[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Nguyen tác: Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

trang 11 đến trang 15:

sẽ nh́n hoàn toàn khác đi. Các mối quan hệ chiến lược mà người Mỹ tạo ra ở Châu Âu và Châu Á đă trở thành các cột trụ của trật tự thế giới tự do trong Chiến tranh Lạnh, các động cơ của nền kinh tế thế giới, và sự đảm bảo chủ yếu chống lại các cuộc chiến tranh thế giới và các xung đột giữa các cường quốc lớn mà đă gây tai họa cho thế giới trong một thế kỷ. Theo thời gian trật tự khai phóng tự kiềm chế được xây dựng xung quanh sự lănh đạo của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh đă tỏ ra quá mạnh, về mặt kinh tế, quân sự và chính trị, đối với đối thủ cạnh tranh chính của nó, Liên Xô, và các nỗ lực riêng của Liên Xô để thiết lập trật tự cộng sản toàn cầu. Trật tự Mỹ đă trở thành trật tự thế giới áp đảo. Các nước chư hầu trước đây của Moscow đă háo hức gia nhập “Phương Tây”, khiến cho việc nở rộ của trật tự thế giới tự do mà chúng ta hưởng ngày nay là có thể.


ĐĂ CHẲNG CÓ G̀ LÀ KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI về diễn biến rẽ ngoặt này của các sự kiện. Không mệnh trời thần thánh hay mục đích luận tiến bộ nào, không phép biện chứng Hegelian mở ra nào đă đ̣i hỏi rằng chủ nghĩa khai phóng (tự do–liberalism) chiến thắng sau Chiến tranh Thế giới II. Những người sống trong thế giới đáng chú ư này thường giả thiết rằng cả sự bùng nổ toàn cầu của dân chủ và trật tự kinh tế tự do của thương mại tự do và các thị trường tự do, mà đă mang lại sự thịnh vượng trong hơn sáu mươi năm vừa qua này, đă đơn giản là một giai đoạn tự nhiên trong sự tiến bộ hướng lên của loài người. Chúng ta thích tin rằng chiến thắng của dân chủ là chiến thắng của một tư tưởng và chiến thắng của chủ nghĩa tư bản thị trường là chiến thắng của một hệ thống tốt hơn, và cả hai là không thể đảo ngược được. Đó là một ư nghĩ dễ chịu, nhưng lịch sử cho biết một câu chuyện khác. Tiến bộ dân chủ và kinh tế tự do đă bị và có thể bị đảo ngược và bỏ dở. Các nền dân chủ cổ ở Hy Lạp và các nền cộng ḥa ở Rome và Venice tất cả đă sụp đổ bởi các lực lượng hùng mạnh hơn hoặc thông qua sự tự sụp đổ của chúng. Trật tự kinh tế tự do đang tiến hóa của cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi đă sụp đổ trong các năm 1920 và 1930. Tư tưởng hay hơn không nhất thiết thắng chỉ bởi v́ nó là tư tưởng hay hơn. Nó đ̣i hỏi các cường quốc bênh vực nó. Hăy xem xét những thăng trầm của dân chủ chỉ trong hai thế kỷ qua. Từ thời gian cách mạng Mỹ đến gần cuối thế kỷ mười chín, đă chẳng bao giờ có nhiều hơn năm nước trên thế giới mà đă có thể gọi là các nền dân chủ. Cơn gió ngắn của các cuộc cách mạng khai phóng và lập hiến ở Châu Âu năm 1848 đă bị dập tắt. Nhưng trong cuối thế kỷ mười chín đă có một sự tăng tiến. Vào năm 1900 đă có một tá nền dân chủ trên thế giới, một sự tăng trưởng gây kinh ngạc đến mức những người đương thời đă tin rằng một cuộc cách mạng dân chủ sắp quét ngang hành tinh. Rồi Chiến tranh Thế giới I và chiến thắng của Vương quốc Anh, Pháp và Hoa Kỳ đă đến. Các chính phủ dân chủ nhú lên khắp Châu Âu, ở các cường quốc bị đánh bại là Đức, Áo, và Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, tại Phần Lan, Ba Lan và Hy Lạp, và rồi cả ở Mỹ Latin nữa. Vào năm 1920, với số các nền dân chủ đột ngột tăng gấp đôi, sử gia James Bryce, cùng với nhiều người khác, đă tự hỏi phải chăng “xu hướng tới dân chủ” này đă không là sự thăng giáng tạm thời mà là “một xu thế tự nhiên, do quy luật chung về tiến bộ xă hội”.14 Như nhà kinh tế học Anh J. A. Hobson muộn hơn đă nhớ lại, “dân chủ đă tiến bộ như vậy ở hầu hết các nước trên thế giới để được coi là mục tiêu tự nhiên của sự tiến hóa chính trị. Ngay cả những người không tin nó cũng tin nó là không thể tránh khỏi”.

Trong tiến tŕnh của các năm 1920 và 1930, tuy vậy, xu hướng đă chuyển theo chiều hướng khác – “một làn song ngược”, như Samuel P. Huntington đă gọi nó. Nó bắt đầu với sự tiếp quản phát xít của Mussolini ở Ư năm 1922. Rồi các nền dân chủ mới sinh ở Lithuania, Ba Lan, Latvia, và Estonia sụp đổ. Sau đó đến sự nổi lên của Hitler và bọn Nazi ở Đức vào đầu các năm 1930 và sự tiếp quản bằng vơ lực của chúng ở Áo và sau đó ở Czechoslovakia. Nền dân chủ Hy Lạp sụp đổ năm 1936, và nền dân chủ Tây Ban Nha rơi vào tay Franco và chế độ phát xít trong cùng năm đó. Các cuộc đảo chính quân sự đă lật đổ các chính phủ dân chủ ở Bồ Đào Nha, Brazil, Uruguay và Argentina. Nền dân chủ Nhật Bản trở thành façade (mặt tiền) cho sự cai trị quân sự trong các năm 1930. Ngang qua ba lục địa, các nền dân chủ mong manh đă nhường đường cho các lực lượng độc đoán khai thác những tính dễ tổn thương của hệ thống dân chủ, trong khi các nền dân chủ khác bị suy thoái kinh tế dày ṿ. Cũng đă có tác động lan tỏa – thành công của chủ nghĩa phát xít ở một nước đă tăng cường các phong trào tương tự ở nơi khác. Những kẻ phát xít ở Tây Ban Nha nhận được sự giúp đỡ quân sự từ các chế độ phát xít ở Đức và Ư. Vào năm 1939, trước Chiến tranh Thế giới II, số các nền dân chủ đă sụt xuống không nhiều hơn một tá. Tất cả những sự gia tăng dân chủ của bốn mươi năm trước đă bị quét sạch. Giai đoạn sau Chiến tranh Thế giới I đă cho thấy không chỉ rằng những sự gia tăng dân chủ có thể bị đảo ngược mà rằng dân chủ đă không luôn luôn thắng sự cạnh tranh của các tư tưởng. Đă không chỉ là, nền dân chủ bị lật đổ. Như Hobson đă nhận xét, chính tư tưởng dân chủ đă “mất tín nhiệm”.16 Hào quang về tính không thể tránh được của nó đă tiêu tan. Rất nhiều người đă không tin dân chủ là h́nh thức tốt hơn của chính phủ.

Các chính phủ phát xít trông mạnh hơn, năng động và hiệu quả hơn, và có khả năng hơn để làm yên ḷng trong những thời kỳ hỗn loạn. Chúng cũng hấp dẫn mạnh với t́nh cảm dân tộc chủ nghĩa. Nhiều yếu điểm của nền dân chủ Weimar ở Đức và của các nền dân chủ mong manh và ngắn ngủi ở Ư và Tây Ban Nha đă khiến cho nhân dân họ dễ bị ảnh hưởng bởi những lời kêu gọi của Hitler, Mussolini, và Franco, hệt như sự yếu kém của nền dân chủ Nga trong các năm 1990 đă khiến cho chính phủ độc đoán hơn của Vladimir Putin hấp dẫn hơn đối với nhiều người Nga – chí ít trong một thời gian. Hóa ra là, những con người khao khát không chỉ quyền tự do, sự tự trị, quyền lợi cá nhân, và sự công nhận. Đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn, họ cũng khát khao sự an toàn, trật tự, và một ư thức thuộc về cái ǵ đó lớn hơn bản thân họ, cái ǵ đó áp đảo sự tự trị và quyền lợi cá nhân – mà các chế độ chuyên quyền thường làm tốt hơn các nền dân chủ. Người ta thường cũng hay theo những kẻ thắng. Trong các năm 1920 và 1930 các nước tư bản chủ nghĩa dân chủ trông yếu khi so sánh với các chế độ phát xít bề ngoài mạnh mẽ hay với Liên Xô của Stalin. Đă cần đến một cuộc chiến tranh khác và một chiến thắng khác của các nền dân chủ đồng minh (và Liên Xô) đối với các chính phủ phát xít để đảo ngược xu hướng một lần nữa. Hoa Kỳ đă áp đặt nền dân chủ thông qua vơ lực và sự chiếm đóng dài ở Tây Đức, Ư, Nhật Bản, Áo, và Nam Triều Tiên. Với thắng lợi của các nền dân chủ, và sự mất uy tín của chủ nghĩa phát xít, nhiều nước khác đă làm theo. Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ cả hai đă chuyển theo hướng dân chủ, cũng như Brazil, Argentina, Peru, Ecuador, Venezuela, và Colombia. Một số quốc gia mới sinh, khi Châu Âu bỏ các thuộc địa của ḿnh, cũng đă thử với chính phủ dân chủ, thí dụ nổi bật nhất là Ấn Độ. Vào năm 1950 số các nền dân chủ đă tăng lên giữa hai mươi lăm và ba mươi, đại diện cho gần 40 phần trăm dân số thế giới. Đấy đă là chiến thắng của một tư tưởng hay chiến thắng của vũ khí, đă là sản phẩm của một sự tiến hóa con người không thể tránh khỏi hay, như Huntington đă nhận xét muộn hơn, là sản phẩm của “các sự kiện rời rạc về mặt lịch sử”?17 Bằng chứng gợi ư cái sau, v́ hóa ra là, ngay cả làn sóng lớn về dân chủ sau Chiến tranh Thế giới II cũng đă không phải là không thể đảo ngược được. Một “làn sóng ngược” khác đă tràn từ cuối các năm 1950 qua đầu các năm 1970. Peru, Brazil, Argentina, Bolivia, Chile, Uruguay, Ecuador, Nam Triều Tiên, Philippines, Đài Loan, Pakistan, Indonesia, và Hy Lạp tất cả đă quay lại dưới sự cai trị độc đoán. Ở Châu Phi, Nigeria đă là trường hợp nổi bật nhất giữa các quốc gia mới được phi thực dân hóa nơi dân chủ đă thất bại. Vào năm 1975, hơn ba tá chính phủ quanh thế giới đă do đảo chính quân sự dựng lên.18 Vả lại, làn sóng ngược này đă xảy ra trong một thời kỳ tăng trưởng đáng kể về GDP toàn cầu. Làn sóng lớn nhất trong nền kinh tế toàn cầu xảy ra giữa 1950 và 1975, và nó chậm đi đáng kể sau đó. Như thế trong khi nhiều nước hơn đă chuyển vào pha phát triển kinh tế mà các nhà chính trị học coi là thuận lợi nhất cho dân chủ, th́ số của các nền dân chủ trên thế giới lại thực sự giảm. Ít người nói về tính không thể tránh được của dân chủ trong các năm 1970 hay thậm chí vào đầu các năm 1980. Muộn đến 1984, chính Huntington tin là đă đạt “các giới hạn của sự phát triển dân chủ trên thế giới”. Ông lưu ư đến “tính không dễ tiếp thu dân chủ của nhiều truyền thống văn hóa lớn” cũng như “sức mạnh đáng kể của các chính phủ phản dân chủ (nhất là Liên Xô)” như sự đóng góp cho tương lai mờ mịt của dân chủ.

Thế nhưng sau đó, “làn sóng thứ ba” đến một cách bất ngờ. Từ cuối các năm 1970 đến đầu các năm 1990, số các nền dân chủ trên thế giới đă tăng lên một cách đáng ngạc nhiên 120, đại diện cho hơn nửa dân số thế giới. Và rất có thể là, Mùa Xuân Arab mà chúng ta đang chứng kiến là một sự tiếp tục của làn sóng thứ ba này, hay có lẽ thậm chí là một làn sóng thứ tư. Sự bùng nổ dân chủ bây giờ sắp bước vào thập niên thứ năm, sự mở rộng dài nhất và rộng nhất như vậy trong lịch sử. Tuy đă có sự tụt lui ở vài phần của Mỹ Latin và Liên Xô trước đây, nhưng c̣n phải chứng kiến một làn sóng đảo ngược. Cái ǵ giải thích cho thành công kéo dài của sự dân chủ hóa trong phần tư cuối của thế kỷ thứ hai mươi? Đó không thể chỉ là sự tăng lên đều đặn của nền kinh tế toàn cầu và sự khát khao chung về tự do, tự trị, và sự thừa nhận. Đấy đă là những thành phần thiết yếu, nhưng chúng là không đủ. Hẳn là, những con người luôn luôn có một sự khát khao bẩm sinh về sự tự trị và sự thừa nhận, khi những ao ước này không bị các mối lo lắng khác và sự khát khao khác áp đảo. Và tăng trưởng kinh tế giữa 1950 và 1973 đă thậm chí lớn hơn các năm sau đó. Thế mà các sự khao khát của con người đă không và tăng trưởng kinh tế cũng đă chẳng ngăn cản một sự đảo chiều của xu hướng dân chủ trong các năm 1960 và đầu các năm 1970. Cho đến làn sóng thứ ba, nhiều quốc gia trên khắp thế giới đă nghiêng ngả tới và lui giữa nền dân chủ và chủ nghĩa độc đoán, theo cách có chu kỳ và hầu như có thể tiên đoán được. Điểm đáng chú ư về làn sóng thứ ba là, sự luân chuyển mang tính chu kỳ này giữa nền dân chủ và chế độ chuyên quyền đă bị gián đoạn. Các quốc gia đă chuyển vào một pha dân chủ, và đă ở lại đó. Nhưng v́ sao?  Câu trả lời liên quan đến cấu h́nh của quyền lực và các tư tưởng trên thế giới. Bầu không khí quốc tế từ giữa các năm 1970 trở đi đă đơn giản thân thiện với các nền dân chủ hơn và thách thức đối với các chính phủ chuyên quyền hơn các thời kỳ quá khứ. Trong nghiên cứu của ḿnh, Huntington đă nhắc đến các nhân tố như sự thay đổi trong giáo lư của Giáo Hội Công Giáo liên quan đến trật tự và cách mạng trong Công Đồng Vatican Thứ Hai (Second Vatican Council), Vatican II, mà đă có khuynh hướng làm yếu tính hợp pháp của các chính phủ chuyên quyền trong các nước Công giáo. Trong lúc đó, thành công và tính hấp dẫn ngày càng tăng của Cộng Đồng Châu Âu (EC) đă có ảnh hưởng lên chính sách đối nội của các quốc gia như Bồ Đào Nha, Hy Lạp, và Tây Ban Nha, những nước t́m kiếm lợi ích kinh tế từ tư cách thành viên trong EC và v́ thế cảm thấy áp lực để tuân theo các tiêu chuẩn dân chủ của EC. Các tiêu chuẩn này ngày càng trở thành tiêu chuẩn quốc tế. Nhưng chúng đă không xuất hiện từ không đâu, hay như sự tiến hóa tự nhiên của các loài. Như Huntington lưu ư, “Tính tỏa khắp của các tiêu chuẩn dân chủ đă dựa phần lớn vào sự cam kết đối với các tiêu chuẩn đó của nước hùng mạnh nhất trên thế giới”.20 Quả thực, Hoa Kỳ đă đóng một vai tṛ thiết yếu trong việc khiến cho sự bùng nổ dân chủ là có thể. Điều này đă xảy ra không phải bởi v́ những người Mỹ đă theo đuổi một chính sách nhất quán để thúc đẩy dân chủ trên khắp thế giới. Họ đă không có [chính sách như vậy]. Tại những thời kỳ khác nhau suốt Chiến tranh Lạnh, chính sách của Mỹ thường đă ủng hộ các chế độ độc tài như một phần của cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, hay đơn giản v́ sự dửng dưng. Nó thậm chí đă chấp thuận và đôi khi đă cổ vũ việc lật đổ các chế độ dân chủ được cho là không tin cậy – Mossadegh ở Iran năm 1953, Árbenz ở Guatemala năm 1954, và Allende ở Chile năm 1973. Đôi khi chính sách đối ngoại Mỹ đă hầu như thù địch với dân chủ. Richard Nixon đă coi nó là “không nhất thiết là h́nh thức tốt nhất của chính phủ cho các dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, và Châu Mỹ Latin”.21 Khi Hoa Kỳ đă có ủng hộ dân chủ, th́ nó cũng chẳng chỉ thuần túy từ ḷng trung thành với nguyên lư. Thường đă là v́ các lư do chiến lược. Các quan chức của chính quyền Reagan đă đi đến tin rằng các chính thể dân chủ có thể thực sự tốt hơn các nền chuyên chế, thí dụ, trong né tránh các cuộc nổi dậy cộng sản. Và thường chính là phản ứng đối với các đ̣i hỏi của dân chúng địa phương là cái đă buộc Hoa Kỳ phải đưa ra một lựa chọn, mà khác đi nó thích không lựa chọn ǵ cả, giữa ủng hộ một chế độ độc tài không được ḷng dân, có lẽ đang nao núng và “đi theo phía nhân dân”. Ronald Reagan có lẽ đă thích ủng hộ chế độ độc tài của Ferdinand Marcos trong các năm 1980 hơn, giả như ông ta đă không phải đối mặt với “sức mạnh nhân dân” Filipino. Trong chỉ vài trường hợp – như sự xâm chiếm Panama năm 1989 của Goerge H. W. Bush, và sự can thiệp vào Haiti năm 1994 của Bill Clinton – Hoa Kỳ đă t́m kiếm sự thay đổi chế độ từ sự thành tâm với các nguyên lư dân chủ.

Tuy vậy, bắt đầu từ giữa các năm 1970, thiên hướng chung của Hoa Kỳ đă bắt đầu dịch chuyển theo cách nh́n phê phán hơn đối với chế độ độc tài. Quốc Hội Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi các nhà chủ trương nhân quyền, đă bắt đầu đặt điều kiện hay cắt viện trợ Mỹ cho các đồng minh độc đoán, mà đă có tác động làm yếu việc nắm giữ quyền lực của họ. Trong các Ḥa ước Helsinki năm 1975, một sự dẫn chiếu đến các vấn đề quyền con người đă làm tăng sự chú ư lớn hơn đến sự nghiệp của các nhà bất đồng chính kiến và các đối thủ khác của chế độ độc tài trong khối Phương Đông. Tổng thống Jimmy Carter đă tập trung chú ư vào các thực hành quyền con người của Liên Xô cũng như vào các chính phủ cánh hữu ở Mỹ Latin và những nơi khác. Các hăng thông tin quốc tế Mỹ như Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) và Đài Châu Âu Tự Do/Đài Tự Do đă nhấn mạnh nhiều hơn đến dân chủ và nhân quyền trong chương tŕnh của chúng. Chính quyền Reagan, sau việc thử đầu tiên để đẩy lùi chương tŕnh nghị sự nhân quyền của Carter, cuối cùng lại đă theo nó và biến việc thúc đẩy dân chủ thành một phần của chính sách được tuyên bố của ḿnh. Ngay cả trong thời kỳ này, chính sách của Mỹ c̣n xa mới nhất quán. Nhiều chế độ độc tài đồng minh, đặc biệt ở Trung Đông, đă không chỉ được dung thứ mà c̣n được ủng hộ tích cực bằng viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ. Nhưng kết quả thuần của sự chuyển dịch chính sách Mỹ, cùng với các nỗ lực của Châu Âu, đă là đáng kể. Làn sóng thứ ba bắt đầu ở Bồ Đào Nha năm 1974, nơi “Cách mạng Hoa cẩm chướng” đă chấm dứt chế độ độc tài dài nửa thế kỷ. Như chuyên gia dân chủ Larry Diamond lưu ư, cuộc cách mạng này đă không chỉ xảy ra. Hoa Kỳ và các nền dân chủ Âu châu đă đóng một vai tṛ then chốt, tiến hành “đầu tư mạnh… để ủng hộ các đảng dân chủ”.22 Hơn một thập kỷ rưỡi tiếp theo, Hoa Kỳ đă sử dụng các công cụ khác nhau, kể cả can thiệp quân sự trực tiếp, để trợ giúp những sự chuyển đổi dân chủ và ngăn chặn việc làm xói ṃn các nền dân chủ mong manh đang tồn tại trên khắp thế giới. Carter đă đe dọa can thiệp quân sự vào Cộng ḥa Dominic khi tổng thống nắm quyền đă lâu từ chối từ bỏ quyền lực. Việc Reagan xâm chiếm Grenada năm 1983 đă phục hồi chính phủ dân chủ sau một cuộc đảo chính quân sự. Năm 1986 tại Phillipine, Hoa Kỳ đă đe dọa hành động quân sự để ngăn chặn Marcos hủy bỏ bằng vũ lực một cuộc bầu cử mà ông ta đă thua. Việc Bush xâm chiếm Panama năm 1989 đă mang lại nền dân chủ sau khi nhà quân sự mạnh tay Manuel Noriega đă hủy bỏ các cuộc bầu cử ở quốc gia của ông ta. Suốt cả giai đoạn này, Hoa Kỳ cũng đă sử dụng ảnh hưởng của ḿnh để ngăn chặn các cuộc đảo chính quân sự ở Honduras, Bolivia, El Salvador, Peru, và Nam Triều Tiên. Ở các nơi khác nó thúc giục các tổng thống đừng kéo dài thời gian giữ chức quá các giới hạn hiến định. Nh́n chung Huntington đă ước lượng rằng trong tiến tŕnh của khoảng một thập kỷ rưỡi, sự ủng hộ của Hoa Kỳ đă là “thiết yếu đối với sự dân chủ hóa ở Cộng ḥa Dominic, Grenada, El Salvador, Guatemala, Honduras, Uruguay, Peru, Ecuador, Panama, và Philippine” và đă là “một nhân tố đóng góp cho dân chủ hóa ở Bồ Đào Nha, Chile, Ba Lan, Hàn Quốc, Bolivia, và Đài Loan”.23

Nhiều sự phát triển cả toàn cầu lẫn địa phương đă giúp tạo ra xu hướng dân chủ hóa của cuối các năm 1970 và các năm 1980, và đă có thể có một làn sóng dân chủ cho dù Hoa Kỳ đă không có ảnh hưởng đến vậy. Câu hỏi là, liệu làn sóng đă có lớn và kéo dài đến vậy hay không. Các vùng ổn định của dân chủ ở Châu Âu và Nhật Bản tỏ ra là các nam châm mạnh mẽ. Thị trường tự do khai phóng và hệ thống thương mại tự do ngày càng vượt qua các nền kinh tế tŕ trệ của khối cộng sản, đặc biệt vào buổi b́nh minh của cách mạng thông tin. Chủ nghĩa tích cực lớn hơn của Hoa Kỳ, cùng với các nền dân chủ thành công khác, đă giúp xây

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết