[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 46 đến trang 50:

:

đă biết đến lúc đó. Ngay cả khi cân bằng quyền lực được duy tŕ, đă không chỉ bởi ngoại giao thân ái mà cả bởi triển vọng luôn hiện diện của đối đầu quân sự. Như nhà khoa học chính trị Robert W. Tucker đă nhận xét, “Sự ổn định và sự điều độ như vậy với tư cách sự cân bằng được mang lại đă dựa rốt cuộc vào sự hăm dọa hay sử dụng vũ lực. Chiến tranh vẫn là phương tiện thiết yếu để duy tŕ cân bằng quyền lực”.68

Người ta tưởng tượng rằng ưu thế Mỹ sẽ được thay thế bằng một loại nào đó của sự hài ḥa đa cực, nhưng có ít lư do để tin rằng một sự quay về tính đa cực trong thế kỷ thứ hai mươi mốt sẽ mang lại ḥa b́nh và ổn định lớn hơn nó đă làm trong quá khứ. Ngày nay các cường quốc lớn hành động theo cách kiềm chế không phải họ kiềm chế một cách cố hữu mà bởi v́ các tham vọng của họ bị ngăn cản bởi một Hoa Kỳ vẫn chiếm ưu thế. Một số người tưởng tượng chúng ta đă bước vào thời đại “không cực – nonpolar” bởi v́, trong khi họ tin Hoa Kỳ đang suy tàn, họ không thấy các cường quốc khác đang lên để lấp các khoảng chân không khu vực.69  Nhưng, thực ra, các cực khác đă không nổi lên, bởi v́ trật tự thế giới Mỹ vẫn c̣n nguyên vẹn. Giả như Hoa Kỳ thực sự suy tàn, các cường quốc lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, và Brazil sẽ nhanh chóng trở nên áp đảo hơn trong các khu vực tương ứng của chúng, và thế giới sẽ trở về cái ǵ đó giống hệ thống đa cực của Châu Âu thế kỷ mười chín.

Vấn đề trong một thế giới như vậy ít có khả năng đến từ các nền dân chủ khác – cho dù các nền dân chủ có những tham vọng và theo đuổi các khu vực ảnh hưởng của chúng. Nó có khả năng hơn đến từ các cường quốc lớn chuyên quyền. Các nền dân chủ có thể thỏa măn với trật tự thế giới tự do mà Hoa Kỳ tạo ra, điều chỉnh một cách thích đáng để hợp với ảnh hưởng tăng lên của riêng chúng. Nhưng các cường quốc chuyên quyền có thể thỏa măn với một thế giới ủng hộ dân chủ và gây áp lực liên tục lên các chế độ chuyên quyền?

Ta thường nghe ngày nay rằng Hoa Kỳ không cần lo ngại về Trung Quốc và Nga. Trung Quốc là một diễn viên thận trọng trên sân khấu thế giới và không quan tâm đến bành trướng lănh thổ hay xung đột với các láng giềng của nó. Các chuyên gia về Nga ngày nay cho rằng, bất chấp lối nói đôi khi khoa trương tân đế quốc, các nhà cai trị ở Moscow không có mong muốn để lập lại Đế chế Nga, để nắm quyền kiểm soát các quốc gia Baltic gồm Lithuania, Latvia, và Estonia, hay để thống nhất các nước cộng ḥa Soviet cũ như Ukraina, Moldova, Georgia, và Belarus. Nhưng đấy là bởi v́ họ không quan tâm một cách bẩm sinh đến các mục tiêu như vậy hay bởi v́ họ bị chế ngự bởi sự cân bằng quyền lực toàn cầu khỏi việc thực hiện các tham vọng này, và như thế kiềm chế họ? Chẳng có cách nào để biết chắc chắn, nhưng lịch sử gợi ư rằng khi chúng ta nh́n vào ứng xử của các quốc gia và thử hiểu động cơ và các tham vọng của họ, chúng ta cần phải biết rằng những tính toán của họ bị tác động bởi cái họ tin họ có thể đạt và cái họ tin là bị cấm vào.

Chúng ta biết một thứ chắc chắn: một Trung Quốc không bị kiểm soát bởi sức mạnh Mỹ sẽ là một Trung Quốc khác với một nước phải lo ngại về sức mạnh Mỹ. Nếu Bắc Kinh ngày nay không ứng xử một cách hung hăng hơn với Nhật Bản, hay Ấn Độ, hay các quốc gia Đông Nam Á, mà với họ nó có các tranh chấp, th́ đấy không phải là bởi v́ Trung Quốc vốn dĩ thụ động và thận trọng. Đă có những thời kỳ trong lịch sử của nó khi Trung Quốc đă tiến hành các hành động quân sự, ngay cả trong các t́nh huống khi cơ may không thuận lợi cho nó – thí dụ, chống lại các lực lượng Mỹ ở Triều Tiên năm 1950. Đúng hơn, là bởi v́ các cường quốc đó được sức mạnh của Mỹ yểm trợ. Giả như sức mạnh Mỹ bị bỏ khỏi phương tŕnh đó, người Trung Quốc sẽ tính toán khác. Các quốc gia khác cũng vậy. Ngày nay họ vừa ḷng để cưỡng lại các mưu đồ tham vọng hơn của Trung Quốc, ở Biển Đông và những nơi khác, bởi v́ họ biết Hoa Kỳ ở đó để ủng hộ họ. Trung Quốc, không ngạc nhiên, đang tăng cường sức mạnh hải quân của nó trong một nỗ lực để làm giảm vai tṛ này của Mỹ. Các quan chức Mỹ tự cho là bị bối rối bởi sự tăng cường lực lượng hải quân của Trung Quốc. Họ đ̣i “sự minh bạch” lớn hơn về các ư định của Trung Quốc. Họ cũng có thể hỏi v́ sao một con hổ lại mọc răng. Đấy là ứng xử b́nh thường của các cường quốc lớn đang lên. Nó chỉ có vẻ khác thường bởi v́ trật tự thế giới Mỹ cho đến hiện nay đă ngăn cản các xu hướng tự nhiên này của các cường quốc lớn.

Cũng đúng thế với Nga và các láng giềng của nó. Sự coi thường Moscow liên tục ở các quốc gia Baltic, Caucasus, và Đông Âu nhờ rất nhiều vào sự thực rằng các quốc gia này có một đồng minh hùng mạnh ủng hộ họ. Nếu thiếu sức mạnh Mỹ, Nga sẽ bị cám dỗ hơn rất nhiều để bắt các nước láng giềng của nó phải thích nghi với các mong muốn của Moscow, và họ sẽ bị xúi giục hơn rất nhiều để ưng thuận. Nếu Putin, người đă từng gọi sự sụp đổ của Liên Xô là “tai họa địa chính trị lớn nhất” của thế kỷ hai mươi, tin ông ta có thể khôi phục nó một cách chắc chắn, liệu ông ta có cưỡng lại sự cám dỗ? Ông ta đă sử dụng rồi mọi công cụ trừ lực lượng quân sự – năng lượng, thương mại, sự ủng hộ các chính trị gia và các đảng – để đưa các nước Soviet trước đây vào dưới ảnh hưởng của Moscow càng nhiều càng tốt. Trong một trường hợp ông ta đă sử dụng vũ lực, chống lại Goergia năm 2008, cũng chẳng chắc là ông ta đă dừng quân của ḿnh không tới Tbilisi giả như ông ta đă không bị Hoa Kỳ và NATO làm nhụt chí.

Lưu ư điều này không phải là để quy các động cơ tội lỗi cho các nhà lănh đạo Trung Quốc hay Nga. Đó là để đổ tội cho sự b́nh thường. Tất cả các cường quốc lớn đều đáp lại các cơ hội và các ràng buộc trong hệ thống quốc tế. Kể cả Hoa Kỳ. Khi sức mạnh Mỹ tăng dần vào cuối thế kỷ mười chín, các tham vọng của nó cũng tăng dần. Trong thế kỷ hai mươi, Hoa Kỳ đă tiến hành một chính sách can thiệp tích cực hơn sau khi Liên Xô sụp đổ so với nó đă tiến hành suốt phần lớn Chiến tranh Lạnh. Sau 1989 các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ ở nước ngoài đă trở nên thường xuyên hơn và đă xảy ra ở các phần của thế giới mà trước đó đă bị cấm vào do sự xa cách Chiến tranh Lạnh.

Chúng ta đă dần dần trở nên quen với cuộc sống trong trật tự Mỹ đến mức chúng ta có lẽ đă quên mất các quốc gia ứng xử thế nào khi chúng giành được sức mạnh. Sức mạnh tăng lên làm thay đổi các quốc gia. Nó làm thay đổi các tham vọng của họ, ư thức của họ về bản thân ḿnh, và thậm chí định nghĩa của họ về các lợi ích của họ. Nó cũng có một cách để làm lộ rơ ra các tính chất đặc trưng mà có thể đă bị nhận ch́m hoặc ít rơ rệt khi họ c̣n yếu hơn. Lấy một cường quốc thân thiện, như Pháp. Ngày nay nó là một cường quốc trung b́nh nhân từ với một chính sách đối ngoại khá khéo léo. Hầu hết các láng giềng Âu châu của nó coi nó như hơi kiêu căng và ích kỷ, nhưng điều đó là có thể dung thứ được bởi v́ nó chắc chắn không nguy hiểm. Nhưng Pháp sẽ thế nào với tư cách một siêu cường? Liệu các nét đặc trưng mà ngày nay người ta thấy chỉ gây khó chịu hay gây cười có trở thành có vấn đề hơn không? Khi Pháp đă là một trong hai hay ba cường quốc mạnh nhất thế giới, dưới triều Louis XIV trong thế kỷ mười bảy và đầu thế kỷ mười tám, và dưới thời Napoléon trong cuối thế kỷ mười tám và đầu thế kỷ mười chín, nó đă hai lần thử chính phục con đường để trở thành bá chủ Âu châu (và đă hai lần thất bại). Có thể một siêu cường dân chủ Pháp của ngày mai sẽ theo đuổi một chính sách đối ngoại khiêm tốn, kiềm chế, nhưng nếu như thế, đó sẽ là một sự dị thường lịch sử. Các siêu cường dân chủ cũng có thể đầy tham vọng, như Hoa Kỳ đă chứng tỏ một cách thừa thăi. Điểm cốt yếu là sức mạnh làm thay đổi các quốc gia, và đôi khi rất đột ngột. Cả Đức và Nhật Bản đă là khá nhân từ như các quốc gia có sức mạnh vừa phải hoặc ít. Trong các thế kỷ mười bảy và mười tám, “Đức buồn ngủ” đă được biết đến như “xứ sở của các nhà thơ và các nhà tư tưởng”.70 Trước thời hiện đại hóa dưới thời Minh Trị của nó, Nhật Bản đă là một quốc gia ẩn dật mà đă chủ ư cắt các mối liên hệ với thế giới bên ngoài và đă chẳng đe dọa ai. Thế mà cả hai đă phô bày một tập các tính chất khác hẳn khi chúng trở nên mạnh, thống nhất và tích cực trên sân khấu thế giới.

Bởi v́ những thay đổi về sức mạnh tương đối làm thay đổi các tham vọng quốc gia và làm thay đổi các ràng buộc, một sự quay trở lại tính đa cực sẽ làm thay đổi đặc tính của chính sách đối ngoại của mọi cường quốc lớn. Các quốc gia mà sức mạnh của nó tăng lên trong mối quan hệ tương đối (với quốc gia khác) sẽ phô bày các tham vọng bành trướng xứng với ảnh hưởng mới của họ trong hệ thống quốc tế. Như trong quá khứ, họ sẽ đ̣i hỏi những phạm vi ảnh hưởng đặc biệt, giá mà chỉ như sự đảm bảo chống lại các cường quốc lớn khác. Các cường quốc mà sức mạnh của nó suy giảm tương đối, như Hoa Kỳ, sẽ có ít lựa chọn trừ việc cắt giảm và nhường lại ảnh hưởng nào đó trong các lĩnh vực ấy. Như thế Trung Quốc sẽ đưa ra đ̣i hỏi phạm vi ảnh hưởng của nó ở Châu Á, Nga ở Đông Âu và Caucasus. Và, như trong quá khứ, các đ̣i hỏi của họ sẽ chồng lấn nhau và xung đột: Ấn Độ và Trung Quốc đ̣i hỏi cùng phạm vi trên Ấn Độ dương; Nga và Châu Âu có các phạm vi gối lên nhau ở khu vực giữa Biển Đen và Baltic. Không có Hoa Kỳ để ngăn chặn và kiềm chế các tham vọng mâu thuẫn nhau này, th́ sẽ phải có các điều chỉnh phức tạp để thiết lập một cân bằng mới. Một số trong những sự điều chỉnh này có thể được thực hiện thông qua ngoại giao, như đôi khi chúng đă được làm trong quá khứ. Những điều chỉnh khác được thực hiện thông qua chiến tranh hay đe dọa chiến tranh, như cũng đă xảy ra trong quá khứ. Ư niệm, rằng thế giới có thể thực hiện một sự chuyển tiếp trơn tru và hoàn toàn yên b́nh từ cấu h́nh quyền lực hiện tại sang một cấu h́nh mới phản ánh một phân bố hoàn toàn khác của quyền lực, là ư niệm đáng ao ước.

Một trong những nguyên nhân chính của chiến tranh trong suốt lịch sử đă là sự ngang hàng đại thể (rough parity) của sức mạnh mà t́nh trạng đó bỏ mặc các quốc gia trong sự nghi ngờ ai là mạnh hơn. Sự ngang bằng đại thể tạo ra sự không chắc chắn về cường quốc nào có thể thắng trong chiến tranh, mà t́nh trạng đó dẫn đến một sự tương tác phức tạp của những sự thăm ḍ và làm điệu bộ giữa các cường quốc tranh đua, làm tăng rất nhiều khả năng của một sự kiểm thử thật để phát hiện ra ai thực sự là hùng mạnh hơn. Các cuộc chiến tranh có khuynh hướng nổ ra như kết quả của những thay đổi quy mô lớn trong phương tŕnh sức mạnh, khi quỹ đạo hướng lên của một cường quốc đang lên trở nên gần để giao (cắt ngang) quỹ đạo hướng xuống của một cường quốc đang suy giảm. Kỳ công lớn của Chiến tranh Lạnh đă là, Hoa Kỳ và Liên Xô đă chẳng bao giờ quyết định để kiểm thử sức mạnh tương đối của họ, dù đă có thời kỳ họ đă đến gần việc đó một cách nguy hiểm. Không có công thức tốt hơn nào cho ḥa b́nh giữa các cường quốc lớn là sự chắc chắn về ai nắm tay trên.71 Và không phải là sự trùng khớp ngẫu nhiên mà các học giả đă bắt đầu nói về sự không thể của xung đột giữa các cường quốc lớn sau Chiến tranh Lạnh, khi Hoa Kỳ đột nhiên được hưởng một ưu thế quân sự to lớn đến vậy trên mọi quốc gia thách thức khác. Giả như tính ưu việt đó bị xói ṃn, sự quay trở lại của cạnh tranh cường quốc lớn sẽ làm cho chiến tranh cường quốc lớn lại có thể xảy ra hơn.

“Liên minh Ḥa hợp Châu Âu–Concert of Europe” nổi tiếng th́ sao? Có thể không có một sự ḥa hợp của các cường quốc lớn để điều phối các chính sách và duy tŕ ḥa b́nh trong thế giới hậu–Mỹ? Đúng là, trong nền ḥa b́nh kéo dài ba thập niên tiếp sau sự thất bại của Napoléon năm 1815, các cường quốc lớn Âu châu đă thành công dàn xếp công việc của họ và tránh được chiến tranh. Cái đă giữ cho liên minh ḥa hợp hoạt động, tuy nhiên, đă không phải là phép màu của sự cân bằng sức mạnh. Nó đă là một tập của các giá trị chung, các nguyên tắc chung, và một tầm nh́n chung về các vấn đề quan trọng nhất của thời đó – từ h́nh thù của trật tự Âu châu đến cái tạo thành quyền uy hợp pháp và bản chất của chính trị đối nội và xă hội. V́ hậu quả trực tiếp của Cách mạng Pháp và của chiến tranh tàn phá rộng khắp Âu châu tiếp sau đó, tất cả các nhà lănh đạo của các cường quốc lớn đă chia sẻ một sự ghê tởm chung về chủ nghĩa cực đoan và cách mạng. Họ đă liên hiệp lại với nhau không chỉ để ǵn giữ ḥa b́nh mà để giữ nền ḥa b́nh bảo thủ. Họ đă muốn làm cho thế giới an toàn cho chế độ quân chủ và chế độ quư tộc. Họ đă chia sẻ một tầm nh́n về một loại đặc biệt của Châu Âu mà họ muốn duy tŕ chống lại thách thức của các lực lượng tự do và cách mạng. Tuy vậy, sự đồng thuận đó mau chóng bắt đầu trở nên căng thẳng, khi nước Anh, cường quốc tự do nhất trong các cường quốc này, ngày càng phản đối sự khăng khăng của các đối tác Áo và Nga đ̣i đập tan tất cả mọi sự ám chỉ của chủ nghĩa tự do ở Lục địa bằng lực lượng quân sự. Liên minh ḥa hợp trên thực tế đă sụp đổ sau khi cách mạng tự do đă lại quét khắp Châu Âu trong các năm 1840.

Đôi khi người ta hy vọng rằng một liên minh ḥa hợp của các cường quốc lớn có thể được h́nh thành ngày nay, nhưng các cường quốc lớn ngày nay có chia sẻ, như những người Âu châu đă chia sẻ, một tầm nh́n về cả trật tự quốc tế và tính hợp pháp nội địa hay không? Không nhiều năm trước đây, câu trả lời đă có vẻ là có. Trong các năm 1990 hầu hết mọi người tin thế giới đă bước vào một giai đoạn hội tụ và sự đồng thuận tương tự như sự đồng thuận của đầu thế kỷ mười chín, chỉ có lần này không nhân danh chủ nghĩa bảo thủ, chế độ quư tộc, và chế độ quân chủ mà trong sự ủng hộ chủ nghĩa tự do, các thị trường tự do, và dân chủ. Các năm 1990 đă là Kết thúc của Lịch sử, là sự chiến thắng, theo lời của một học giả, của “tầm nh́n tự do về trật tự quốc tế”, một thế giới mà trong đó “dân chủ và các thị trường hưng thịnh … toàn cầu hóa đă được lưu vào nơi thiêng liêng như lực lượng lịch sử tiến bộ, c̣n ư thức hệ, chủ nghĩa dân tộc và chiến tranh đă thoái trào”.72 Trong thế giới hậu–Chiến tranh Lạnh tất cả các cường quốc lớn đă đi theo chủ nghĩa tự do hoặc người ta đă muốn tin như thế: Nga dưới thời Eltsin; Trung Quốc đang ở giữa sự tự do hóa kinh tế của nó. Cho nên ư tưởng về một “cộng đồng quốc tế” lại tái sinh, và nhiệm vụ của nó đă là để giải quyết nhiều “vấn đề toàn cầu” – bệnh tật, nghèo đói, thay đổi khí hậu, chủ nghĩa khủng bố, xung đột sắc tộc – mà về chúng tất cả các quốc gia đă có các lợi ích chung hơn là xung đột.

Nhưng trong thập niên thứ hai của thế kỷ hai mươi mốt, sự hội tụ cảm thấy như một ảo tưởng lư tưởng chủ nghĩa khác. Các cường quốc lớn không thống nhất về các nguồn của sự hợp pháp đối nội. Hoa Kỳ và các đồng minh tự do của nó cố nhiên ủng hộ dân chủ. Nga và Trung Quốc, cũng đương nhiên, muốn một thế giới an toàn cho chế độ chuyên quyền của họ. Một trật tự mới, đa cực, giả như là trật tự sắp h́nh thành, sẽ bao gồm hai cường quốc lớn chuyên quyền này như các diễn viên chính. Nếu lịch sử của Liên minh Ḥa hợp Châu Âu có là bất cứ chỉ dẫn nào, sự thiếu thống nhất về cái ǵ tạo thành chính phủ hợp pháp sẽ giỏi nhất là một trở ngại đối với sự hợp tác và tồi nhất là một nguồn xung đột. Samuel P. Huntington, viết vào năm 1991, đă suy đoán rằng nếu “Liên Xô và Trung Quốc trở thành các nền dân chủ như các cường quốc lớn khác, th́ xác suất của sự cư xử hung bạo giữa các quốc gia sẽ giảm xuống rất nhiều”. Nhưng, mặt khác, “một thế giới bị chia rẽ thường xuyên” đă “có nhiều khả năng là một thế giới hung bạo”. Theo cách gợi ư của (Abraham) Lincoln, ông đă hỏi, “Một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau có thể sống qua một phần dân chủ một phần chuyên quyền đến bao lâu?”73

Tiếp theo Những người hiểu rằng trật tự khai phóng hiện thời đă được xây dựng xung quanh sức mạnh Mỹ đă vật lộn với câu hỏi làm thế nào để duy tŕ nó nếu và khi sức mạnh đó phai tàn. John Ikenberry, giữa những người khác, đă biện hộ rằng nhiệm vụ của Hoa Kỳ trong một thời đại ảnh hưởng suy giảm là để thiết lập các định chế và luật quốc tế mà có thể bén rễ và duy tŕ trật tự đó khi Mỹ suy tàn,

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết