[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 51 đến trang 55:

 

và để thuyết phục các cường quốc đang lên rằng họ có lợi ích để tham gia và duy tŕ các định chế và các quy tắc quốc tế đó. Bằng cách này, các định chế có thể giành được cuộc sống riêng của chúng và có thể kiềm chế ngay cả các quốc gia hùng mạnh mà khác đi có thể có thiên hướng phá hủy trật tự khai phóng. Các định chế và quy tắc mạnh hơn này rốt cuộc sẽ trở thành những cái thay thế cho sức mạnh Mỹ.

Ư tưởng này về dựng lên các định chế quốc tế tự do, tự–duy tŕ đă nhử trêu ngươi những người Mỹ từ khi quốc gia trở thành một cường quốc lớn vào cuối thế kỷ mười chín. George Kennan và “những người có đầu óc thực tiễn” khác đă phàn nàn về thiên hướng Mỹ để t́m sự cứu giúp trong các luật và định chế quốc tế, hy vọng để “chặn những khát vọng hỗn loạn và nguy hiểm của các chính phủ” thông qua một “hệ thống các quy tắc pháp lư và những kiềm chế”.74 Nhưng có thể hiểu được rằng những người Mỹ muốn một trật tự mà về cơ bản đă là tự–điều chỉnh và tự–duy tŕ. Nó là câu trả lời cho câu hỏi hắc búa về sức mạnh và lợi ích hết sức làm họ điêu đứng – làm thế nào để tạo ra một thế giới có ích cho các lư tưởng và lợi ích Mỹ mà không đ̣i hỏi việc thực hiện sức mạnh Mỹ phức tạp về mặt đạo đức và tốn kém tiền bạc. Theodore Roosevelt đă nghĩ dưới dạng một consortium quốc tế của các cường quốc lớn, hoạt động một cách hợp tác để thúc đẩy văn minh – một giấc mơ bị tan vỡ khi cũng chính các cường quốc lớn ấy bản thân họ đă suưt phá hủy nền văn minh năm 1914. Woodrow Wilson đă giương ngọn cờ sau chiến tranh (thế giới I), tạo ra một Hội Quốc Liên (và các đồng hương của ông khi đó đă từ chối tham gia) mà đă có nghĩa là để giữ ǵn các luật và các định chế được sức mạnh tập thể của các chính sách tự do ủng hộ. Sự thử lại được tiến hành một lần nữa sau Chiến tranh Thế giới II, với việc thành lập Liên Hiệp Quốc, và lại lần nữa sau Chiến tranh Lạnh, khi Tổng thống George H. W. Bush đă nói một cách đầy hy vọng về một “Trật tự Thế giới Mới” đang đến, trong đó “pháp trị thay thế luật rừng,” “các quốc gia thừa nhận trách nhiệm chung đối với tự do và công lư,” và Liên Hiệp Quốc “hoạt động như những người sáng lập ra nó đă h́nh dung”.75

Nhiều người đă coi sự chuyển tiếp từ bá quyền Mỹ, hay từ bất cứ dàn xếp cường quốc lớn nào, sang một thế giới của các luật và các định chế quốc tế như giai đoạn cuối cùng của sự tiến bộ con người. Sự lệ thuộc của nhà nước–quốc gia riêng lẻ vào ư chí tập thể của tất cả các quốc gia, sự thay thế chủ nghĩa dân tộc bằng chủ nghĩa thế giới quốc tế, sự sao chép những sự kiềm chế pháp lư và chế định của đời sống nội địa Mỹ trên trường quốc tế – các mục tiêu này vẫn cám dỗ người dân ngày nay như đă từng cám dỗ các thế hệ trước kia. Sự khác biệt duy nhất là, trong quá khứ những người Mỹ đă t́m cách dựng lên một thế giới như vậy khi sức mạnh Hoa Kỳ đang lên. Ngày nay, một thế giới như vậy có nghĩa là để bù cho sức mạnh Hoa Kỳ bị coi là suy giảm.

Liệu có lư do để tin chúng ta có khả năng tốt hơn để xây dựng một thế giới như vậy ngày nay, có vẻ là trong một thời kỳ suy tàn, hơn là một trăm năm trước đây, hay thậm chí năm mươi năm trước đây, khi chúng ta đang lên? Thế kỷ xen ở giữa cho ít lư do để lạc quan. Tất cả các nỗ lực, để chuyển giao việc duy tŕ trật tự và an ninh cho một cơ quan quốc tế với thẩm quyền lớn hơn các quốc gia bên trong nó, hay để dựa vào các quốc gia tuân theo các quy tắc quốc tế, bất chấp sức mạnh của họ để coi thường chúng, đă thất bại. Nhà chức trách mới đă tỏ ra quá yếu để gánh vác nhiệm vụ. Các quốc gia mà đă có trách nhiệm hay sức mạnh, th́ đă hoặc bỏ qua nó hay đă sử dụng nó như một lư do để bào chữa cho việc bản thân họ không hành động. Các quy tắc nói chung đă ràng buộc chỉ những kẻ yếu, trong khi những kẻ mạnh, kể cả Hoa Kỳ, đă cảm thấy tự do để bỏ qua chúng và không đối mặt với sự trừng phát nào bởi “cộng đồng quốc tế”. Hội Quốc Liên đă từ chối một cách nổi tiếng để phản ứng lại những vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế – sự xâm chiếm của Nhật vào Măn Châu năm 1931, sự xâm chiếm của Ư vào Ethiopia năm 1935. Hoa Kỳ và Liên Xô, cả hai đă sống qua hầu hết thời Chiến tranh Lạnh bằng  cách bỏ  qua hay t́m cách  lách Liên Hiệp Quốc. Như  Reinhold Niebuhr đă nhận xét, “uy tín của cộng đồng quốc tế” chẳng bao giờ là đủ lớn và các thành viên riêng lẻ của nó chẳng bao giờ đủ thống nhất “để kỷ luật các quốc gia ngoan cố”.76 Các định chế không thể sử dụng nhiều quyền lực hơn các quốc gia tạo thành chúng, mà chúng thường nắm ít hơn.

Trong một thế giới đa cực, quốc gia nào hay nhóm nào của các quốc gia sẽ có khả năng sử dụng quyền lực của nó một cách đơn độc hay một cách tập thể để duy tŕ trật tự khai phóng chống lại những quốc gia làm đảo lộn nó? Đây là câu hỏi cốt yếu, bởi v́ bất cứ trật tự nào, dựa cuối cùng không chỉ vào riêng các quy tắc, mà c̣n vào sức mạnh để thực thi các quy tắc. Ngày nay có một t́nh thế duy nhất, trong đó quốc gia hùng mạnh nhất thế giới được hưởng một mức độ cao đáng chú ư của tính hợp pháp quốc tế khi nó sử dụng vũ lực. Trong các thời đại đa cực trước, khi tất cả các quốc gia đă t́m kiếm sự an ninh từ một cân bằng phiền phức về quyền lực và đă hoạt động bên trong các phạm vi ảnh hưởng được xác định một cách đại khái hay trong các lĩnh vực của các phạm vi chồng lấn nhau, đă đe dọa làm mất ổn định sự cân bằng. Trong cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi, chẳng hạn, các cường quốc lớn đă không thể mang lại trật tự cho vùng Balkan náo động bởi v́ việc sử dụng vũ lực bởi bất cứ một trong các cường quốc lớn nào đă đe dọa lợi ích của các cường quốc khác và cân bằng tổng thể. Đă không có cường quốc quốc tế nào để áp đặt trật tự. Đấy đă là nan đề mà Wilson đă thử giải bằng Hội Quốc Liên. Thực ra, nó đă được giả quyết chỉ bởi quyền bá chủ Mỹ. Trong cuối thế kỷ hai mươi, Hoa Kỳ đă có khả năng lănh đạo hai cuộc can thiệp vào các nước Balkan v́ lợi ích của việc duy tŕ trật tự khai phóng mà không kích động xung đột giữa các cường quốc lớn. Trong khi những người Nga cảm thấy bị làm nhục một chút bởi ưu thế Mỹ ở một vùng Slavic và được Nga quan tâm về mặt truyền thống, (nhưng) đă chẳng hề có vấn đề chiến tranh. Giả như sự không ngang bằng hiện hành về sức mạnh giữa Hoa Kỳ và các cường quốc lớn khác giảm đi, có thể là không thể để can thiệp trong t́nh huống tương tự mà không phải chịu rủi ro gây ra đối đầu giữa các cường quốc lớn. Cường quốc nào hay các cường quốc nào trong thế giới hậu–Mỹ sẽ có khả năng hành động với sự chấp nhận của các cường quốc khác? Việc thiếu lực lượng quân sự được hợp pháp hóa khiến cho ngày càng khó để bảo vệ các nguyên tắc cốt lơi của trật tự khai phóng chống lại những thách thức không thể tránh khỏi.

Tiếp theo) Bài học của thế kỷ hai mươi, có lẽ đă bị quên trong thế kỷ hai mươi mốt, là, nếu ta muốn một trật tự khai phóng hơn, th́ có thể không có cái thay thế cho các quốc gia tự do hùng mạnh để xây dựng và bảo vệ nó. Trật tự quốc tế không phải là một sự tiến hóa; nó là một sự áp đặt. Nó là một sự thống trị của một tầm nh́n đối với các tầm nh́n khác – trong trường hợp này, sự thống trị của các nguyên tắc tự do của hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị trong nước, và các quan hệ quốc tế trên các nguyên tắc khác, không tự do. Nó sẽ kéo dài chỉ với điều kiện là những người áp đặt nó vẫn có năng lực để bảo vệ nó. Đấy là một thực tế không thoải mái đối với những người theo chủ nghĩa quốc tế tự do. Chúng ta thích tin rằng một trật tự quốc tế tự do tồn tại bởi v́ nó đúng và công bằng – và không chỉ cho chúng ta mà cho tất cả mọi người. Chúng ta thích h́nh dung rằng sự chấp nhận một trật tự khai phóng là tự nguyện hay, c̣n tốt hơn, là sản phẩm của các lực lượng tự nhiên, chứ không phải là việc sử dụng quyền lực. Đó là v́ sao sự “Kết thúc của Lịch sử” đă là  một luận đề hấp dẫn đến vậy đối với nhiều người, và vẫn thế thậm chí sau khi đă bị các sự kiện làm mất uy tín. Lư luận về sự tiến hóa không thể tránh khỏi có nghĩa là không có đ̣i hỏi nào để áp đặt trật tự khai phóng. Nó sẽ đơn thuần xảy ra. Điều này giải quyết sự mơ hồ, tính nước đôi đạo đức – và các thách thức thực tiễn và tài chính – của việc áp đặt nó và bảo vệ việc áp đặt nó.

Cũng có một giả định được gắn vào thế giới quan Khai minh của chúng ta, đó là có một mối liên kết tất yếu giữa trật tự khai phóng và sự kết thúc của chủ nghĩa dân tộc, và thậm chí của bản thân quốc gia. Sự tăng lên của các định chế siêu quốc gia và một cảm giác thế giới chủ nghĩa đại diện cho sự tiến bộ theo hướng một trật tự khai phóng hoàn hảo hơn. Nhưng nếu giả định này sai th́ sao? Nếu một trật tự được đặc trưng bởi ḥa b́nh, dân chủ, và thịnh vượng lại phụ thuộc vào các quốc gia cá biệt để duy tŕ nó, th́ sao? Người theo chủ nghĩa quốc tế Theodore Roosevelt đă lư lẽ cũng vậy năm 1918, trong phản ứng lại các tầm nh́n siêu dân tộc chủ nghĩa của thời ông. “Chúng ta hăy từ chối hủy bỏ chủ nghĩa dân tộc,” ông đă nói. “Ngược lại, chúng ta hăy đặt cơ sở cho một chủ nghĩa quốc tế khôn ngoan và thực tiễn trên một chủ nghĩa dân tộc lành mạnh và nồng nhiệt”.77 Sự tiến bộ khai phóng chân chính có thể gắn, một cách nghịch lư, với khái niệm lại giống này của quốc gia, sẵn sàng sử dụng sức mạnh của nó, cùng chung với các quốc gia khác, để duy tŕ một trật tự mà chỉ có thể tiệm cận đến nhưng không bao giờ đạt được lư tưởng khai phóng quốc tế. Chính khi chúng ta thực sự thử để đạt cái lư tưởng, để vượt quá quốc gia đến một tầm nh́n hậu–quốc gia, là lúc toàn bộ dự án thất bại.

Về phương diện này, Liên minh Châu Âu, EU, có thể là một cảnh báo. Không nhóm nào của các quốc gia đă từng tiến gần hơn đến việc đạt lư tưởng khai phóng quốc tế chủ nghĩa, nền ḥa b́nh vĩnh cửu Kantian. Nhưng cái giá đă là một Châu Âu ngày càng giải trừ quân bị trong khi các cường quốc lớn khác lại từ chối đi theo hành tŕnh của nó. Liệu Châu Âu hậu hiện đại này thậm chí sẽ có sống sót nếu giả như nó thực sự phải tự lo liệu lấy trong một thế giới mà không vận hành theo các quy tắc của nó?

Sự mỉa mai là, thành công của trật tự thế giới Mỹ đă làm cho là có thể đối với rất nhiều người để tin rằng nó có thể được vượt quá, rằng có thể không c̣n cần đến sức mạnh Mỹ để duy tŕ nó nữa. Giấc mơ cũ đă có vẻ trở thành hiện thực hơn trong hai thập niên vừa qua bởi v́ thành công của sức mạnh Mỹ đă khiến nó có vẻ thực tế hơn. Thay cho việc nhận ra rằng xung đột và ganh đua cường quốc lớn đă bị chặn, người ta tưởng tượng rằng bản thân các cường quốc lớn đă thay đổi căn bản đặc tính của chúng, rằng các định chế, các luật, và các tiêu chuẩn (nắm quyền) kiểm soát. Cứ như thể những người dân New York, đi dạo xuyên qua Công viên Trung tâm an toàn, quyết định rằng sẽ không c̣n cần đến cảnh sát nữa. Công viên là an toàn bởi v́ loài người đă tiến hóa.

Tổng thống Bill Clinton khi rời nhiệm sở đă tin rằng nhiệm vụ then chốt của Mỹ là để “tạo ra thế giới mà chúng ta muốn sống khi chúng ta không c̣n là siêu cường duy nhất của thế giới nữa,” để chuẩn bị cho “một thời kỳ khi chúng ta sẽ phải chia sẻ vũ đài”.78 Đó là một đề xuất nghe cực kỳ hợp lư, biết điều. Nhưng liệu nó có thể được thực hiện hay không, lại là câu hỏi khác. V́ khi đến các quan hệ giữa các quốc gia, và đặc biệt về vấn đề của quyền lực và chiến tranh và ḥa b́nh, th́ các quy tắc và các định chế hiếm khi sống sót, trải qua được sự suy tàn của cường quốc hay của các cường quốc đă dựng chúng lên. Các quy tắc và các định chế đó giống giàn giáo xung quanh ṭa nhà: chúng không giữ ṭa nhà đứng vững; ṭa nhà giữ chúng đứng vững. Khi sức mạnh Mỹ suy giảm, các định chế và các chuẩn mực mà sức mạnh Mỹ ủng hộ cũng suy giảm. Hoặc, có thể có khả năng hơn, nếu lịch sử là một chỉ dẫn, chúng có thể sụp đổ hoàn toàn khi chúng ta chuyển sang một loại khác của trật tự thế giới, hoặc trở thành vô trật tự, hỗn loạn. Khi đó chúng ta có thể phát hiện ra rằng Hoa Kỳ đă là thiết yếu để giữ trật tự thế giới hiện hành, Hoa Kỳ và trật tự thế giới hiện hành là không tách rời nhau, và rằng sự lựa chọn khả dĩ khác đối với sức mạnh Mỹ đă không phải là ḥa b́nh và hài ḥa mà là hỗn loạn và tai họa – mà là t́nh trạng đă tồn tại trước khi trật tự thế giới Mỹ h́nh thành.

CHÚNG TA CÓ THỂ THẤY RỒI các dấu hiệu xói ṃn. Số các nền dân chủ qua bầu cử đă lên đỉnh điểm 123 vào năm 2005. Kể từ đó con số này giảm một chút mỗi năm, và năm 2011 c̣n 115. Tổ chức Freedom House cũng báo cáo một sự khoét rỗng dân chủ, với “áp lực gia tăng lên tự do ngôn luận, kể cả tự do báo chí, cũng như lên các nhà hoạt động xă hội công dân tham gia thúc đẩy cải cách chính trị và đ̣i tôn trọng các quyền con người, kể cả quyền tự tổ chức của những người lao động”.79

 Các định chế và chuẩn mực khai phóng đă cũng bị yếu đi một chút trong các năm gần đây. Liên Minh Châu Âu, EU, ngoài những khó khăn kinh tế và sức mạnh quân sự giảm bớt của nó ra, đă có ít ảnh hưởng đạo đức trong hệ thống quốc tế hơn nó đă có một thập niên trước. Theo các học giả ở Hội đồng Châu Âu về Quan hệ Đối ngoại (European Council on Foreign Relations), chẳng hạn, th́ EU đang bị “một cuộc khủng hoảng đề xuất–chậm” tại Liên Hiệp Quốc, nơi khả năng của nó để “thúc đẩy một nền pháp trị dựa trên các quyền con người và công lư” đang giảm sút đều đặn. Họ quy việc này chủ yếu cho ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc, mà đă thiết lập tại Liên Hiệp Quốc “một liên minh ngày càng chắc chắn về các cuộc biểu quyết đại hội đồng, thường được huy động để chống lại các giá trị EU như sự bảo vệ các quyền con người”.80

 Trong khi ấy, chủ nghĩa tư bản thị trường tự do đang trải qua một trong những cuộc vật lộn có tính chu kỳ tự làm mất uy tín của nó. Cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn và suy thoái kế tiếp sau đă lại nêu ra những nghi ngờ về khả năng đứng vững và sự đáng ao ước của hệ thống, tương tự như cái đă xảy ra trong các năm 1930 và 1970. Các mô h́nh khác, như chủ nghĩa tư bản do nhà nước dẫn dắt của Trung Quốc, có được thành công lớn hơn, một phần bởi v́ các khoản thặng dư khổng lồ của nhà nước đă giúp làm giảm nhẹ các tác động của suy thoái quốc tế.

Cuối cùng, các cường quốc lớn ngày càng ứng xử theo cách đại cường quốc truyền thống, khẳng định và cố thử để tạo ra các phạm vi ảnh hưởng phù hợp với sức mạnh gia tăng của họ: lời kêu gọi của Putin cho một “Liên minh Âu Á” của các quốc gia Soviet trước kia; những đ̣i hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông; những đ̣i hỏi của Ấn Độ ở vùng Ấn Độ dương. Chúng là những ám chỉ nhỏ về cái có thể c̣n sẽ đến.

Như thế Hoa Kỳ có suy tàn?

     TUY CHÚNG TA CÓ THỂ LỜ MỜ thấy các đường nét của trật tự thế giới tiếp theo có thể trông giống thế nào, từ điểm ưu thế chắc chắn của một trật tự thế giới mà vẫn được định h́nh bởi Hoa Kỳ. Câu hỏi là, nó c̣n kéo dài được bao lâu? Có lẽ sự thực đơn thuần rằng chúng ta có thể thấy bờ ở đằng xa cũng đủ để gây ra những nghi ngờ. Có thật Hoa Kỳ đang suy tàn? Và nếu đúng vậy, sự suy tàn có là không thể tránh khỏi, hay vẫn bên trong sức mạnh của Hoa Kỳ, và các quốc gia khác, để né tránh được nó?

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết