[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 31 đến trang 35:

  

như loại sức mạnh quân sự mà Hoa Kỳ sử dụng. Hơn nữa, họ là một phần của câu lạc bộ dân chủ toàn cầu vẫn áp đảo, mà riêng ḿnh nó đă có khả năng cho sự hợp pháp quốc tế nào đó cho hành động quân sự. Theo lệ thường, hoặc các quốc gia đă chiếm hữu sức mạnh to lớn nhưng có được sự chấp nhận quốc tế thấp cho việc sử dụng vũ lực của ḿnh, hay nhận được sự chấp nhận quốc tế rộng răi cho việc sử dụng vũ lực của họ nhưng đă tương đối ít sử dụng nó. Và điều đó có ư nghĩa. V́ sao các quốc gia yếu hơn cổ vũ các quốc gia mạnh nhất sử dụng sức mạnh của họ? Trong khía cạnh này Hoa Kỳ đă là một sự dị thường. Từ cuối Chiến tranh Thế giới II, nó đă giữ thế gần như độc quyền về sức mạnh quân sự được hợp pháp hóa, và nó vẫn có ngày nay. V́ sao thế giới đă hết sức chấp nhận sức mạnh quân sự Mỹ? Không phải bởi v́ sức mạnh đó đă được sử dụng hoặc một cách tằn tiện, hay một cách không sai lầm, hay luôn luôn phù hợp với luật quốc tế, hay thậm chí luôn luôn được tham vấn với các đồng minh. Một số người lư lẽ rằng hệ thống quốc tế do Hoa Kỳ thiết lập sau Chiến tranh Thế giới II đă dựa trên các quy tắc và các thể chế mà những người Mỹ ràng buộc ḿnh cũng như những người khác. Theo lư thuyết này, các quốc gia khác có thể tin Hoa Kỳ tôn trọng các quy tắc này, nhất là các quy tắc điều chỉnh việc sử dụng vũ lực, và hoạt động bên trong các định chế như Liên Hiệp Quốc hay NATO. Việc này cho các quốc gia khác một mức độ tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không lạm dụng quyền lực của ḿnh. Tuy vậy, thực ra Hoa Kỳ đă không luôn luôn cảm thấy bị kiềm chế bởi hoặc các luật lệ hay các định chế, ngay cả bởi những cái do chính nó tạo ra. Từ việc lật đổ hay âm mưu lật đổ các chính phủ ở Iran, Guatemala, Cuba, đến chiến tranh Việt Nam và sự can thiệp ở Cộng ḥa Dominic, đến xâm chiếm Panama và chiến tranh Kosovo, Hoa Kỳ dưới thời các Tổng thống cả dân chủ lẫn cộng ḥa đă thường bất chấp hay bỏ qua các luật lệ và các định chế quốc tế, cả trong Chiến tranh Lạnh lẫn trong hai thập niên sau đó.

Những người Mỹ, tuy thường cam kết về nguyên tắc với chủ nghĩa đa phương, cũng đă chẳng cho phép ḿnh bị bao vây nhiều bởi các đồng minh của họ hay bởi các định chế như Liên Hợp Quốc. Các lời răn của những Người Cha Lập quốc chống lại “các liên minh gây rối rắm” đă vang vọng suốt các thế kỷ, như chính sự nghi ngờ của Mỹ về các định chế quốc tế và bất cứ hạn chế được cảm nhận nào đối với quyền tự chủ của nó. Những điều này đă cung cấp một đối trọng với t́nh cảm Mỹ cho luật lệ và các định chế quốc tế. Hoa Kỳ, hơn nữa, với tư cách một quốc gia rất hùng mạnh, đă không sẵn sàng hơn các cường quốc hùng mạnh trong quá khứ để hoàn toàn bị kiềm chế bởi các quốc gia yếu hơn. Hoa Kỳ đă không do dự tiến hành chiến tranh Kosovo năm 1999, bất chấp việc không đạt được sự chấp thuận tại Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, hay để ném bom Iraq năm 1998, bất chấp những sự phản đối ồn ào từ các đồng minh gần gũi như Pháp. Ngay cả trong Chiến tranh Lạnh, như một học giả đă nhận xét, cam kết khoa trương của Mỹ với “chủ nghĩa đa phương nói chung đă che dấu bản chất của chủ nghĩa đơn phương”.  Như thường lệ, Hoa Kỳ đă t́m kiếm sự chấp thuận các hành động quân sự của nó chỉ khi nó tự tin là nó có thể nhận được, như khi Truman đă t́m kiếm sự cho phép của Liên Hiệp Quốc đối với sự can thiệp vào Triều Tiên trong khi Liên Xô đă tẩy chay Hội đồng Bảo An, hay khi George H. W. Bush đă t́m kiếm sự cho phép của Liên Hiệp Quốc đối với chiến tranh chống Iraq năm 1991 tại thời điểm ông ta biết Liên Xô, đă bị yếu đi và kiệt sức, sẽ chiều theo. Có bất cứ ai đi tin Bush đă sẽ kiềm chế hành động nếu giả như Liên Xô đă phản đối? Khi ông ta ra lệnh việc xâm chiếm Panama năm 1989 để loại bỏ Manuel Noriega, ông ta đă không nao núng trước sự thực rằng Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đă lên án hành động như sự vi phạm luật pháp quốc tế, và Tổ chức các Quốc gia Châu Mỹ đă thông qua một nghị quyết lấy làm tiếc về việc đó, và Mỹ đă phải phủ quyết một dự thảo nghị quyết tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đ̣i rút ngay lập tức các lực lượng Mỹ. Thái độ đôi khi ngạo mạn này với các đồng minh và các định chế cũng hiển nhiên về các vấn đề kinh tế nữa. Khi Richard Nixon rút Hoa Kỳ khỏi bản vị (tiêu chuẩn) vàng năm 1971, như thế chấm dứt hệ thống Bretton Woods mà Hoa Kỳ đă nghĩ ra sau Chiến tranh Thế giới II, ông ta đă làm vậy mà không tham vấn ngay cả các đồng minh thân cận nhất của Mỹ. Khó để tin phần c̣n lại của thế giới đă coi Hoa Kỳ như tuân thủ một cách nhất quán các quy tắc của các định chế quốc tế mà nó đă giúp tạo ra. Mặc dù những người Mỹ tự cho là khác đi, mặc dù họ là giữa những người ủng hộ chủ nghĩa hợp pháp nhất trên thế giới, trật tự mà họ duy tŕ đă chẳng bao giờ dựa nghiêm túc trên luật pháp, mà đúng hơn trên cảm nhận của người Mỹ về các lợi ích của họ và trên đánh giá của họ về cái đúng và sai.

Thế th́ v́ sao thế giới lại chấp nhận đến vậy? Cảm nhận về các động cơ và các mục tiêu Mỹ là một câu trả lời. Bất luận các nước khác có thể nói ǵ, nhiều người chấp nhận một cách ngầm định rằng khi Mỹ sử dụng vũ lực, hiếm khi nó theo đuổi chỉ riêng các lợi ích hẹp ḥi mà cũng bảo vệ các nguyên lư của một trật tự mà các quốc gia tự do khác chia sẻ và từ đó họ được hưởng lợi. Thực ra, nhiều quốc gia đồng ư với Mỹ về định nghĩa của cái đúng và cái sai, cho dù đôi khi họ chê bai phương pháp xét xử của Mỹ. Các quốc gia khác cũng chẳng thể không thấy tính nước đôi mà với nó những người Mỹ sử dụng sức mạnh của ḿnh. Chính sự miễn cưỡng rơ rệt của Mỹ trong nắm và sử dụng quyền lực, ác cảm rơ ràng của họ đối với các trách nhiệm thống trị những người khác – hơn là cam kết của họ đối với luật pháp và các định chế – là cái khiến cho Hoa Kỳ, đối với nhiều quốc gia, là một kẻ bá chủ có thể chịu đựng được dẫu thường bị lầm lạc. Một chừng mực nào đó của sự chấp thuận này chẳng liên quan ǵ đến cái những người Mỹ nói hay tin hoặc họ ứng xử ra sao. Nó đơn giản là vấn đề địa chính trị – sự thực rằng ngay cả trong thế giới hiện đại này của truyền thông và giao thông nhanh chóng, Hoa Kỳ, về mặt địa chính trị, vẫn là một đảo xa, xa các trung tâm của sự tranh đua cường quốc lớn. Các băi chiến trường xung đột của thế giới trong hàng thế kỷ đă là ở Châu Âu, Châu Á và Trung Đông, nơi nhiều cường quốc có chung các láng giềng, tranh đua địa vị đứng đầu, và đă tham gia vào các chuỗi không bao giờ chấm dứt của sự ganh đua quân sự và chiến tranh. Hoa Kỳ, đơn độc trong số các cường quốc lớn thế giới, không là một phần của một khu vực như vậy. Nó là láng giềng của không cường quốc lớn nào (với các lời xin lỗi đối với Mexico và Canada). Nó đứng riêng ra. Chẳng quan trọng nó dính líu sâu đến thế nào vào các vùng tranh chấp nặng nề khác của thế giới, nó vẫn xa chúng, cả về mặt vật lư lẫn về mặt tinh thần. Như một kết quả, những người Âu châu, những người Châu Á, và những người khác ở Trung Đông luôn luôn đă lo lắng nhiều về cái các cường quốc láng giềng đang làm hơn là về sức mạnh Mỹ ở xa, bất chấp sức mạnh lớn hơn nhiều của nó. Và khi sức mạnh và ứng xử của một trong các cường quốc láng giềng đă làm tăng sự đe dọa, họ đă ngó tới Hoa Kỳ như một đối tác tự nhiên – thoải mái cả v́ sức mạnh của nó cả v́ sự xa cách của nó. Pháp và Anh đă quay sang nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ chống Đức; Đức đă quay sang nhờ Hoa Kỳ giúp chống Liên Xô, Trung Quốc cũng thế; Trung Quốc và Triều Tiên đă quay sang nhờ Hoa Kỳ giúp chống Nhật; Nhật bản đă quay sang nhờ Hoa Kỳ giúp chống Trung Quốc; các nước Arab vùng Vịnh đă quay sang nhờ Hoa Kỳ giúp chống Iran hay Iraq – và luôn luôn bởi v́ mối hăm dọa láng giềng trông có vẻ đe dọa hơn và bởi v́ Hoa Kỳ thực sự có sức mạnh để giúp.

 Điều này chỉ ra lư do cuối cùng v́ sao quyền lực Mỹ lại được dung thứ và thậm chí được hoan nghênh bởi nhiều quốc gia trên khắp thế giới. Họ cần nó, hoặc chí ít họ cảm thấy họ có thể cần nó trong tương lai. Họ đă chấp nhận sức mạnh to lớn của Mỹ không phải trước hết từ t́nh cảm hay sự ngưỡng mộ mà từ lợi ích của bản thân họ. Họ đă muốn Hoa Kỳ trở nên hùng mạnh về quân sự và cũng cam kết về quân sự, cho dù điều đó có nghĩa là phải dung thứ cái mà nhiều người coi như việc sử dụng ngông cuồng sức mạnh quân sự ấy. Trong các năm 1960, khi các sinh viên Đức biểu t́nh trên đường phố chống lại chiến tranh Việt Nam, thủ tướng Đức đă ra hiệu thận trọng. Hoa Kỳ “đang chiến đấu ở đó v́ các lư do của các hiệp ước và các nghĩa vụ long trọng”, ông nhận xét, và nếu những người Mỹ bỏ rơi đồng minh của ḿnh ở Nam Việt Nam, th́ những người Đức cũng có thể bị bỏ rơi một ngày nào đó. “Chung quy không thể tránh khỏi câu hỏi nếu nói chung người ta có thể tin Mỹ”.54 Năm 1968, sự phê phán chiến tranh Việt Nam tạm thời lặng đi sau cuộc xâm chiếm Soviet vào Tiệp Khắc (Czechoslovakia). Bất luận nỗi e sợ của họ là ǵ, và đă có nhiều nỗi lo âu như vậy, các đồng minh của Mỹ đă không đánh giá Hoa Kỳ như thế giả như nó đă không có khả năng và không sẵn sàng sử dụng vũ lực. Sự chấp nhận chung này của sức mạnh Mỹ trong nhiều thập niên vừa qua đă là cốt yếu cho sự duy tŕ ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn. Những người muốn trở thành những kẻ thách thức trật tự quốc tế, thậm chí những người muốn trở thành những kẻ thách thức các trật tự khu vực ở Châu Âu, Châu Á, và Trung Đông, đều phải cân nhắc không chỉ sự thực về quân sự gây chết người của Mỹ mà cả sự ủng hộ mà nó có được từ đa số các quốc gia quan trọng nhất của thế giới. Ngoài việc đối mặt với sức mạnh quân sự Mỹ, kẻ thách thức khu vực có thể thấy ḿnh bị cô lập về mặt ngoại giao và phải chịu những trừng phạt kinh tế và trừng phạt khác trong một hệ thống quốc tế, mà trong đó Hoa Kỳ có ảnh hưởng mạnh hơn cường quốc thách thức đó. Đấy chắc chắn đă là sự bận tâm lớn của các lănh đạo Trung Quốc, đặc biệt từ các sự kiện trên Quảng trường Thiên An Môn, khi Hoa Kỳ đă tổ chức một chế độ cô lập quốc tế và các trừng phạt kinh tế nhắm tới chính phủ Bắc Kinh. Nó đă tiết lộ, theo lời của các học giả Trung Quốc, sự tồn tại của một “thứ bậc quốc tế bị áp đảo bởi Hoa Kỳ và các đồng minh dân chủ của nó”. Đă có một “nhóm cường quốc lớn xung quanh Hoa Kỳ”, mà từ đó Trung Quốc là một “kẻ đứng ngoài”.55 Giả như Trung Quốc tiến hành hoạt động quân sự nào đấy, ngay cả trong vùng lân cận riêng của nó, nó không chỉ phải lo về các lực lượng Mỹ và các lực lượng của các cường quốc địa phương, mà nó có thể thấy ḿnh phải đối mặt về mặt ngoại giao và kinh tế bởi một liên minh của các nền dân chủ tiên tiến và giàu có do Mỹ lănh đạo. Cứ như, các nhà lănh đạo Trung Quốc nh́n quanh và cảm thấy một bức tường ngăn chặn do Mỹ xây dựng. Như Hồ Cẩm Đào diễn đạt vài năm trước đây, Hoa Kỳ đă “tăng cường việc triển khai quân sự của nó ở khu vực Châu Á–Thái B́nh Dương, đă củng cố liên minh quân sự Mỹ–Nhật, đă tăng cường sự hợp tác chiến lược với Ấn Độ, đă cải thiện các mối quan hệ với Việt Nam, đă dụ dỗ Pakistan, đă thiết lập chính phủ thân Mỹ ở Afghanistan, đă tăng bán vũ khí cho Đài Loan, và vân vân. Họ đă mở rộng các tiền đồn và đă đặt các điểm áp lực lên chúng ta từ hướng đông, nam và tây”. Các nhà lănh đạo Trung Quốc che giấu “một nỗi sợ thường trực về bị các cường quốc dẫn đầu, đặc biệt là Hoa Kỳ, chọn ra và nhắm tới” và một “sự lo âu sâu sắc cho sự sống sót của chế độ, gần như là một cảm giác bị bao vây”.  Triển vọng về đội cảnh sát (posse comitatus) Mỹ toàn cầu này, và thực tế không thể chối căi được của sức mạnh quân sự Mỹ, đă là cái ǵ đó để phải coi một cách nghiêm túc. Như các nhà nghiên cứu lịch sử cẩn trọng, những người Trung Quốc biết rơ số phận của Đức, Nhật Bản, và Liên Xô. Sự kết hợp lạ thường của sức mạnh to lớn và sự chấp nhận toàn cầu đặc biệt của sức mạnh đó là nhân tố chính đă ngăn chặn chiến tranh giữa các cường quốc lớn. Chúng ta bị lóa mắt bởi dân chủ hóa, toàn cầu hóa, và sự phụ thuộc lẫn nhau, và tin các diễn biến mới này là những cái làm cho thế giới của chúng ta khác đến vậy. Nhưng các xu hướng này đă lên xuống thường xuyên trong hơn một thế kỷ, và chúng đă không ngăn cản được các cuộc chiến tranh thảm khốc trong quá khứ và không thể được dựa vào trong tương lai. Lư thuyết ḥa b́nh dân chủ được khoe khoang khoác lác nhiều sẽ có sức thuyết phục hơn nếu giả như các cường quốc lớn thực sự đều là các nền dân chủ. Nó có thể giải thích v́ sao Đức và Pháp đă không tiến hành chiến tranh, nhưng nó không giải thích v́ sao Nga và Trung Quốc, hai cường quốc lớn chuyên quyền, hăy c̣n bị dính líu trong các xung đột với các cường quốc lớn khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế đă không ngăn cản hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ hai mươi, và ngay cả ngày nay các cường quốc lớn không thể được tin cậy để đặt cơ sở cho mọi quyết định về ḥa b́nh và chiến tranh lên những cân nhắc kinh tế. Người ta có thể tưởng tượng Trung Quốc tấn công một Đài Loan có đầu óc độc lập bất chấp các hậu quả kinh tế khả dĩ. Các cuộc chiến tranh của Mỹ ở Iraq và Afghanistan đă không chính xác là một mối lợi cho nền kinh tế Mỹ. Cả con người lẫn các quốc gia đều không sống chỉ bằng bánh mỳ. Chủ nghĩa dân tộc, danh dự, nỗi sợ, và những xúc cảm con người khác, cũng như những tính toán về quyền lực, định h́nh ứng xử của các quốc gia hệt như chúng định h́nh ứng xử của dân chúng những người sống trong quốc gia ấy.  Quan điểm chung rằng không thể có chiến tranh v́ lănh thổ, bởi v́ lănh thổ không c̣n quan trọng nữa trong thời đại được số hóa của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, cũng đáng nghi ngờ. Ta chỉ cần ngó tới sự triển khai quân sự của các quốc gia như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, và Pakistan để thấy, đối với họ, lănh thổ quả thực rất quan trọng. Trung Quốc khăng khăng rằng việc khôi phục lại và bảo tồn “tính toàn vẹn lănh thổ” của nó – bao gồm Tây Tạng, Hồng Kông, và Đài Loan – là “lợi ích cốt lơi”, cũng như sự kiểm soát các tài nguyên khoáng sản và các làn tàu biển ở Biển Đông. Các cuộc chiến tranh đă được tiến hành và có thể lại được tiến hành trên vùng biên giới tranh chấp giữa Ấn Độ và Trung Quốc tại Arunachal Pradesh, giữa Ấn Độ và Pakistan ở Kashmir, và trên các biên giới lănh thổ của Georgia. Người Nga đ̣i hỏi Crimea ở Ukraina và Bắc Cực chắc sẽ là chủ đề tranh chấp trong tương lai. Vấn đề của một nước Kurdistan độc lập lôi kéo Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, và Syria vào các tranh chấp lănh thổ. Và tất nhiên có tranh chấp lănh thổ giữa Israel và Palestine, mà đă dẫn đến bốn cuộc chiến tranh trong quá khứ và có thể lại như thế.

Chúng ta có thể đặt ḷng tin của ḿnh vào vũ khí hạt nhân để duy tŕ ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn? Có những người nghĩ như vậy, và một số người thậm chí c̣n đă gợi ư vũ trang toàn bộ các quốc gia trên thế giới với vũ khí hạt nhân như một cách để đảm bảo ḥa b́nh thế giới. Nhưng “ḥa b́nh hạt nhân” có vẻ c̣n ít tin cậy hơn “ḥa b́nh dân chủ”. Có thể tưởng tượng hai cường quốc hạt nhân tiến hành một cuộc chiến tranh quy ước nghiêm ngặt. Thực ra, chính xác là một cuộc chiến tranh như vậy mà cả Trung Quốc lẫn Hoa Kỳ đang chi tiêu hàng trăm tỷ đô la để chuẩn bị. Ấn Độ và Pakistan hàng ngày chuẩn bị một cuộc chiến tranh quy ước trên Kashmir, bất chấp các kho vũ khí hạt nhân của họ. Trong các thế kỷ mười bảy, mười tám, và mười chín, các cường quốc lớn đă tiến hành nhiều cuộc chiến tranh hạn chế v́ các mục đích hạn chế mà không t́m cách hủy diệt lẫn nhau. Sự khủng khiếp của vũ khí hạt nhân cũng chẳng là một đảm bảo đáng tin cậy chống lại việc sử dụng chúng. Trong Chiến tranh Lạnh các nhà lănh đạo thế giới đă nói thường xuyên về khả năng của chiến tranh hạt nhân hơn chúng ta có thể muốn nhớ. George C. Marshall khả kính đă nói về quan trọng thế nào để những người Soviet hiểu “rằng Hoa Kỳ sẽ thực sự sử dụng bom nguyên tử chống lại họ trong trường hợp chiến tranh”.  Gần cuối Chiến tranh Triều Tiên, Dwight Eisenhower đă cảnh cáo một cách dứt khoát những người Trung Quốc rằng ông ta sẽ không bị “giới hạn bởi bất cứ thỏa thuận quân tử nào” liên quan đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân, và ông đă b́nh luận cho các cố vấn riêng của ông ta rằng sự tập trung lớn của binh lính Trung Quốc trở thành “một mục tiêu tốt cho loại vũ khí này”.  Kennedy đă dự tính triển vọng của chiến tranh hạt nhân trong khủng hoảng Berlin năm 1961 và trong khủng hoảng tên lửa Cuba năm tiếp theo. Và đấy mới chỉ là các lănh đạo Mỹ. Khrushchev và Mao đă thường nói về chiến tranh hạt nhân mặc dù như một phiên bản cực đoan hơn của chiến tranh quy ước. Điểm cốt yếu không phải là các yếu tố này là không quan trọng đối với ḥa b́nh. Tất cả chúng đều đóng góp theo cách nào đó cho việc cản trở các cường quốc lớn khỏi tham gia chiến tranh. Nhưng chúng có đáng tin cậy khi thiếu thế trội của Mỹ, hay chúng hóa ra cũng bất lực trong ngăn chặn chiến tranh như chúng đă là năm 1914? Cách tốt nhất để đo lường liệu chúng ta đă đạt một thời đại mới của ḥa b́nh là ứng xử của các quốc gia. Nếu giả như đúng là các quốc gia và các dân tộc đă được “xă hội hóa” để yêu ḥa b́nh và ghét chiến tranh, th́ các quốc gia trên thế giới đều giải trừ quân bị một cách có hệ thống. Nhưng họ đă không. Chỉ Châu Âu đang giải trừ quân bị. Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, và Nhật Bản, cũng như rất đông các các cường quốc nhỏ hơn, bao gồm Brazil, Iran, và Thổ Nhĩ Kỳ, vẫn sẵn sàng chi các món tiền lớn để chuẩn bị cho chiến tranh. Cái ngăn cản họ sử dụng những vũ khí đó chống lại nhau không phải là lương tâm hay thương mại, mà là sự phân bố quyền lực trên thế giới mà sự phân bố đó làm cho thành công là hết sức hiếm có

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết