[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 56 đến trang 60:

Phần lớn các b́nh luận về sự suy tàn Mỹ những ngày này dựa trên phân tích khá lỏng lẻo, trên những cảm tưởng rằng Hoa Kỳ đă lạc đường, rằng nó đă từ bỏ các đức hạnh đă khiến nó thành công trong quá khứ, rằng nó thiếu ư chí để giải quyết các vấn đề nó đối mặt. Những người Mỹ nh́n vào các quốc gia khác mà nền kinh tế của họ, lúc này, khá hơn của chính họ, và các quốc gia đó có vẻ có sự năng động mà Mỹ một thời đă có, và họ than văn, như trong tiêu đề cuốn sách mới nhất của Thomas Friedman, “That used to be us – Chúng tôi đă từng thế”.

Chẳng giúp được mấy để chỉ ra rằng những người Mỹ đă trải nghiệm sự khó chịu này trước đây, rằng nhiều thế hệ trước đă cũng cảm thấy cảm giác này về sức mạnh đă mất, về đức hạnh đă mất. Ngay cả năm 1788, Patrick Henry đă than văn về sự sa sút của quốc gia từ vinh quang quá khứ, “khi tinh thần Mỹ c̣n ở thời trẻ của nó”.

Nhận thức về sự suy sụp ngày nay hẳn là có thể hiểu được, căn cứ vào t́nh h́nh kinh tế ảm đạm từ 2008 và thâm hụt tài khóa lớn của quốc gia, mà, kết hợp với tăng trưởng liên tục của các nền kinh tế Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, và các nền kinh tế khác, có vẻ báo trước một sự thay đổi quan trọng và không thể đảo ngược về sức mạnh kinh tế toàn cầu. Một ít bi quan cũng là do sự tin tưởng rằng Hoa Kỳ đă mất sự quư mến, và v́ thế mất ảnh hưởng, ở nhiều nơi trên thế giới, bởi v́ các phản ứng khác nhau của nó đối với các cuộc tấn công 11 tháng Chín. Các cơ sở giam cầm ở Guantánamo, việc tra tấn những người bị t́nh nghi là kẻ khủng bố, và việc xâm chiếm Iraq năm 2003 bị lên án rộng răi, tất cả đều đă làm nhơ nhuốc “nhăn hiệu” Mỹ và làm giảm sút “quyền lực mềm” của Mỹ – khả năng của nó để lôi cuốn những người khác theo quan điểm của nó. Đă có các cuộc chiến tranh khó khăn ở Iraq và Afghanistan, mà nhiều người lập luận đă chứng tỏ các giới hạn của sức mạnh quân sự, đă căng Hoa Kỳ ra quá các năng lực của nó, và đă làm yếu quốc gia ở lơi của nó. Một số người so sánh Hoa Kỳ với Đế chế Anh ở cuối thế kỷ mười chín, với các cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan tương tự như cuộc Chiến tranh Boer chật vật và làm mất tinh thần của Anh.

Với sự cảm nhận rộng răi này về sự suy sụp như cái phông, mọi thất bại của Hoa Kỳ để có được cái nó muốn có khuynh hướng tăng cường cảm tưởng này. Những người Arab và Israel từ chối dàn ḥa, bất chấp sự khẩn nài của Mỹ. Iran và Bắc Triều Tiên phớt lờ đ̣i hỏi hỏi của Mỹ đ̣i họ ngừng chương tŕnh vũ khí hạt nhân của họ. Trung Quốc từ chối để đồng tiền của nó lên giá. Sự náo động trong thế giới Arab tuột khỏi sự kiểm soát của Mỹ. Có vẻ, mỗi ngày đều mang lại nhiều bằng chứng hơn rằng đă qua rồi cái thời Hoa Kỳ đă có thể lănh đạo thế giới và khiến mọi người thực hiện mệnh lệnh của nó.

Dù cảm giác này về sự suy tàn có thể là mạnh mẽ, tuy vậy, nó xứng đáng một sự xem xét nghiêm túc hơn. Đo lường sự thay đổi về sức mạnh tương đối của một quốc gia là một công việc rắc rối, nhưng có vài chỉ số cơ bản: quy mô và ảnh hưởng của nền kinh tế của nó so sánh tương đối với quy mô và ảnh hưởng của các cường quốc khác; mức độ sức mạnh quân sự so với của các đối thủ tiềm tàng; mức độ ảnh hưởng chính trị mà nó nắm giữ trong hệ thống quốc tế – tất cả những cái đó tạo thành cái mà người Trung Quốc gọi là “sức mạnh toàn diện của quốc gia”. Và có vấn đề thời gian. Các đánh giá được đưa ra trên cơ sở chỉ của bằng chứng vài năm là rất có vấn đề. Sự suy tàn của một cường quốc lớn là kết quả của những thay đổi căn bản về phân bố quốc tế của các dạng khác nhau của quyền lực mà thường xảy ra trong các khoảng thời gian dài hơn. Các cường quốc lớn hiếm khi suy tàn một cách đột ngột. Một cuộc chiến tranh có thể kéo chúng xuống, nhưng ngay cả việc đó thường là một triệu chứng, và một đỉnh điểm, của một quá tŕnh dài hơn.

Sự suy tàn của Đế chế Anh, chẳng hạn, đă xảy ra trong nhiều thập kỷ. Năm 1870 phần của Anh trong chế tác toàn cầu đă là hơn 30 phần trăm. Năm 1900 c̣n 20 phần trăm. Vào 1915 c̣n dưới 15 phần trăm – dưới rất xa mức của Hoa Kỳ đang lên, mà, trong cùng thời kỳ, đă leo từ hơn 20 phần trăm lên hơn 25 phần trăm; nhưng cũng ít hơn của Đức, nước đă lẽo đẽo theo sau Anh suốt thế kỷ mười chín nhưng đă đuổi kịp và vượt Anh trong thập niên đầu của thế kỷ hai mươi. Trong tiến tŕnh của giai đoạn đó, hải quân Anh đă từ bá chủ không bị thách thức của biển cả xuống mức chia sẻ sự kiểm soát các đại dương với các cường quốc hải quân đang lên khác. Năm 1883 Anh đă có số tàu chiến nhiều hơn tổng cộng của tất cả các cường quốc khác. Vào 1897 ưu thế của nó đă bị lu mờ. Các quan chức Anh đă coi hải quân của họ “hoàn toàn bị mất địa vị đẳng cấp” ở Tây Bán cầu bởi Hoa Kỳ, và ở Đông Á bởi Nhật Bản, và thậm chí gần nhà hơn bởi hải quân kết hợp của Nga và Pháp, và đó đă là t́nh trạng trước khi hải quân Đức tăng trưởng đầy đe dọa.81 Đấy là những sự suy giảm đều đặn, rơ rệt, có thể đo lường về hai trong các số đo quan trọng nhất của sức mạnh trong tiến tŕnh của một nửa thế kỷ.

Một số lư lẽ cho sự suy giảm tương đối của Mỹ những ngày này sẽ có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn giả như chúng đă không chỉ xuất hiện theo sau khủng hoảng tài chính 2008. Hệt như một con én không làm nên mùa xuân, một cuộc suy thoái, hay thậm chí một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, không nhất thiết có nghĩa là sự chấm dứt của một cường quốc lớn. Hoa Kỳ đă chịu các cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc và kéo dài trong các năm 1890, các năm 1930, và các năm 1970. Trong mỗi trường hợp, nó đă hồi phục trong thập niên tiếp theo và cuối cùng đă kết thúc ở một vị trí mạnh hơn tương đối với các cường quốc khác so với trước khủng hoảng. Thập niên đầu tiên của thế kỷ hai mươi, các năm 1940, và các năm 1980 tất cả đă đều là các điểm cao của sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ.

Mới chưa đầy một thập niên trước, hầu hết các nhà quan sát đều đă không nói về sự suy tàn Mỹ mà đă nói về địa vị số một, về tính ưu việt lâu dài của nó. Năm 2002 sử gia Paul Kennedy, người mà vào cuối các năm 1980 đă viết một cuốn sách được thảo luận nhiều về “sự thăng trầm của các cường quốc lớn,” kể cả Hoa Kỳ, đă tuyên bố rằng chưa bao giờ trong lịch sử đă có một “sự không ngang bằng sức mạnh” lớn đến vậy như giữa Hoa Kỳ và phần c̣n lại của thế giới.82  John Ikenberry đă đồng ư rằng “không cường quốc lớn nào khác” đă nắm được “những lợi thế kinh khủng đến vậy về các năng lực quân sự, kinh tế, công nghệ, văn hóa hay chính trị … Tính hơn hẳn của sức mạnh Mỹ” đă là “chưa từng có”.83 Năm 2004, Fareed Zakaria đă mô tả Hoa Kỳ như đang hưởng một “sự đơn cực toàn diện” không giống bất cứ thứ ǵ kể từ thời La Mă.84 Nhưng chỉ bốn năm sau, Zakaria viết về “thế giới hậu–Mỹ,” c̣n Kennedy, lại, viết về tính không thể tránh khỏi của sự suy tàn Mỹ. Có thật những cái căn bản của Mỹ đă thay đổi một cách đầy kịch tính đến vậy chỉ trong vài năm ngắn ngủi?

Câu trả lời là không. Hăy bắt đầu với các chỉ số cơ bản. Về mặt kinh tế, và thậm chí bất chấp các năm suy thoái và tăng trưởng chậm hiện thời, vị trí của Mỹ trên thế giới đă không thay đổi. Phần của nó trong GDP thế giới đă vững vàng một cách đáng chú ư, không chỉ trong thập niên vừa qua, mà suốt bốn thập niên vừa qua. Năm 1969 Hoa Kỳ đă tạo ra đại thể một phần tư đầu ra kinh tế của thế giới. Ngày nay nó vẫn tạo ra đại thể một phần tư, và nó vẫn không chỉ là nền kinh tế lớn nhất mà là giàu nhất trên thế giới. Người ta đă bị mê hoặc một cách đúng đắn bởi sự đi lên của Trung Quốc, Ấn Độ, và các quốc gia Á châu khác mà phần của họ trong nền kinh tế toàn cầu đă leo lên đều đặn, nhưng điều này cho đến nay đă xảy ra hầu như hoàn toàn với sự trả giá của Châu Âu và Nhật Bản, mà phần của chúng trong nền kinh tế toàn cầu đă giảm sút.85  Những người lạc quan về sự phát triển của Trung Quốc tiên đoán rằng nó sẽ vượt Hoa Kỳ với tư cách nền kinh tế lớn nhất thế giới vào lúc nào đó trong hai thập niên tới. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ đối mặt với một thách thức ngày càng tăng đối với vị thế kinh tế của nó trong tương lai. Quy mô tuyệt đối của một nền kinh tế, tuy vậy, tự nó không là một số đo tốt cho sức mạnh tổng thể bên trong hệ thống quốc tế. Giả như nó là, th́ Trung Quốc của đầu thế kỷ mười chín, với nền kinh tế của nó khi đó là nền kinh tế lớn nhất thế giới, đă phải là một cường quốc chiếm ưu thế hơn là một nạn nhân bị các quốc gia Âu châu nhỏ hơn đánh gục. Cho dù Trung Quốc có đạt được cực điểm này lần nữa – và các nhà lănh đạo Trung Quốc đối mặt với các trở ngại đáng kể để duy tŕ sự tăng trưởng vô thời hạn – nó vẫn đứng xa sau cả Hoa Kỳ và Châu Âu về GDP trên đầu người.

Năng lực quân sự cũng quan trọng, như Trung Quốc đầu thế kỷ mười chín đă học được và các nhà lănh đạo Trung Quốc ngày nay biết. Như Diêm Học Thông đă nhận xét gần đây, “Sức mạnh quân sự làm ṇng cốt cho quyền bá chủ”.86 Ở đây vẫn chưa ai sánh kịp Hoa Kỳ. Không nghi ngờ ǵ nữa nó là quốc gia hùng mạnh nhất mà thế giới từng biết đến, và đă không có sự giảm sút nào về năng lực quân sự tương đối của Mỹ – chí ít vẫn chưa. Những người Mỹ hiện thời tiêu khoảng 600 tỷ USD một năm về quốc pḥng, hơn tổng số chi tiêu của các cường quốc lớn khác c̣n lại.  Hơn nữa, họ làm vậy, trong khi tiêu thụ khoảng 4 phần trăm GDP hàng năm, một tỷ lệ phần trăm cao hơn các cường quốc lớn khác nhưng về mặt lịch sử thấp hơn mức 10 phần trăm GDP mà Hoa Kỳ đă tiêu cho quốc pḥng trong giữa các năm 1950, và 7 phần trăm GDP đă chi trong cuối các năm 1980. Các khoản chi tiêu cao hơn nhiều đánh giá thấp sự ưu việt thực sự của Mỹ về năng lực quân sự. Các lực lượng bộ binh và không quân Mỹ được trang bị các vũ khí tiên tiến nhất, là các lực lượng có kinh nghiệm nhất trong chiến đấu thực sự, và sẽ làm thất bại bất cứ đối thủ nào trong một trận đánh đối đầu. Sức mạnh hải quân Mỹ vẫn chiếm ưu thế ở mọi khu vực trên thế giới.

Bằng các số đo quân sự và kinh tế này, chí ít, Hoa Kỳ hiện nay là không giống nước Anh khoảng năm 1990 tí nào, khi sự suy sụp tương đối của đế chế đó đă bắt đầu trở nên rơ ràng. Nó giống nước Anh khoảng 1870 hơn, khi đế chế đă ở đỉnh cao quyền lực của nó. Có thể tưởng tượng một thời gian khi điều này có thể không c̣n đúng thế nữa, nhưng thời điểm đó c̣n chưa đến.

Nhưng c̣n “sự đi lên của phần c̣n lại” – sức mạnh kinh tế ngày càng tăng của các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, và Thổ Nhĩ Kỳ – th́ sao? Câu trả lời là, c̣n tùy. Sự thực rằng các quốc gia khác trên thế giới đang hưởng các thời kỳ tăng trưởng cao không có nghĩa rằng vị thế của Mỹ với tư cách cường quốc chiếm ưu thế đang sụt giảm, hay thậm chí rằng “phần c̣n lại” đuổi kịp về mặt sức mạnh và ảnh hưởng tổng thể. Phần của Brazil trong GDP toàn cầu đă hơn 2 phần trăm một chút trong năm 1990 và vẫn hơn 2 phần trăm một chút bây giờ. Phần của Thổ Nhĩ Kỳ đă là dưới 1 phần trăm năm 1990 và vẫn dưới 1 phần trăm hiện nay.88 Người dân, nhất là dân kinh doanh, đầy hứng khởi một cách tự nhiên về các thị trường mới nổi này, nhưng chỉ bởi v́ một quốc gia là một cơ hội đầu tư hấp dẫn không có nghĩa nó cũng là một cường quốc lớn đang lên. Của cải là quan trọng trong chính trị quốc tế, nhưng không có tương quan đơn giản nào giữa tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng quốc tế. Không rơ là, một Ấn Độ giàu hơn ngày nay, chẳng hạn, có ảnh hưởng lớn hơn trên sân khấu toàn cầu so với một Ấn Độ nghèo hơn đă có trong các năm 1950 và 1960 dưới thời Nehru, khi nó đă là một lănh đạo của Phong trào Không Liên kết, hặc Thổ Nhĩ Kỳ, dẫu cho có sự độc lập và sự lóe sáng của Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan, thực sự có nhiều ảnh hưởng hơn nó đă có một thập niên trước.

C̣n về tác động của các nền kinh tế gia tăng này lên vị thế của Hoa Kỳ, th́ hoàn toàn tùy thuộc vào ai làm ra sự tăng trưởng. Vấn đề đối với Đế chế Anh vào đầu thế kỷ hai mươi đă không phải là sự sụt giảm thực chất của nó tương đối so với Hoa Kỳ, một cường quốc thân hữu nói chung mà các lợi ích của nó không xung đột một cách căn bản với các lợi ích của Anh. Thậm chí ở Tây Bán Cầu, thương mại Anh đă tăng khi nó nhường sự thống trị cho Hoa Kỳ. Vấn đề đă là sự suy giảm của Anh tương đối với Đức, nước nhắm tới quyền tối cao ở lục địa Âu châu, đă cố gắng cạnh tranh với Anh trên biển khơi, và trong cả hai khía cạnh đặt ra một sự đe dọa cho an ninh cốt lơi của Anh. Trong trường hợp của Hoa Kỳ, sự đi lên đầy kịch tính và nhanh của các nền kinh tế Đức và Nhật Bản trong Chiến tranh Lạnh đă làm giảm địa vị đứng đầu của Mỹ nhiều hơn rất nhiều so với “sự đi lên của phần c̣n lại” gần đây hơn. Phần của Mỹ trong GDP của thế giới, đă là gần 50 phần trăm sau Chiến tranh Thế giới II, đă rớt xuống c̣n khoảng 25 phần trăm vào đầu các năm 1970, rồi nó vẫn ở mức đó từ khi ấy. Nhưng “sự đi lên của phần c̣n lại” đó đă không làm yếu Hoa Kỳ. Nếu có thể nói như vậy, nó đă tăng cường sức mạnh Mỹ. Đức và Nhật Bản đă và đang là các liên minh dân chủ gần gũi, là các trụ cột then chốt của trật tự thế giới Mỹ. Sự tăng trưởng của các nền kinh tế của họ đă thực sự làm thay đổi cán cân một cách không thể lấy lại được chống lại khối Soviet và đă giúp dẫn đến cái chết của nó. Khi đo kiểm tác động của các nền kinh tế đang lên của các nước khác hiện nay, ta phải tiến hành cùng các loại cân nhắc. Sự tăng trưởng của nền kinh tế Brazil, hay của nền kinh tế Ấn Độ, có làm giảm sức mạnh toàn cầu của Mỹ? Cả hai quốc gia là thân hữu, và Ấn Độ ngày càng trở thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ. Nếu đối thủ cạnh tranh tương lai của Hoa Kỳ trên thế giới chắc là Trung Quốc, th́ một Ấn Độ giàu hơn và hùng mạnh hơn là một vốn quư, chứ không phải là một cái của nợ, đối với Hoa Kỳ. Nh́n tổng thể, sự thực rằng Brazil, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và Nam Phi đang hưởng một thời kỳ tăng trưởng kinh tế – mà có thể hoặc không thể kéo dài măi – là hoặc không liên quan đến hoặc có lợi cho vị thế chiến lược của Mỹ. Hiện tại, chỉ có tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc có thể nói là có các hệ lụy đối với quyền lực Mỹ trong tương lai, và cũng chỉ trong chừng mực mà người Trung Quốc chuyển đủ sức mạnh kinh tế tăng lên của họ thành sức mạnh quân sự.

Nếu Hoa Kỳ không bị suy giảm về các số đo cơ bản này của sức mạnh, chẳng phải đơn giản là đúng, tuy nhiên, rằng ảnh hưởng của nó đă giảm đi, rằng nó có một thời kỳ khó khăn hơn để có được cái nó muốn trên thế giới? Giả định hầu như phổ quát là, Hoa Kỳ quả thực đă mất ảnh hưởng. Bất luận sự lư giải có thể là ǵ – sự suy tàn của Mỹ, “sự đi lên của phần c̣n lại”, sự thất bại rơ ràng của mô h́nh tư bản chủ nghĩa Mỹ, bản chất loạn chức năng của hoạt động chính trị Mỹ, sự phúc tạp ngày càng tăng của hệ thống quốc tế – được chấp nhận rộng răi rằng Hoa Kỳ không c̣n có thể định h́nh thế giới cho phù hợp với các lợi ích và các lư tưởng của nó như nó đă từng làm được một thời. Mỗi ngày dường như mang lại nhiều bằng chứng hơn, v́ các thứ xảy ra trên thế giới mà có vẻ cả ngược với các lợi ích của Mỹ lẫn ngoài tầm kiểm soát của Mỹ.

Và, tất nhiên, là đúng: Hoa Kỳ không có khả năng để có được cái nó muốn trong phần lớn thời gian. Nhưng khi đó, nó đă chẳng bao giờ có thể. Nhiều trong các ấn tượng ngày nay về ảnh hưởng suy giảm của Mỹ dựa trên một ảo tưởng, một sai lầm luyến tiếc quá khứ, rằng đă từng có một thời khi Hoa Kỳ đă có thể định h́nh thế giới cho phù hợp với mong muốn của nó, nó đă có thể sai khiến các quốc gia khác làm cái mà nó muốn họ làm, và nó đă có thể, như nhà khoa học chính trị Stephen Walt diễn đạt, “dàn xếp hoạt động chính trị, kinh tế và những sắp xếp an ninh cho hầu như toàn bộ địa cầu”.89

Nếu chúng ta đo kiểm vị thế tương đối của Mỹ ngày nay, thật quan trọng để nhận ra rằng bức tranh này của quá khứ là một ảo ảnh. Đă chẳng bao giờ có một thời như vậy. Chúng ta có xu hướng hồi tưởng và ngẫm lại các năm đầu của Chiến tranh Lạnh như một thời khắc của sự thống trị toàn cầu đầy đủ của Mỹ.

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

 

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết