[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 61 đến trang 65:

Đă không có ǵ thuộc loại đó. Hoa Kỳ đă hoàn thành những việc vĩ đại lạ thường trong thời kỳ đó: Kế hoạch Marshall, liên minh NATO, Liên Hiệp Quốc, và hệ thống kinh tế Bretton Woods tất cả đă định h́nh thế giới chúng ta biết ngày nay. Thế nhưng đối với mỗi thành quả lớn ở đầu Chiến tranh Lạnh, đă có ít nhất một sự thất bại, một sự thoái trào đồ sộ ngang vậy.

Trong các năm dưới thời Truman, đă là chiến thắng của Cách mạng Cộng sản ở Trung Quốc năm 1949, mà các quan chức Mỹ đă coi là một tai họa cho các lợi ích của Mỹ ở trong khu vực và quả thực đă tỏ ra rất tốn kém; nếu không ǵ khác, nó đă là nhân tố chính khuyến khích Bắc Triều Tiên tấn công miền Nam năm 1950. Nhưng Hoa Kỳ đă bất lực để ngăn chặn nó. Như Dean Acheson đă tổng kết, “kết quả báo điềm gở của nội chiến ở Trung Quốc” đă tỏ ra “nằm ngoài tầm kiểm soát … của Hoa Kỳ,”  sản phẩm của “các lực lượng mà đất nước này đă thử để ảnh hưởng nhưng đă không thể”.90  Khi chiến thắng của Trung Quốc được mau chóng tiếp sau bằng các cuộc nổi dậy chống sự kiểm soát Tây phương ở Đông Dương, Acheson lại đă nhận xét rằng các sự kiện “ngoài tầm kiểm soát của chúng ta” đă “đang diễu hành trên lục địa Á châu”.91 Một năm sau th́ đến cuộc tấn công của Bắc Triều tiên lên Nam Triều Tiên một cách bất ngờ và không được (Mỹ) chuẩn bị, và sự can thiệp của Mỹ, mà, sau hơn ba mươi lăm ngàn người Mỹ chết và gần một trăm ngàn bị thương, để lại t́nh h́nh hầu như chính xác như trước chiến tranh. Có lẽ tin xấu nhất trong các tin đă đến trong năm 1949: người Soviet có được bom nguyên tử và sự chấm dứt độc quyền hạt nhân mà trên đó chiến lược quân sự và việc lập ngân sách quốc pḥng của Mỹ đă dựa vào.

Một năm sau, năm 1950, NSC 68, tài liệu chiến lược nổi tiếng đă cảnh báo về lỗ hổng ngày càng tăng giữa sức mạnh quân sự của Mỹ và các cam kết chiến lược toàn cầu của nó. Nếu các xu hướng hiện hành tiếp tục, nó tuyên bố, th́ kết quả sẽ là “một sự suy sụp nghiêm trọng về sức mạnh của thế giới tự do so sánh tương đối với Liên Xô và các chư hầu của nó”. “Tính toàn vẹn và sức sống của hệ thống của chúng ta,” tài liệu tuyên bố, đă “ở trong cảnh hiểm nguy lớn hơn từ trước đến nay trong lịch sử của chúng ta”.92 Douglas MacArthur, tŕnh bày bài phát biểu chính trước Đại Hội Quốc gia của Đảng Cộng Ḥa năm 1952, đă than văn “sự thay đổi gây hoảng sợ của cán cân quyền lực thế giới,” “gánh nặng gia tăng của các cam kết tài khóa của chúng ta,” sức mạnh đang lên của Liên Xô, “và sự sa sút tương đối của chính chúng ta”.93

Cả chính quyền Truman sắp măn nhiệm lẫn chính quyền Eisenhower mới nhậm chức đă tin chính chiến lược Soviet là cái để “phá vỡ nền kinh tế của Hoa Kỳ” bằng cách ép nó phải chi quá nhiều cho quốc pḥng, và cả hai đă sợ nó sẽ thành công.94 Năm 1957, Ủy Ban Gaither đă báo cáo rằng nền kinh tế Nga đă tăng với một nhịp điệu nhanh hơn nhịp điệu của Hoa Kỳ rất nhiều và rằng vào năm 1959 Nga sẽ có khả năng bắn trúng đất Mỹ bằng một trăm tên lửa đạn đạo vượt đại châu, thúc giục Sam Rayburn, Chủ tịch Hạ Viện, để hỏi, “Một nền kinh tế lành mạnh và một ngân sách cân bằng th́ hay ho nỗi ǵ, nếu chúng ta mất cuộc sống quốc gia của ḿnh và đồng Rúp Nga trở thành đồng tiền trên đất nước này?”95

Hoa Kỳ cũng đă chẳng luôn luôn có khả năng thuyết phục những người khác, ngay cả các đồng minh thân nhất, để làm cái nó muốn, hay để kiềm chế và đừng làm cái nó không muốn. Năm 1949 Acheson đă thử và đă thất bại để ngăn cản các đồng minh Âu châu, kể cả Anh, khỏi việc công nhận Trung hoa Cộng sản. Năm 1954 chính quyền Eisenhower đă thất bại để đạt được cái nó muốn ở Hội nghị Geneva về Việt Nam và đă từ chối kư hiệp định cuối cùng. Hai năm sau nó đă thử ngăn cản Anh, Pháp, và Israel khỏi việc xâm chiếm Ai Cập v́ việc đóng cửa Kênh đào Suez, chỉ để thấy họ lao vào một cuộc xâm lấn mà không có ngay cả thông tin hay cảnh báo nào cho Washington. Khi Hoa Kỳ chạm trán với Trung Quốc trên các đảo Kim Môn và Mă Tổ, chính quyền Eisenhower đă thử và đă thất bại để có một cuộc tŕnh diễn ủng hộ từ các đồng minh Âu châu, khiến cho John Foster Dulles sợ rằng NATO đă “bắt đầu tan ră”.96 Vào cuối các năm 1950, Mao đă tin Hoa Kỳ đă là một siêu cường suy sụp, “sợ đảm nhiệm những dính líu mới trong Thế giới Thứ Ba và ngày càng không có khả năng duy tŕ quyền bá chủ của nó trên các nước tư bản chủ nghĩa”.97

Thế c̣n “quyền lực mềm” th́ sao? Chẳng phải đúng ư, như nhà khoa học chính trị Joseph S. Nye đă biện hộ, rằng Hoa Kỳ đă thường có khả năng để “có được cái nó muốn trên thế giới” bởi v́ “các giá trị được bày tỏ” bằng văn hóa Mỹ như được phản ánh thông qua truyền h́nh, phim ảnh, và nhạc, và bởi v́ tính hấp dẫn của các chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ? Những yếu tố này của quyền lực mềm khiến các dân tộc khác trên khắp thế giới muốn đi theo Hoa Kỳ, “ngưỡng mộ các giá trị của nó, noi theo tấm gương của nó, khao khát mức thịnh vượng và cởi mở của nó”.98

Lại lần nữa, sự thật lịch sử là phức tạp hơn. Trong ba thập niên đầu tiên sau Chiến tranh Thế giới II, phần lớn thế giới đă không ngưỡng mộ Hoa Kỳ. Họ đă không t́m cách noi gương nó, và họ đă không đặc biệt hài ḷng về cách nó cư xử trong công việc quốc tế. Đúng, các phương tiện truyền thông đại chúng Mỹ đă phổ biến văn hóa Mỹ, nhưng nó đă phổ biến các h́nh ảnh mà đă không luôn luôn làm đẹp mắt. Trong các năm 1950 thế giới đă có thể xem các h́nh ảnh được truyền h́nh về Joseph McCarthy và sự săn lung những người cộng sản ở Bộ Ngoại giao và Hollywood. Phim ảnh Mỹ đă mô tả chủ nghĩa tuân thủ tư bản chủ nghĩa gây nghẹt thở của văn hóa công ty Mỹ mới. Các tiểu thuyết bán chạy nhất như The Ugly American (Người Mỹ Xấu xí) đă vẽ lên bức tranh về sự ức hiếp và tính thô lỗ Mỹ. Đă có các cuộc chiến về phân biệt trong các năm 1950 và 1960, các h́nh ảnh được truyền toàn cầu về những người da trắng phỉ nhổ học sinh da đen và cảnh sát thả chó cắn người biểu t́nh. (“Chúng tôi” cũng “đă từng thế” nữa.) Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của Mỹ trên thực tế đă “hủy hoại” h́nh ảnh toàn cầu Mỹ, Dulles đă sợ, đặc biệt trong cái được gọi là Thế giới Thứ ba.99  Cuối các năm 1960 và đầu các năm 1970 đến lượt cuộc nổi loạn Watts, các vụ ám sát Martin Luther King Jr. và Robert Kennedy, vụ bắn giết (người biểu t́nh ở Đại học) Kent State, rồi đến vụ tai tiếng Watergate làm lung lay chính phủ. Đấy đă không phải là các loại h́nh ảnh có thể làm cho thế giới yêu mến Hoa Kỳ, không quan trọng là đă có bao nhiêu phim Jerry Lewis và Woody Allen được chiếu ở các rạp phim ở Paris.

Phần lớn thế giới cũng đă chẳng thấy chính sách đối ngoại Mỹ đặc biệt hấp dẫn trong các năm đó. Eisenhower đă ao ước “để có được một số người ở các nước bị áp bức này thích thay cho căm ghét chúng ta,” nhưng việc CIA sắp đặt các cuộc lật đổ Mohamadd Mossadegh ở Iran và Jacobo Árbenz ở Guatemala đă không giúp được (cho việc đó).100  Năm 1957 những người biểu t́nh đă tấn công đoàn xe hộ tống của phó Tổng thống ở Venezuela, hô vang, “Nixon cút đi!” “Ra đây, đồ chó!” “Chúng tao không quên Guatemala!”101 Năm 1960, Khrushchev đă làm nhục Eisenhower bằng cách hủy bỏ cuộc gặp thượng đỉnh khi một máy bay trinh thám Mỹ bị bắn rơi ở Nga. Muộn hơn trong năm đó, trên đường cho một cuộc viếng thăm “thiện chí” đến Tokyo, Eisenhower đă phải quay lại giữa chuyến bay khi chính phủ Nhật Bản cảnh báo nó không thể đảm bảo sự an toàn cho ông đối lại các sinh viên phản đối “chủ nghĩa đế quốc” Mỹ.

Những  người dân chủ kế vị của Eisenhower đă làm ăn khá hơn một  chút. John F. Kennedy và vợ ông ta đă được yêu mến trong một thời gian, nhưng ánh sáng rực của Mỹ phai đi sau vụ ám sát ông. Sự xâm lấn của Lyndon Johnson vào Cộng ḥa Dominic năm 1965 đă bị lên án rộng răi không chỉ ở Mỹ Latin mà cả bởi các đồng minh Âu châu nữa. De Gaulle đă cảnh cáo các quan chức Mỹ rằng Hoa Kỳ, giống “tất cả các nước có sức mạnh áp đảo,” đă đi đến “tin rằng vũ lực sẽ giải quyết mọi thứ” và sẽ mau chóng học được rằng “không phải thế”.102 Và sau đó, tất nhiên, đến Việt Nam, với sự tàn phá của nó, các cảnh bom napalm, vụ tàn sát Mỹ Lai, sự đột nhập bí mật vào Căm Pu Chia, việc ném bom Hà Nội, và cảm nhận chung của một siêu cường thực dân Tây phương nện một nước nhỏ nhưng ngang ngạnh thuộc Thế giới Thứ ba bắt phải phục tùng. Khi phó tổng thống của Johnson, Hubert Humphrey, đi thăm Tây Berlin năm 1967, trung tâm văn hóa Mỹ bị tấn công, hàng ngàn sinh viên đă biểu t́nh chống các chính sách của Mỹ, và các tin đồn rộ lên về các âm mưu ám sát. Năm 1968, khi hàng triệu thanh niên Âu châu xuống đường, họ đă không bày tỏ sự ngưỡng mộ của họ đối với nền văn hóa Mỹ. Như một quan chức cấp cao của Johnson đă diễn đạt, “Những thứ mà chúng ta phải làm ở Việt Nam và những nơi khác là một gánh nặng đối với chúng ta phải gánh vác trong thế giới Á–Phi cũng như Châu Âu”.103

Tuyệt đại đa số các quốc gia quanh thế giới cũng đă chẳng thử noi gương hệ thống Mỹ. Trong các thập niên đầu của Chiến tranh Lạnh, nhiều người đă bị lôi cuốn bởi các nền kinh tế do nhà nước kiểm soát của Liên Xô và Trung Quốc, mà đă có vẻ hứa hẹn sự tăng trưởng mà không có các vấn đề lộn xộn của nền dân chủ.104 Các nền kinh tế của khối Soviet đă có tốc độ tăng trưởng cao như tốc độ tăng trưởng ở phương Tây suốt phần lớn thời kỳ này, chủ yếu do một sự dấy lên được nhà nước chỉ huy trong công nghiệp nặng.105 Theo giám đốc CIA, Allen Dulles, nhiều nhà lănh đạo trong Thế giới Thứ ba đă tin rằng hệ thống Soviet “có nhiều hơn để chào mời về cách đạt những kết quả nhanh so với hệ thống Hoa Kỳ”.106  Các nhà độc tài như Nasser của Ai Cập, Sukarno của Indonesia đă thấy mô h́nh nhà nước–chi phối đặc biệt hấp dẫn, nhưng Nehru của Ấn Độ cũng đă thế.107

Các lănh đạo của Phong trào Không Liên kết mới nổi – Nehru, Nasser, Tito, Sukarno, Nkrumah – đă bày tỏ ít sự ngưỡng mộ đối với cung cách Mỹ. Công bằng hay không công bằng, một số trong “những sự oán giận bị ḱm nén sâu của họ chống lại các chính sách bóc lột và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của phương Tây” được chuyển từ các ông chủ thuộc địa trước đây của họ sang cho Hoa Kỳ khi Hoa Kỳ trở thành siêu cường. Hơn nữa, sau cái chết của Stalin, cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đă tiến hành cạnh tranh nóng để lôi kéo Thế giới Thứ ba, tiến hành “các chuyến đi thiện chí” và cung cấp các chương tŕnh viện trợ riêng của họ. Eisenhower đă suy ngẫm, “đường lối Cộng sản mới ngọt ngào và nhẹ nhàng đă có lẽ nguy hiểm hơn tuyên truyền của họ trong thời Stalin”.108 Các chính quyền Eisenhower, Kennedy, và Johnson đă lo lắng liên tục về sự thiên tả của tất cả các quốc gia này và đă hào phóng cấp viện trợ phát triển cho họ với hy vọng lôi kéo con tim và trí óc họ. Thế mà họ đă thấy, viện trợ, trong khi được nhận một cách háo hức, đă không đảm bảo ḷng trung thành, cũng chẳng mang lại sự cảm kích.109 Eisenhower đă thường xuyên lo rằng “nhân dân Cận Đông và Bắc Phi và, trong mức độ nào đó, toàn bộ Châu Á và toàn bộ châu Phi, sẽ thống nhất chống lại phương Tây ở mức độ mà, tôi sợ, không thể khắc phục được trong một thế hệ và, có lẽ, không ngay cả trong một thế kỷ, đặc biệt sau khi nhớ đến năng lực của những người Nga để gây mối bất ḥa”.110 Một kết quả của sự thù oán của Thế giới Thứ ba đă là, Hoa Kỳ đă mất ảnh hưởng một cách đều đặn ở Liên Hiệp Quốc sau 1960. Chỗ, một thời đă là nơi chiến tranh của Mỹ ở Triều Tiên được hợp pháp hóa, th́ từ 1960 cho đến cuối Chiến tranh Lạnh Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đă trở thành một diễn đàn cho sự bày tỏ liên tục của chủ nghĩa bài Mỹ”.111

Vào cuối các năm 1960, Henry Kissinger đă tuyệt vọng về tương lai. “Sự vỡ ra từng mảnh ngày càng tăng của quyền lực, sự phổ biến ngày càng rộng của hoạt động chính trị, và các h́nh mẫu ngày càng phức tạp của xung đột và liên kết quốc tế,” ông viết cho Nixon, đă làm giảm đột ngột năng lực của cả hai siêu cường để ảnh hưởng đến “các hành động của các chính phủ khác”.112 Và t́nh h́nh cuối cùng có vẻ trở nên khó hơn khi các năm 1970 mở ra.

Hoa Kỳ đă rút khỏi Việt Nam trong thất bại, và thế giới đă theo dơi sự từ chức chưa từng có của một Tổng thống Mỹ bị vấy bẩn trong vụ tai tiếng. Và rồi, có lẽ cũng quan trọng như tất cả những cái c̣n lại, giá dầu lên đến nóc.

Vấn đề cuối cùng đă chỉ ra một khó khăn mới đáng kể: sự bất lực của Hoa Kỳ để sử dụng ảnh hưởng một cách hiệu quả ở Trung Đông. Ngày nay người ta chỉ ra sự thất bại của Mỹ để đưa người Israel và người Palestin đến một sự dàn xếp được thương lượng, hoặc để chế ngự được (phong trào) Arab Thức tỉnh náo động hỗn độn như dấu hiệu của sự yếu đuối và sa sút. Nhưng năm 1973 Hoa Kỳ thậm chí đă chẳng thể ngăn cản được các cường quốc chính ở Trung Đông tiến hành cuộc chiến tranh tổng lực. Khi Ai Cập và Syria mở cuộc tấn công bất ngờ của họ lên Israel, cũng đă là một sự ngạc nhiên đối với Washington nữa. Cuối cùng Hoa Kỳ đă phải báo động hạt nhân để răn đe sự can thiệp Soviet vào xung đột. Cuộc chiến tranh đă dẫn đến cấm vận dầu hỏa, đến việc thiết lập OPEC như một lực lượng chủ yếu trong công việc của thế giới, và sự khám phá đột nhiên rằng, như sử gia Daniel Yergin đă diễn đạt, “bản thân Hoa Kỳ bây giờ, cuối cùng, đă có thể bị tổn thương”. “Siêu cường đứng đầu thế giới” đă bị “đẩy vào thế thủ, bị làm nhục bởi một ít quốc gia nhỏ”. Nhiều người Mỹ “đă sợ rằng sự kết thúc của một thời đại đă cận kề”.113

Trong các năm 1970 giá dầu tăng đột ngột, cùng với các chính sách kinh tế của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam, đă dẫn nền kinh tế Mỹ vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đă sụt 6 phần trăm giữa 1973 và 1975. Tỷ lệ thất nghiệp tăng gấp đôi từ 4,5 phần trăm lên 9 phần trăm.114  Nhân dân Mỹ đă phải chịu đựng v́ phải xếp hàng mua xăng và hiện tượng kinh tế mới về đ́nh lạm, sự kết hợp của một nền kinh tế đ́nh trệ và lạm phát cao. Nền kinh tế Mỹ đă trải qua ba đợt suy thoái giữa 1973 và 1982. “Khủng hoảng dầu” đối với người Mỹ khi đó, là cái “khủng hoảng tài chính” ngày nay. Trong thông điệp quốc gia lần đầu tiên được truyền h́nh, Jimmy Carter đă gọi nó là “thách thức lớn nhất đất mà nước chúng ta sẽ phải đối mặt trong cả cuộc đời chúng ta”. Đă đặc biệt nhục nhă rằng cuộc khủng hoảng một phần đă được phát động bởi hai đồng minh thân cận của Mỹ, Hoàng gia Saudi và (Hoàng đế) Shah của Iran. Như Carter đă nhớ lợi trong hồi kư của ông, nhân dân Mỹ “đă phẫn uất sâu sắc rằng quốc gia vĩ đại nhất trên trái đất đă bị ngược đăi bởi vài quốc gia sa mạc”.115

Điểm thấp nhất đến vào năm 1979, khi Shah bị lật đổ, cách mạng Islamic cực đoan đứng đầu bởi Ayatollah Khomeini lên nắm quyền, và năm mươi hai người Mỹ đă bị bắt làm con tin và bị giữ hơn một năm trời. Khủng hoảng con tin, như Yergin đă nhận xét, “đă truyền đi một thông điệp mạnh mẽ: rằng sự thay đổi về quyền lực trên thị trường dầu thế giới trong các năm 1970 đă chỉ là một phần của một vở kịch lớn hơn đang xảy ra trong chính trị toàn cầu. Hoa Kỳ và phương Tây, dường như có thể nói, đă thực sự trong suy sụp, giữ thế thủ, và, đă có vẻ, không có khả năng làm bất cứ thứ ǵ để bảo vệ các quyền lợi, bất luận kinh tế hay chính trị, của họ”. Bộ trưởng Bộ Năng lượng James Schlessinger đă tuyên bố rằng những người Mỹ đối mặt với “một cuộc khủng hoảng có các chiều kích to lớn hơn các chiều kích mà Churchill đă mô tả nửa thế kỷ trước – các vấn đề dầu hỏa báo những điềm gở tồi tệ hơn.” Đă có, ông nói, “ít sự giảm nhẹ, nếu có, trong viễn cảnh.” Như Carter diễn đạt, “Họ đă kiểm soát hoàn toàn chúng ta”.116

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết