báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."


[Bài Viết - Article]
                                                                          

 
 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 


VFC - Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam


Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

Luật Sư Nguyễn Hữu Thống:
 

TỰ DO NHÂN QUYỀN VÀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT


           Nhân quyền và những quyền tự do căn bản được quy định thành văn trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành sau Thế Chiến II.  Mục đích để đề cao nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hoà giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Ḥa trong tinh thần b́nh đẳng, hợp tác và hữu nghị.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm những điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị (1966) và Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế Xă Hội và Văn Hóa (1966).  Ngoài ra c̣n có khoảng 50 công ước bổ túc và khai triển như Công Ước Chống Diệt Chủng (1949), Công Ước về Quy Chế Tỵ Nạn (1951), Công Ước Chống Kỳ Thị Chủng Tộc, (1965) Công Ước Chống Kỳ Thị Phụ Nữ, (1979), Công Ước Chống Tra Tấn Hành Hạ (1984), Công Ước về Quyền của Thiếu Nhi (1989) v...v…

Năm 1976, với sự phê chuẩn 2 Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự Chính Trị và về Những Quyền Kinh Tế Xă Hội Văn Hóa, Liên Hiệp Quốc chính thức ban hành Luật Quốc Tế Nhân Quyền (International Bill of Human Rights).

Luật Quốc Tế Nhân Quyền là văn kiện pháp lư quan trọng nhất trong thời đại chúng ta.  Hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là hai hiệp ước quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử loài người.

Bước sang thiên niên kỷ mới, chúng ta kỳ vọng rằng, rồi đây bạo lực sẽ nhường chỗ cho thuyết phục, chiến trường sẽ nhường chỗ cho hội trường và chiến tranh thế giới sẽ bị thay thế bởi luật pháp quốc tế.  Trong niềm tin tưởng đó chúng ta công bố Hiến Chương Nhân Quyền Cho Việt Nam. 

Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng Quyền Dân Tộc Tự Quyết và 26 Nhân Quyền căn bản.

1-    QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT

Quyền thiết yếu trong chế độ dân chủ là quyền dân tộc tự quyết.

    Về mặt quốc nội, dân tộc tự quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị kinh tế của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của ḿnh trong chính quyền để thực thi chế độ đó.  Trong chiều hướng này người dân có quyền tự do lựa chọn các chế độ chính trị  như Quân Chủ Lập Hiến (Anh, Nhật, Thái Lan ...), Cộng Ḥa Dân Chủ (Hoa Kỳ, Pháp, Ấn Độ ...) hay Dân Chủ Xă Hội (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch,  Canada, Úc, Tân Tây Lan ...).  (Chế độ Cộng Sản mệnh danh là Xă Hội Chủ Nghĩa Mác-Lê-Nin không do nhân dân lựa chọn mà do Đảng Cộng Sản áp đặt sau khi cướp được chính quyền bằng bạo lực). 

Dân tộc tự quyết gồm có quyền tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị.  Lời Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhận định rằng: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền.”

Về mặt quốc tế dân tộc tự quyết là quyền của các quốc gia được có chủ quyền độc lập và quy chế b́nh đẳng trong cộng đồng thế giới.  Muốn xây dựng Thế Giới Đại Ḥa trên căn bản b́nh đẳng, hợp tác và hữu nghị các cường quốc phải thực thi Quyền Dân Tộc Tự Quyết.

             Điều Thứ Nhất của hai Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự Chính Trị và về những Quyền Kinh Tế Xă Hội Văn Hóa khuyến cáo các đế quốc có trách nhiệm cai trị, bảo hộ hay giám hộ các quốc gia khác phải thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu các Điều 1 và 55 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.  Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng kêu gọi các quốc gia hội viên hợp tác trên căn bản b́nh đẳng và hữu nghị, loại trừ những vi phạm quyền tự quyết của các dân tộc do chế độ đế quốc, cũng như vi phạm sự toàn vẹn lănh thổ và quyền của các dân tộc và các cá nhân được hưởng dụng các tài nguyên và nguồn lợi thiên nhiên của đất nước do sự cưỡng chiếm lănh thổ, các hải đảo và hải phận (Lời Mở Đầu). 

Sau Thế Chiến 1, năm 1919 tại Hội Quốc Liên (League of Nations), tổ chức tiền thân của Liên Hiệp Quốc, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đề xướng quyền dân tộc tự quyết, khuyến cáo các đế quốc Tây Phương từng bước trả tự trị và độc lập cho các thuộc địa Á Phi.  Hưởng ứng đề nghị này Anh Quốc trả độc lập cho Canada tại Mỹ Châu và A Phú Hăn tại Á Châu. 

Cũng trong năm này tại Paris Luật Sư Phan Văn Trường, Chủ Tịch Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước hướng dẫn Kỹ Sư Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đến yết kiến Tổng Thống Wilson để đệ tŕnh Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam, trong đó có đoạn như sau: 

“Từ sau chiến thắng của Đồng Minh [chúng tôi kỳ vọng rằng] kỷ nguyên của Luật Pháp và Công Lư sẽ khai mở do sự thừa nhậnQuyền Dân Tộc Tự Quyết, đem lại hy vọng cho các dân tộc bị trị.  Trong khi chờ đợi sự thực thi quyền dân tộc tự quyết, dân tộc Việt Nam xin đệ tŕnh các Chính Phủ Đồng Minh và Chính Phủ Pháp 8 thỉnh nguyện khiêm tốn như sau:

1-Ban hành đại xá cho các chính trị phạm Việt Nam.

2-Ban hành quyền b́nh đẳng trước pháp luật, băi bỏ hệ thống ṭa án đặc biệt.

3-Ban hành tự do báo chí và tự do ngôn luận.

4-Ban hành tự do lập hội và tự do hội họp.

5-Ban hành tự do di trú và tự do xuất ngoại.

6-Ban hành tự do giáo dục. 

7-Thiết lập chế độ pháp trị.

8-Thành lập Phái Bộ Thường Trực Dân Cử Việt Nam cạnh Quốc Hội Pháp để đạo đạt những thỉnh nguyện của quốc dân Việt Nam tới Quốc Hội

 

Khi Thế Chiến II c̣n đang tiếp diễn, Hoa Kỳ và Đồng Minh công bố Hiến Chương Đại Tây Dương (1941) và Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc (1942), cam kết sẽ thực thi quyền dân tộc tự quyết và trả độc lập cho các thuộc địa khi chiến tranh kết thúc.

Mùa Xuân 1945, 50 quốc gia Đồng Minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. Điều Thứ Nhất Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đề xướng quyền dân tộc tự quyết, chủ trương tôn trọng chủ quyền độc lập của các quốc gia, chấm dứt chế độ thuộc địa.  

    Chấp hành những cam kết ghi trong Hiến Chương Đại Tây Dương (1941), Tuyên Ngôn Liên Hiệp Quốc (1942) và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), trong 4 năm, từ 1946 đến 1949, tất cả các đế quốc Tây Phương như Anh, Pháp, Mỹ, Ḥa Lan đă lần lượt tự giải thể để trả độc lập cho 12 thuộc địa Á Châu chiếu nguyên tắc dân tộc tự quyết:

·   5 nước thuộc Anh là Ấn Độ, Đại Hồi, Miến Điện, Tích Lan và Palestine.

·   5 nước thuộc Pháp là Syrie, Liban, Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao.

·   Cùng với Phi Luật Tân thuộc Hoa Kỳ, và Nam Dương thuộc Ḥa Lan.

Năm 1947 Anh Quốc trả độc lập cho Ấn Độ, Đại Hồi và đăng kư hai nước này là những quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc.  Cũng trong năm này, Cao Ủy Pháp tại Đông Dương và Quốc Trưởng Bảo Đại kư Hiệp Ước Sơ Bộ Vịnh Hạ Long theo đó Pháp cam kết thừa nhận chủ quyền độc lập của Việt Nam sau những cuộc thương thuyết chính thức.  Năm 1947 Pháp cũng đă đăng kư Việt Nam là quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc (Everyone’s United Nations trang 332, ấn bản 1986). Chủ quyền độc lập của Việt Nam được chính thức thừa nhận trong Thông Cáo Chung Vịnh Hạ Long năm 1948.  Và ngày 8-3-1949 tại Điện Elysée Paris, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol  kư với Quốc Trưởng Bảo Đại Hiệp Định Elysée để trả độc lập cho Việt Nam.  Qua tháng sau, ngày 23-4-1949, chiếu nguyên tắc dân tộc tự quyết, Quốc Hội Địa Phương Nam Kỳ biểu quyết sát nhập lănh thổ Nam Kỳ vào Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Một tháng rưỡi sau, ngày 6-6-1949, Quốc Hội Pháp phê chuẩn Hiệp Định Élysée về việc tái thống nhất Việt Nam, chấm dứt chế độ thuộc địa tại Nam Phần.

 

Và ngày 2-2-1950, Quốc Hội Pháp phê chuẩn toàn bộ Hiệp Định Élysée ngày 8-3-1949 với 12 Phụ Ước và 30 Đính Ước.  Đồng thời Quốc Hội Pháp cũng phê chuẩn các Hiệp Định trao trả độc lập cho Ai Lao kư ngày 20-7-1949, và cho Cao Miên kư ngày 8-11-1949.  Như vậy về mặt quốc tế công pháp, từ 1949, cùng với 9 quốc gia khác tại Á Châu, 3 nước Đông Dương Việt Miên Lào đă giành được độc lập thống nhất bằng đường lối đấu tranh chính trị và  ngoại giao,  không vơ trang và không đổ máu. Thời gian này Pháp, Hoa Kỳ và Thái Lan chính thức thừa nhận Quốc Trưởng Bảo Đại là vị Nguyên Thủ Quốc Gia Việt Nam (Thái Lan là thành viên Khối Liên Minh Pḥng Thủ Đông Nam Á SEATO).

Mặc dầu vậy Hồ Chí Minh đă phủ nhận 3 Hiệp Định Đông Dương kư kết tại Điện Elysée năm 1949, v́ các Hiệp Định này không cho Đảng Cộng Sản Đông Dương độc quyền lănh đạo quốc gia.  Và họ đă tiếp tục phát động chiến tranh vơ trang trong suốt 40 năm, từ 1949 đến 1989, để cướp chính quyền và bành trướng chủ nghĩa bá quyền.  Như vậy Đảng Cộng Sản đă vi phạm quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam muốn sống trong một chế độ tự do dân chủ và không bị  áp đặt chế độ độc tài vô sản, hay đúng hơn, chế độ độc tài của Đảng Cộng Sản để thống trị vô sản và nhân dân.

         II.    26 NHÂN QUYỀN CĂN BẢN

Ngoài quyền Dân Tộc Tự Quyết, Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng 26 Nhân Quyền Căn Bản chia thành 4 loại như sau:

1.    Những quyền dân sự cho bản thân con người (hay Quyền Tự Do Nhân Thân)

2.    Những quyền dân sự của con người trong đời sống xă hội (hay Quyền An  Cư)

3.    Những quyền kinh tế xă hội và văn hóa giáo dục (hay Quyền Lạc Nghiệp)

4.    Những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (hay Quyền Tự Do Dân Chủ)   

    Tự Do Nhân Thân thuộc về Thân

    Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị thuộc về Tâm.

Cùng với những Quyền An Cư và Lạc Nghiệp, mục tiêu tối hậu của Nhân Quyền là tạo điều kiện cho con người đượcThân Tâm An Lạc.

    Trước hết là:   

A.           8 QUYỀN TỰ DO NHÂN THÂN

.

Chúng ta hăy vận dụng luồng tư tưởng để kết nối các nhân quyền trong một sợi dây chuyền xuyên suốt:

1) Con người có nhân quyền từ khi mới sinh. Cha mẹ sinh ra ta và cho ta Quyền    Sống (Right to Life).

Luật Quốc Tế Nhân Quyền trừng phạt tội thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể:

a.            Tàn sát v́ lư do chủng tộc như việc Đức Quốc Xă sát hại 6 triệu người Do Thái.

b.            Tàn sát v́ lư do chủng tộc và tôn giáo như việc Nam Tư (cũ) tảo thanh chủng tộc các sắc dân Hồi Giáo.

c.            Tàn sát v́ lư do giai cấp và chính kiến như việc Khmer Đỏ tàn sát 2 triệu người Cam Bốt.

Năm 1998 Toà Án H́nh Sự Quốc Tế được thành lập để trừng phạt tội diệt chủng, tội chiến tranh và tội chống nhân loại.

2) Muốn sống cho ra sống phải có tự do thân thể và an ninh thân thể (liberty and security of person):

    Có tự do thân thể th́ có Quyền Không Bị Nô Lệ hay Nô Dịch (Freedom from Slavery). Luật Quốc Tế Nhân Quyền lên án chế độ nô lệ, cấm mua bán phụ nữ và thiếu nhi để làm nô lệ t́nh dục.

    3) Có an ninh thân thể th́ có Quyền Không Bị Tra Tấn Hành Hạ (Freedom from Torture), trong giai đọan điều tra tại công an cũng như trong giai đoạn thụ h́nh sau khi có án ṭa.

    4) Có an ninh thân thể th́ có Quyền Không Bị Giam Giữ Độc Đoán (Freedom from Arbitrary Arrest or Detention). Ngày 30-4-l993 Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc công bố phúc tŕnh lên án nhà cầm quyền Hà Nội đă giam giữ độc đoán hai tù nhân lương tâm Việt Nam là Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và Giáo Sư Đoàn Viết Họat.

    5) Nếu bị bắt giam và bị truy tố ra ṭa th́ có Quyền Được Xét XửCông Bằng (Right to a Fair Trial) bởi các thẩm phán độc lập và vô tư, theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ. Trong chế độ Dân Chủ Pháp Trị bị cáo được suy đoán là vô tội cho đến khi bị kết án chung thẩm.

    6) Nếu sự xét xử không công bằng và bị tuyên phạt oan ức, bị cáo có Quyền Được Ṭa Án Bảo Vệ (Right to Judicial Protection) bằng cách buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại.

    Ngoài ra ṭa án c̣n có quyền hủy bỏ một nghị định hành chánh vi hiến như Nghị Định 31/ CP năm 1997 thiết lập Quy Chế Quản Chế Hành Chánh; tuyên bố một điều khoản vi phạm nội dung và tinh thần hiến pháp như điều 4 Hiến Pháp vi phạm Quyền Dân Tộc Tự Quyết, Quyền Tham Gia Chính Quyền và Quyền Tự Do Tuyển Cử.

    7) Ṭa Án bảo vệ con người căn cứ vào luật pháp. Luật Pháp cũngBảo Vệ Con Người (Right to Legal Protection). Luật pháp không công nhận những tội trạng giả tạo như tội “tuyên truyền chống nhà nước”. V́ tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu quan điểm được luật pháp thừa nhận.  Luật pháp cũng không công nhận tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ”. Tại Việt Nam ngày nay v́ không có tự do dân chủ nên không ai có cơ hội lợi dụng quyền tự do dân chủ.

    8)  Luật pháp bảo vệ con người một cách đồng đều, không phân biệt kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc quốc gia, thành phần xă hội, tài sản, ḍng dơi hay bất cứ thân trạng nào khác.  Đó là Quyền B́nh Đẳng Trước Pháp Luật (Right to Equal Protection). Quyền này áp dụng cho tất cả mọi người. Ai cũng được coi là con người (person) có tư cách pháp nhân để được b́nh đẳng trước pháp luật.

Đó là 8 quyền dân sự cho bản thân con người mệnh danh là Quyền Tự Do Nhân Thân.

B. 6 QUYỀN AN CƯ

    Muốn kết nối các Quyền Tự Do Nhân Thân với Quyền An Cư, chúng ta hăy vận dụng luồng tư tưởng:

    Con người không sống lẻ loi một ḿnh trong hang động mà phải sống hợp quần trong xă hội. Do đó, ngoài những quyền dân sự cho bản thân con người, quốc gia c̣n phải bảo đảm cho con người một số quyền dân sự khác để con người được sống an b́nh trong xă hội: Đó là Quyền An Cư như:

1-Quyền Tự Do Cư Trú và Đi Lại (Freedom of Residence and Movement), tự do xuất ngoại và hồi hương. Năm l997, Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc công bố phúc tŕnh lên án nhà cầm quyền Bắc Hàn vi phạm quyền tự do cư trú và đi lại, quyền tự do xuất ngọai và hồi hương của người dân. Phẫn chí, Bắc Hàn rút ra khỏi Công Ước Dân Sự Chính Trị Liên Hiệp Quốc.

2-Muốn được sống an b́nh trong xă hội danh dự và đời tư của con người phải được tôn trọng. Đó là Quyền Riêng Tư(Right to Privacy). Từ Thế Kỷ 13 khi Đại Hiến Chương được ban hành, người dân Anh thường tự hào nói: “Căn nhà của chúng tôi có thể dột nát, mưa gió có thể lọt vào, nhưng vua chúa th́ không được vào!”

3-Quyền riêng tư được áp dụng cho cả bản thân và gia đ́nh, v́ con người có Quyền Kết Hôn và Lập Gia Đ́nh (Right of the Family).

4-Gia đ́nh là một đơn vị của xă hội. Con người sống trong quốc gia xă hội và được quốc gia ban cho Quyền Quốc Tịchđể trở thành công dân (Right to Nationality).

5-Nếu bị quốc gia đàn áp v́ lư do chính trị, tôn giáo hay chủng tộc, sống không nổi, con người có Quyền rời bỏ quốc gia để đi Tỵ Nạn tại các quốc gia khác (Right to Asylum).

6-Muốn có một đời sống an lạc cho bản thân và gia đ́nh, con người phải có Quyền Tư Hữu (Right to Property).

C. 8 QUYỀN LẠC NGHIỆP

    Để kết nối các Quyền An Cư và Quyền Lạc Nghiệp chúng ta hăy trở lại quyền tư hữu.

    Quyền tư hữu có tác dụng an cư như có các đồ đạc, xe cộ, nhà cửa để cư trú. Quyền tư hữu cũng có tác dụng lạc nghiệp (để hành nghề) như có vốn kinh tế để kinh doanh buôn bán, vốn kỹ thuật, vốn văn hóa, vốn trí thức để hành nghề chuyên môn. Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Lạc Nghiệp là những quyền kinh tế xă hội và văn hóa giáo dục.

    1. Quyền Làm Việc (Right to Work)

       Quan trọng nhất là quyền làm việc. Quyền làm việc bao gồm cả quyền nghỉ ngơi và giải trí, quyền được trả lương tương xứng và công bằng. T́ền lương được ấn định trong các khế ước lao động kư kết giữa chủ nhân và công nhân. Trên thực tế giữa chủ nhân và công nhân không có sự đồng đẳng, v́ chủ nhân giàu hơn, giỏi hơn và đông hơn công nhân. Do đó để có b́nh đẳng giao ước chống nạn bóc lột lao động, phải tạo cơ hội cho công nhân kết hợp trong các nghiệp đoàn và được hành sử quyền đ́nh công. Đó là:

2. Quyền Thành Lập Nghiệp Đoàn và Quyền Đ́nh Công(Right to Trade Union and Right to Strike).

    Ngoài các nghiệp đoàn công nhân (công đoàn) c̣n có các hiệp hội nông dân, nghiệp đoàn kư giả, nghiệp đoàn giáo chức, nghiệp đoàn y sĩ (y sĩ đoàn), nghiệp đoàn nha sĩ (nha sĩ đoàn), nghiệp đoàn dược sĩ (dược sĩ đoàn), nghiệp đoàn luật sư (luật sư đoàn) v...v...

    Công nhân thành lập công đoàn và hành sử quyền đ́nh công để có hậu thuẫn trong việc thương thảo tập thể với chủ nhân về những vấn đề lương bổng và điều kiện lao động.

    3. Quyền có Mức Sống Khả Quan (Right to an Adequate Standard of Living)

    Con người có quyền làm việc, được trả lương tương xứng và công bằng để đem lại cho bản thân và gia đ́nh một mức sống khả quan về thức ăn, nhà ở, y tế, giáo dục v...v... Mức sống này sẽ được liên tục nâng cao nhờ những tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triển công kỹ nghệ thương mại, canh tân nông nghiệp, đặc biệt là sự hợp tác và tài trợ quốc tế qua các định chế tài chánh của Liên Hiệp Quốc như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng Phát Triển Á Châu v...v...

    4. Quyền An Sinh Xă Hội (Right to Social Security)

    Nhờ làm việc và có đồng lương tương xứng, con người có cơ hội được hưởng một mức sống khả quan cho bản thân và gia đ́nh.

    Tuy nhiên trong những trường hợp ngoài ư muốn, con người không thể làm việc được, không thể tự lực mưu sinh được v́ lư do thất nghiệp, tàn phế, bệnh hoạn, già lăo v...v... th́ quốc gia có nghĩa vụ phải yểm trợ con người trong các định chế an sinh xă hội và bảo hiểm xă hội. Các định chế này được thiết lập từng bước, tuần tự, tiệm tíến, tùy theo khả năng kinh tế tài chánh của quốc gia.

    5.  Quyền Bảo Trợ Gia Đ́nh (Protection of the Family)

    Quy chế An Sinh Xă Hội c̣n được áp dụng cho các sản phụ, hài nhi và thiếu nhi trong chính sách bảo trợ gia đ́nh. Các sản phụ đi làm được quyền nghỉ việc một thời gian trước và sau khi sanh. Các gia đ́nh có con nhỏ và có lợi tức yếu kém được quốc gia trợ cấp tài chánh và trợ cấp y tế (medicare).

    Từ đó Luật Quốc Tế Nhân Quyền mở rộng cho mọi người quyền y tế, quyền giáo dục và quyền văn hóa.

    6.  Quyền Y Tế (Right to Health)

    Các quốc gia Dân Chủ Xă Hội (Social Democracies) đă đi tiền phong trong việc cung cấp y tế miễn phí và giáo dục miễn phí cho người dân như Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan, Áo, Ḥa Lan, Anh, Úc, Tân Tây Lan, Gia Nă Đại v... v...

    7.  Quyền Giáo Dục (Right to Education)

    Theo Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Kinh Tế Xă Hội và Văn Hóa giáo dục tiểu học phải có tính cưỡng bách và miễn phí, giáo dục trung học và đại học cũng phải tiến dần đến miễn phí, chỉ lấy khả năng làm tiêu chuẩn nhập học hay tốt nghiệp. Giáo dục phải nhằm mục tiêu tôn trọng nhân quyền, phát huy nhân phẩm, đề cao t́nh thông cảm bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các dân tộc và các tôn giáo.

    8. Quyền Văn Hoá (Right to Culture)

    Mọi người được quyền tham gia vào đời sống văn hóa, được hưởng lợi ích của những tiến bộ khoa học và thưởng ngọan văn học nghệ thuật.

    Về mặt kinh tế quốc gia phải ban hành luật pháp để bảo vệ tác quyền của văn nghệ sĩ và các sáng chế phát minh của nhà khoa học.

    Về mặt tinh thần quốc gia phải tôn trọng quyền tự do sang tác của văn nghệ sĩ và quyền tự do nghiên cứu của nhà khoa học.

Để kết nối những Quyền Lạc Nghiệp với những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị, chúng ta hăy trở lại quyền văn hóa.  Như đă tŕnh bày, quyền văn hóa là một quyền kinh tế và cũng là một quyền tinh thần.  Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ.

D. 4 QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ

    Trước hết là những quyền tự do tinh thần như tự do lương tâm và tự do tôn giáo (quyền thứ nhất)

    Kế tiếp là những quyền tự do chính trị như tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm (quyền thứ hai)

    Có tư tưởng, có quan điểm, phải có cơ hội trao đổi tư tưởng, trao đổi quan điểm bằng tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng (quyền thứ ba)

    Các cá nhân và chính đảng có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân phải có cơ hội thực thi chủ trương này bằng cách tham gia chính quyền (quyền thứ tư)

    Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nhấn mạnh về nghĩa vụ của mọi người phải “bảo vệ dân chủ, đề xướng và phát huy các xă hội dân chủ, các định chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ”.

1. Tự Do Lương Tâm và Tự Do Tôn Giáo (Freedom of Conscience and Religion).

    Quyền tự do tôn giáo bao gồm quyền thờ phụng, quyền truyền giáo và hành đạo. Đ̣i tự do tôn giáo cũng là đ̣i phóng thích các tù nhân tôn giáo đă bị giam giữ hay quản thúc độc đoán, đ̣i cho các giáo hội được sinh họat tự trị và đ̣i lại các tài sản cơ sở văn hóa giáo dục và xă hội từ thiện để hoằng dương đạo pháp.

    2. Tự Do Tư Tưởng và Tự Do Phát Biểu (Freedom of Thought and Expression) Tại Việt Nam ngày nay Đảng Cộng Sản vi phạm quyền tự do tư tưởng bằng cách nắm giữ độc quyền tư tưởng để truyền bá học thuyết Mác-Lê tại các trường công lập.

Trong chương tŕnh giáo dục tương lai, chúng ta sẽ không giảng dạy các học thuyết chính trị tại các trường phổ thông công lập. Thay vào đó, tại cấp tiểu học, chúng ta sẽ giảng dạy cho các em về 10 t́nh cảm tự nhiên trong Đạo Làm Người như t́nh gia đ́nh, t́nh thầy tṛ, t́nh bạn bè, t́nh lối xóm, t́nh yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, yêu nhân loại, yêu thiên nhiên, yêu chim muông súc vật ...

Đến bậc trung học chúng ta sẽ giảng dạy cho các học sinh những quyền lợi và nghĩa vụ công dân, đặc biệt nhấn mạnh đến nhân quyền và dân quyền. Từ hai thiên niên kỷ nay, người dân bị đè nén. Họ chỉ nghe nói về bổn phận và nghĩa vụ chứ chưa từng nghe nói về quyền con người và quyền công đân. Đề cao nhân quyền và dân quyền để chấn hưng dân khí, cho người dân đứng lên giành lại quyền làm chủ xă hội, cho con người được phát triển toàn diện, có phần con là những nhu cầu, mà cũng có phần người là những quyền tự do dân chủ.

Tại bậc đại học Luật Quốc Tế Nhân Quyền sẽ được giảng dạy v́ luật này c̣n quan trọng hơn cả luật hiến pháp. Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề cao nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, ḥa giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Ḥa trong tinh thần b́nh đẳng, hợp tác và hữu nghị. Đây là giấc mơ ngàn đời của nhân loại theo đó người trong bốn biển đều là anh chị em.

Nhà cầm quyền Hà Nội c̣n vi phạm quyền tự do phát biểubằng cách cấm tư nhân ra báo. Mọi bài viết có tính đối kháng sẽ bị gán vào tội phản nghịch hay tuyên truyền chống nhà nước.

Theo Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp “quyền tự do phát biểu quan điểm là quyền cao quư nhất của con người. Mọi người đều có quyền nói, viết, in ấn tự do, và chỉ chịu trách nhiệm (hậu kiểm) khi có sự vi phạm luật pháp”.

Theo Luật Báo Chí Đệ Nhị Cộng Ḥa Việt Nam công dân được tự do ra báo mà không phải xin giấy phép hay kiểm duyệt trước (prior censorship). Chỉ khi nào nhà báo xâm phạm danh dự hay quyền lợi của người khác, hoặc vi phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay thuần phong mỹ tục, lúc đó biện lư hay nạn nhân mới có quyền khởi tố nhà báo ra ṭa để trả lời về trách nhiệm hậu kiểm của họ (subsequent liability).

Luật Quốc Tế Nhân Quyền bảo vệ quyền tự do phát biểu trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Dân Sự Chính Trị:  “Ai cũng có quyền giữ vững quan niệm mà không bị người khác can thiệp.  Ai cũng có quyền t́m kiếm, tiếp nhận, và phổ biến các tin tức ư kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.” (Điều 19).

3. Tự Do Hội Họp và Tự Do Lập Hội (Right of Assembly and Freedom of Association)

    Có tư tưởng, có quan điểm th́ phải được quyền trao đổi tư tưởng, trao đổi quan điểm với các thân hữu trong các cuộc gặp gỡ nhờ có tự do hội họp và tự do lập hội.

    Hội họp như diễn thuyết, họp báo, tham dự mít tinh, biểu t́nh, tuần hành để đạo đạt thỉnh nguyện lên nhà cầm quyền, phản kháng những vi phạm nhân quyền và đấu tranh đ̣i thực thi nhân quyền.

    Hội đoàn có hai loại, hội dân sự và hội chính trị.

Lập hội dân sự để thực thi những mục tiêu đạo đức tôn giáo, (giáo hội), kinh tế xă hội (công đoàn, nghiệp đoàn), thông tin văn hoá giáo dục (hội kư giả, nhà văn, nhà giáo, phụ huynh học sinh), ái hữu tương tế (hội học sinh, sinh viên, phụ nữ, cao niên), từ thiện nhân đạo (Hội Hồng Thập Tự, Hội Truyền Bá Quốc Ngữ, Hội Truyền Bá Nhân Quyền), hay thể dục thể thao v.v... Những hội đoàn này họp thành xă hội dân sự trong một xă hội đa nguyên. Các hội dân sự được quyền sinh họat tự trị, không chịu sự can thiệp hay giám sát của nhà nước. Do đó các giáo hội quốc doanh phải được giải tán, các công đoàn nhà nước phải được thay thế bằng các công đoàn độc lập, công đoàn tự do.

    Ngoài các hội dân sự c̣n có các hội chính trị hay chính đảngtrong chế độ dân chủ đa đảng. Dân chủ đa đảng cộng với xă hội đa nguyên họp thành Dân Chủ Đa Nguyên. Chế độ Dân Chủ Đa Nguyên lên án chế độ độc đảng và độc quyền lănh đạo của Đảng Cộng Sản. 

4. Quyền Tham Gia Chính Quyền (Right to Participate in Government)

    Các chính đảng và các cá nhân có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân phải có cơ hội thực thi những chủ trương đường lối này bằng cách tham gia chính quyền chiếu Điều 25 Công Ước Dân Sự Chính Trị.

    Tham gia chính quyền trực tiếp như ứng cử vào các chức vụ công cử (tổng thống, thủ tướng, dân biểu, nghị sĩ v.v...), hay gián tiếp bằng cách bầu lên các đại biểu của ḿnh trong chính quyền. Đây làquyền tự do tuyển cử, một h́nh thức của Quyền Dân Tộc Tự Quyết, theo đó người dân có quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của ḿnh trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

    Trái với quan niệm cổ xưa theo đó nguồn gốc chủ quyền xuất phát từ quốc gia, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền minh định rằng “ư nguyện của người dân được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia.  Ư dân phải được biểu lộ trung thực qua những cuộc tuyển cử tự do và công bằng, theo phương thức đầu phiếu phổ thông, định kỳ và kín.”  (Điều 21)

         Trong các quốc gia dân chủ, quyền tham gia chính quyền thường được thực hiện bằng thỉnh nguyện yêu cầu chính phủ sửa sai (petition the government for a redress of grievances).  Quyền này được thể hiện bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí, mít tinh biểu t́nh, hay bằng văn thư gửi nhà cầm quyền.  Đây là một quyền tự do căn bản, bất khả xâm phạm trong chế độ Dân Chủ Pháp Trị.    

Quyền Tham Gia Chính Quyền (quyền thứ 26) kết nối với Quyền Dân Tộc Tự Quyết để hoàn thành sợi dây chuyền xuyên suốt.

    Đây là sợi dây chuyền kết bằng 27 viên ngọc trai chúng ta dành riêng để tặng đồng bào trong nước.

            Luật Sư NGUYỄN HỮU THỐNG

                            Kỷ Nguyên Hậu Cộng Sản (Soạn thảo cho các sinh viên ở trong nước, các sinh viên Việt Nam tại hải ngoại và các sinh viên Việt Nam du học tại hải ngoại)

        Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam 2014