[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

trang 21 đến trang 24:

 

Anh khi đến pha này của sự phát triển vẫn c̣n chiếm các lục địa mênh mông. Hoa Kỳ đă là, theo tiếng lóng Marxist, một nền kinh tế “thực dân mới” được hưởng các lợi thế của sự thống trị và sự tiếp cận các thị trường mở mà không phải chịu các gánh nặng, các chi phí, và các hạn chế của việc thực sự duy tŕ các thuộc địa. Giải pháp Mỹ, được áp dụng tốt nhất trong Kế hoạch Marsall và ở Nhật Bản, đă là giúp đỡ các nền kinh tế hậu chiến của Châu Âu và Châu Á đứng lại trên đôi chân của ḿnh. Những người Mỹ “đă cung cấp các hàng hóa công cộng cần thiết cho sự họat động của các thị trường thế giới hiệu quả bởi v́ đă là có lợi cho họ để làm vậy”.  Đă rất thuận lợi là, các lợi ích kinh tế của Mỹ được pha trộn hết sức trơn tru với chiến lược an ninh toàn cầu ưa chuộng của họ. Bằng cách làm sống lại các nền kinh tế của Châu Âu và Nhật Bản, Hoa Kỳ đă tăng cường cả hai như các bức tường thành chống lại Liên Xô mà không có một sự cam kết quá mức của các lực lượng Mỹ. Đó đă là một giải pháp tư bản chủ nghĩa hoàn hảo cho một vấn đề chiến lược cũng như kinh tế.

 

Kết quả phụ của ứng xử về cơ bản có tính tư lợi này đă là một thời kỳ của tăng trưởng kinh tế toàn cầu chưa từng có, không chỉ ở Phương Tây xuyên Đại Tây dương, mà cả thế giới đang phát triển nữa. Như John Kenneth Galbraith một lần đă nhận xét, “Kinh nghiệm của các quốc gia về phúc lợi là cực kỳ ngắn. Gần như tất cả mọi người, suốt lịch sử, đă rất nghèo”. Trong giai đoạn bá quyền Mỹ, nền kinh tế toàn cầu đă tạo ra một kỷ nguyên thịnh vượng lớn nhất và kéo dài nhất trong lịch sử. Giữa năm 1950 và 2000, tăng trưởng GDP hàng năm của toàn thế giới đă là 3,9 phần trăm, so với 1,6 phần trăm giữa 1820 và 1950 và một ước lượng 0,3 phần trăm giữa 1500 và 1820. Sự thịnh vượng tăng lên này cũng đă được phân phối một cách rộng răi hơn trên thế giới so với quá khứ. Thậm chí vào cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi, khi các cường quốc thuộc địa Anh và Âu châu khác đă đầu tư và buôn bán với các đế chế thuộc địa ngày càng tăng của họ, những người hưởng lợi chính của tăng trưởng kinh tế đă là những người Âu châu. Đối với nhân dân của Ấn Độ, Trung Quốc, và phần c̣n lại của Châu Á trong thời kỳ của chủ nghĩa thực dân Anh và Âu châu, tỷ lệ tăng trưởng đă rất thấp (0,03 phần trăm giữa 1820 và 1870; 0,97 phần trăm giữa 1870 và 1913; 0,9 phần trăm giữa 1913 và 1950). Tuy vậy, sau 1950 tốc độ tăng trưởng ở Châu Á đă sánh được hay vượt các mức tăng trưởng ở Châu Âu và Hoa Kỳ (5,18 phần trăm giữa 1950 và 1973; 5,46 phần trăm giữa 1973 và 1998).34 Chỉ riêng giữa 1980 và 2002, thương mại thế giới đă tăng hơn ba lần.  Kết quả đă là một sự cải thiện đầy kịch tính về điều kiện kinh tế của các dân tộc không–Âu châu. Như kinh tế gia Paul Colier đă lưu ư, thế giới vào lúc đầu của kỷ nguyên thịnh vượng này đại thể đă được phân chia giữa một tỷ người giàu và năm tỷ người nghèo, với tuyệt đại đa số người nghèo sống ở ngoài thế giới xuyên Đại Tây dương.36 Vào đầu thế kỷ thứ hai mươi mốt, bốn tỷ của những người nghèo đó đă bắt đầu leo lên đường của họ để ra khỏi nghèo khổ. Thời kỳ này của sự thịnh vượng toàn cầu đă làm lợi cho số khổng lồ những người nghèo của thế giới và đă tạo ra các cường quốc kinh tế đang lên như Trung Quốc, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, và Nam Phi, ở các phần của thế giới mà một thời đă được biết phần lớn là nghèo. Hoa Kỳ đă không chịu trách nhiệm trực tiếp về sự bùng phát này của tăng trưởng kinh tế. Các chính sách quốc gia được thực hiện bởi Đặng Tiểu B́nh ở Trung Quốc và bởi các chính phủ ở các nước khác, cũng như công việc nặng nhọc và các kỹ năng khởi nghiệp kinh doanh của nhân dân họ, đă tạo ra sự thịnh vượng mới. Nhưng những thành công kinh tế này xảy ra bên trong một môi trường tổng thể mà đă thuận lợi cho các nỗ lực như vậy, một hệ thống quốc tế tương đối yên b́nh mà trong đó thương mại ngày càng tự do và an toàn, và trong đó cường quốc áp đảo đă có quyền lợi ích kỷ trong tăng trưởng kinh tế của các quốc gia khác.

Đă không nhất thiết phải theo cách này. Liên Xô chắc chắn đă không có lợi ích trong các thị trường tự do, và Trung Quốc cũng đă chẳng có trước khi nó quay sang chủ nghĩa tư bản vào cuối các năm 1970. Các cường quốc lục địa thiếu năng lực hải quân lớn, nh́n chung có khuynh hướng ưu ái các thị trường đóng mà họ có thể thống trị với lục quân ưu việt của họ. Đế chế Trung Hoa thực ra đă tự đóng ḿnh đối với ngoại thương trong hàng thế kỷ, cho đến khi các cường quốc phương Tây buộc nó phải mở. Nhưng ngay cả các cường quốc lục địa hiện đại Âu châu cũng đă thường xuyên t́m kiếm các trật tự kinh tế đóng. Đó đă là mục đích của Napoléon, với Hệ thống Lục địa của ông, mà đă nhắm tới việc bắt nước Anh, cường quốc đảo, quỳ gối bằng cách biến lục địa Âu châu thành một hệ thống thương mại đóng. Đă là mục đích nhất quán của Đức, từ cuối thế kỷ mười chín đến thời của Hitler, để chính phục và kiểm soát các lănh thổ ở Đông Âu và Pháp mà từ đó nó có thể ḅn rút nguyên liệu và lao động. Ngay cả Nhật Bản đế quốc, tuy là một cường quốc đảo với hải quân áp đảo, đă t́m cách thiết lập một khu vực kinh tế Á châu đóng, cái gọi là Khối Thịnh Vượng Chung Đại Đông Á, mà nó có thể thống trị và từ đó nó có thể loại trừ các cường quốc lớn khác. Trong các năm sau Chiến tranh Thế giới II, nhiều quốc gia trong thế giới đang phát triển đă không chọn mô h́nh thị trường tư bản chủ nghĩa, một phần bởi v́ họ đă không tin họ có thể cạnh tranh một cách hiệu quả với các cường quốc tư bản thống trị. Của cải gia tăng của thế giới đă không giải quyết vấn đề về bất b́nh đẳng thu nhập tăng lên ở bên trong và giữa các quốc gia. Ngược lại, nó thường đă làm trầm trọng vấn đề. Như thế, thị trường tự do, nền kinh tế thương mại tự do đă không được chấp nhận một cách sẵn ḷng và với thái độ biết ơn ở mọi nơi. Những người Mỹ, và trước họ là những người Anh, đă có thể tin rằng thị trường tự do, hệ thống thương mại tự do mang lại cho các quốc gia đang phát triển cơ hội để trở nên giàu hơn. Nhưng như một học giả đă nhận xét, “các cơ hội” đó tuy nhiên thường phải được “áp đặt lên các đối tác không tự nguyện … Thương mại tự do là chính sách của kẻ mạnh”.  Những người Mỹ nói chung tin rằng thị trường tự do phải luôn luôn thắng bất cứ lựa chọn khả dĩ nào khác đơn giản bởi v́ nó tốt hơn. Thực ra, chủ nghĩa tư bản cũng có thể bị thua. Một cách định kỳ nó tự làm mất uy tín với các chu kỳ hưng thịnh bột phát và sụp đổ đường như không thể tránh khỏi. Các nghiệp chủ tư bản t́m những cách thông minh để đánh cược hệ thống, đôi khi làm cho bản thân hệ thống sụp đổ. Trong các năm 1920 và 1930, nhiều người ở Châu Âu, và thậm chí một số ở Hoa Kỳ, đă phân xử, như Marx đă tiên đoán, rằng chủ nghĩa tư bản tất phải tự hủy hoại ḿnh. Trong các năm 1970, kỷ nguyên của giá dầu cao và đ́nh lạm, các mô h́nh chủ nghĩa nhà nước khác nhau, giống như mô h́nh của Nhật Bản, đă có vẻ thành công hơn. Ngày nay, khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn và Đại Suy thoái, kết hợp với khủng hoảng tài chính trong Liên Minh Châu Âu, EU, đă lại gây ra những nghi ngờ trên khắp thế giới và đă dẫn nhiều người đi hỏi liệu mô h́nh Trung Quốc với sự dính líu mạnh của nhà nước có thể đáng ưa hơn hay không.

Đôi khi ư tưởng hay hơn không thắng ngay cả khi nó rơ ràng là hay hơn. Đó đă là bài học của đầu thế kỷ hai mươi. Thập niên trước Chiến tranh Thế giới I đă chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế ở Châu Âu tăng lên mức đáng chú ư 5 phần trăm một năm với tư cách “siêu cường duy nhất” về hải quân của ngày đó, nước Anh, đă mở rộng đầu tư và thương mại cả ở Lục địa và khắp thế giới. “Toàn cầu hóa” được kích thích bởi hai sáng chế mới, điện tín không dây và tàu thủy hơi nước chạy ngang đại dương, đă là một điều thần kỳ đối với người dân cuối thế kỷ mười chín cũng nhiều như sự toàn cầu hóa được dẫn dắt về mặt công nghệ hiện nay đối với chúng ta. Và nó đă có tác động kích thích tương tự lên nền kinh tế toàn cầu. John Maynard Keynes đă gọi nó là một “Eldorado kinh tế”, và một lúc, như ông đă nhận xét, sự hưng thịnh bột phát (boom) kinh tế quốc tế đáng chú ư này đă không bị phá vỡ bởi “các dự án và chính trị của chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa đế quốc, của sự tranh đua chủng tộc và văn hóa, của những sự độc quyền, những sự hạn chế, và sự loại trừ”.38 Nhưng rồi, đột ngột, nó bị phá vỡ. Đầu tiên là Chiến tranh Thế giới I, với hàng chục triệu thương vong và phí tổn khổng lồ, làm tê liệt quốc gia. Rồi đến sự chuyển hướng sang các nền kinh tế do nhà nước thống trị ở các nước phát xít và Liên Xô. Các chế độ độc tài mới kế vị các nền dân chủ thất bại trong các năm ngay sau chiến tranh đă chấp nhận các nền kinh tế thời chiến trong thời b́nh. Cọng rơm cuối cùng [làm găy lưng lạc đà – giọt nước tràn ly] đến trong các năm 1920, với sự thay đổi từ thương mại tự do sang theo hướng chủ nghĩa bảo hộ thuế quan cao giữa các nền kinh tế tiên tiến và suy thoái toàn cầu kéo dài kế tiếp. Chiến tranh Thế giới I và các chính sách kinh tế và thương mại thời hậu chiến đă hủy hoại trật tự kinh tế tự do của Châu Âu. Bài học là, trong khi những tiến bộ công nghệ – các cuộc cách mạng truyền thông và giao thông, và các yếu tố khác – có thể tạo thuận tiện cho thương mại tự do hơn và các thị trường tự do hơn, nhưng không đảm bảo chúng, cũng chẳng cung cấp sự bảo vệ tin cậy chống lại ư chí của các quốc gia hùng mạnh hoặc chống lại sự điên rồ của con người. Nhiều quốc gia có thể hưởng lợi từ trật tự kinh tế tự do và muốn thấy nó được duy tŕ. Nhưng như Chiến tranh Thế giới I đă chứng minh, các quốc gia có các lợi ích khác bên cạnh lợi ích kinh tế.

Tất nhiên, các cuộc chiến tranh giữa các cường quốc lớn đă luôn luôn là chất xúc tác cho sự thay đổi hệ thống quốc tế, xóa sạch các trật tự thế giới cũ và sinh ra một cách đẫm máu các trật tự thế giới mới. Chúng cũng tàn phá các nền kinh tế toàn cầu, định h́nh lại các tiêu chuẩn và các ư thức hệ, và biến đổi cách tư duy của người dân, cách họ sống, và cái họ tin. Đấy là kết quả của các cuộc chiến tranh Napoleonic và hai cuộc chiến tranh thế giới, mà đă không chỉ định h́nh lại hệ thống quốc tế mà c̣n tạo ra các cuộc cách mạng ở Nga và Trung Quốc mà các cuộc cách mạng ấy cũng định h́nh thế giới một cách đáng kể như vậy. Thậm chí các cuộc xung đột hạn chế hơn giữa các cường quốc lớn cũng có thể làm thay đổi bản chất của hệ thống quốc tế một cách căn bản: Chiến tranh Pháp–Phổ đă sinh ra một nước Đức mới, thống nhất, với tất cả di sản cho tương lai của ḥa b́nh Âu châu; chiến tranh Nga–Nhật đă báo trước sự đến của Nhật Bản với tư cách một cường quốc lớn có khả năng thống trị Đông Á, với tất cả di sản cho tương lai của ḥa b́nh trong khu vực đó của thế giới. Nhiều người tin rằng các cuộc chiến tranh giữa các cường quốc lớn là không c̣n có thể nữa. Nền ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn, điều đặc trưng cho kỷ nguyên thống trị Mỹ, không phải là một sự giải lao tạm thời mà là điều kiện lâu bền thường xuyên mới của nhân loại, là một pha tiếp theo trong sự thăng tiến của các loài mà không thể đảo ngược được. Lư luận ḥa b́nh dân chủ cho rằng bởi v́ các nền dân chủ hiếm khi tiến hành chiến tranh với các nền dân chủ khác, sự mở rộng của nền dân chủ hạn chế về căn bản khả năng chiến tranh. Nhiều người tin rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế cũng ngăn cản chiến tranh: các quốc gia buôn bán với nhau và phụ thuộc vào sự thịnh vượng của nhau không có khuyến khích (incentive) để đánh nhau. Nếu nguyên nhân chính của chiến tranh trong suốt lịch sử đă là chiến đấu để kiểm soát lănh thổ, ngày nay nhiều người cho rằng chiếm hữu lănh thổ là không quan trọng bằng chiếm hữu thị trường và công nghệ. V́ thế tạo sao các quốc gia lại chiến đấu v́ lănh thổ? Một số người thậm chí c̣n cho rằng con người đă từ bỏ khuynh hướng bạo lực mang tính lịch sử của họ. Họ đă được “xă hội hóa” để ưa thích ḥa h́nh và phi bạo lực. Nhà tâm lư học tiến hóa Steven Pinker, nhận thấy sự giảm đột ngột số người chết từ các cuộc chiến tranh, xung đột sắc tộc, và đảo chính quân sự từ 1945, lập luận rằng tính vô nhân đạo truyền thống của con người đối với con người đă “giảm xuống một cách đột ngột”. Người dân có sự thấu cảm lớn hơn đối với nhau; họ đă học được rằng hợp tác ḥa b́nh là đáng công hơn xung đột và tranh đua; họ đặt một giá trị cao hơn lên cuộc sống.39 Với tất cả các đặc trưng tăng cường lẫn nhau này của thế giới hiện đại, không ngạc nhiên là các nhà khoa học chính trị đă kết luận rằng chiến tranh giữa các cường quốc dẫn đầu không chỉ là không chắc xảy ra mà “đúng là không thể tưởng tượng nổi”. Đúng là một lư lẽ quyến rũ. Những người Mỹ, những người Âu châu và những đứa con khác của thời Khai Minh có khuynh hướng tin lịch sử có một chiều hướng, tiến bộ hướng lên, hoặc theo đường thẳng, hoặc như một sản phẩm biện chứng, v́ loài người học để kiểm soát và định h́nh cả thế giới tự nhiên lẫn bản chất con người. Các triết gia của thời Khai Minh ba thế kỷ trước đă tiên đoán lư tính sẽ dần dần chiến thắng bản năng thú tính của con người. Trong lĩnh vực quốc tế, họ đă coi sự vươn lên của các cộng ḥa thương mại như thuốc giải độc cuối cùng cho chiến tranh. Thương mại gia tăng giữa các quốc gia, họ đă tin, sẽ làm mềm những cách cư xử và thuần hóa các xung lực lại giống (atavistic), hung bạo của con người.

 

Họ đă hướng tới một ngày khi các quốc gia được cai quản bằng các luật và các định chế dựa trên lư tính. Thời hoàng kim của cách tư duy này cách đây hầu như chính xác một thế kỷ. “Ngày của các quốc gia đang qua đi”, các lănh tụ tiến bộ đă tuyên bố vào buổi b́nh minh của thế kỷ hai mươi. “Các nhu cầu của thương mại” đă “mạnh hơn ư chí của các quốc gia”.  Nhà văn tiểu luận Anh Norman Angell, trong cuốn sách năm 1910 của ḿnh, cuốn The Great Illusion (Ảo tưởng Lớn), đă lưu ư rằng mục tiêu của chiến tranh đă luôn luôn là chiếm lănh thổ, nhưng trong kỷ nguyên thương mại, hiện đại, sự giàu có dựa vào “tín dụng và

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết