 1941 đă chỉ có khoảng chục nền dân chủ trên thế giới. Ngày nay có hơn một trăm. Suốt thời kỳ bốn thế kỷ trước năm 1950, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu đă tăng ít hơn 1 phần trăm một năm. Từ 1950, nó đă tăng trung b́nh 4 phần trăm một năm, và hàng tỷ người đă thoát khỏi nghèo nàn. Nửa đầu thế kỷ hai mươi đă chứng kiến hai cuộc chiến tranh tàn phá nhất trong lịch sử loài người, c̣n trong các thế kỷ trước chiến tranh đă hầu như liên tục giữa các cường quốc. Nhưng trong sáu mươi năm qua đă không có cường quốc nào tiến hành chiến tranh với nhau. Thời đại của chúng ta được biết đến nhiều nhất v́ một cuộc chiến tranh đă chẳng bao giờ xảy ra, giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.1

Tất nhiên, có rất nhiều điều sai trái với thế giới của chúng ta, nhưng từ góc nh́n hàng ngàn năm của lịch sử thành văn, trong đó chiến tranh, chế độ chuyên quyền, và nghèo khổ đă là chuẩn, c̣n ḥa b́nh, chế độ dân chủ, và thịnh vượng là những ngoại lệ hiếm hoi, th́ thời đại chúng ta là thời hoàng kim.

Một số người tin rằng đấy là kết quả không thể tránh được của tiến bộ con người, một sự kết hợp của sự tiến bộ khoa học và công nghệ, một nền kinh tế toàn cầu gia tăng, sự củng cố các định chế quốc tế, các “chuẩn mực” tiến hóa của ứng xử quốc tế, và sự thắng lợi từ từ nhưng chắc chắn của nền dân chủ khai phóng đối với các h́nh thức cai trị khác – các lực lượng thay đổi vượt quá các hành động của con người và các quốc gia.

Nhưng cũng có khả năng khác. Có lẽ sự tiến bộ mà chúng ta hưởng đă không phải là một sự tiến hóa không thể tránh khỏi của loài người, mà đúng hơn là sản phẩm của một tập duy nhất và có lẽ thoáng qua của những hoàn cảnh: một sự sắp xếp cá biệt của quyền lực trong hệ thống quốc tế mà sắp xếp đó ủng hộ một thế giới quan hơn các thế giới quan khác. Có thể, nếu giả như các điều kiện đó thay đổi, nếu giả như quyền lực đă chuyển dịch, th́ các đặc trưng của thế giới cũng thay đổi. Có lẽ nền dân chủ đă lan ra hơn một trăm quốc gia từ năm 1950 đă không đơn giản là bởi v́ nhân dân đă khao khát dân chủ, mà bởi v́ quốc gia hùng mạnh nhất thế giới từ năm 1950 đă là một nền dân chủ. Có lẽ sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu tuyệt vời của sáu thập kỷ vừa qua phản ánh một trật tự kinh tế được định h́nh bởi nền kinh tế thị trường tự do dẫn đầu của thế giới. Có lẽ thời đại ḥa b́nh mà chúng ta biết có liên quan ǵ đó với quyền lực khổng lồ do một quốc gia nắm giữ.

Lịch sử chứng tỏ rằng các trật tự thế giới, kể cả trật tự của chúng ta, là tạm thời. Chúng nổi lên và sụp đổ. Và các định chế mà chúng dựng lên, các niềm tin hướng dẫn chúng, và “các chuẩn mực” định h́nh các mối quan hệ giữa các quốc gia bên trong chúng – những thứ đó cũng sụp đổ. Mọi trật tự quốc tế trong lịch sử đều phản ánh các niềm tin và lợi ích của các cường quốc mạnh nhất của nó, và mọi trật tự quốc tế đều thay đổi khi quyền lực chuyển sang cho các quốc gia khác với các niềm tin và lợi ích khác. Trong vài trường hợp, trật tự thế giới thịnh hành đă đơn giản suy sụp thành vô trật tự. Khi Đế chế La Mă sụp đổ, trật tự do nó nâng đỡ cũng sụp đổ theo. Không chỉ chính quyền và luật La Mă, mà toàn bộ hệ thống kinh tế trải từ Bắc Âu đến Bắc Phi đă bị phá vỡ và cần hàng thế kỷ để xây dựng lại. Văn hóa, nghệ thuật, thậm chí tiến bộ khoa học và công nghệ, đă bị đẩy lùi hàng thế kỷ. Người ta đă đánh mất công thức làm xi măng.

Chúng ta đă thấy sự sụp đổ tương tự của trật tự thế giới trong thời đại của chính chúng ta. Thế giới mà chúng ta biết ngày nay đă được dựng lên giữa sự hỗn độn và sự tàn phá theo sau Chiến tranh Thế giới II và sự sụp đổ của trật tự do Châu Âu chế ngự mà đă tiến hóa trong bốn thế kỷ. Trật tự đó đă c̣n xa mới hoàn hảo: nó đă gây ra nhiều cuộc chiến tranh, một chủ nghĩa đế quốc hung hăng, và sự áp bức rộng răi các chủng tộc da màu, nhưng nó cũng đă tạo ra một kỷ nguyên của những tiến bộ con người vĩ đại. Vào cuối thế kỷ thứ mười chín người Anh kiểm soát các đại dương và sự cân bằng của các cường quốc trên lục địa Châu Âu cùng nhau đă tạo ra sự an ninh và ổn định tương đối để cho phép sự gia tăng về thịnh vượng, sự mở rộng khiêm tốn dẫu mong manh của các quyền tự do cá nhân, và một thế giới liên kết chặt chẽ hơn bởi các cuộc cách mạng về thương mại và truyền tin mà ngày nay chúng ta gọi là toàn cầu hóa. Nó đă giữ ḥa b́nh giữa các cường quốc trong gần bốn thập kỷ sau các cuộc Chiến tranh Napoleonic, và một thời kỳ bốn thập kỷ khác sau các cuộc chiến tranh Thống nhất Đức. Nó đă thành công đến mức nhiều người đă kết luận vào buổi b́nh minh của thế kỷ hai mươi rằng nhân loại đă đạt đỉnh điểm của sự tiến hóa và rằng chiến tranh lớn và chính thể chuyên chế đă trở nên lỗi thời.

Thế nhưng, với sự nổ ra của Chiến tranh Thế giới I, thời đại ḥa b́nh ổn định và thăng tiến chủ nghĩa khai phóng – của nền văn minh Âu châu đang đạt đỉnh điểm của nó – đă sụp đổ thành một thời kỳ của siêu–chủ nghĩa dân tộc, chế độ chuyên quyền, và tai họa kinh tế. Sự mở rộng hứa hẹn một thời của dân chủ và chủ nghĩa khai phóng đă ngừng lại, và rồi đảo chiều, để lại vài nền dân chủ bị áp đảo về số lượng và bị bao vây, sống bồn chồn lo lắng dưới cái bóng của các láng giềng phát xít và toàn trị mới của họ. Đột ngột, đó đă là một thế giới đầy các lănh tụ ăn cướp ngồi trên đỉnh các chính quyền cướp bóc. Sự sụp đổ của các trật tự Anh và Âu châu đă không tạo ra một thời đại đen tối mới – tuy, nếu nước Đức Nazi và nước Nhật đế quốc giả như đă thắng, th́ đă có thể – nhưng tai biến mà nó tạo ra, theo cách riêng của nó, đă không ít tàn phá khủng khiếp hơn.

Sự chấm dứt của trật tự Mỹ hiện thời sẽ có những hậu quả ít thảm khốc hơn? Đó là câu hỏi đáng hỏi bây giờ, khi rất nhiều người tính đến triển vọng Mỹ suy tàn. Một con số đáng ngạc nhiên của các trí thức, chính trị gia, và nhà quyết định chính sách Mỹ đón chào triển vọng đó với sự thanh thản. Có một cảm giác chung rằng sự kết thúc của thời đại của sự ưu việt Mỹ không nhất thiết có nghĩa là sự kết thúc của trật tự quốc tế khai phóng hiện thời. Sự kỳ vọng, nếu không phải giả thiết, là, các tính chất tốt của trật tự đó – nền dân chủ, sự thịnh vượng, ḥa b́nh giữa các cường quốc – có thể vượt quá sự suy tàn của quyền lực và ảnh hưởng Mỹ. Ngay cả với sức mạnh Mỹ bị giảm đi, nhà khoa học chính trị G. John Ikenberry viết, “các nền tảng cơ sở của trật tự quốc tế khai phóng sẽ tồn tại và phát triển mạnh”.2 Và có một quan điểm đi cùng rằng sự suy tàn của Mỹ trong mọi trường hợp đă là một sự thực của cuộc sống rồi, cho nên bất luận nó là điều tốt hay xấu, chúng ta chẳng có thể làm ǵ về chuyện đó.

Tương phản với cái phông này, đáng khảo sát tỉ mỉ xem trật tự thế giới hiện hành phụ thuộc ở mức độ nào vào quyền lực Mỹ và các tính chất đơn nhất của nó. Nó có nghĩa là ǵ đối với tương lai nếu giả như trật tự quốc tế không c̣n được định h́nh chủ yếu bởi Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh có ư thức giống nhau? Ai hay cái ǵ sẽ thế chỗ Mỹ? Và có một tập hợp khác của các câu hỏi quan trọng ngang thế: Có thật Mỹ đang suy tàn? Hay những người Mỹ ở trong mối nguy hiểm về việc tự sát trước của một siêu cường v́ sự sợ hăi đặt không đúng chỗ về quyền lực đang suy tàn của nó?

GẶP GEORGE BAILEY:

MỸ TRONG “TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỸ” LÀ SAO?

     V̀ SAO LẠI GỌI NÓ là “trật tự thế giới Mỹ”? Hoa Kỳ chắc chắn đă không định h́nh môi trường quốc tế một ḿnh. Nhiều dân tộc khác, cũng như các lực lượng lịch sử rộng lớn – sự tiến hóa của khoa học và công nghệ, những biến động về tính sẵn có của các tài nguyên thiên nhiên, các xu hướng kinh tế dài hạn, sự tăng dân số – cũng đă tạo ra thế giới ngày nay. Các dân tộc ở mọi lục địa đă làm việc và chịu đựng để đẩy ḿnh ra khỏi nghèo nàn và sự tàn phá nhằm làm cho cuộc sống của bản thân họ và con cái họ tốt hơn. Thế giới là quá lớn để được định h́nh bởi riêng bất cứ một quốc gia nào. Tuy nhiên, trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào, các quốc gia mạnh nhất có để lại dấu ấn riêng của ḿnh lên trật tự thế giới, giá mà chỉ v́ trọng lượng tương đối của chúng trong hệ thống. Chúng xác lập nhiều “chuẩn mực” và quy tắc ứng xử quốc tế. Chúng định h́nh bản chất của các mối quan hệ kinh tế. Chúng thậm chí có thể ảnh hưởng đến các lĩnh vực tư tưởng và niềm tin, kể cả cách người dân thờ phượng các thần của ḿnh và các h́nh thái chính quyền họ coi là hợp pháp. Suốt nhiều thế kỷ quyền lực hơn hẳn của Trung Quốc đă định h́nh cách mà hàng triệu người khắp Châu Á suy nghĩ, nói năng, thờ phượng, vẽ, và tiến hành thương mại của họ. Trong thế kỷ mười chín, các cường quốc Âu châu đă áp đặt các tiêu chuẩn ứng xử quốc tế và quốc nội không chỉ cho những người Âu châu, mà cho cả hàng triệu người khắp Châu Phi, Châu Á, và Châu Mỹ Latin. Đă có một trật tự Ai Cập, một trật tự La Mă, một trật tự Hy Lạp, một trật tự Islamic, một trật tự Mongul, một trật tự Ottoman, và nhiều trật tự khác, và không nghi ngờ ǵ các sử gia sẽ xem giai đoạn lịch sử từ sau Chiến tranh Thế giới II đến một thời điểm nào đó c̣n chưa xác định là một trật tự Mỹ.

Thế nhưng nó cũng đă là một trật tự Mỹ theo một nghĩa đặc thù hơn. Không chỉ rằng Hoa Kỳ đă là cường quốc có ảnh hưởng nhất trong hệ thống quốc tế. Các nét đặc trưng quan trọng nhất của thế giới ngày nay – sự lan rộng của dân chủ, sự thịnh vượng, ḥa b́nh kéo dài giữa các cường quốc – đă phụ thuộc trực tiếp và gián tiếp vào sức mạnh và ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Không cường quốc nào khác đă có thể hay đă ảnh hưởng đến thế giới theo cách mà những người Mỹ đă ảnh hưởng, bởi v́ không quốc gia khác nào có chung, hay đă từng có chung, sự kết hợp đặc biệt của họ về các tính chất này.

Một vài trong số các tính chất quan trọng này là hiển nhiên. Hoàn cảnh địa lư độc nhất của Mỹ, hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa của nó, h́nh thái chính quyền dân chủ của nó, và sức mạnh quân sự khổng lồ của nó cùng nhau đă định h́nh một loại đặc thù của trật tự quốc tế, mà trật tự ấy hẳn sẽ trông rất khác giả như một quốc gia khác với các đặc trưng khác đă có mức ảnh hưởng tương tự.

Không dễ nắm bắt, nhưng không kém quan trọng để hiểu bản chất của trật tự thế giới Mỹ, là đặc tính phức hợp của dân tộc Mỹ. Đấy không phải là bài hát ca tụng đơn giản về các đức hạnh siêu việt của những người Mỹ. Một số người miêu tả những người Mỹ như các nhà xây dựng nh́n xa trông rộng của các định chế quốc tế và những kết cấu của trật tự khai phóng, như “các nhà vận hành” và “các nhà quản lư” chín chắn của các hệ thống toàn cầu bao la.3

Nhưng ít người Mỹ, và ít người ngoài Mỹ, công nhận bức chân dung này. Trong hầu hết các khía cạnh, những người Mỹ giống bất cứ dân tộc khác nào, với một sự pha trộn của tính ích kỷ và tính hào phóng. Nhiều hơn hầu hết, họ là những người có những xung động mâu thuẫn và cách nh́n nước đôi nhất về vai tṛ, nếu có, mà họ phải đóng trên thế giới.

Họ là những người có đầy các huyền thoại dân tộc mạnh, mà chúng vừa tạo cảm hứng cho, vừa làm lạc lối họ. Bắt đầu với sự thực rằng một trong số các dân tộc hùng mạnh, ảnh hưởng và bành trướng nhất trong lịch sử vẫn nghĩ về ḿnh như hờ hững, thụ động, tự kiềm chế, và nói chung thiên về chăm chú đến chuyện riêng của họ. Trong ít hơn hai thế kỷ, những người Mỹ đă biến đổi quốc gia của họ từ một mảnh thuộc địa bám vào một miền duyên hải thành một siêu cường bao quanh trái đất với sức mạnh và ảnh hưởng không ai sánh kịp trong lịch sử. Thế mà để nghe người Mỹ nói, họ là dân tộc kiểu Greta Garbo: họ chỉ muốn được để yên một ḿnh. Trong huyền thoại dân tộc của họ, sự chính phục dài hai thế kỷ của lục địa Bắc Mỹ, một vùng nơi những người Tây Ban Nha, Pháp, Nga, cũng như toàn bộ ḍng giống của những người bản địa đă sống, đă không phải là một sự xâm lấn mà là sự định cư yên b́nh của vùng biên cương không có người ở. Những người Mỹ đă không đi “ra nước ngoài t́m những con quái vật để tiêu diệt” là cách nói thường được trích dẫn của John Quincy Adams. Nếu ai đó chỉ ra cho họ rằng, quả thực, họ đă thường làm đúng điều đó, th́ họ miêu tả ḿnh như “các sheriff * bất đắc dĩ”, gác chân đi gầy ống lên bàn, đọc báo cho đến khi bọn khốn nào đó vào thị trấn và buộc họ lôi súng trường khỏi giá, dẫu là bọn đế quốc Nhật, Nazi, cộng sản Soviet, hay jihadis Hồi giáo. “Hợp chủng Quốc Mỹ đă chẳng bao giờ bắt đầu chiến tranh bởi v́ chúng ta muốn”, một chính trị gia nổi tiếng đă nói vài năm trước. “Chúng ta chỉ bắt đầu chiến tranh bởi v́ chúng ta buộc phải”.4

* sheriff là cảnh sát trưởng (được bầu) ở quận

Nhưng sự tự nhận thức này, dù thành thật, chẳng có quan hệ ǵ với thực tế. Từ cuối thế kỷ mười chín, khi Hoa Kỳ trở thành một cường quốc thế giới, những người Mỹ đă sử dụng vũ lực cả chục lần, và hiếm khi bởi v́ họ đă chẳng có lựa chọn nào.5 Họ đă gửi quân đến Mexico và Trung Mỹ để hạ bệ các nhà lănh đạo khó chịu; họ đă đánh những người Tây Ban Nha ở Cuba và những du kích có đầu óc độc lập ở Phillippine; họ đă chiến đấu với các lực lượng chống phương Tây ở Trung Quốc và những người cộng sản ở Việt Nam và Triều Tiên; họ đă gửi hàng triệu quân đến Châu Âu, hai lần; họ đă chiến đấu với các nhà độc tài và quân jihadis ở Trung Đông, Trung Á, và Châu Phi. Và họ đă làm vậy v́ nhiều lư do: để bảo vệ chính họ khỏi các mối đe dọa xa, để duy tŕ các lợi ích kinh tế, để bảo vệ người dân khỏi sự tàn sát, để chống sự xâm lược, để dẹp chính thể chuyên chế, để ủng hộ dân chủ. Vượt xa bất cứ dân tộc dân chủ khác nào trên thế giới ngày nay, những người Mỹ coi chiến tranh như một công cụ hợp pháp, thậm chí cốt yếu, của chính sách đối ngoại.6 Ít quốc gia hiện đại, và không nền dân chủ hiện đại nào lại tôn sùng các anh hùng quân đội, cả quá khứ và hiện tại, của họ hơn (người Mỹ). Nhưng mỗi lần bắt đầu chiến tranh, những người Mỹ lại hứa với ḿnh rằng họ sẽ chẳng bao giờ làm việc đó lần nữa.

Thậm chí họ c̣n thể hiện tính nước đôi về sự nghiệp dân chủ, mà họ đă luôn luôn đồng nhất  ḿnh  một  cách mật  thiết  với. Những  người Mỹ,  ngay cả trong thời của Woodrow Willson, đă chẳng bao giờ có một kế hoạch tổng thể để cải biến thế giới theo quan niệm của họ. Họ thường phớt lờ các nhà độc tài giữa bọn họ, liên minh với chúng, giúp đỡ chúng, và kinh doanh với chúng. Họ không là các nhà truyền giáo. Nhưng họ cũng chẳng có khả năng thoát khỏi bản sắc dân chủ của họ, lương tâm dân chủ của họ, và niềm tin chắc của họ rằng sự nghiệp đặc biệt của họ, như Ben Franklin đă nói, là “sự nghiệp của toàn nhân loại”. Để là một người Mỹ, là đi tin vào và cam kết với cái mà những người Mỹ, và chỉ những người Mỹ, thích gọi là “cách sống của chúng ta”. V́ họ tin các nguyên tắc sáng lập của họ là phổ quát, họ đo tất cả những người khác theo cùng tiêu chuẩn cứng nhắc. Quan điểm hết sức mang ư thức hệ này về thế giới bảo họ rằng tất cả các chính phủ không dân chủ là không hợp pháp một cách cố hữu và v́ thế là tạm thời. Ngay cả John Quincy Adams, trong cùng bài phát biểu mà ở đó ông cảnh báo chống lại việc đi t́m quái vật để tiêu diệt, ông đă thúc giục người dân Châu Âu noi theo tấm gương Mỹ và tiến hành các cuộc cách mạng chống lại các chế độ quân chủ già cỗi hàng thế kỷ: “Bắt đầu đi và làm giống như vậy!”

Thường những người Mỹ đă làm nhiều hơn việc hô hào. Họ đă đi ra ngoài để thủ tiêu những quái vật, và thường quái vật bị bất ngờ lắm. Một thế kỷ trước đă là José Santos Zelaya và  Victoriano  Huerta.  Những  năm gần  đây đă  là  Manuel  Noriega,  Slobodan  Milosevic, Mullah Omar, Saddam Hussein, và Muammar Qaddafi, những người mà sự cai trị của họ, và trong một vài trường hợp cuộc đời của họ, đă chấm dứt với sự giúp đỡ của lực lượng Mỹ. Thế mà sau khi lao vào hành động chống các nhà độc tài này, những người Mỹ lại thường bị phiền muộn bởi sự hoài nghi. Họ bực bội về các chi phí, cả vật chất lẫn đạo đức. Các cuộc chiến tranh là tốn kém, và sự chiếm đóng thậm chí c̣n tốn kém hơn. Họ đă lặp đi lặp lại tái phát hiện ra t́nh thế khó xử đạo đức không thể tránh khỏi về sử dụng sức mạnh. Giải phóng một dân tộc đ̣i hỏi cùng vũ lực tàn bạo như chính phục họ. Thậm chí các cuộc chiến tranh hợp đạo đức có những hệ quả trái đạo đức. Chẳng dân tộc nào hay quốc gia nào có thể sử dụng các công cụ chiến tranh và áp bức mà lại hy vọng giữ cho bàn tay ḿnh sạch.

Những người Mỹ đă chẳng bao giờ yên tâm với những sự thật tàn bạo này của cuộc sống. Ư thức hệ sáng lập của họ chứa một sự căng thẳng không thể giải quyết nổi giữa chủ nghĩa phổ quát, niềm tin rằng mỗi con người phải được phép thực hiện các quyền cá nhân của ḿnh, và chủ nghĩa cá nhân, niềm tin rằng giữa các quyền có quyền được yên (không dính vào). Điều này đă khiến họ trở nên nước đôi và hoài nghi về quyền lực, ngay cả quyền lực của chính họ, và tính nước đôi này thường gây tê liệt. Ngay sau khi họ xâm lược và chiếm đóng một nước họ bắt đầu t́m cách ra. Các nhà phê b́nh đă chỉ ra họ kém Đế chế Anh đến thế nào về khía cạnh này, v́ hàng thế kỷ người Anh đă có ít, nếu có chút nào, sự day dứt đạo đức về cai trị những người khác. Những người Anh đă tin rằng họ có nghề cai trị. Họ đă duy tŕ lực lượng đế quốc chuyên nghiệp và bộ thuộc địa thường trực. Những người Mỹ có thể là “bọn đế quốc” trong con mắt của nhiều người, nhưng nếu như thế, họ là những kẻ đế quốc bất đắc dĩ, bị lương tâm cắn rứt, bị phân tâm, không tha thiết. Họ đă không muốn các thuộc địa, ngay cả những nơi họ chiếm và giữ hàng thập kỷ. Họ đă không có những cán bộ được đào tạo để tái thiết và quản lư các quốc gia bị họ xâm lược và chiếm đóng. Để cho họ những khả năng như vậy là ngang với việc thừa nhận rằng họ thực sự can thiệp và chiếm đóng nước ngoài. Những người Mỹ sẽ đóng quân ở nước ngoài hàng thập kỷ, miễn là đừng ai bảo họ trước họ nên làm ǵ.7 Nhưng họ chẳng bao giờ coi ḿnh là nhiều hơn người dính líu tạm thời đến việc quản lư công việc của người khác, ngay cả khi họ giữ quân đội ở xứ nước ngoài nào đó suốt nửa thế kỷ hay dài hơn.

Căn cứ vào tất cả những thứ này, hầu như không ngạc nhiên rằng những người Mỹ đă luôn nước đôi về vai tṛ của họ như nhà lănh đạo toàn cầu. Khi lần đầu bị thách thức để lĩnh trách nhiệm đó sau Chiến tranh Thế giới I, đa số những người Mỹ đă chùn lại. Chỉ sau Chiến tranh Thế giới II, với sự xấu hổ và nghi ngại nào đó v́ sự lừng khừng toàn cầu của họ trong các năm 1930, họ mới miễn cưỡng chấp nhận phần không thông thường của trách nhiệm đối với t́nh trạng của thế giới. Nhưng đó đă là một gánh nặng gây hoảng sợ và, thoạt nh́n, khó chịu, được gánh vác không phải từ ḷng hào hiệp mà chỉ như một phản ứng với một mối đe dọa cảm thấy từ Liên Xô. Henry Truman đă chứng minh nhiều khi ông tuyên bố đó “là trách nhiệm kinh khủng nhất mà bất cứ quốc gia nào từng đối mặt”.8

Thế nhưng, mặc dù tất cả những mối e ngại của họ, hầu hết những người Mỹ cũng bày tỏ một mức độ thỏa măn về vai tṛ đặc biệt của họ. Trong những phút giải lao ở mỗi trận đấu trên Sân vận động Yankee, những người hâm mộ đứng dậy và dành “một phút cầu nguyện yên lặng cho tất cả những đứa con của tổ quốc đóng quân khắp thế giới” đang bảo vệ tự do và “cách sống của chúng ta”. Một cử chỉ để tỏ ḷng tôn kính những người đang làm nghĩa vụ, đúng, nhưng với một ánh mắt tự hào không thể hiểu lầm được về vai tṛ của quốc gia trên “khắp thế giới”.

“Chúng ta là những người Mỹ: phần của cái ǵ đó lớn hơn bản thân chúng ta”, George H. W. Bush đă tuyên bố trước Chiến tranh Vùng Vịnh Thứ nhất. “Suốt hai thế kỷ chúng ta đă làm xong công việc khó khăn của tự do”. Thậm chí ngày nay, các tổng thống và các chính trị gia nói về “người lănh đạo thế giới tự do” (Barack Obama), về “quốc gia không thể thiếu được” (Madeleine Albright) mà “thế giới tính đến” cho “sự lănh đạo toàn cầu” (Hillary Clinton). Tất nhiên, ngay sau khi các từ này được phát ra, niềm tự hào nhạt phai đi và nảy sinh những mối lo ngại, th́ cũng chính các nhà lănh đạo này bắt đầu nói về nhu cầu phải tập trung vào “việc xây dựng quốc gia ở trong nước”.

Trong chính sách đối ngoại, những người Mỹ bị giằng kéo đến điểm tâm thần phân liệt. Họ miễn cưỡng, rồi táo bạo; ngủ khi đang gác, rồi mau chóng nắm lấy c̣ súng; hờ hững, rồi bị ám ảnh, rồi lại thờ ơ. Họ hành động theo một ư thức trách nhiệm và rồi bực bội và sợ gánh nặng trách nhiệm mà họ đă gánh vác. Tác động của họ lên thế giới, không ngạc nhiên, thường là ngược với cái họ dự định. Những người nói rằng họ muốn ổn định trên thế giới, nhưng họ thường là những kẻ gây bất ổn lớn nhất. Họ ca tụng đức hạnh của các luật và các định chế quốc tế, nhưng rồi lại vi phạm và bỏ qua chúng sau khi suy đi tính lại. Họ là cường quốc cách mạng, nhưng nghĩ ḿnh là cường quốc [giữ] nguyên trạng. Họ muốn được để yên một ḿnh, nhưng có vẻ lại không thể để bất kỳ ai khác yên một ḿnh. Họ liên tục làm thế giới ngạc nhiên với ứng xử của họ, nhưng không nhiều đến mức như họ liên tục làm chính họ ngạc nhiên.

Khi Winston Churchill nhận xét rằng luôn luôn có thể tính đến những người Mỹ để làm những việc đúng, nhưng chỉ sau khi đă vét cạn tất cả các khả năng lựa chọn khác, đó là một lời khen thuộc loại mỉa mai, châm biếm. Trong suốt diễn tiến của nửa đầu thế kỷ hai mươi, ông đă thấy họ thử làm những việc sai nhiều lần. Ông đă thấy họ đứng ngoài Chiến tranh Thế giới I cho đến khi hầu như đă quá muộn để ngăn chặn chiến thắng của Đức. Trong các năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ông đă thấy họ từ chối tham gia Hội Quốc Liên và rồi đă phải lo âu chờ đợi họ từ bỏ sự trung lập và dồn sức mạnh của họ chống lại Hitler, việc mà họ chỉ làm sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công và chỉ khi đă hầu như lại quá muộn một lần nữa. Buổi đầu của Chiến tranh Lạnh ông đă thấy họ chú ư không đủ đến mối đe dọa của Liên Xô; rồi ông thấy họ không nhân nhượng một cách quá đáng. Ông đă biết những người Mỹ khi họ “ch́m trong tính ích kỷ”, thế nhưng ông đă kinh ngạc trước “ḷng vị tha của Mỹ, sự không vụ lợi cao thượng” của nó. Ông đă so sánh Hoa Kỳ với “nồi hơi khổng lồ” nào đó, yên lặng và lạnh cho đến khi “lửa được nhóm dưới nó”, và rồi “không có giới hạn nào đối với sức mạnh mà nó có thể tạo ra”.9 Trên hết, ông đă biết những người Mỹ là những con người, không phải ma quỷ cũng chẳng phải các thiên thần.

ĐÓ LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG để nhớ. Nó là một quốc gia bao gồm những con người định h́nh thế giới, không phải chúa hay các thần thánh. Đó là v́ sao trật tự hiện hành, được định h́nh bởi những người Mỹ, với tất cả những tính khác thường và khiếm khuyết của nó, thường một cách vô thức lại càng phi thường hơn. Bậc thầy, nhà đạo diễn vĩ đại của sự thống nhất Đức, Otto von Bismarck được cho là đă nói rằng Chúa để ư đợi chờ những người say rượu, những kẻ ngu xuẩn, và Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ. Có lẽ điều đó mở rộng ra cho trật tự thế giới mà những người Mỹ đă xây dựng và duy tŕ, hầu như bất chấp bản thân họ.

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết