[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 66 đến trang 70:

Nếu ta muốn đưa ra lư lẽ để biện hộ cho sự suy tàn của Mỹ, th́ các năm 1970 đă là thời gian để làm việc đó; và nhiều người đă làm. Hoa Kỳ, Kissinger đă tin, hiển nhiên đă “trải qua điểm cao lịch sử của nó giống rất nhiều nền văn minh trước đó … Mọi nền văn minh từng tồn tại cuối cùng đă sụp đổ. Lịch sử là một truyện về các nỗ lực thất bại”.117 Chính các năm 1970 đă là các năm mà nền kinh tế Mỹ đă mất vị trí đứng đầu áp đảo của nó, khi thặng dư thương mại của Mỹ bắt đầu chuyển thành thâm hụt thương mại, khi chi tiêu cho các quyền được hưởng và các chương tŕnh phúc lợi xă hội ph́nh ra, khi dự trữ vàng và tiền tệ của Mỹ cạn kiệt.

Với những khó khăn kinh tế, đă đến sự bất an ninh chính trị và chiến lược. Đầu tiên là sự tin tưởng rằng trào lưu lịch sử đă là với Liên Xô. Bản thân các nhà lănh đạo Soviet đă tin “tương quan lực lượng” đă có lợi cho chủ nghĩa cộng sản; sự thất bại và sự rút lui của Mỹ khỏi Việt Nam đă dẫn các quan chức Soviet, lần đầu tiên, đến tin họ có thể thực sự “thắng” trong cuộc đấu tranh Chiến tranh Lạnh kéo dài. Một thập niên sau, năm 1987, Paul Kennedy đă mô tả cả hai siêu cường đă bị “sự kéo quá căng đế quốc” nhưng đă gợi ư rằng hoàn toàn có thể là Hoa Kỳ sẽ sụp đổ đầu tiên, theo một truyền thống lịch sử dài của các đế chế bị kiệt sức và phá sản. Nó đă làm tê liệt ḿnh bằng chi tiêu quá nhiều về quốc pḥng và gánh vác quá nhiều trách nhiệm toàn cầu trải rộng bao la. Nhưng trong ṿng hai năm, bức tường Berlin đă đổ, và hai năm sau Liên Xô tan ră. Sự suy tàn hóa ra đă xảy ra ở nơi khác.

Rồi đă có chuyện thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản. “Sự đi lên của phần c̣n lại” đă bắt đầu vào cuối các năm 1970 và đă tiếp tục trong một thập niên rưỡi tiếp theo, khi Nhật Bản, cùng với “các con hổ Á châu” khác – Nam Hàn, Singapore, và Đài Loan – đă có vẻ làm lu mờ Hoa Kỳ về mặt kinh tế. Đă không chỉ sức mạnh tương đối của nền kinh tế của Nhật là cái đă gây ấn tượng cho các nhà quan sát mà là tính ưu việt rơ ràng của mô h́nh kinh tế của nó. Năm 1989 nhà báo James Fallows đă cho rằng nền kinh tế do nhà nước chỉ đạo của Nhật Bản đă rơ ràng ưu việt hơn chủ nghĩa tư bản tự do (laissez–faire) của Hoa Kỳ và đă được định sẵn để vượt qua nó.118  Nhật Bản sẽ là siêu cường tiếp theo. Năm 1992, trong cuốn sách bán chạy nhất, cuốn Rising Sun (Mặt trời Lên), Michael Crichton đă khuyên những người Mỹ “hăy cố gắng hiểu và đối phó với sự thực rằng Nhật Bản đă trở thành quốc gia công nghiệp dẫn đầu trên thế giới. Người Nhật có tuổi thọ dài nhất. Họ có công ăn việc làm cao nhất, có sự biết đọc biết viết cao nhất, có khoảng cách nhỏ nhất giữa những người giàu và những người nghèo. Các sản phẩm chế tác của họ có chất lượng cao nhất”.119 Trong khi Hoa Kỳ đă làm phá sản ḿnh bằng tiến hành Chiến tranh Lạnh, th́ người Nhật bận rộn lấy hết phần thắng. Như tác giả Charlmers Johnson đă diễn tả năm 1995, “Chiến tranh Lạnh đă kết thúc, và Nhật Bản đă thắng”.120

 

Ngay khi Johnson đánh máy những từ đó, th́ nền kinh tế Nhật Bản đang rơi vào ṿng xoáy xuống đến một thời kỳ đ́nh trệ mà từ đó nó vẫn chưa phục hồi. Với Liên Xô đă tan ră và Trung Quốc c̣n phải chứng tỏ khả năng tiếp tục sự hưng thịnh bùng phát kinh tế của nó, Hoa Kỳ đột nhiên hiện ra là “siêu cường độc nhất” của thế giới. Thế nhưng ngay cả khi đó Hoa Kỳ đă không thành công một cách rơ rệt đến thế nào trong giải quyết nhiều vấn đề toàn cầu nghiêm trọng. Những người Mỹ đă thắng Chiến tranh vùng Vịnh, đă mở rộng NATO sang phía đông, cuối cùng đă mang lại ḥa b́nh cho những người Balkan, sau nhiều sự đổ máu, và, suốt hầu hết các năm 1990, đă dẫn phần lớn thế giới đi theo “đồng thuận Washington” về kinh tế. Nhưng vài trong số những thành công này đă bắt đầu làm sáng tỏ và sánh được với những thất bại đáng kể. Đồng thuận Washington đă bắt đầu sụp đổ với khủng hoảng tài chính Á châu năm 1997, nơi các đơn thuốc của Mỹ đă được coi một cách rộng răi là sai lầm và gây thiệt hại. Hoa Kỳ đă thất bại để ngưng hay hay làm chậm đáng kể các chương tŕnh vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên và Iran, bất chấp việc tuyên bố đi tuyên bố lại ư định của nó để làm vậy. Những biện pháp trừng phạt được áp đặt để chống Iraq của Sadam Hussein đă cả là vô ích và, vào cuối thập niên, đă sụp đổ. Hoa Kỳ, và thế giới, đă chẳng làm ǵ để ngăn ngừa nạn diệt chủng ở Rwanda, một phần bởi v́ một năm trước đó Hoa Kỳ đă bị đuổi khỏi Somalia sau một sự can thiệp quân sự thất bại. Một trong những nỗ lực quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong các năm 1990 đă là nỗ lực để ủng hộ một sự chuyển đổi ở nước Nga hậu–Soviet sang nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do. Nhưng bất chấp việc cung cấp hàng tỷ đôla và vô số lời khuyên và ư kiến chuyên môn, Hoa Kỳ đă thấy các sự kiện ở Nga một lần nữa lại ngoài tầm kiểm soát của nó.

Các nhà lănh đạo Mỹ, ngay cả trong thời được cho là hoàng kim của ưu thế toàn cầu của nó, cũng đă chẳng thành công hơn ngày nay chút nào để giải quyết vấn đề Israel–Palestin. Ngay cả với một nền kinh tế hưng thịnh và một tổng thống rất được yêu mến, sốt sắng làm việc để đạt một sự ḥa giải, chính quyền Clinton đă về tay không. Như nhà đàm phán ḥa b́nh Trung Đông Aaron David Miller kể lại, Bill Clinton “đă quan tâm nhiều hơn về và đă đầu tư nhiều thời gian và năng lượng hơn vào ḥa b́nh Arab–Israel trong một thời kỳ dài hơn bất cứ người tiền nhiệm nào của ông,” ông đă được cả những người Israel lẫn những người Palestin ngưỡng mộ và đánh giá cao, ông c̣n đă tổ chức “ba cuộc họp thượng đỉnh trong ṿng sáu tháng và [đă] thất bại trong mỗi cuộc”.121 Nhiệm kỳ của Clinton kết thúc với sự đổ vỡ của đàm phán ḥa b́nh và sự bắt đầu của intifada [phong trào nổi dậy] của người Palestin.

Ngay cả sự được dân chúng ưa thích đă là khó hiểu đối với Hoa Kỳ trong các năm 1990. Năm 1999, Samuel P. Huntington đă gán nhăn “siêu cường cô đơn” cho Hoa Kỳ, bị căm ghét một cách rộng răi khắp địa cầu v́ ứng xử “xâm phạm, can thiệp, bóc lột, đơn phương, bá quyền, đạo đức giả” của nó. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp đă chê bai “siêu cường–hyperpower” và đă công khai mong mỏi một thế giới “đa cực” mà trong đó Hoa Kỳ sẽ không c̣n áp đảo nữa. Một nhà ngoại giao Anh đă bảo Huntington: “Người ta đọc về sự ao ước của thế giới đối với sự lănh đạo của Mỹ chỉ ở Hoa Kỳ. Ở tất cả những nơi khác người ta đọc về sự ngạo mạn và chủ nghĩa đơn phương Mỹ”.122

Đấy là điều vô nghĩa, tất nhiên. Ngược với luận điệu của nhà ngoại giao Anh, nhiều nước khác đă có mong đợi Hoa Kỳ lănh đạo, bảo vệ, và ủng hộ trong các năm 1990 và suốt Chiến tranh Lạnh. Điểm cốt yếu không phải là Mỹ đă luôn luôn thiếu ảnh hưởng toàn cầu. Từ Chiến tranh Thế giới II trở đi, Hoa Kỳ quả thực đă là cường quốc chiếm ưu thế trên thế giới. Nó đă có được ảnh hưởng khổng lồ, nhiều hơn bất cứ cường quốc lớn nào kể từ thời La Mă, và nó đă hoàn thành nhiều.

Nhưng nó đă không có quyền vô hạn – c̣n xa mới thế. Nếu chúng ta (muốn) đo kiểm một cách chính xác liệu Hoa Kỳ hiện nay có trong (quá tŕnh) suy tàn hay không, chúng ta cần phải có một đường cơ sở hợp lư mà để đo lường từ đó. Đi so sánh ảnh hưởng của Mỹ hiện nay với một quá khứ hoang đường, được tưởng tượng về địa vị thống trị át hẳn chỉ có thể làm chúng ta lạc lối. Ngay cả [theo nghĩa] bao quát nhất của nó, như Huntington đă nhận xét, địa vị đứng đầu quốc tế [international primacy] “có nghĩa rằng một chính phủ có khả năng để thực hiện nhiều ảnh hưởng hơn lên ứng xử của nhiều nhân vật hơn đối với nhiều vấn đề hơn bất cứ chính phủ khác nào có thể”.123 Không có nghĩa là nó có thể xác định ứng xử của tất cả các quốc gia khác về mọi vấn đề hay thậm chí về hầu hết các vấn đề.

Khả năng để ra lệnh cho các quốc gia khác khắp nơi, thậm chí không phải là biện pháp tốt nhất của sự lănh đạo thành công trong trật tự thế giới hiện thời. Sự độc lập dễ thấy của một số cường quốc đang lên của thế giới hiện nay đôi khi có thể là một dấu hiệu của sự thành công hơn là sự suy giảm của cảnh hưởng Mỹ. V́ đó chính xác là một trong những đặc trưng của trật tự thế giới Mỹ rằng nhiều quốc gia hơn có nhiều quyền tự do hành động hơn. Một phần của việc này liên quan đến cung cách Mỹ lănh đạo toàn cầu, với sự lưỡng lự và sự không kiên định bẩm sinh của nó, cũng như cách tiếp cận dân chủ nói chung của nó đến ngoại giao quốc tế. Một phần của nó đơn giản mang tính cấu trúc và nội tại đối với bản chất của một trật tự thế giới đơn cực trong đó một cường quốc “đảo” sử dụng ảnh hưởng của nó trong các trung tâm quyền lực của thế giới từ xa. So với những sắp đặt khả dĩ khác, điều này đă làm tăng quyền tự do hành động cho nhiều quốc gia hơn.

Trật tự hai cực của Chiến tranh Lạnh đă hạn chế hơn bởi v́ nhiều quốc gia bị khóa cứng nhắc vào phe Tây phương hay phe Soviet. Các quốc gia trong Phong trào Không Liên Kết và Pháp Gaullist đă sống qua Chiến tranh Lạnh vùng vẫy để lách tự do khỏi sự trói buộc chính sách đối ngoại này. Các trật tự thế giới đa cực cũng ràng buộc hơn. Các cường quốc lớn cần phải cẩn trọng không làm bất cứ thứ ǵ mà có thể có vẻ đe dọa các cường quốc lớn khác, để không dẫn tới chiến tranh. Các cường quốc nhỏ hơn bị ràng buộc, v́ mỗi cường quốc lớn muốn trở nên chi phối bên trong phạm vi ảnh hưởng của riêng ḿnh – đó là phần của định nghĩa về một cường quốc lớn – và các cường quốc nhỏ trong quỹ đạo của họ không được phép để tiến hành các hành động mà có thể xúi giục xung đột giữa các cường quốc lớn, như Serbia đă làm trong việc châm ng̣i Chiến tranh Thế giới I. Trong một trật tự đơn cực, các cường quốc nhỏ hơn được hưởng sự độc lập lớn hơn bởi v́ siêu cường có thể, nếu nó chọn, ngăn chặn các cường quốc lớn khu vực khỏi việc áp bức họ.

Cho nên không phải là một dấu hiệu của điểm yếu nếu nhiều quốc gia hơn có nhiều quyền tự do hành động hơn trong trật tự hiện hành. Số đo thành công của trật tự không phải là liệu Hoa Kỳ có thể bảo mọi người phải làm cái ǵ hay không. Mà là bản thân trật tự – sự mở rộng dân chủ, thịnh vượng, và an ninh – có duy tŕ được hay không. Quyền tự do và sự độc lập lớn hơn của Brazil trong chính sách đối ngoại có thể là một dấu hiệu thành công của trật tự. Quyền tự do lớn hơn của Iran để chế tạo vũ khí hạt nhân có thể là cái báo hiệu sự thất bại của nó.

Ngày nay Hoa Kỳ thiếu năng lực để đạt được cái nó muốn trong nhiều vấn đề, nhưng điều này không ngăn cản nó có được đúng nhiều thành công, và phải chịu đúng nhiều thất bại như trong quá khứ. Cho dù có bàn căi, Hoa Kỳ ở Iraq đă thành công hơn ở Việt Nam. Nó đă không có khả năng kiềm chế các tham vọng hạt nhân của Iran đúng như nó đă không thể trong các năm 1990, nhưng nó đă thiết lập một mạng lưới toàn cầu chống phổ biến [hạt nhân] hiệu quả hơn thông qua nỗ lực của hai chính quyền [Mỹ]. Các nỗ lực của nó để nhổ bật rễ và tiêu diệt al Qaeda đă thành công xuất sắc, đặc biệt khi so sánh với những thất bại để phá hủy các mạng lưới khủng bố trong các năm 1990 – những thất bại lên đến đỉnh điểm trong các cuộc tấn công 11 tháng Chín 2001. Khả năng để dùng các máy bay không người lái (drone) là một tiến bộ so với các loại vũ khí – tên lửa hành tŕnh và tấn công bằng máy bay – mà đă được dùng để nhắm vào bọn khủng bố và các phương tiện trong các thập niên trước. Trong lúc đó, các đồng minh của Mỹ ở Châu Âu vẫn khỏe mạnh; đă không phải là lỗi của Hoa Kỳ rằng bản thân Châu Âu có vẻ yếu hơn trước. Các đồng minh của Mỹ ở Châu Á có thể cho rằng đă trở nên mạnh hơn trong vài năm vừa qua, và Hoa Kỳ đă có khả năng củng cố các mối quan hệ với Ấn Độ mà trước đây đă căng thẳng.

Như thế bảng thành tích là lẫn lộn, nhưng nó đă luôn luôn là lẫn lộn. Đă có các thời điểm khi Hoa Kỳ đă có ảnh hưởng hơn ngày nay và các thời điểm ít ảnh hưởng hơn. Việc sử dụng ảnh hưởng đă luôn luôn là cuộc chiến đấu, mà có thể giải thích v́ sao trong mỗi thập niên kể từ cuối Chiến tranh Thế giới II những người Mỹ đă đều lo lắng về ảnh hưởng sút giảm của họ và đă có vẻ bồn chồn khi các cường quốc khác đă có vẻ đang lên gây tổn hại cho họ. Những khó khăn trong việc định h́nh môi trường quốc tế ở bất cứ lĩnh vực nào là rất lớn. Ít cường quốc thậm chí thử làm việc đó, và ngay cả cường quốc mạnh nhất cũng hiếm khi đạt tất cả hay thậm chí hầu hết mục tiêu của nó. Chính sách đối ngoại giống việc đánh một quả bóng chày: nếu bạn đánh trượt 70 phần trăm, bạn được vinh danh (đi vào Hall of Fame, Sảnh Danh dự).

Những thách thức ngày nay là to lớn, và sự đi lên của Trung Quốc là thách thức hiển nhiên nhất trong số đó. Nhưng chúng không lớn hơn các thách thức mà Hoa Kỳ đă phải đối mặt trong Chiến tranh Lạnh. Chỉ khi nh́n lại th́ Chiến tranh Lạnh mới có vẻ dễ. Những người Mỹ vào lúc chấm dứt Chiến tranh Thế giới II đă đối mặt với một khủng hoảng chiến lược lớn. Liên Xô, phải chi chỉ v́ độ lớn và vị trí của nó, đă có vẻ đe dọa các trung tâm chiến lược sống c̣n ở Châu Âu, Trung Đông, và Đông Á. Trong tất cả các khu vực này, nó đă đối mặt các quốc gia đă bị tàn phá và kiệt sức do chiến tranh. Để đương đầu với thách thức này, Hoa Kỳ đă phải phóng sức mạnh to lớn nhưng có giới hạn của riêng ḿnh vào mỗi trong các khu vực đó. Nó đă phải lập ra các liên minh với các cường quốc địa phương, một vài trong số đó là các kẻ thù trước đó, và cung cấp cho họ sự trợ giúp kinh tế, chính trị và quân sự để giúp họ tự đứng trên đôi chân ḿnh và chống lại áp lực Soviet. Trong Chiến tranh Lạnh, những người Soviet đă sử dụng ảnh hưởng và gây áp lực lên các lợi ích Mỹ chỉ bằng cách đứng yên, trong khi Hoa Kỳ đă phải tranh giành. Đáng nhớ lại rằng chiến lược “ngăn chặn” này, bây giờ được thánh hóa bởi thành công rơ rệt của nó, đă gây ấn tượng cho một số nhà quan sát có ảnh hưởng thời đó như là hoàn toàn không thể thực hiện được. Walter Lippmann đă tấn công nó như “được quan niệm sai,” dựa trên “hy vọng,” nhường “sáng kiến chiến lược” cho những người Soviet trong khi Hoa Kỳ đă vét cạn các nguồn lực của nó để thử thiết lập “các nhà nước tay sai, các chính phủ bù nh́n” mà chúng yếu, không có hiệu quả, và không tin cậy được.124 nhiều, nhưng vị thế địa chiến lược của nó khó hơn. Chiến tranh Thế giới II đă để Trung Quốc vào một vị thế tương đối yếu mà nó đă làm việc cật lực suốt từ đó để phục hồi. Nhiều láng giềng của nó là các quốc gia mạnh có các mối quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ. Nó sẽ có một thời gian khó khăn để trở thành một bá chủ khu vực chừng nào Đài Loan vẫn c̣n độc lập và gắn bó một cách chiến lược với Hoa Kỳ, và chừng nào các cường quốc mạnh trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Australia c̣n tiếp tục cho binh lính và các căn cứ Mỹ đóng. Trung Quốc sẽ cần chí ít vài đồng minh để có bất cứ cơ may nào để đẩy Hoa Kỳ ra khỏi các thành tŕ của nó trong vùng tây Thái B́nh Dương, nhưng đúng bây giờ chính Hoa Kỳ là nước có các đồng minh. Chính Hoa Kỳ là quốc gia có binh lính được triển khai ở các căn cứ tiền phương. Chính Hoa Kỳ là nước hiện đang có ưu thế hải quân trong các vùng nước và các đường thủy then chốt mà qua đó Trung Quốc phải buôn bán. Nh́n toàn bộ, nhiệm vụ của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc lớn đang lên, mà để đẩy Hoa Kỳ khỏi vị trí hiện tại của nó, là khó hơn nhiệm vụ của Hoa Kỳ rất nhiều, mà nhiệm vụ đó chỉ là giữ chặt cái nó có.

Hoa Kỳ có thể làm việc đó? Trong tâm trạng bi quan ngày nay của họ, một số người Mỹ có thể nghi ngờ rằng Hoa Kỳ có thể. Quả thực, họ nghi ngờ liệu Hoa Kỳ có thể có đủ sức để tiếp tục đóng vai tṛ chiếm ưu thế mà nó đă đóng trong quá khứ ở bất cứ phần nào của thế giới hay không. Một số người cho rằng trong khi cảnh báo của Paul Kennedy về sự kéo quá căng mang tính đế quốc có thể đă không đúng vào năm 1987, nó mô tả chính xác t́nh trạng khó khăn hiện nay của Mỹ. Khủng hoảng tài chính, hệ thống chính trị bế tắc, các căn bệnh khác nhau của xă hội Mỹ, bao gồm sự đ́nh trệ lương và bất b́nh đẳng thu nhập, sự yếu kém của hệ thống giáo dục, hạ tầng cơ sở bị xuống cấp – tất cả những thứ

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết