[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

THẾ GIỚI MÀ MỸ TẠO RA

Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A

 

trang 71 đến trang 75:

này được dẫn ra trong những ngày này như các lư do v́ sao Hoa Kỳ cần phải giảm bớt về mặt quốc tế, để rút lại một số cam kết ở nước ngoài, để tập trung vào “xây dựng quốc gia ở trong nước” hơn là thử giữ việc định h́nh thế giới như nó đă làm trong quá khứ.

Lần nữa, những giả định này đ̣i hỏi sự xem xét nào đó. Trước hết, Hoa Kỳ “bị kéo quá căng” đến thế nào? Câu trả lời, về mặt lịch sử, là c̣n xa mới như nhiều người tưởng tượng. Hăy xem xét vấn đề thẳng thắn của số quân mà Hoa Kỳ triển khai ở nước ngoài. Lắng nghe các cuộc tranh luận ngày nay, ta có thể tưởng tượng có nhiều quân lính Mỹ được cam kết ở nước ngoài hơn từ trước đến giờ. Nhưng không phải thế. Năm 1953, Hoa Kỳ đă có gần một triệu quân triển khai ở nước ngoài – 325.000 chiến đấu ở Triều Tiên và hơn 600.000 đóng tại nước ngoài – 537.000 ở Việt nam và nửa triệu khác đóng ở các nơi khác. Ngược lại, mùa hè 2011, đă có khoảng 200.000 quân chiến đấu ở Iraq và Afghanistan cộng lại, và khoảng 160.000 quân nữa đóng ở Châu Âu và Đông Á. Nh́n toàn bộ, và kể cả các lực lượng khác đóng khắp thế giới, đă có khoảng 500.000 quân được triển khai ở nước ngoài. Con số này thấp hơn ngay cả số được triển khai trong thời b́nh của Chiến tranh Lạnh. Năm 1957, chẳng hạn, đă có hơn 750.000 quân được triển khai ở nước ngoài. Chỉ trong thập niên giữa sự tan vỡ của Đế chế Soviet và các cuộc tấn công 11 tháng Chín, th́ số các lực lượng được triển khai ở nước ngoài mới thấp hơn con số ngày nay. Sự so sánh c̣n nổi bật hơn nếu ta tính đến sự tăng dân số Mỹ. Khi Hoa Kỳ đă có 1 triệu quân được triển khai ở nước ngoài năm 1953, tổng dân số Mỹ đă chỉ là 160 triệu người. Ngày nay, khi có nửa triệu quân được triển khai ở nước ngoài, dân số Mỹ là 313 triệu. Nước đông gấp đôi, với số quân triển khai bằng nửa so với năm mươi năm trước.

C̣n phí tổn tài chính th́ sao? Nhiều người có vẻ tin rằng chi phí của những sự triển khai này, và của các lực lượng vũ trang nói chung, là nhân tố chính gây ra các khoản thâm hụt tài khóa tăng cao vút mà có thể đe dọa khả năng trả nợ của nền kinh tế quốc gia. Nhưng điều này cũng chẳng đúng. Như cựu sa hoàng ngân sách Alice Rivlin đă nhận xét, “những việc dự toán thâm hụt ngân sách tương lai gây khiếp sợ không phải “do chi tiêu quân sự gia tăng gây ra,” do chi tiêu viện trợ nước ngoài c̣n ít hơn nhiều.125 Các khoản thâm hụt ngân sách lồng lên được dự toán cho các năm sắp thới chủ yếu là kết quả của chi tiêu phúc lợi phồng lên. Ngay cả việc cắt hà khắc nhất về ngân sách quốc pḥng sẽ tạo ra các khoản tiết kiệm chỉ từ 50 tỷ đến 100 tỷ USD, một phần nhỏ – giữa 4 đến 8 phần trăm – của các khoản thâm hụt 1,5 ngàn tỷ USD mà Hoa Kỳ đối mặt.

Năm 2002, khi Paul Kennedy đă lấy làm lạ về khả năng của Hoa Kỳ để vẫn là “siêu cường duy nhất rẻ tiền của thế giới,” Hoa Kỳ đă chi khoảng 3,4 phần trăm của GDP cho quốc pḥng. Ngày nay nó chi 4 phần trăm, và trong các năm sắp tới, tỷ lệ đó chắc lại xuống thấp hơn – vẫn “rẻ” theo các tiêu chuẩn lịch sử. Chi phí để vẫn là cường quốc chiếm ưu thế của thế giới là không rất cao.

Vả lại, nếu chúng ta nghiêm túc về bài tập này trong tính toán, không thể đo các chi phí để duy tŕ vị trí này mà không cân nhắc đến cái giá của việc mất nó. Một vài cái giá của việc giảm bớt vai tṛ của Mỹ trên thế giới, tất nhiên, là không thể lượng hóa được: Đáng bao nhiêu đối với những người Mỹ để sống trong một thế giới được chi phối bởi các nền dân chủ hơn là bởi các chế độ chuyên quyền? Nhưng một vài trong số những cái giá đó là có thể đo lường được, nếu bất kỳ ai quan tâm để thử tính. Thí dụ, nếu sự suy giảm sức mạnh quân sự Mỹ tạo ra một manh mối làm sáng tỏ trật tự kinh tế quốc tế mà sức mạnh Mỹ đă giúp đỡ để duy tŕ; nếu các tuyến đường thương mại và đường thủy trở nên không an toàn, bởi v́ hải quân Hoa Kỳ không c̣n khả năng bảo vệ chúng; nếu các cuộc chiến tranh khu vực nổ ra giữa các cường quốc lớn bởi v́ họ không c̣n bị kiềm chế bởi siêu cường Mỹ nữa; nếu các đồng minh của Hoa Kỳ bị tấn công bởi v́ Ḥa Kỳ có vẻ không có khả năng đến bảo vệ họ; nếu bản chất tự do và mở nói chung của hệ thống quốc tế trở nên ít như thế – sẽ có những chi phí có thể đo lường được. Và không phải là quá gượng gạo để tưởng tượng rằng các chi phí này là lớn hơn rất nhiều so với khoản tiết kiệm 100 tỷ USD một năm có được do cắt giảm ngân sách quốc pḥng và viện trợ nước ngoài. Bạn có thể tiết kiệm tiền bằng cách mua một chiếc xe hơi cũ đă qua sử dụng mà không có bảo hành và không có các tính năng an toàn nào đó, nhưng cái ǵ xảy ra khi bạn gặp tai nạn? Sức mạnh quân sự Mỹ cả làm giảm rủi ro của các tai nạn, bằng cách làm nhụt chí sự xung đột, lẫn làm hạ cái giá phải trả của xung đột xảy ra, bằng giảm cơ hội thất bại. Những khoản tiết kiệm này cũng phải là phần của sự tính toán. Như một vấn đề tiền bạc đơn giản, có thể là rẻ hơn nhiều để duy tŕ mức độ dính líu của Mỹ trên thế giới hơn là giảm nó.

Có lẽ mối lo ngại lớn nhất nằm dưới tâm trạng lo xuống dốc nói chung ở trong nước ngày nay không thực sự là liệu Hoa Kỳ có đủ sức để tiếp tục đóng vai tṛ của nó trên thế giới hay không. Mà là liệu những người Mỹ có khả năng giải quyết bất cứ vấn đề nào trong các vấn đề kinh tế và xă hội cấp bách nhất của họ hay không. Và là đúng: nếu Hoa Kỳ không thể giải quyết khủng hoảng tài chính của nó, chẳng hạn, th́ nó rất có thể đối mặt với suy gảm kinh tế. Việc này sẽ có các hệ lụy đối với khả năng của nó để duy tŕ năng lực quân sự, mà đến lượt lại nêu ra các câu hỏi về khả năng của nó để tiếp tục với tư cách cường quốc có ảnh hưởng nhất của thế giới. Người dân cũng chẳng sai để lo ngại về các căn bệnh xă hội, sự bế tắc chính trị, và khả năng của những người Mỹ để cạnh tranh với những dân tộc đầy tham vọng và có khả năng trong các nền kinh tế đang lên trên khắp thế giới. Như Thomas Friedman và những người khác đă hỏi, những người Mỹ có thể làm cái cần phải làm để cạnh tranh một cách hiệu quả trong thế kỷ hai mươi mốt hay không?

Câu trả lời chân thật duy nhất là, ai mà biết được? Tuy vậy, nếu lịch sử Mỹ có là bất cứ chỉ dẫn nào, có chí ít lư do nào đó để hy vọng. Đă có nhiều lần trong hai thế kỷ vừa qua khi hệ thống chính trị đă loạn chức năng, bị bế tắc một cách vô vọng, và dường như không có khả năng để t́m ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề của quốc gia – từ chế độ nô lệ và rồi Tái Thiết, đến trục trặc của công nghiệp hóa vào cuối thế kỷ mười chín và khủng hoảng phúc lợi xă hội trong Đại Suy Thoái, đến những hỗn loạn và paranoia (hoang tưởng đa nghi) của những năm đầu Chiến tranh Lạnh. Bất cứ ai, người nhớ lại một cách trung thực các năm 1970, với Watergate, Việt Nam, đ́nh lạm, và khủng hoảng năng lượng, thực sự không thể tin các khó khăn hiện thời lại không thể sánh được. Người ta chỉ ra các thăm ḍ cho thấy những người Mỹ tuyệt vọng về tương lai của quốc gia họ; trong tháng Chín 2011, chỉ có 11 phần trăm những người Mỹ được hỏi đă thỏa măn với “cách mà các thứ xảy ra.” Nhưng đó không phải là rất lạ trong các thời kỳ kinh tế gieo neo. Năm 1992, đă chỉ có 14 phần trăm thỏa măn. Năm 1979, con số đă là 12 phần trăm. Cả độ lớn của các vấn đề lẫn mức độ tuyệt vọng cũng chẳng phải là không có tiền lệ. Thành công trong quá khứ không bảo đảm cho thành công trong tương lai. Nhưng một thứ có vẻ rơ ràng từ chứng cứ lịch sử: hệ thống Mỹ, cho dù có các tính chất làm mất tác dụng của nó, cũng đă chứng tỏ một năng lực lớn hơn để thích nghi và phục hồi từ các khó khăn so với hệ thống của nhiều quốc gia khác, kể cả các đối thủ địa chính trị của nó. Điều này không nghi ngờ ǵ có liên quan ǵ đó đến quyền tự do tương đối của xă hội, mà tưởng thưởng các nhà đổi mới sáng tạo, thường ở bên ngoài cấu trúc quyền lực hiện tồn, v́ việc tạo ra những cách mới để làm các thứ và một hệ thống chính trị tương đối mở, mà cho phép các hoạt động để lấy được hơi và ảnh hưởng đến ứng xử của giới chính trị quyền uy. Hệ thống Mỹ là chậm chạp và vụng về một phần bởi v́ các Nhà Sáng Lập đă thiết kế nó theo cách ấy, với một hệ thống liên bang, kiểm soát và cân bằng, và một Hiến pháp thành văn và Tuyên ngôn về các Quyền. Nhưng hệ thống cũng có một khả năng xuất sắc để thực hiện những thay đổi đúng khi nồi hơi có vẻ sắp thổi bay cái nắp (van) của nó. Có “các cuộc bầu cử quyết định” thi thoảng mà cho phép những biến đổi xảy ra, cung cấp các giải pháp cho các vấn đề cũ và dường như không thể giải quyết nổi. Tất nhiên, không có các đảm bảo nào: hệ thống chính trị đă không thể giải quyết nổi vấn đề nô lệ mà không có chiến tranh. Nhưng về nhiều vấn đề lớn trong suốt lịch sử của họ, những người Mỹ đă t́m ra được một cách để đạt và thực hiện đồng thuận quốc gia.126

Khi Paul Kennedy đă lấy làm lạ về thành công tiếp tục của siêu cường Mỹ trong năm 2002, ông đă lưu ư rằng một trong các lư do chính đă là khả năng của những người Mỹ để vượt qua cái mà đă có vẻ đối với ông năm 1987 như một khủng hoảng kinh tế dài hạn không thể giải quyết nổi. Các nhà kinh doanh và chính trị gia Mỹ “đă phản ứng mạnh với cuộc tranh luận về ‘suy tàn’ bằng hành động: cắt giảm chi phí, làm cho các công ty thon thả hơn và thành thạo hơn, đầu tư vào các công nghệ mới hơn, thúc đẩy cách mạng truyền thông, cắt tỉa thâm hụt chính phủ, tất cả những thứ đó đă giúp tạo ra sự tiến bộ hàng năm về năng suất”.127 Là có thể để tưởng tượng rằng những người Mỹ cũng có khả năng đối phó với thách thức kinh tế mới nhất này nữa.

Cũng hợp lư để cho rằng các quốc gia khác, như trong quá khứ, sẽ vấp phải những khó khăn của riêng họ. Chẳng có quốc gia nào trong các quốc gia hiện đang hưởng sự thần kỳ kinh tế mà không có vấn đề. Brazil, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và Nga, tất cả đều có lịch sử gập ghềnh mà lịch sử đó gợi ư con đường phía trước sẽ không đơn giản là một con đường đi lên trơn tru. Có một câu hỏi thực tế liệu mô h́nh chuyên quyền Trung Quốc, mà có thể rất hiệu quả trong đưa ra một số quyết định về nền kinh tế trong ngắn hạn, có thể đủ linh hoạt trong dài hạn để cho phép thích nghi với một môi trường kinh tế, chính trị và chiến lược quốc tế thay đổi hay không.

Tóm lại, có thể là nhiều hơn sự may mắn mà đă cho phép Hoa Kỳ trong quá khứ vượt qua các cuộc khủng hoảng và nổi lên mạnh hơn và khỏe khoắn hơn các quốc gia khác trong khi các đối thủ khác nhau của nó đă vấp ngă. Và có thể là nhiều hơn điều mơ tưởng đơn thuần để tin rằng nó sẽ làm vậy lần nữa.

NHƯNG CÓ MỘT sự nguy hiểm. Đó là giữa chừng, trong khi quốc gia tiếp tục vật lộn, những người Mỹ có thể thuyết phục chính ḿnh rằng sự suy sụp quả thực là không thể tránh khỏi, hoặc rằng Hoa Kỳ có thể lấy một thời gian tạm ngưng các trách nhiệm toàn cầu của nó trong khi dọn dẹp nhà ḿnh ngăn nắp. Đối với nhiều người Mỹ, việc chấp nhận sự suy sụp có thể cung cấp một lối thoát dễ chịu khỏi các gánh nặng đạo đức và vật chất mà đă đè nặng lên họ từ Chiến tranh Thế giới II. Nhiều người có thể ước ao một cách vô ư thức để quay trở lại cách các thứ đă xảy ra trong năm 1900, khi Hoa Kỳ đă giàu, hùng mạnh, và không có trách nhiệm về trật tự thế giới. Mọi ứng viên tổng thống kể từ cuối Chiến tranh Lạnh đă hứa bằng cách này hay cách khác để tập trung nhiều sự chú ư hơn vào công việc trong nước và để bớt sự dính líu của Mỹ ở nước ngoài, nhưng lại phá vỡ lời hứa đó hầu như ngay lập tức khi nhậm chức.

Giả định cơ sở của một tiến tŕnh như vậy là, trật tự thế giới hiện thời sẽ ít nhiều vẫn c̣n mà không có sức mạnh Mỹ (hay chí ít, với sức mạnh Mỹ ít hơn nhiều), rằng các quốc gia khác có thể phục hồi sự uể oải, hoặc đơn giản rằng các lợi ích của trật tự thế giới là vĩnh cửu và không đ̣i hỏi sự nỗ lực của bất kể ai. Đáng tiếc, tuy vậy, trật tự thế giới hiện thời cũng mong manh như nó là độc nhất. Duy tŕ nó là một cuộc đấu tranh trong mỗi thập niên và vẫn sẽ là một cuộc chiến đấu trong các thập niên sắp tới. Các tổng thống, những người đă nhậm chức chờ đợi để có khả năng làm ít hơn, đă mau chóng đối mặt với thực tế trần trụi – thường rơ ràng hơn đối với các tổng thống hơn là với các ứng viên tổng thống – rằng duy tŕ trật tự thế giới hiện thời đ̣i hỏi sự lănh đạo kiên định của Mỹ và sự cam kết liên tục của Mỹ.

Một trật tự thế giới tuyệt vời

      RỐT CUỘC, quyết định là ở trong tay những người Mỹ. Sự suy tàn, như Charles Krauthammer đă nhận xét, là một sự lựa chọn. Nó không phải là một số phận không thể tránh khỏi – chí ít vẫn chưa. Trong cuốn It’s a Wonderful Life (Một cuộc Sống Tuyệt vời) của ḿnh, George Bailey đă thấy ḿnh trong một cuộc khủng hoảng kinh khủng – một cuộc khủng hoảng tài chính, t́nh cờ mà – với ngân hàng của ông sắp phá sản và gia đ́nh ông bị đẩy vào nghèo khổ. Ông quyết định rằng thế giới sẽ khấm khá hơn mà không có ông và v́ thế ông tự tử. Nhưng ông đă bị một thiên thần chặn lại và đưa ông vào một cuộc đi chơi Dickensian để xem thành phố của ông sẽ trông giống thế nào giả như ông đă chẳng bao giờ sinh ra. Thành phố, bây giờ được chế ngự bởi chủ ngân hàng tham lam, là thô lỗ hơn và xơ xác hơn, tàn bạo hơn và cũng buồn hơn. Những người trước kia tốt bụng và hào phóng đă trở nên thô tục và ích kỷ. Những người khác đă bị phá sản. Một khi ông nhận ra thế giới khả dĩ khác này kinh khủng đến thế nào, và hiểu vai tṛ đặc biệt mà ông đă đóng trong việc biến thế giới riêng của ông thành cái nó đă là, ông quay lại cuộc sống và thấy rằng, trông lạ chưa ḱa, ông có khả năng để t́m ra một giải pháp. Với một chút may mắn, nhưng cũng với các lực lượng chính nghĩa trong thành phố mà ông đă ủng hộ và cổ vũ, ông giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính của ḿnh và sống hạnh phúc kể từ đó.

Đó, tất nhiên, là một kết thúc Hollywood. Trong thế giới thực, câu chuyện không phải kết thúc có hậu. Các đế chế và các cường quốc nổi lên và suy tàn, và câu hỏi duy nhất chỉ là khi nào. Nhưng cái khi nào là quan trọng. Liệu Hoa Kỳ bắt đầu suy tàn trong hai thập niên tới hoặc thêm hai thế kỷ nữa vẫn chưa, sẽ là rất quan trọng cả cho những người Mỹ và cho bản chất của thế giới mà họ sống trong đó. Có lẽ nếu giả như những người Mỹ có được một bức tranh rơ hơn về cái ǵ có thể đến sau trật tự thế giới Mỹ, th́ họ sẽ có ư sẵn sàng hơn để tiếp tục chiến đấu nhằm duy tŕ thế giới mà họ đă tạo ra, hay chí ít để bảo đảm rằng những thay đổi trong hệ thống không làm xói ṃn trật tự mà họ, và những người khác, đă được hưởng lợi nhiều đến vậy.

Việc này đ̣i hỏi những ǵ? Trên hết, nó có nghĩa là làm việc để trụ đỡ tất cả ba trụ cột – chính trị, kinh tế, an ninh – của cái đă tạo thành thời đại này, với tất cả những sự hung ác của nó, một thời đại hoàng kim cho nhân loại. Chúng ta có xu hướng tách chính trị, kinh tế, và an ninh – “các lư tưởng” khỏi “các lợi ích”, sự ủng hộ dân chủ khỏi việc bảo vệ an ninh – nhưng trong trật tự thế giới Mỹ chúng đă hoàn toàn liên kết với nhau.

Xuất phát với thực tế rằng một trật tự thế giới tự do sẽ chỉ được ủng bộ bởi các quốc gia tự do. Kỳ vọng rằng một Trung Quốc hay Nga chuyên quyền sẽ giúp đỡ trong việc ủng hộ sự cai quản dân chủ và các nguyên lư kinh tế tự do – và hai thứ này liên hệ mật thiết với nhau – là điên rồ. Những người Mỹ và các dân tộc tự do khác, những người được hưởng và ủng hộ trật tự thế giới hiện thời, v́ thế có lợi ích trong việc gây sức ép cho các cải cách dân chủ và tự do lớn hơn ở các quốc gia chuyên chế của thế giới, kể cả ở hai cường quốc lớn chuyên quyền. Việc này không phải bởi v́ đúng là việc những người Mỹ làm, bởi v́ ủng hộ dân chủ là nhất quán với các nguyên lư của họ và khiến họ cảm thấy thoải mái về chính họ. Lư do quan trọng hơn rất nhiều là, tương lai của trật tự thế giới tự do có thể phụ thuộc vào nó. Nếu đúng rằng Hoa Kỳ cuối cùng có thể sẽ phải chia sẻ quyền lực toàn cầu với một Trung Quốc giàu hơn và hùng mạnh hơn, th́ sẽ là sự khác biệt rất lớn đối với trật tự thế giới tương lai liệu Trung Quốc vẫn là chuyên quyền hay bắt đầu mở ra về mặt chính trị cũng như kinh tế. Ngay cả một Trung Quốc siêu cường dân chủ có sẽ đặt ra những thách thức cho Hoa Kỳ? Tất nhiên nó sẽ. Ảnh hưởng Mỹ sẽ nhất thiết giảm bớt tương đối so với của Trung Quốc. Nhưng ít nhất một Trung Quốc dân chủ có thể được tin cậy dễ dàng hơn

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra-
Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết

 


 

T́m đọc:

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
 

***


Văn Quang – Viết từ  Sài G̣n: Ngọn đuốc vừa thắp sáng bầu trời.

 

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -01-05

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -06-10

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -11-15

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -16-20

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -21-24

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -25-30

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -31-35

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -36-40

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -41-45

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -46-50

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -51-55

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -56-60

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -61-65

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -66-70

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -71-75

Thế giới mả Mỹ tạo ra ra- Nguyên tác Robert Kagan - Người dịch: Nguyễn Quang A -76-hết