[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

trang 16 đến trang 20:

dựng một sự đồng thuận rộng răi, nếu không phải là phổ quát, đồng t́nh hơn với các h́nh thức dân chủ của chính phủ và ít thân thiện với các chính phủ chuyên quyền. Diamond và những người khác đă lưu ư, quan trọng đến thế nào rằng các “tiêu chuẩn dân chủ toàn cầu” này được “phản ánh trong các định chế và các thỏa ước khu vực và quốc tế như chưa từng bao giờ”.24 Các tiêu chuẩn đó đă có tác động lên các quá tŕnh chính trị nội bộ của các nước, khiến cho trở nên khó hơn đối với những kẻ độc đoán để vượt qua các cơn băo chính trị và kinh tế và dễ hơn cho các phong trào dân chủ để nhận được tính chính đáng. Nhưng “các tiêu chuẩn” cũng tạm thời. Trong các năm 1930 các quốc gia định h́nh xu hướng là các chế độ độc tài phát xít. Trong các năm 1950 và 1960 các biến thể của chủ nghĩa xă hội đă thịnh hành. Nhưng từ các năm 1970 cho đến gần đây, Hoa Kỳ và vài cường quốc dân chủ khác xác định xu hướng thời trang. Họ thúc đẩy các nguyên lư dân chủ – một số người có thể nói chúng được áp đặt lên họ – và đă cấy chúng vào các định chế và thỏa ước quốc tế.

Cũng quan trọng ngang thế là vai tṛ mà Hoa Kỳ đă đóng trong ngăn chặn sự thụt lùi khỏi nền dân chủ nơi nó vừa mới bám rễ. Có lẽ sự đóng góp quan trọng nhất của Hoa Kỳ đă đơn giản là ngăn chặn các cuộc đảo chính quân sự chống lại các chính phủ dân chủ non nớt. Theo một nghĩa nào đấy, Hoa Kỳ đă can thiệp vào cái đă có thể là một chu kỳ tự nhiên, ngăn chặn các quốc gia, mà thông thường đă có thể “đáng” ở trong pha chuyên chế, để khỏi phải theo h́nh mẫu b́nh thường. Đă không phải là Hoa Kỳ xuất khẩu dân chủ sang mọi nơi. Thường xuyên hơn, nó đă đóng vai của người bắt bóng trong cánh đồng lúa mạch (the catcher in the rye*), ngăn cản các nền dân chủ non trẻ rơi xuống từ vách đá – ở những nơi như Phillippine, Columbia, và Panama. Điều này đă giúp cho làn sóng thứ ba một độ rộng và độ dài hiếm có.

* Có một tiểu thuyết với tiêu đề The catcher in the Rye của J. D. Salinger (được dịch ra tiếng Việt là Bắt trẻ đồng xanh)

Cuối cùng, đă là sự sụp đổ của Liên Xô và với nó là sự sụp đổ của các chính phủ cộng sản khắp Đông Âu và sự thiết lập các chế độ dân chủ. Hoa Kỳ đă đóng vai tṛ ǵ trong đẩy nhanh sự sụp đổ của hệ thống Soviet sẽ luôn luôn là chủ đề tranh căi. Không nghi ngờ ǵ, nó đă đóng vai tṛ nào đó, cả trong kiềm chế đế chế Soviet về mặt quân sự lẫn trong vượt trội nó về mặt kinh tế và công nghệ. Sự quay lại nền dân chủ khắp Đông Âu trước hết cũng chẳng phải là việc làm của Mỹ. Nhân dân các quốc gia thuộc Hiệp ước Warsaw trước đây đă khao khát từ lâu được giải phóng khỏi Liên Xô, mà cũng đă có nghĩa là giải phóng khỏi chủ nghĩa cộng sản. Họ đă muốn gia nhập vào phần c̣n lại của Châu Âu, phần chào mời mô h́nh kinh tế và xă hội thậm chí c̣n hấp dẫn hơn mô h́nh của Hoa Kỳ. Rằng họ đồng loạt chọn các h́nh thức dân chủ cho chính phủ, tuy vậy, đă không đơn giản là mong ước đối với tự do hay an nhàn sung túc. Nó cũng phản ánh mong muốn của các dân tộc Đông và Trung Âu để đặt bản thân họ dưới cái ô an ninh Mỹ. Các vấn đề chiến lược, kinh tế , chính trị, và ư thức hệ như thế đă không thể tách khỏi nhau. Các quốc gia muốn tham gia NATO, và muộn hơn Liên minh Âu Châu, đă biết rằng họ chẳng có cơ hội nào nếu không trương ra được giấy chứng nhận dân chủ. Những chuyển đổi dân chủ này, mà đă biến làn sóng thứ ba thành một sóng thần dân chủ, đă không nhất thiết xuất hiện giả như thế giới đă được cấu h́nh khác đi. Sự thật rằng một Tây Âu dân chủ, thống nhất, và thịnh vượng đă ở đó như một nam châm hút các láng giềng phương đông của nó, đă là do hành động của Mỹ sau Chiến tranh Thế giới II. Cấu h́nh của quyền lực và các tư tưởng trong bất kể hệ thống quốc tế nào luôn luôn tác động đến h́nh thức chính phủ của các quốc gia bên trong hệ thống đó.

Đối sánh số phận của các phong trào dân chủ vào cuối thế kỷ thứ hai mươi với số phận của các cuộc cách mạng tự do quét ngang Châu Âu năm 1848. Bắt đầu ở Pháp, Mùa Xuân của các Dân Tộc, như nó được biết đến với tên gọi ấy, đă bao gồm các nhà cải cách khai phóng và những người theo chủ nghĩa hợp hiến, các nhà dân tộc chủ nghĩa, và các đại diện của tầng lớp trung lưu đang lên, cũng như các công nhân cấp tiến và những người theo chủ nghĩa xă hội. Chỉ trong mấy tuần lễ họ đă lật đổ các ông vua và hoàng tử, đă làm lung lay các ngai vàng từ Đức và Ư, ở Pháp và Ba Lan, ở Áo và Hungary, và Rumani. Cuối cùng, tuy vậy, các phong trào tự do đă thất bại, một phần do thiếu sự cố kết, nhưng một phần bởi v́ họ bị đè bẹp bằng vũ lực bởi các thế lực chuyên quyền. Quân đội Phổ đă giúp đánh bại các phong trào khai phóng ở các công quốc Đức. Sa hoàng đă lệnh cho quân của ông tiến vào Rumani và Hungary. Hàng chục ngàn người phản đối đă bị giết trên các đường phố Âu châu. Lưỡi kiếm đă mạnh hơn ng̣i bút.

Đă quan trọng là, các cường quốc tự do hơn, Anh và Pháp, đă chấp nhận một tư thế trung lập suốt quá tŕnh lên men tự do, cho dù cách mạng của riêng nước Pháp đă châm ng̣i và gây cảm hứng cho phong trào toàn–Âu châu. Chế độ quân chủ và quư tộc Anh đă sợ chủ nghĩa cấp tiến ở trong nước. Cả Pháp và Anh đă quan tâm hơn đến việc duy tŕ ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn hơn là giúp đỡ cho các đồng chí theo chủ nghĩa tự do. Sự duy tŕ cân bằng Âu châu giữa năm cường quốc lớn đă có lợi cho các lực lượng phản cách mạng ở mọi nơi, và Mùa Xuân của các Dân Tộc đă bị đàn áp.  V́ thế, trong nhiều thập kỷ các lực lượng phản động ở Châu Âu đă được tăng cường chống lại các lực lượng của chủ nghĩa khai phóng [tự do]. Các học giả đă suy đoán, Châu Âu và thế giới đă có thể tiến hóa khác đi thế nào nếu giả như các cuộc cách mạng 1848 đă thành công – đặc biệt, lịch sử Đức đă có thể diễn tiến khác đi thế nào nếu giả như sự thống nhất quốc gia đă đạt được dưới sự che chở của một hệ thống tự do, đại nghị hơn là bởi Bismarck, “Thủ tướng Thép”, người đă thống nhất quốc gia bằng chiến tranh sử dụng sức mạnh to lớn của quân đội Phổ bảo thủ dẫn đầu bởi triều đ́nh Hohenzollern. Như sử gia A. J. P. Taylor đă nhận xét, lịch sử đă đến một điểm rẽ trong năm 1848, nhưng Đức “đă không rẽ”.  Những người Đức đă có thể học được một bài học khác từ bài học mà Bismarck đă dạy, rằng “các vấn đề lớn của thời đại không được quyết định bởi các bài phát biểu và các quyết định đa số… mà bằng máu và sắt thép”?  Thế nhưng hệ thống quốc tế của ngày đó đă không được cấu h́nh theo cách để cổ vũ cho sự thay đổi tự do và dân chủ. Cân bằng Âu châu về quyền lực trong thế kỷ mười chín đă không tỏ ra có lợi cho dân chủ, và như thế, không ngạc nhiên, dân chủ đă không thắng lợi, ở bất cứ đâu.

Chúng ta cũng có thể suy đoán, thế giới ngày nay đă có thể tiến hóa khác đi thế nào nếu không có vai tṛ của Hoa Kỳ trong định h́nh một môi trường quốc tế thuận lợi cho dân chủ, và nó có thể tiến hóa thế nào nếu giả như Hoa Kỳ không c̣n đủ mạnh để đóng vai tṛ đó. Những sự chuyển đổi dân chủ không phải là chắc chắn xảy ra, ngay cả ở nơi các điều kiện có thể đă chín muồi. Các quốc gia có thể dịch chuyển vào vùng quá độ – về mặt kinh tế, xă hội, và chính trị – nơi xác suất để chuyển theo hướng dân chủ tăng hay giảm. Nhưng những ảnh hưởng nước ngoài, thường bởi các cường quốc lớn thống trị, thường là các chất xúc tác quyết định sự thay đổi đi theo hướng nào. Các cường quốc chuyên quyền mạnh sẵn sàng ủng hộ các lực lượng bảo thủ chống lại các phong trào tự do có thể xóa bỏ cái mà khác đi đă có thể là một sự tiến hóa đến dân chủ, hệt như các quốc gia dân chủ hùng mạnh có thể giúp các lực lượng tự do mà, để tự chúng, có thể đă thất bại. Trong các năm 1980 như trong các năm 1848, các phong trào tự do đă nổi lên v́ các lư do riêng của chúng ở các nước khác nhau, nhưng sự thành công hay thất bại của chúng đă bị ảnh hưởng bởi cân bằng quyền lực ở mức quốc tế. Trong thời đại Mỹ, cân bằng đă nói chung thuận lợi cho dân chủ, mà giúp giải thích v́ sao các cuộc cách mạng tự do của thời đại muộn hơn đó đă thành công. Giả như Hoa Kỳ đă không hùng mạnh đến vậy, chắc đă có ít sự chuyển đổi hơn, và những cuộc đă xảy ra có thể đă không sống lâu. Nó đă có thể có nghĩa là một làn sóng thứ ba nông hơn và dễ đảo ngược hơn. Phản ứng của Hoa Kỳ đối với sự sôi sục mới đây trong thế giới Arab là một thí dụ tốt về những người Mỹ có thể ảnh hưởng ra sao lên xu hướng đến dân chủ ngay cả hoàn toàn không có kế hoạch hay ư định để làm vậy. Từ 2004 đến 2010, Hoa Kỳ đă tăng vừa phải áp lực lên các nhà nước Arab để tiến hành các cải cách chính trị ôn ḥa, mặc dù nỗ lực đă là yếu ớt và thất thường. Khi một người bán hàng rong Tunisian tự thiêu và đă châm ng̣i cho phong trào rộng khắp vùng, tuy vậy, trong ṿng mấy tuần Hoa Kỳ thấy ḿnh rút sự ủng hộ các đồng minh lâu đời như Hosni Mubarak của Ai Cập, và sau đó, trong một hành động bốc đồng về chủ nghĩa nhân đạo, đă sử dụng vũ lực để ngăn chặn Qaddafi khỏi việc tàn sát những người Liby ở Benghazi. Hoa Kỳ đă không bắt tay để quyết tâm đẩy các nhà độc tài này khỏi chức vụ, nhưng trong cả hai trường hợp đă cảm thấy buộc phải đứng về phía nhân dân đang la hét đ̣i cách chức họ. Một khi các quyết định bất ngờ này được đưa ra, quyền lực Mỹ trở thành một nhân tố quyết định định h́nh môi trường khu vực và quốc tế mà trong đó sự rối loạn chính trị Arab diễn ra. Ở Libya, Pháp và Anh đă dẫn đầu, nhưng chẳng nước nào đă có thể lôi kéo sự ủng hộ quốc tế hoặc đă dùng vũ lực một cách hiệu quả mà không có Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đă làm ít hơn nhiều mức nó đă có thể, nhưng cái nó đă làm là cái tạo ra toàn bộ sự khác biệt. Giả như Hoa Kỳ đă yếu hơn, có ảnh hưởng trong hệ thống quốc tế không lớn hơn Nga và Trung Quốc, th́ không chắc là các nhà độc tài trong khu vực đă phải đối mặt nhiều áp lực đến vậy và buộc phải nhường đường hay bị lật đổ. Mỉa mai, nhưng không phải không b́nh thường, rằng những người Mỹ, đă giúp lật đổ các nhà độc tài ở Trung Đông, là không chắc chắn họ cảm thấy ra sao về cái ǵ sẽ tiếp theo. Thắng lợi không thể tránh khỏi của các đảng Islamist ở vài nhà nước Arab có lẽ sẽ đưa các chính phủ lên nắm quyền mà sẽ ít phù hợp hơn với một số lợi ích của Mỹ so với các chế độ độc tài trước kia. Đó không phải là lần đầu tiên. Hoa Kỳ đă giúp lật đổ Marcos ở Phillippine chỉ để có chính phủ dân chủ hậu–Marcos đuổi Hoa Kỳ khỏi các căn cứ không quân và hải quân Filipino. Ở châu Mỹ Latin, Châu Á, và những nơi khác, các nền dân chủ đă thường tỏ ra là các đồng minh ít tin cậy hơn trong một số khía cạnh so với các chế độ độc tài mà chúng thay thế. Các chế độ độc tài mà Mỹ lật đổ cũng đă chẳng luôn luôn được thay bằng các nền dân chủ. Hoa Kỳ đă rút lại sự ủng hộ đối với Sah của Iran năm 1979 chỉ để thấy một nền chính trị thần quyền Islamic, phi dân chủ, chống Mỹ một cách độc địa thế chỗ của ông – một sự cố mà nhiều người lo có thể lặp lại trong sự rối loạn hiện thời ở Trung Đông.

Sự lan truyền rộng của các chính phủ dân chủ, tuy nhiên, đă là một thuộc tính cốt yếu của trật tự thế giới Mỹ. Dù phải hy sinh các lợi ích cụ thể, th́ việc đạt được các lợi ích rộng hơn của Mỹ trong một thế giới ḥa b́nh hơn và một hệ thống kinh tế mở hơn đă bù lại. Có thể chứng minh được là thật, rằng các nền dân chủ hiếm khi tiến hành chiến tranh với các nền dân chủ khác và rằng các chế độ tự do về chính trị có nhiều khả năng hơn để ủng hộ các hệ thống kinh tế tự do. Thông thường lợi ích lâu dài của Mỹ trong trật tự thế giới tự do vượt quá các lợi ích khác, hẹp hơn và tạm thời. Hoa Kỳ có thể mất một đồng minh Ai Cập nhưng vẫn có được một trật tự thế giới lành mạnh hơn. Đó có lẽ là lư do v́ sao những người Mỹ đôi khi chọn để ủng hộ các phong trào dân chủ, và đôi khi chỉ các phong trào dân chủ công khai, ngay cả khi các lợi ích trực tiếp của họ có thể chống lại nó. Và chính sự ưa thích riêng đặc biệt Mỹ, xung cảm thường không tính toán để ủng hộ những người dương ngọn cờ dân chủ, là cái đă đóng một phần quan trọng đến vậy trong tạo ra và duy tŕ các mức lạ thường của dân chủ hóa trong trật tự thế giới hiện thời. Dù đúng hay không đúng, như những người Mỹ tin, rằng dân chủ là h́nh thức tốt nhất của chính phủ và là h́nh thức hợp pháp duy nhất của chính phủ cho tất cả mọi người ở mọi nơi, sự lan rộng của dân chủ trong các thập kỷ vừa qua đă không thể có khả năng mà không có những người Mỹ tin điều đó và đôi khi hành động theo niềm tin đó.

CÓ THỂ KỂ CÂU CHUYỆN TƯƠNG TỰ về việc thiết lập trật tự kinh tế tự do hiện thời. Một nhận thức chung ngày nay là, hệ thống thị trường tự do quốc tế đơn thuần là một giai đoạn tự nhiên trong sự tiến hóa của nền kinh tế toàn cầu. Các lực lượng của toàn cầu hóa, các cuộc cách mạng về truyền thông và công nghệ, sự tương thuộc ngày càng tăng giữa các quốc gia và dân tộc, đă tạo ra một hệ thống mà cả là không thể tránh khỏi lẫn là tự–duy tŕ. Thế nhưng lịch sử cho chúng ta biết rằng, cũng chẳng có ǵ là không thể tránh khỏi về một nền kinh tế quốc tế tự do cả. Một thị trường tự do, nền kinh tế toàn cầu tự do thương mại không chỉ đơn giản ra đời. Nó là một sự lựa chọn, và nó cũng là một sự áp đặt. Như nhà khoa học chính trị Robert Gilpin đă nhận xét, “Một nền kinh tế quốc tế tự do không thể h́nh thành và được duy tŕ, trừ phi nó có đằng sau ḿnh (các) quốc gia hùng mạnh nhất trong hệ thống”.  Những đổi mới công nghệ và các xu hướng xă hội có thể ủng hộ và củng cố một trật tự như vậy, nếu nhân dân muốn nó được củng cố. Nhưng nhân dân và các quốc gia phải muốn nó, và đặc biệt nhất là các quốc gia với sức mạnh lớn nhất – các quốc gia áp đảo – phải muốn nó. V́ các quốc gia hiếm khi làm bất cứ điều ǵ bất ḥa căn bản với các lợi ích sống c̣n nhất của họ, các cường quốc nổi trội phải tin rằng một trật tự kinh tế tự do quốc tế là công cụ tốt nhất để tăng sự giàu có và sức mạnh của họ.

Lẽ phải thông thường ngày nay là, trật tự kinh tế tự do là v́ lợi ích của mọi người và tất cả các quốc gia có vị thế quyền lực sẽ ủng hộ nó. Như một vấn đề lịch sử, tuy vậy, gần như cái ngược lại đă đúng. Vài quốc gia hùng mạnh đă từng cảm thấy phúc lợi của họ gắn mật thiết với một nền kinh tế quốc tế tự do thương mại và đă có ư chí và sức mạnh để tạo ra và duy tŕ nó. Quả thực, trong thời hiện đại của các quốc gia–dân tộc, đă chỉ có hai: Anh trong thế kỷ mười chín và Hoa Kỳ trong thế kỷ hai mươi.  Các cường quốc lớn và bá chủ khác của các thế kỷ gần đây – Ottoman và Tây Ban Nha của Philip II trong thế kỷ thứ mười sáu, Pháp trong thế kỷ mười bảy và mười tám, Đức trong thế kỷ mười chín và hai mươi, và Liên Xô – đă có ít, nếu có hề có, lợi ích trong các thị trường tự do, dự do thương mại, và trật tự kinh tế tự do. Không ngạc nhiên, chẳng cường quốc nào trong các cường quốc này đă từng thử rạo ra một trật tự như vậy. Nền kinh tế thị trường tự do toàn cầu mà chúng ta biết ngày nay đă được cường quốc Anh tạo ra trong thế kỷ mười chín, và khi Anh loạng choạng giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, trật tự kinh tế tự do đó đă không được chuyển tiếp một cách trơn tru cho một nhóm mới của những người ủng hộ. Nó đă sụp đổ. Cường quốc duy nhất đă có thể có năng lực, lợi ích, và mong muốn để duy tŕ thị trường tự do toàn cầu trong các năm giữa hai cuộc chiến tranh đă là Hoa Kỳ, nhưng những người Mỹ đă không quan tâm đến việc đóng vai tṛ ấy trong các năm 1920 và 1930. Chỉ đến khi Hoa Kỳ đảm nhận nhiệm vụ tạo ra và duy tŕ trật tự kinh tế tự do sau Chiến tranh Thế giới II, th́ nó mới đứng vững, và khi đó cũng chỉ ở những phần của thế giới không bị Liên Xô hay Trung Quốc kiểm soát. Trật tự kinh tế tự do là một sự lựa chọn, không phải là sản phẩm không thể tránh khỏi của sự tiến hóa.

Trong trường hợp của cả Anh và Hoa Kỳ, một trật tự bị áp đảo bởi các thị trường tự do và thương mại tự do phản ánh các đặc trưng và các nhu cầu đặc biệt của hai cường quốc khác thường – cả hai đều là các quốc gia công nghiệp tiên tiến, dân chủ, tư bản chủ nghĩa; và cả hai, một cách cốt yếu, đều là các cường quốc “đảo” với hải quân vượt trội. Ngay cả Anh và Hoa Kỳ đă không luôn luôn ưu ái một hệ thống thương mại tự do. Anh đă là một cường quốc trọng thương (mercantilist) từ thế kỷ thứ mười bảy đến đầu thế kỷ mười chín. Cả hai quốc gia đă trải qua các thời kỳ dài của chủ nghĩa bảo hộ trước khi đón nhận thương mại tự do. Nhưng ở đỉnh điểm của quyền lực của họ – Anh vào giữa thế kỷ mười chín, Hoa Kỳ trong thế kỷ hai mươi – cả hai quốc gia đă có khả năng nhất để kiếm lợi từ các thị trường mở và thương mại tự do. Các ngành công nghiệp của họ đă thống trị. Các nền kinh tế năng động của họ đă hưởng lợi từ xuất khẩu hàng hóa và vốn. Hải quân hùng mạnh của họ kiểm soát các đại dương và thống trị các tuyến đường thương mại, trong khi các đối thủ cạnh tranh của họ thường đă là các cường quốc đất liền lệ thuộc vào họ để giữ các làn đường mở. Hai tính chất này, thống trị các đại dương và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do, đă biến Anh và Hoa Kỳ thành cha đẻ của nền kinh tế được toàn cầu hóa hiện nay. V́ không chỉ duy nhất các nước này đă hưởng lợi từ một hệ thống kinh tế mở trong đó họ đă áp đảo, mà họ cũng đă có lợi ích sâu sắc trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia và dân tộc khác. Các nhà tư bản không thể kiếm lợi nhuận ở nước ngoài từ những người chẳng có nhu cầu cũng không có khả năng chi trả hàng hóa của họ. Cả Anh và Hoa Kỳ đă có một động cơ tư lợi, có sức thuyết phục mạnh mẽ để giúp các dân tộc khác, và thậm chí chịu những hy sinh tạm thời nhân danh họ, v́ mục tiêu dài hạn để tạo ra các thị trường béo bở cho xuất khẩu và đầu tư. Điều này c̣n đúng hơn đối với Hoa Kỳ so với Anh, bởi v́ nước

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết