[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 25 đến trang 30:

  

hợp đồng thương mại”, chứ không phải vào sự kiểm soát đất đai. Chiến tranh giữa các quốc gia tiên tiến sẽ tiêu diệt cả kẻ xâm lược lẫn nạn nhân. Thậm chí kẻ xâm chiếm không thể hưởng lợi từ các vùng đất bị tiêu hao, các ngành công nghiệp bị tàn phá. V́ thế chiến tranh giữa các cường quốc lớn sẽ là tột độ của sự phi lư. Trong một thế giới ngày càng dân chủ và thương mại, cả nhân dân lẫn các chủ ngân hàng sẽ không cho phép nó (xảy ra). Hai triệu bản của cuốn sách của Angell đă được bán một thế kỷ trước, và đă không chỉ những người theo chủ nghĩa ḥa b́nh đă thấy lư lẽ biện hộ có tính thuyết phục. Winston Churchill, với tư cách một thành viên trẻ của Quốc hội, đă cho rằng “các cường quốc mà đă trở nên phụ thuộc lẫn nhau, gắn bó với các Nhà nước khác bởi thương mại” sẽ chẳng bao giờ “đe dọa sự thanh b́nh của thế giới hiện đại”. Như đối với những người Đức, “V́ sao, họ là giữa các khách hàng thật tốt nhất của chúng ta, và, nếu giả như bất cứ thứ ǵ xảy ra đối với họ, tôi không biết chúng ta sẽ làm ǵ ở đất nước này cho thị trường”.43 Vào buổi rạng đông của thế kỷ hai mươi, ngay cả Theodore Roosevelt đă tin chiến tranh “giữa các cường quốc văn minh [đă] trở nên ít và ít thường xuyên hơn” nhờ “sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng và sự phức tạp của các mối quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế”. Khi đó đă có các lư do khác cho sự hy vọng. Nhiều người đă tin rằng vũ khí hiện đại đă trở nên tàn phá hết sức và chiến tranh hiện đại khủng khiếp hết sức đến mức các quốc gia sẽ chẳng bao giờ lựa chọn đánh nhau. Các cường quốc lớn của thế giới đă “bớt thôi thúc tâm lư cho chiến tranh”.  Điện tín không dây, tàu khách vượt đại dương, mạng lưới đường sắt mênh mông đă cho phép người dân của các quốc gia khác nhau học hỏi nhiều hơn về nhau. Chủ nghĩa dân tộc và tính bài ngoại đă nhường đường cho ư thức toàn thế giới. Buổi rạng đông của thế kỷ hai mươi cũng chứng kiến sự nở rộ của các hiệp ước quốc tế và các hội nghị ḥa b́nh. Hàng tá thỏa ước trọng tài phân xử đă được kư mà theo đó các quốc gia hứa sẽ đệ tŕnh các tranh chấp lên các ṭa án thay cho việc tiến hành chiến tranh. Các hội nghị ḥa b́nh ở Hague đă tạo ra các thỏa ước về giới hạn các loại vũ khí và các phương pháp chính trị nhất định bị coi là vô nhân đạo – ném bom các thành phố từ các khí cầu zeppelin, chẳng hạn, và việc sử dụng hơi cay (mustard gas). Cái đă cho trọng lượng như vậy cho tất cả các lư lẽ ủng hộ một nền ḥa b́nh mới và vĩnh viễn đă là sự thực rằng vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ hai mươi, đă không có chiến tranh nào giữa các cường quốc lớn trong gần bốn thập niên.  Đối với những người c̣n nhớ chiến tranh gần như liên tục giữa các cường quốc lớn của các thế kỷ trước, th́ đấy đă là một kỷ nguyên ḥa b́nh dài đáng kinh ngạc. Thay cho coi nó như một khoảng giữa chuyển tiếp, người ta lại tự nhiên đi coi nó như một t́nh trạng lâu dài. Cái ǵ đó đă thay đổi căn bản. Loài người đă tiến hóa và đă đạt một trạng thái ổn định mới. Bây giờ chúng ta biết đánh giá này, mà đă có vẻ hết sức đúng đắn lúc đó, đă sai lầm. Sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới I, cuộc chiến tranh chết chóc và tàn phá nhất trong lịch sử, chỉ bốn năm sau cuốn sách bán chạy nhất của Angell, tiết lộ sự thất bại của trí tưởng tượng của toàn bộ một thế hệ. Họ đă đơn giản không có khả năng để tưởng tượng rằng các lănh tụ quốc gia có thể ứng xử phi lư, rằng họ có thể hy sinh các lợi ích kinh tế, thậm chí làm phá sản các thỏa ước của họ, ngoài một sự kết hợp của tham vọng và nỗi sợ, rằng họ có thể coi lănh thổ như một mục tiêu xứng đáng của chiến tranh, rằng họ có thể sử dụng tất cả các vũ khí khủng khiếp sẵn có để cho họ tùy ư sử dụng mà không cần suy đi tính lại – vi phạm các thỏa ước quốc tế vừa ráo mực – và rằng trong tất cả những việc này, họ có đằng sau họ sự ủng hộ nhiệt t́nh của nhân dân bị kích động bởi một sự tự hào dân tộc rất không theo chủ nghĩa toàn thế giới (uncosmopolitan). Ngày nay chúng ta bị thiếu tương tự về sức tưởng tượng. Lại lần nữa lẽ phải thông thường là, xung đột cường quốc lớn là “không thể tưởng tượng nổi”. Thậm chí các lư lẽ cũng hệt như cũ: sự phục thuộc lẫn nhau về kinh tế, toàn cầu hóa, sự không thích hợp của lănh thổ, sự mở rộng của dân chủ, sự tàn phá không thể tưởng tượng nổi của chiến tranh trong thời đại nguyên tử, ḷng tin rằng các quốc gia và các dân tộc đă được “xă hội hóa” để ủng hộ ḥa b́nh hơn chiến tranh, rằng họ đánh giá cuộc sống nhiều hơn và đồng cảm hơn với những người khác – tất cả những thứ này khiến cho chiến tranh giữa các cường quốc lớn là phi lư và v́ thế là không thể. Và, thêm sức cho các lư lẽ này, một lần nữa, lại là nền ḥa b́nh dài mà chúng ta đă được hưởng, sáu thập niên đáng chú ư mà không có xung đột giữa các cường quốc lớn. Thế nhưng chúng ta có ít lư do bào chữa hơn các bậc tiền bối của chúng ta để tin rằng loài người đă đạt tŕnh độ mới về khai minh. Những người lạc quan của đầu thế kỷ hai mươi đă không chứng kiến hai cuộc chiến tranh thế giới, các cuộc diệt chủng, những cảnh khủng khiếp khác của thời đại được cho là tiên tiến của chúng ta. Họ đă không chứng kiến sự nổi lên của Chủ nghĩa Xă hội Dân tộc (Nazism) và Chủ nghĩa Phát xít. C̣n chúng ta đă thấy tất cả, và về mặt lịch sử, khá gần đây. Mới chỉ bảy thập niên trước Hoa Kỳ đă đánh nhau với Nhật Bản đế quốc, Đức Nazi, và Ư phát xít. Mới chỉ đúng ba mươi năm trước, khi Henry Kisinger yêu cầu những người Mỹ tự thích nghi ḿnh với thực tế lâu bền của cường quốc Soviet, với hàng ngàn đầu đạn hạt nhân của nó nhắm vào các thành phố Mỹ và Âu châu và hàng ngàn đầu đạn hạt nhân Mỹ nhắm vào Nga. Thế kỷ hai mươi đă là thế kỷ đẫm máu nhất trong toàn bộ lịch sử, và chúng ta chỉ mới bước vào thế kỷ hai mươi mốt mười hai năm. C̣n chưa chín muồi để chúng ta kết luận, sau mười ngàn năm chiến tranh, rằng vài thập niên và một số đổi mới công nghệ sẽ thay đổi bản chất con người và bản chất của các mối quan hệ quốc tế. Người ta đúng để chỉ ra sự mở rộng dân chủ và hệ thống kinh tế thị trường tự do, tự do thương mại như các nhân tố quan trọng trong duy tŕ ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn. Nơi họ sai là ở sự tin vào các điều kiện này hoặc là đủ hay là tự duy tŕ. Thực ra, đấy đúng hơn là các hệ quả của nền ḥa b́nh tuyệt vời chứ không phải là nguyên nhân. Năm 1914, dân chủ và sự thịnh vượng đă không chấm dứt được chiến tranh nước lớn, mà ngược lại chiến tranh nước lớn chắc chắn đă giúp chấm dứt dân chủ và sự thịnh vượng.

Pinker lần theo dấu vết của sự giảm số người chết do chiến tranh cho đến 1945, thời điểm chỉ ngẫu nhiên là ngày sinh của trật tự thế giới Mỹ. Sự trùng nhau khiến ông ta quên, nhưng không nhất thiết làm chúng ta quên. Sức mạnh của Hoa Kỳ đă là nhân tố lớn nhất trong duy tŕ ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn. Nó cũng là một nhân tố lớn trong sự mở rộng dân chủ và trong việc tạo ra và duy tŕ trật tự kinh tế tự do. Nhưng vai tṛ quan trọng nhất của Mỹ đă là để làm nản chí và ngăn cản các khuynh hướng b́nh thường của các cường quốc khác trong hệ thống để tranh đua và tranh giành với nhau theo những cách mà về mặt lịch sử đă dẫn đến chiến tranh. Khó để đo lường các sự kiện không xảy ra, để phỏng đoán cái ǵ đă có thể nổ ra giả như Hoa Kỳ đă không đóng vai tṛ mà nó đă đóng trong sáu mươi lăm năm vừa qua. Chỉ dẫn duy nhất mà chúng ta có là lịch sử và một sự hiểu biết chung về cách các cường quốc thường ứng xử. Chúng ta biết, chẳng hạn, Châu Âu và Châu Á đă trông thế nào trước khi Hoa Kỳ bước vào bức tranh và đă làm thay đổi các phương tŕnh quyền lực ở cả hai khu vực. Nước Đức sau khi thất bại trong Chiến tranh Thế giới I, đă t́m cách tái vũ trang, để lấy lại các lănh thổ bị mất và danh dự bị mất, để bảo vệ ḿnh chống lại các kẻ thù trước kia, để tái lập ḿnh như một cường quốc. Từ cuối thế kỷ mười chín trở đi, Nhật Bản đă t́m kiếm sự bá chủ khu vực và đă thèm thuồng lănh thổ ở lục địa Á châu. Nhưng khi quyền lực Mỹ đă được thêm vào các phương tŕnh quyền lực này sau Chiến tranh Thế giới II, th́ cả hai quốc gia đă hướng đến các con đường hoàn toàn khác, như các quốc gia lân cận họ. Giả như biến số Mỹ đă thiếu [trong các phương tŕnh này], th́ kết quả sẽ đă khác đi. Sức mạnh Mỹ cũng đă định h́nh ứng xử Soviet trong suốt Chiến tranh Lạnh. Phạm vi của tầm với Soviet vào Châu Âu đă được xác định bởi cách bố trí lực lượng Mỹ vào cuối Chiến tranh Thế giới II, chứ không phải bởi sự khiêm tốn của các tham vọng Soviet. Các mưu toan Soviet ở Berlin từ 1948 đến 1961, giả như chúng đă không vấp phải sự đe dọa ngấm ngầm và công khai của lực lượng Mỹ, đă có thể thay đổi t́nh h́nh ở Đức một cách sâu sắc. Sự thiếu hung hăng Soviet ở Châu Âu sau đó, cũng như ở Trung Đông và Vịnh Persian, đă là một đáp ứng lại với các đường đỏ do Hoa Kỳ và các đồng minh của nó vẽ ra. Ngay cả ngày nay, khoảng cách lớn tiếp tục về sức mạnh giữa Hoa Kỳ và các cường quốc khác có khuynh hướng làm nản chí sự ḱnh địch tranh đua và cản trở những cố gắng để xác lập quyền bá chủ khu vực bằng vũ lực.

Không chỉ là, sức mạnh Mỹ là hết sức áp đảo. Hoa Kỳ cũng có được một khả năng độc nhất và chưa từng có để giành được sự chấp nhận quốc tế về quyền lực của ḿnh. Trong khía cạnh này, nó vi phạm hầu như mọi lư luận về quan hệ quốc tế. Ta có thể kỳ vọng rằng các quốc gia khác, đối mặt với kẻ khổng lồ này giữa họ, sẽ kéo bè kéo cánh và t́m cách cùng nhau hủy diệt nó, làm yếu nó, hay chí ít cắt bớt một cách nghiêm trọng khả năng của nó để sử dụng quyền lực. Đó là cái mà logic và hầu hết lịch sử tiên đoán. Đại Liên Minh của các cường quốc Âu châu đă cùng nhau chống lại sức mạnh lớn của nước Pháp của Louise XIV vào cuối thế kỷ mười bảy, và sau đó để chống lại Napoléon vào đầu thế kỷ mười chín; sự Ḥa Hoăn Tay Ba (Triple Entente) của Anh, Pháp, và Nga, bất chấp lịch sử thù hằn dài giữa chúng, đă xuất hiện như một sự phản ứng với sự tăng lên của sức mạnh Đức vào đầu thế kỷ hai mươi; và liên minh của các cường quốc xuất hiện để chiến đấu chống lại Hitler; và trong Chiến tranh Lạnh một liên minh của các nền dân chủ tiên tiến đă cân bằng, kiềm chế, và cuối cùng đă hủy Liên Xô. Hai ngàn năm trăm năm trước, sự nổi lên của Persia (Ba Tư) đă khiến các thị quốc Hy Lạp đến Athens xin trợ giúp, và sau đó sự nổi lên của Athens đă khiến các thị quốc Hy Lạp khác chạy gấp đến Sparta. Các nhà lănh đạo Trung Quốc biết một cách sâu sắc về lịch sử dài và nhất quán này, biết nhiều đến mức trong hai thập kỷ họ đă vất vả làm việc để tích lũy sức mạnh một cách yên lặng để tránh phản ứng tương tự, và chỉ với các kết quả ô hợp. Thế nhưng Hoa Kỳ, quốc gia đă nắm và sử dụng quyền lực so với phần c̣n lại của thế giới c̣n lớn hơn các quốc gia đă muốn là bá chủ trong quá khứ, lại đă không khích lệ sự nổi lên của một liên minh nhắm tới cân bằng chống lại nó. Ngược lại, sự gia tăng của sự thống trị quân sự Mỹ trong các năm 1980 và 1990 đă đi cùng với sự giảm đáng kể về năng lực quân sự cả ở Châu Âu lẫn ở Liên Xô trước kia. Khi sức mạnh Mỹ đă tăng, hầu như tất cả các cường quốc thế giới khác đă giảm quy mô quân sự của họ. Như thế Hoa Kỳ cũng đă coi thường cái mà các nhà lư luận quan hệ quốc tế gọi là “nan đề an ninh–security dilemma”. Theo lư thuyết này, khi một quốc gia phát triển các lực lượng của ḿnh, cho dù v́ các mục đích pḥng vệ, th́ các cường quốc khác cảm thấy cũng buộc phải phát triển lực lượng quân sự của ḿnh, để tự bảo vệ ḿnh. Thế nhưng bất chấp sự phát triển vũ khí của Reagan, Mikhail Gorbachev đă khẩn khoản v́ ḥa b́nh và đă bắt đầu giảm sức mạnh Soviet, và nước Nga đă giải trừ quân bị mạnh trong các năm 1990.48 Châu Âu đă giải trừ quân bị đều đặn trong các thập niên gần đây khi sức mạnh quân sự Mỹ đă tăng lên. Và ngay cả sự phát triển vũ khí của Trung Quốc trong phần lớn của hai mươi lăm năm qua đă được thúc đẩy bởi nhịp điệu tăng trưởng kinh tế của nó, bởi các nỗ lực để “thống nhất” Đài Loan vào Hoa lục, và bởi sự thay đổi nhận thức về các lợi ích toàn cầu của nó hơn là bởi nhu cầu đáp lại cụ thể đối với sự gia tăng của các năng lực Mỹ, tuy việc này đă bắt đầu thay đổi trong các năm gần đây.

Thật đáng chú ư, thậm chí đáng kinh ngạc, rằng siêu cường Mỹ, mặc dù tất cả các sai sót của nó, các thái quá của nó, và những thất bại của nó, lại được hầu hết thế giới chấp nhận và tha thứ đến mức độ như vậy. Thực vậy, cường quốc Mỹ đă được nhiều hơn là sự tha thứ. Các quốc gia khác đă tiếp tay nó, đă cổ vơ nó, đă tham gia cùng nó, và, với tần suất đáng ngạc nhiên, đă hợp pháp hóa nó trong các định chế đa phương như NATO và Liên Hợp Quốc, cũng như trong các liên minh ít h́nh thức hơn. Từ khía cạnh lịch sử, điều này là độc nhất. Các quốc gia đă luôn luôn hoan nghênh sự can thiệp của một cường quốc nước ngoài để giúp họ trong cuộc chiến đấu của riêng họ. Nhưng cái Hoa Kỳ thường được hưởng khi sử dụng vũ lực là cái ǵ đó khác: một sự chấp nhận rộng răi thậm chí bởi cả các quốc gia không có lợi ích sống c̣n trực tiếp nào bị đe dọa. Cuộc chiến tranh do Mỹ lănh đạo chống Slobodan Milosevic năm 1999 đă được sự ủng hộ của hầu hết những người Âu châu, những người tin rằng họ có quyền lợi ǵ đó trong sự rối loạn Balkan. Nó cũng được sự ủng hộ của những người Nhật, những người Úc, và những người khác những người thực sự không có quyền lợi nào, mà sự ủng hộ của họ xuất phát từ những quan tâm nhân đạo, nhưng, rất quan trọng, cũng từ niềm tin chung rằng có thể tin Hoa Kỳ để dùng sức mạnh của nó cho các mục đích có thể chấp nhận được. Sự thực là, khi Hoa Kỳ tham gia chiến tranh, nó hiếm khi đi một ḿnh. Trong chiến tranh Triều Tiên, tham gia cùng các lực lượng Mỹ là các lực lượng của Vương quốc Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Australia, Pháp, Hy Lạp, Colombia, Thailand, Philippines, Bỉ, New Zealand, Hà Lan, và Luxembourg. Trong cuộc chiến tranh không được ḷng dân ở Việt Nam, những người Mỹ đă có các lực lượng hoạt động với những năng lực khác nhau bên cạnh họ từ Australia, New Zealand, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippines, Thailand, và Tây Ban Nha. Và tập quán vẫn được duy tŕ sau Chiến tranh Lạnh. Trong cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, tham gia cùng quân đội Mỹ là lực lượng của các nước Anh, Saudi Arabia, Syria, Ai Cập, Pháp, Morocco, Kuwait, Oman, Pakistan, Canada, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Qatar, Bangladesh, Italy, Australia, Hà Lan, Niger, Thụy Điển, Argentina, Senegal, Tây Ban Nha, Bahrain, Bỉ, Ba Lan, Nam Triều Tiên, Czechoslovakia, Hy Lạp, Đan Mạch, New Zealand, Hungary, và Na Uy. Nhiều quốc gia đă thực sự bực ḿnh khi Hoa Kỳ ban đầu đă xâm chiếm Afghanistan năm 2001 mà không kêu gọi nhóm liên minh thông thường, nhưng cuối cùng hơn bốn mươi quốc gia đă tham gia vào nỗ lực này. Sự kỳ vọng về mức ủng hộ toàn cầu này đối với can thiệp quân sự của Mỹ là lớn đến mức trong cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, những người Mỹ đă bị sốc và bị bối rối khi chỉ có ba mươi tám quốc gia đă tham gia hoặc vào cuộc xâm lấn, hay vào sự chiếm đóng Iraq sau chiến tranh. Đă hầu như không thể chịu nổi để thấy các đồng minh dân chủ như Pháp hay Đức khước từ sự tán thành của họ. Sự thực rằng những người Mỹ muốn sự tán đồng này, tự nó là quan trọng. Họ muốn nó như một cách để làm thanh thản lương tâm của họ và tái khẳng định công lư của sự quyết định dùng vũ lực của họ. Mức độ chấp thuân quốc tế nào đó cho họ sự tự tin lớn hơn rằng họ hành động v́ các lợi ích của thế giới chứ không đơn giản là ích kỷ. Nó cũng có nghĩa rằng bản thân họ không chịu hoàn toàn gánh nặng một ḿnh. Không ngạc nhiên rằng những người Mỹ muốn sự phê chuẩn này. Lạ hơn là, các quốc gia khác thừa nhận nó thường xuyên đến vậy.

**

8-xong

(Tiếp theo)Họ sẵn sàng thừa nhận rằng Hoa Kỳ quả thực tiến hành các hành động phục vụ các lợi ích của những người khác – phục vụ trật tự thế giới. Có ít sự tương tự lịch sử đối với t́nh trạng này. Không quốc gia nào trong các thế kỷ gần đây lại được hưởng một sự chấp thuận rộng như vậy cho việc sử dụng quyền lực của ḿnh. Thí dụ gần nhất có thể là việc Anh dùng hải quân của ḿnh để hạn chế buôn bán nô lệ trong các năm 1830, nhưng ngay cả việc đó cũng chỉ được chấp nhận một cách hằn học bởi các cường quốc hải quân khác, như Pháp, mà đă coi hành động đó như một sự khẳng định quyền bá chủ hải quân và kinh tế của Anh. (Và tất nhiên, Hoa Kỳ, quốc gia chiếm hữu nô lệ, đă chẳng hề phê chuẩn). Trong một thế giới đa cực thuộc loại đă tồn tại trước Chiến tranh Thế giới II, bất cứ việc sử dụng quyền lực nào bởi một trong những quốc gia dẫn đầu đă được các quốc gia khác coi là sự đe dọa – một mưu toan để làm biến đổi sự cân bằng tế nhị hiện hành. Trong trật tự do Mỹ áp đảo, với thứ bậc rơ ràng và không thể thách thức của nó, việc Mỹ sử dụng quyền lực là ít đe dọa hơn bởi v́ nói chung nó được dùng để khẳng định sự bất cân bằng hiện tồn.

Sự chấp nhận rộng răi quyền lực Mỹ không được lẫn lộn với việc chịu đựng vô vọng sự vượt trội của Hoa Kỳ. Cũng đă có cả việc đó nữa. Các quốc gia đôi khi đă chấp nhận quyền lực Mỹ bởi v́ họ có ít sự lựa chọn. Những người Âu châu, kể cả nữ thủ tướng Anh thân Mỹ Margaret Thatcher, đă không chấp thuận, chẳng hạn, sự can thiệp của Mỹ vào Grenada năm 1983, nhưng đă chẳng có ǵ mà họ có thể làm để ngăn chặn nó, cho nên họ ghi nhận những sự bất b́nh của ḿnh và để cho nó trôi qua. Các quốc gia khác không làm được mấy khi Hoa Kỳ quyết định sử dụng hành động quân sự mà không có sự chấp thuận của họ, trừ phi họ sẵn sàng kiềm chế sức mạnh Mỹ theo cách tích cực nào đấy, mà cách đó đ̣i hỏi sự thay đổi đột ngột toàn bộ nền kinh tế của họ theo hướng chi tiêu quân sự. Nhưng hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các quốc gia tiên tiến nhất, đơn giản không cảm thấy bị đe dọa đủ bởi sức mạnh to lớn của Mỹ, ngay cả khi họ thấy nó không bị kiềm chế và liều lĩnh, để biện hộ cho việc chi tiêu lớn cho các lực lượng quân sự riêng của họ. Đấy là một hiện tượng mới trong công việc quốc tế. Ngay cả khi Hoa Kỳ tiến hành các hoạt động quân sự mà những người khác coi là không được biện minh và phi pháp, việc này đă không dẫn đến việc rút sự ủng hộ quyền lực Mỹ nói chung. Hành động năm 2011 ở Libya đă là một thí dụ hàng đầu. Chỉ vài năm sau sự ồn ào toàn cầu về việc Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq, và với binh lính Mỹ vẫn tiến hành cuộc chiến tranh không được ḷng dân ấy, nhiều quốc gia, dẫn đầu bởi Pháp và Anh, thậm chí cả các nhà nước Arab, đă cầu khẩn Hoa Kỳ triển khai sức mạnh quân sự của ḿnh, lại để lật đổ một kẻ thống trị Muslim nữa trong một nước Arab. Rất nhiều quốc gia đă ủng hộ việc Hoa Kỳ sử dụng vơ lực ở Libya đến mức hai quốc gia chắc chắn đă không ưa để thấy sức mạnh Mỹ lại được phô trương – Nga và Trung Quốc – đă cảm thấy họ không có lựa chọn nào ngoài việc ưng thuận sự mong muốn thịnh hành để Hoa Kỳ lại lần nữa rút gươm của ḿnh ra. Người ta không thể trách Moscow hay Bắc Kinh v́ họ là những người ủng hộ bất hạnh và miễn cưỡng của hành động quân sự Mỹ, ở Libya và những nơi khác. Chẳng quốc gia nào trong hai cường quốc lớn này đă có bao giờ được hưởng sự ủng hộ quốc tế tương tự cho việc sử dụng vũ lực của họ. Khi Nga tiến hành chiến tranh, nó tiến hành một ḿnh, chí ít kể từ Chiến tranh Thế giới II. Không có cuộc bỏ phiếu nào ở Liên Hiệp Quốc hay ở bất cứ tổ chức đa phương nào khác phê chuẩn việc Moscow sử dụng vũ lực. Khi Nga đưa binh lính của ḿnh vào Georgia năm 2008, ngay cả phiên bản NATO của riêng nó, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, đă không đưa ra sự chấp thuận. Khi những người Soviet can thiệp vào Afghanistan năm 1979, họ đă vào mà không có sự tham gia của binh lính Ba Lan hay của các nước thành viên Hiệp ước Warsaw khác bên cạnh họ. Mỉa mai thay, khi các lính Ba Lan cuối cùng đă đi chiến đấu ở Afghanistan gần hai thập niên sau, họ đă sát cánh cùng binh lính Mỹ.

Khi Trung Quốc can thiệp vào Triều Tiên năm 1950, nó cũng đă tiến hành một ḿnh. Nó đă không sử dụng vũ lực kể từ khi lại nổi lên với tư cách một cường quốc lớn, nhưng nó có nhận được sự chấp thuận nếu nó đă sử dụng? Ngày nay, ngay cả khi Trung Quốc cử vài tàu cho các nỗ lực chống cướp biển cách xa bờ biển châu Phi, nó gây nên sự lo ngại giữa các cường quốc địa phương, như Ấn Độ. Các nhà chiến lược Trung Quốc đôi khi lấy làm lạ về cách Hoa Kỳ có thể xoay xở được. Như nhà tư tưởng chiến lược Diêm Học Thông (Yan Xuetong) diễn đạt, những người Mỹ đă tạo ra “một hệ thống bá chủ được định chế hóa” bằng cách “thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế” phù hợp với các nguyên lư ứng xử Mỹ. Một khi các tiêu chuẩn này được “đa số các nước chấp nhận”, th́ quyền bá chủ Mỹ trở nên được “hợp pháp hóa”. Nhưng cái người Trung Quốc thấy thực sự khó chịu là quy mô của các liên minh quân sự của Mỹ, v́, như Điêm Học Thông nhận xét, “Mỹ có hơn 50 liên minh quân sự chính thức, trong khi Trung Quốc chẳng có liên minh nào”.  Điều này cho Hoa Kỳ một lợi thế khổng lồ. Các nước khác có được sự ủng hộ quốc tế khi họ sử dụng vũ lực: Pháp và Anh, chẳng hạn, ở Coote d’Ivoire, Sierra Leon, và Libya; Australia ở Đông Timor. Nhưng họ không là các cường quốc lớn và không sử dụng bất cứ thứ ǵ giống

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết