[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

trang 06-đến trang10

do: để bảo vệ chính họ khỏi các mối đe dọa xa, để duy tŕ các lợi ích kinh tế, để bảo vệ người dân khỏi sự tàn sát, để chống sự xâm lược, để dẹp chính thể chuyên chế, để ủng hộ dân chủ. Vượt xa bất cứ dân tộc dân chủ khác nào trên thế giới ngày nay, những người Mỹ coi chiến tranh như một công cụ hợp pháp, thậm chí cốt yếu, của chính sách đối ngoại.6 Ít quốc gia hiện đại, và không nền dân chủ hiện đại nào lại tôn sùng các anh hùng quân đội, cả quá khứ và hiện tại, của họ hơn (người Mỹ). Nhưng mỗi lần bắt đầu chiến tranh, những người Mỹ lại hứa với ḿnh rằng họ sẽ chẳng bao giờ làm việc đó lần nữa.

Thậm chí họ c̣n thể hiện tính nước đôi về sự nghiệp dân chủ, mà họ đă luôn luôn đồng nhất  ḿnh  một  cách mật  thiết  với. Những  người Mỹ,  ngay cả trong thời của Woodrow Willson, đă chẳng bao giờ có một kế hoạch tổng thể để cải biến thế giới theo quan niệm của họ. Họ thường phớt lờ các nhà độc tài giữa bọn họ, liên minh với chúng, giúp đỡ chúng, và kinh doanh với chúng. Họ không là các nhà truyền giáo. Nhưng họ cũng chẳng có khả năng thoát khỏi bản sắc dân chủ của họ, lương tâm dân chủ của họ, và niềm tin chắc của họ rằng sự nghiệp đặc biệt của họ, như Ben Franklin đă nói, là “sự nghiệp của toàn nhân loại”. Để là một người Mỹ, là đi tin vào và cam kết với cái mà những người Mỹ, và chỉ những người Mỹ, thích gọi là “cách sống của chúng ta”. V́ họ tin các nguyên tắc sáng lập của họ là phổ quát, họ đo tất cả những người khác theo cùng tiêu chuẩn cứng nhắc. Quan điểm hết sức mang ư thức hệ này về thế giới bảo họ rằng tất cả các chính phủ không dân chủ là không hợp pháp một cách cố hữu và v́ thế là tạm thời. Ngay cả John Quincy Adams, trong cùng bài phát biểu mà ở đó ông cảnh báo chống lại việc đi t́m quái vật để tiêu diệt, ông đă thúc giục người dân Châu Âu noi theo tấm gương Mỹ và tiến hành các cuộc cách mạng chống lại các chế độ quân chủ già cỗi hàng thế kỷ: “Bắt đầu đi và làm giống như vậy!”

Thường những người Mỹ đă làm nhiều hơn việc hô hào. Họ đă đi ra ngoài để thủ tiêu những quái vật, và thường quái vật bị bất ngờ lắm. Một thế kỷ trước đă là José Santos Zelaya và  Victoriano  Huerta.  Những  năm gần  đây đă  là  Manuel  Noriega,  Slobodan  Milosevic, Mullah Omar, Saddam Hussein, và Muammar Qaddafi, những người mà sự cai trị của họ, và trong một vài trường hợp cuộc đời của họ, đă chấm dứt với sự giúp đỡ của lực lượng Mỹ. Thế mà sau khi lao vào hành động chống các nhà độc tài này, những người Mỹ lại thường bị phiền muộn bởi sự hoài nghi. Họ bực bội về các chi phí, cả vật chất lẫn đạo đức. Các cuộc chiến tranh là tốn kém, và sự chiếm đóng thậm chí c̣n tốn kém hơn. Họ đă lặp đi lặp lại tái phát hiện ra t́nh thế khó xử đạo đức không thể tránh khỏi về sử dụng sức mạnh. Giải phóng một dân tộc đ̣i hỏi cùng vũ lực tàn bạo như chính phục họ. Thậm chí các cuộc chiến tranh hợp đạo đức có những hệ quả trái đạo đức. Chẳng dân tộc nào hay quốc gia nào có thể sử dụng các công cụ chiến tranh và áp bức mà lại hy vọng giữ cho bàn tay ḿnh sạch.

Những người Mỹ đă chẳng bao giờ yên tâm với những sự thật tàn bạo này của cuộc sống. Ư thức hệ sáng lập của họ chứa một sự căng thẳng không thể giải quyết nổi giữa chủ nghĩa phổ quát, niềm tin rằng mỗi con người phải được phép thực hiện các quyền cá nhân của ḿnh, và chủ nghĩa cá nhân, niềm tin rằng giữa các quyền có quyền được yên (không dính vào). Điều này đă khiến họ trở nên nước đôi và hoài nghi về quyền lực, ngay cả quyền lực của chính họ, và tính nước đôi này thường gây tê liệt. Ngay sau khi họ xâm lược và chiếm đóng một nước họ bắt đầu t́m cách ra. Các nhà phê b́nh đă chỉ ra họ kém Đế chế Anh đến thế nào về khía cạnh này, v́ hàng thế kỷ người Anh đă có ít, nếu có chút nào, sự day dứt đạo đức về cai trị những người khác. Những người Anh đă tin rằng họ có nghề cai trị. Họ đă duy tŕ lực lượng đế quốc chuyên nghiệp và bộ thuộc địa thường trực. Những người Mỹ có thể là “bọn đế quốc” trong con mắt của nhiều người, nhưng nếu như thế, họ là những kẻ đế quốc bất đắc dĩ, bị lương tâm cắn rứt, bị phân tâm, không tha thiết. Họ đă không muốn các thuộc địa, ngay cả những nơi họ chiếm và giữ hàng thập kỷ. Họ đă không có những cán bộ được đào tạo để tái thiết và quản lư các quốc gia bị họ xâm lược và chiếm đóng. Để cho họ những khả năng như vậy là ngang với việc thừa nhận rằng họ thực sự can thiệp và chiếm đóng nước ngoài. Những người Mỹ sẽ đóng quân ở nước ngoài hàng thập kỷ, miễn là đừng ai bảo họ trước họ nên làm ǵ.7 Nhưng họ chẳng bao giờ coi ḿnh là nhiều hơn người dính líu tạm thời đến việc quản lư công việc của người khác, ngay cả khi họ giữ quân đội ở xứ nước ngoài nào đó suốt nửa thế kỷ hay dài hơn.

Căn cứ vào tất cả những thứ này, hầu như không ngạc nhiên rằng những người Mỹ đă luôn nước đôi về vai tṛ của họ như nhà lănh đạo toàn cầu. Khi lần đầu bị thách thức để lĩnh trách nhiệm đó sau Chiến tranh Thế giới I, đa số những người Mỹ đă chùn lại. Chỉ sau Chiến tranh Thế giới II, với sự xấu hổ và nghi ngại nào đó v́ sự lừng khừng toàn cầu của họ trong các năm 1930, họ mới miễn cưỡng chấp nhận phần không thông thường của trách nhiệm đối với t́nh trạng của thế giới. Nhưng đó đă là một gánh nặng gây hoảng sợ và, thoạt nh́n, khó chịu, được gánh vác không phải từ ḷng hào hiệp mà chỉ như một phản ứng với một mối đe dọa cảm thấy từ Liên Xô. Henry Truman đă chứng minh nhiều khi ông tuyên bố đó “là trách nhiệm kinh khủng nhất mà bất cứ quốc gia nào từng đối mặt”.8

Thế nhưng, mặc dù tất cả những mối e ngại của họ, hầu hết những người Mỹ cũng bày tỏ một mức độ thỏa măn về vai tṛ đặc biệt của họ. Trong những phút giải lao ở mỗi trận đấu trên Sân vận động Yankee, những người hâm mộ đứng dậy và dành “một phút cầu nguyện yên lặng cho tất cả những đứa con của tổ quốc đóng quân khắp thế giới” đang bảo vệ tự do và “cách sống của chúng ta”. Một cử chỉ để tỏ ḷng tôn kính những người đang làm nghĩa vụ, đúng, nhưng với một ánh mắt tự hào không thể hiểu lầm được về vai tṛ của quốc gia trên “khắp thế giới”.

“Chúng ta là những người Mỹ: phần của cái ǵ đó lớn hơn bản thân chúng ta”, George H. W. Bush đă tuyên bố trước Chiến tranh Vùng Vịnh Thứ nhất. “Suốt hai thế kỷ chúng ta đă làm xong công việc khó khăn của tự do”. Thậm chí ngày nay, các tổng thống và các chính trị gia nói về “người lănh đạo thế giới tự do” (Barack Obama), về “quốc gia không thể thiếu được” (Madeleine Albright) mà “thế giới tính đến” cho “sự lănh đạo toàn cầu” (Hillary Clinton). Tất nhiên, ngay sau khi các từ này được phát ra, niềm tự hào nhạt phai đi và nảy sinh những mối lo ngại, th́ cũng chính các nhà lănh đạo này bắt đầu nói về nhu cầu phải tập trung vào “việc xây dựng quốc gia ở trong nước”.

Trong chính sách đối ngoại, những người Mỹ bị giằng kéo đến điểm tâm thần phân liệt. Họ miễn cưỡng, rồi táo bạo; ngủ khi đang gác, rồi mau chóng nắm lấy c̣ súng; hờ hững, rồi bị ám ảnh, rồi lại thờ ơ. Họ hành động theo một ư thức trách nhiệm và rồi bực bội và sợ gánh nặng trách nhiệm mà họ đă gánh vác. Tác động của họ lên thế giới, không ngạc nhiên, thường là ngược với cái họ dự định. Những người nói rằng họ muốn ổn định trên thế giới, nhưng họ thường là những kẻ gây bất ổn lớn nhất. Họ ca tụng đức hạnh của các luật và các định chế quốc tế, nhưng rồi lại vi phạm và bỏ qua chúng sau khi suy đi tính lại. Họ là cường quốc cách mạng, nhưng nghĩ ḿnh là cường quốc [giữ] nguyên trạng. Họ muốn được để yên một ḿnh, nhưng có vẻ lại không thể để bất kỳ ai khác yên một ḿnh. Họ liên tục làm thế giới ngạc nhiên với ứng xử của họ, nhưng không nhiều đến mức như họ liên tục làm chính họ ngạc nhiên.

Khi Winston Churchill nhận xét rằng luôn luôn có thể tính đến những người Mỹ để làm những việc đúng, nhưng chỉ sau khi đă vét cạn tất cả các khả năng lựa chọn khác, đó là một lời khen thuộc loại mỉa mai, châm biếm. Trong suốt diễn tiến của nửa đầu thế kỷ hai mươi, ông đă thấy họ thử làm những việc sai nhiều lần. Ông đă thấy họ đứng ngoài Chiến tranh Thế giới I cho đến khi hầu như đă quá muộn để ngăn chặn chiến thắng của Đức. Trong các năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ông đă thấy họ từ chối tham gia Hội Quốc Liên và rồi đă phải lo âu chờ đợi họ từ bỏ sự trung lập và dồn sức mạnh của họ chống lại Hitler, việc mà họ chỉ làm sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công và chỉ khi đă hầu như lại quá muộn một lần nữa. Buổi đầu của Chiến tranh Lạnh ông đă thấy họ chú ư không đủ đến mối đe dọa của Liên Xô; rồi ông thấy họ không nhân nhượng một cách quá đáng. Ông đă biết những người Mỹ khi họ “ch́m trong tính ích kỷ”, thế nhưng ông đă kinh ngạc trước “ḷng vị tha của Mỹ, sự không vụ lợi cao thượng” của nó. Ông đă so sánh Hoa Kỳ với “nồi hơi khổng lồ” nào đó, yên lặng và lạnh cho đến khi “lửa được nhóm dưới nó”, và rồi “không có giới hạn nào đối với sức mạnh mà nó có thể tạo ra”.9 Trên hết, ông đă biết những người Mỹ là những con người, không phải ma quỷ cũng chẳng phải các thiên thần.

ĐÓ LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG để nhớ. Nó là một quốc gia bao gồm những con người định h́nh thế giới, không phải chúa hay các thần thánh. Đó là v́ sao trật tự hiện hành, được định h́nh bởi những người Mỹ, với tất cả những tính khác thường và khiếm khuyết của nó, thường một cách vô thức lại càng phi thường hơn. Bậc thầy, nhà đạo diễn vĩ đại của sự thống nhất Đức, Otto von Bismarck được cho là đă nói rằng Chúa để ư đợi chờ những người say rượu, những kẻ ngu xuẩn, và Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ. Có lẽ điều đó mở rộng ra cho trật tự thế giới mà những người Mỹ đă xây dựng và duy tŕ, hầu như bất chấp bản thân họ.

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

 

MỈA MAI LÀ, sự pha trộn lạ kỳ của các tính chất, mà những người Mỹ biểu lộ, không phải tất cả chúng là đáng khâm phục, không phải tất cả chúng là cao thượng, và không phải tất cả chúng là các nét hiển nhiên của khả năng lănh đạo, đă lại là một loại tài sản kỳ lạ đối với chính sách đối ngoại Mỹ. Bởi v́ trong khi đúng rằng Hoa Kỳ đă là một tác nhân hùng mạnh, dẫu không thể tiên đoán được và thường không cố ư, của sự thay đổi trên thế giới, tính nước đôi của người dân Mỹ cũng như sự thiếu tự giác của họ, một cách nghịch lư lại khiến cho sức mạnh kinh hoàng của họ ít đe dọa hơn như nó có thể. Những người Mỹ sẽ đáng sợ hơn nếu giả như họ đă có một kế hoạch. Sự rất phân tâm của họ, sự ao ước rơ rệt của họ để giữ bản thân họ xa khỏi thế giới mà dẫu họ định h́nh nó với sức mạnh của ḿnh, khiến họ trở thành một đồng minh thường gây thất vọng, một kẻ địch gây nhầm lẫn, nhưng cũng trở thành một kẻ bá chủ ít áp đặt hơn, ít gây hoảng sợ hơn. Các tính chất này đă tỏ ra là không thể thiếu được hơm sáu thập kỷ trước khi Hoa Kỳ đặt nền móng chính cho trật tự thế giới tự do của ngày nay bằng việc thắt chặt sự liên minh kinh tế và chiến lược của nó với Châu Âu. Bây giờ khi Châu Âu được cho là passé (quá khứ) và chúng ta đă bước vào “Thế kỷ Á châu”, dễ để quên rằng thế giới mà chúng ta biết hôm nay – trật tự chính trị, kinh tế, và chiến lược mà trong đó bản thân Châu Á thịnh vượng – đă được sinh ra trên đống tro tàn của Châu Âu sau Chiến tranh Thế giới II. Và nó đă được sinh ra chỉ bởi v́ Hoa Kỳ đă cung cấp một lời giải mới cho vấn đề không thể giải nổi của Châu Âu.

Sau giữa thế kỷ mười chín, các cường quốc Âu châu đă rơi vào một hội chứng bi thảm, mà từ đó họ đă không có khả năng tự giải thoát ḿnh. Đă có quá nhiều cường quốc hùng mạnh và tham vọng ở quá gần nhau để có thể cung cấp cho bất kỳ nước nào trong số đó một mức độ an ninh. Sự cân bằng quyền lực Âu châu đă hoạt động trong những quăng thời gian, nhưng nó cũng đă thất bại một cách định kỳ và thảm hại. Giữa 1850 và 1945, Pháp và Đức (hay Phổ trong thí dụ đầu tiên) đă lao vào chiến tranh ba lần – năm 1870, 1914 và 1940. Nga và Đức đă lâm chiến hai lần. Anh và Pháp đă cùng nhau đánh Nga một lần. Giữa các cuộc chiến tranh lớn này đă có nhiều cuộc chiến tranh gần khi căng thẳng gia tăng, đặc biệt ở vùng Balkan nhưng cũng trong cả việc phân chia lợi lộc thuộc địa ở Châu Phi và Đông Á. Ngay cả  khi cân bằng quyền lực Âu châu đă thành công ǵn giữ ḥa b́nh, đă là thông qua sự đe dọa liên tục của chiến tranh, sự điều chuyển các hạm đội đến các vùng nước tranh chấp, sự đe dọa động viên các lực lượng trên mặt đất trong các cuộc khủng hoảng. Châu Âu đă trở thành băi chiến trường của sự tranh đua địa chính trị giữa các cường quốc lớn được trang bị vũ trang mạnh, không có cách nào để chấm dứt chu tŕnh không an toàn. Tất cả những điều này đă xảy ra bất chấp một nền văn hóa và nền văn minh Âu châu chung, một nền kinh tế Âu châu ngày càng hội nhập và lệ thuộc lẫn nhau, và các quan hệ huyết thống giữa một số gia tộc cai trị. Hoa Kỳ bước vào, một cách miễn cưỡng. Thậm chí sau Chiến tranh Thế giới II, hầu hết những người Mỹ đă chẳng bao giờ có ư định trở thành một cường quốc toàn cầu. Duy tŕ ḥa b́nh thế giới, hầu hết được tưởng tượng một cách mơ hồ, bằng cách nào đó sẽ là công việc của Liên Hợp Quốc. Khi chiến tranh chấm dứt, chính quyền Truman đă toan tính rút lui qua đại dương, mau chóng giải ngũ các lực lượng vũ trang, cắt giảm ngân sách quốc pḥng, và thiết lập Châu Âu như một “lực lượng thứ ba” độc lập, có khả năng tự nó đương đầu với Liên Xô. Đó đă chính là mục đích ban đầu của Kế hoạch Marshall và các nỗ lực khác nhằm khích lệ niềm tin đă bị tan vỡ của Châu Âu, xây dựng lại nền kinh tế đă bị tàn phá của họ, và biến các kẻ thù một thời thành một thực thể Âu châu thống nhất. Tuy vậy, những người Âu châu đă không quan tâm đến việc trở thành một lực lượng thứ ba, và, như đă mau chóng trở nên rơ ràng, họ cũng chẳng có khả năng tự ḿnh làm việc đó. Họ đă muốn “quân Mỹ” đóng “giữa họ và Hồng Quân” và để ḱm hăm một nước Đức hồi sinh. Liên minh NATO đă thực sự là một ư tưởng của Châu Âu hơn là ư tưởng của Mỹ, “một lời mời làm đế quốc,” mà những người Mỹ đă miễn cưỡng chấp nhận chỉ khi đă trở nên rơ ràng là kế hoạch ban đầu của họ là vô vọng.

George Kennan đă phản đối ư tưởng về NATO hay bất cứ sự hiện diện Mỹ mở rộng nào ở Châu Âu. Ông đă sợ những người Mỹ “không phù hợp, hoặc về mặt thể chế, hay về mặt tính khí, để trở thành một cường quốc đế quốc theo cách cao quư”, và ông ưa thích hơn để tước bỏ “bản thân chúng ta dần dần khỏi trách nhiệm cơ bản đối với an ninh của Tây Âu”. Thế mà chính xác là những sự hạn chế và sự lưỡng lự ấy của những người Mỹ đă là cái khiến cho họ trở thành một nhà lănh đạo hấp dẫn đến vậy của “đế chế” xuyên đại tây dương. Với phiên bản đế chế Soviet nắm giữ ở Phương Đông, th́ cường quốc lớn ngang qua đại dương, xa cả về mặt địa lư lẫn về mặt xúc cảm, tỏ ra đối với những người Âu châu như là dues ex machine (cỗ máy thần kỳ) hoàn hảo để giải quyết nan đề của họ. Hoa Kỳ đủ xa về mặt địa lư để là một bá chủ ít đe dọa hơn, và không có kẻ thù nào trên các đường biên giới riêng của nó, nó đủ an toàn trong  nước để duy tŕ số đông lực lượng vũ trang đóng thường trực ở xa hàng ngàn dặm. Cũng đă có ích rằng Mỹ là một nền dân chủ, không chỉ bởi v́ những người Mỹ chia sẻ các giá trị chung với những người Anh và Pháp, mà cũng bởi v́, như sử gia John Lewis Gaddis đă lưu ư, phong cách làm việc của họ với các đồng minh đă có một chất lượng dân chủ mà cho phép các cường quốc yếu hơn một sự tự trị rất không đế quốc. Hoa Kỳ đă đóng một vai tṛ cốt yếu tương tự ở Đông Á sau Chiến tranh Thế giới II. Cả ở đó nữa, chiến tranh quy mô lớn giữa các cường quốc lân bang đă trở nên thường xuyên vào cuối thế kỷ mười chín. Nhật và Trung Quốc đă đánh nhau nhiều lần giữa 1895 và 1945, với sự tổn thất hàng chục triệu sinh mạng, hầu hết là người Trung Quốc. Nhật và Nga đă đánh nhau hai lần. Triều Tiên được dùng như băi chiến trường cho nhiều cuộc xung đột, và tất nhiên nội chiến ở Triều Tiên đă lôi cuốn Hoa Kỳ và Trung Quốc vào. Việc Hoa Kỳ đảm nhận vai tṛ an ninh thường trực trong vùng đă không chấm dứt được chiến tranh – bản thân Hoa Kỳ đă tham gia cả chiến tranh Triều Tiên lẫn chiến tranh Việt Nam – nhưng nó đă chấm dứt một chu tŕnh chiến tranh giữa các cường quốc lớn của khu vực. Quan hệ an ninh mật thiết của Mỹ với Nhật Bản đă phản chiếu vai tṛ mà Mỹ đóng tại Đức. Cường quốc hung hăng nhất khu vực bị đặt ra ngoài công việc xâm lược, năng lực khổng lồ của người dân của nó, thay vào đó, được hướng vào tăng trưởng kinh tế, đổi mới công nghệ, và thương mại thế giới. Thật đáng suy ngẫm về những vấn đề địa chính trị lớn này mà Hoa Kỳ đă giải quyết sau 1945, v́ giả như họ đă không giải quyết, th́ ngày nay thế giới

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết