báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                                           

 

 Giới thiệu cuốn DVD HỒN TỬ SĨ do nhóm Vietnam Film Club thực hiện

Thấy Gì Trên Quê Hương Ta ?

Nhạc và lời: Nguyễn Sỹ Thùy Ngân - Trình bày: Thanh Tâm

https://youtu.be/YZ9HLaJlivY

V́ Sao Việt Cộng Thu Hồi Hồi Kư Của Cố TT Trần Trọng Kim?

https://youtu.be/h7xA7W1CsPM


GS Phạm Cao Dương Nói Về Đế Quốc Việt Nam

https://youtu.be/xmIE-qg-OKY

 

***

Trần Trọng Kim

Một Cơn Gió Bụi

Xuất bản lần đầu tại

Nhà xuất-bản Vĩnh Sơn

Sài G̣n 1969


 

Chương 12 


Lên Nam Vang 

Khi tôi về Sài g̣n, trong lưng chỉ c̣n có 20 đồng bạc Đông Dương. Ông Cousseau thấy vậy có đưa tiền, nhưng tôi không lấy. Sau tôi gặp những người quen biết có giúp đỡ ít nhiều để mua thuốc thang và may vá lặt vặt. Tôi đến nhờ ông cử Bùi Khải, ông v́ t́nh anh em, tiếp đăi một cách thành thực và tử tế, các cháu đều hết ḷng kính mến. Nhưng v́ cả gia quyến bốn năm người đến ở đấy lâu ngày, ăn không ngồi rồi, nghĩ cũng khó coi. Con gái tôi biết tiếng Anh, có nhiều người muốn học, định đi thuê nhà để dạy học, nhưng không thuê được nhà. Sài g̣n cũng như ở bên Tàu, cái nạn khan nhà thật là điêu đứng. Muốn thuê một cái nhà nhỏ, ít ra cũng phải trả tiền trà mất một vài vạn bạc, th́ lấy tiền đâủ Sau hai vợ chồng con tôi gặp những người quen nói ở trên Nam Vang, bên Cao Miên, cơm gạo rẻ và dễ thuê nhà, chúng nó mới xin giấy lên Nam Vang. Lên ở nhà khách sạn được mấy ngày chẳng may con tôi bị bỏng suưt chết. Nhờ có những người quen biết trông nom giúp đỡ nên không việc ǵ. 

Nhà ở Nam Vang lại có phần khó thuê hơn ở Sài g̣n, thành ra nhà vẫn chưa thuê được, con tôi phải về ở nhà ông Phạm Chí Tùng trong khi chờ đợi có nhà ở. 

Ông Phạm Chí Tùng là người rất hiền hậu, thấy con tôi lên ở nơi xa lạ, hết ḷng giúp đỡ, coi như anh em trong nhà vậy.

 Con tôi đi Nam Vang chờ đến ba tháng, nhờ ông Pignon can thiệp mấy lần, hội đồng coi việc nhà cửa mới thuê cho được một căn nhà, mở lớp dạy học tiếng Anh, lần hồi cũng đủ ăn tiêu.

 Tôi ở Sài g̣n, có cóp nhặt những sách của tôi, định t́m nhà xuất bản cho in lại. Lúc ấy tôi gặp ông Trần Văn Văn đến thăm tôi. Khi tôi ở Huế, ông có ra làm việc ở bộ kinh tế với ông Hồ Tá Khanh, cho nên đă quen từ trước. Ông thấy tôi ở trong cái hoàn cảnh rất eo hẹp, ông liền cho tôi vay một món tiền khá lớn và ông nhận việc t́m nhà xuất bản để in những sách của tôi.

 
Trong lúc nguy nan, gặp được người bạn như ông Trần Văn Văn đến thăm tôi thật là ít có. Ấy cũng là một sự may mắn, nhờ trời dun dủi làm cho đỡ được bao nỗi đau buồn khổ năo.

 Vào khoảng tháng chín năm 1947, th́ cậu Bùi Nam, anh em nhà tôi ở Hà Nội vào Sài g̣n thăm chúng tôi, biết rơ tin tức người nhà. Lúc ấy nhạc mẫu tôi đau nặng chưa biết thế nào, cậu Nam được tin vội vàng ra ngay, ra đến nơi buổi trưa, th́ buổi chiều mẹ tôi mất. T́nh mẹ con, nỗi đau đớn, nhà tôi rất sầu khổ. Cái sầu khổ lúc ấy lại có phần tăng thêm là v́ phải khi loạn lạc, ḿnh phiêu lưu ở đất khách quê người, không thấy được mặt mẹ trong phút cuối cùng. 

Sau tôi nghĩ ở Sài g̣n cũng ngồi không mà con th́ ở trên Nam Vang một ḿnh, ngày dạy học vất vả, bỏ cháu không ai trông coi. Nhà tôi muốn lên ở trên ấy, để cha mẹ con cái cùng ở một chỗ. Vậy nên chúng tôi định qua tết nguyên đán năm Mậu Tư (1948) th́ lên Nam Vang. 

Đến quăng đầu tháng ba năm 1948, th́ rể tôi về đón chúng tôi, rồi đến ngày mùng 6 tháng ba tức là ngày 26 tháng giêng năm Mậu Tư, chúng tôi lên xe hơi chở hành khách lên Nam Vang. 

Lên đến nơi một tuần lễ, tôi đến gặp ông Pignon là ủy viên nước Pháp, xin cái giấy được lưu trú ở đất Cao Miên. V́ ở xứ ấy bấy giờ, những người Việt Nam đi lại rất khó mà ai muốn ở lâu phải có giấy cho ở mới được. Ông Pignon chuyện tṛ một cách vui vẻ và cho giấy một cách rất dễ dàng. 

Ở Nam Vang được yên ổn hơn Sài g̣n, ngày đêm tự do, không có cấm đoán ǵ cả, chỉ phải nóng nực khó chịu. Tôi lên đây nhờ có ông Phạm Chí Tùng và mấy người khác cho mượn sách vở, nhất là những sách vở nói về đạo Phật và đạo Ấn Độ, tôi xem cũng nguôi được nhiều điều phiền năo. Mỗi khi trời mát mẻ, chiều đến tôi chống cái gậy ra đứng bờ sông trông nước chảy, mà nghĩ cuộc đời cũng xoay vần trôi nổi có khác ǵ ḍng nước chảy xuôi. 

Cuộc đời của tôi đi đến đấy đối với người ngoài cho là thật hiu quạnh, song tự tôi lại thấy có nhiều thú vị hơn là những lúc phải lo toan làm công việc nọ kia, giống như người đóng tuồng ra sân khấu, nhảy múa nhọc mệt rồi hết tṛ, đâu lại vào đấy. Đàng này ngồi yên một chỗ, ngắm rơ tṛ đời và tự ḿnh tỉnh sát để biết cái tâm t́nh của ḿnh. Tôi nhớ lại câu cổ nhân đă nói: "Hiếu danh bất như đào danh, đào danh bất như vô danh". Muốn có danh không bằng trốn danh, trốn danh không bằng không có danh. 

Người có trí tuệ mà biết giữ ḿnh ở chỗ vô danh là bậc cao sĩ tuyệt bậc, nhưng ḿnh đă trót đeo lấy cái danh vào ḿnh, th́ phải t́m cách trốn danh vậy. 

Danh với lợi ở đời là những cái mồi nó dử ḿnh vào cạm bẫy để hành hạ cái thân ḿnh, chung quy chỉ là một cuộc mộng ảo, chẳng có ǵ là thực. Khi đă mắc vào th́ lắm lúc lại phải đi vào những nơi hôi thối, phải bưng mắt bịt mũi, thật là khổ. 

Tôi nương náu ở đây chờ cho t́nh thế yên yên, th́ thu xếp về bắc, là nơi có bà con, bạn bè để khi vui buồn có nhau, c̣n hơn là chỗ xa lạ.

 Đến tháng ba năm 1949, thấy ông Bảo Đại đă điều đ́nh với chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam được thống nhất và độc lập trong khối liên hiệp Pháp, đại khái theo cái nguyên tắc ông Bảo Đại và tôi đă đưa cho người Pháp khi chúng tôi c̣n ở Hương Cảng. Giá hai năm trước, chính phủ Pháp đi hẳn vào con đường ấy, có lẽ đỡ được bao nhiêu th́ giờ và sự tổn hại. Song cái tính con người ta bao giờ cũng thế, cứ để cho đến khi bất đắc dĩ mới chịu làm những việc phải làm, c̣n th́ cứ muốn bám lấy cái lợi một lúc, rồi cứ xoay quanh măi thành ra hư hỏng việc lớn. Ḷng tham của người ta không có bờ bến, nếu không đem cái ḷng công minh chính trực mà ngăn ngừa ḷng tư dục, th́ thường hay có những sự tàn ác, gây ra nhiều nỗi đau buồn. 

Việc ông Bảo Đại điều đ́nh đă được kết quả, như thế cũng đă lợi cho nước Việt Nam rồi nhưng đó mới là phần giao kết, cần phải chờ đợi sự thực hành xem có đúng lời giao kết hay không. 

Khi sự độc lập và sự thống nhất đă thực hiện rơ ràng rồi, th́ ông Bảo Đại phải có cái chính sách cương quyết và biết lựa chọn lấy những người ngay chính đứng đắn ra giúp ông mà làm mọi việc. Nếu lại để cho những người muốn thừa cơ hội mà làm giàu làm sang, th́ khó ḷng mà đem lại ḷng tín nhiệm của dân chúng. Việc thành bại sau này, là một bên ở cái ḷng thành thực của người Pháp, một bên là cái chính sách ngay thẳng của ông Bảo Đại.

 Tôi nay già rồi, không có hăng hái làm được việc ǵ nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quăng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy tŕ được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy. Cho nên tôi thường nhớ bài thơ của một nhà thi sĩ Ấn Độ mà người ta dịch ra tiếng Pháp như sau này:

La barque à la dérive Au millieu du fleuve de vie, Périlleux et fouetté de vent, Ma barque, sans rames, ballotte, Flottait à la dérive, Mais ton invisible main, Secourable dt pitoyable, A giudé la barque sans voiles Parmi les rochers, au milleu des orages, Jusqúau rivage de sécurité 


Tôi lược lấy ư trong bài thơ ấy mà dịch ra bài thơ song thất lục bát sau này:

 Chiếc thuyền vô trạo 

Sông nhân thế nước trôi cuồn cuộn, 
Giữa ḍng sông gió cuốn ào ào. 
Chiếc thuyền vô trạo lao đao, 
Lênh đênh đây đó biết đâu bến bờ. 
Tay tế độ trong cơ huyền bí, 
Thuyền không buồm e lệ ngoài khơi, 
Đưa qua sóng gió thác ng̣i, 
Đến bên bến nọ là nơi yên lành.

 
Nhân khi ngồi rồi tôi giở quyển nhật kư ra xem rồi viết thành cuốn sách này để sau ai xem th́ biết rơ sự t́nh và công việc của tôi làm trong mấy năm đây đó. 

Bản tâm là tôi viết truyện riêng của tôi, song tôi phải nói đến chính trị của chính phủ Việt Minh và sự hành động của người Pháp ở Đông Dương, là v́ những việc ấy quan hệ với nhau, không nói không ai hiểu manh mối việc tôi làm thế nào. 

Việc người Pháp làm ở Đông Dương có nhiều lầm lỗi, ngay từ lúc đầu không chịu thay đổi cái thái độ với người Việt Nam, cứ tưởng lấy vơ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu mà lừa dối để đem người ta vào tṛng như ư ḿnh muốn, không biết rằng ḷng người đă thay đổi, nhân trí đă biến thiên, không thể lấy thế lực mà bắt người ta đi lại con đường cũ được. Phàm cái quyền mưu lừa dối là chỉ dùng được khi người ta không biết, nhưng khi người ta biết rơ cái mưu thuật của ḿnh th́ cái mưu thuật ấy không có công hiệu nữa. 

Người Pháp lại có cái tính hay cậy sức mạnh của ḿnh rồi có khi có xảy ra việc ǵ, th́ để cho quân lính đi tàn phá giết hại, có ư muốn cho người ta sợ. Cái phương pháp ấy đối với cái tâm lư của dân tộc khác thể nào tôi không biết, nhưng đối với dân tộc Việt Nam mà chỉ dùng sức mạnh để tàn phá, th́ sự tàn phá càng tàn nhẫn bao nhiêu, sự thù oán ghét giận lại càng tăng thêm bấy nhiêu.

 Theo cái tâm lư người Việt Nam, th́ người ta ưa cái chính sách trong sạch ngay chính, không có phá bậy giết càn. Hễ người Pháp không hiểu chỗ ấy, th́ bề ngoài thế nào mặc ḷng, bề trong không ai phục, th́ làm việc ǵ rồi cũng thất bại. V́ vậy cho nên việc người Pháp muốn đem lại sự ḥa b́nh ở xứ Đông Dương, mà cứ ngoắt ngoéo không cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, lại không thành thực thi hành những điều giao kết, th́ khó ḷng mà giải quyết được cái t́nh thế ngày nay.

 
Về phương diện chính trị của người Việt Nam th́ chính phủ Việt Minh đă thất sách từ lúc đầu, chưa ǵ đă đem áp dụng cái chủ nghĩa cộng sản một cách đường đột quá, thành ra ở trong th́ dân t́nh ta thán, mà ở ngoài th́ không có ai muốn giúp đỡ. Trước th́ họ trông cậy ở nước Nga và ở đảng cộng sản ở bên Pháp, sau th́ nước Nga v́ xa cách không giúp được họ việc ǵ, đảng cộng sản bên Pháp thất thế, thành ra ḿnh cô lập, thế bất đắc dĩ nên phải lập ra mặt trận kháng chiến. Chính phủ Việt Minh tuy biết lợi dụng cái ḷng ái quốc của quốc dân và nhờ có sự tổ chức chu đáo và sự tuyên truyền khôn khéo, nhưng vẫn không đủ sức để ngăn cản được sự tiến hành của quân địch. Cái chủ nghĩa cộng sản về đườn luận thuyết cũng có điều bảo thủ, như là muốn chữa những điều bất công trong xă hội, nhưng về đường kinh tế, th́ lại áp chế quá, làm lắm điều hà khốc và dùng những thủ đoạn quỷ quyệt giả dối, khiến người ta mất ḷng tin cậy. Đem cái bất công b́nh nọ mà phá cái bất công b́nh kia th́ dù có thắng lợi đi nữa, cũng không chắc đă vững bền.

 Trong việc làm của Việt Minh cộng sản có hai điều trở ngại. Một là đem cái phương sách hành động ở các nước bạn tây phương sang thi hành ở Việt Nam, có nhiều điều không thích hợp với hoàn cảnh và tính t́nh của nhiều người trong nước cho nên thành ra có nhiều chỗ trái ngược. Đó là một điều trở ngại khá lớn. Hai là v́ cái vị trí nước Việt Nam ở trong cái phạm vi Anh Mỹ theo cái hiện t́nh bây giờ, thế nào người ta cũng không để đất này thành cộng hóa. Chỉ trừ khi nào trống mái rơ rệt, th́ thiên hạ hoặc là đều bị cộng hóa cả, hoặc là đều sống ở trong cái chế độ tư bản cả. Lúc ấy dù muốn hay không cũng chẳng làm ǵ được. Trong khi hai cái lư tưởng c̣n đối lập, th́ ḿnh chưa sao thoát khỏi cái thế lực của Anh Mỹ. Như vậy ḿnh cố chấp muốn cộng hóa, th́ tất là chỉ có phần thiệt hại mà thôi, chứ khó ḷng thành công được. 

Đă hay rằng đảng cộng sản có cái tính cách tôn giáo, phải mê và tin, tin là chỉ có ḿnh là phải, c̣n người ta là sai lầm hết cả, song những người làm chính trị có quan hệ đến vận mệnh một nước, phải hiểu thời thế mà tùy cơ ứng biến. Theo ư tôi th́ đó là chỗ những người cầm quyền trong đảng Việt Minh phải liệu mà hành động. 

Dù hay dở thế nào mặc ḷng, đảng Việt Minh đă có cái công lớn tổ chức được cuộc kháng chiến ấy mà nước Pháp phải cho nước Việt Nam được độc lập và thống nhất. Song trong cái t́nh thế quốc tế hiện thời, th́ đảng Việt Minh chỉ làm được đến đấy thôi, không làm hơn được nữa. Nếu cố chấp muốn làm cho được như ư muốn th́ chỉ làm khổ dân hại nước mà không chắc đạt được cái ư của họ. Vả cái mục đích ấy định đi đến đâủ Tại sao người ḿnh đă phơi xương đổ máu trong sáu bảy mươi năm trời từ khi có cuộc bảo hộ của nước Pháp đến giờ? Có phải là tại người ḿnh muốn sống cái đời sống tự chủ của ḿnh, chứ không làm nô lệ ai không? Lẽ nào ta lại theo một cái lư tưởng chưa thực hiện được mà đem ḿnh làm nô lệ một dân tộc khác. Dù ta có say mê một lư tưởng nào nữa, th́ cũng nên đi từ từ để cho thời gian dũa ṃn bớt góc cạnh có thể gây ra nhiều đau khổ. Đời chưa đủ khổ hay sao, mà c̣n muốn gây thêm ra nữa.

 Hiện nay đảng Việt Minh có nước cờ đáng rất cao, là tự ḿnh lui bước đi, để cho đảng chân chính quốc gia đứng ra thực hiện sự độc lập và thống nhất của nước nhà, rồi lập thành một chính thể theo đúng cái nghĩa dân chủ đang thịnh hành ngày nay. Cho các đảng phái được công nhiên lấy nghĩa lư mà tranh đấu trên trường ngôn luận, nhưng không được dùng vơ lực mà tranh quyền cướp thế. Làm được như thế, tất nhiên là họ giúp cho nước Việt Nam sẽ có cái địa vị rơ ràng trong quốc tế, không ai xâm phạm được nữa. Khi ấy mọi người trong nước phải quả quyết đi vào con đường kiến thiết, ai nấy đem hết tài lực của ḿnh mà học tập và làm việc để đem nước đến cái tŕnh độ cường thịnh như các nước khác.

 Cứ như thiển kiến của tôi, th́ đó là cái phương sách cứu nước rất ngay thẳng và có phần mau chóng hơn cả, không biết các bậc cao minh trong nước nghĩ sao? 

Tôi đem cái ư kiến ấy mà phô bày ra đây, là theo cái t́nh thế hiện thực mà nói, chứ không phải là một điều mơ tưởng. Mà cũng không phải là tôi thiên vị chủ nghĩa nào, hay đảng phái nào, tôi đă nhứt quyết không mưu cầu danh lợi ǵ hết, chỉ mong người trong nước bỏ bớt cái ḷng tư tâm tư lợi mà ra sức giúp cho nước nhà chóng được yên ổn và thịnh vượng, để cùng với thế giới đi lên con đường tiến bộ. Cũng bởi tấm ḷng v́ dân v́ nước ấy và thấy khi quốc gia gian nan, không lẽ ngồi nh́n, nên tôi tự biết ḿnh đă già yếu kém cỏi không làm ǵ được, nhưng ít ra cũng theo cái lương tâm mà đem những sự tôi đă biết và đă thấy mà phô bầy ra, để mọi người suy xét cho đúng sự thực. Dù ai có bảo đó là lời nói của một anh hủ nho, tôi cũng cam tâm mà tự cho ḿnh đối với cái tâm của ḿnh đă làm hết bổn phận làm người vậy

 

Trần Trọng Kim - Một Cơn Gió Bui: 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12/Lên Nam Vang

 

hết