báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

 [Bài Viết - Article]                                                                           

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo có khi không xem phim đưc!!


Linh mục Phan Văn Khải diễn thuyết về cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm

https://youtu.be/wq0LA5McYR0

 
Bà Ngô Đ́nh Nhu năm 1982 (phụ đề Việt Ngữ by con dân PhuCam)
https://youtu.be/2iEu0jx6fGU
 

 
COMMÉMORATION DU PRÉSIDENT DIỆM

https://youtu.be/mlSulMRBzd0

 

***


 

 

 

TRẢ LẠI DANH DỰ CHO TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DI ỆM VÀ CỐ VẤN

NGÔ Đ̀NH NHU 

 

Bỉnh bút độc lập Phạm Lễ,

Ghi nhận và Tổng hợp.

 

 

Sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, ngày 20 tháng 7 năm 1954, chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm đă phải lo định cư cho gần một triệu người dân miền Bắc và miền Trung (bên kia vĩ tuyến 17) có cuộc sống an cư lạc nghiệp tại miền Nam, tiến hành việc  lấy lại chủ quyền từ tay người Pháp qua việc rút ra khỏi khối đông dương, đổi tiền do Ngân Hàng Quốc Gia Việt nam ấn hành theo kim bản vị và ngoại tệ bản vị của đồng Mỹ Kim nhằm ngăn chặn sự phá hoại kinh tế do khối tiền của Pháp c̣n tồn tại ở ngân hàng Hà Nội, ổn định t́nh h́nh chính trị, xây dựng văn hoá giáo dục theo hệ thống hoá các trường dạy bằng tiếng Việt từ tiểu trung và đại học củng cố và xây dựng vững chắc cho nền Cộng Ḥa trên vùng đất đầy dấu tích của chế độ thuộc địa và thực dân. Nhất là tiến hành quốc sách chống Cộng nhằm tiêu diệt hết hạ tầng cơ sở của Cộng Sản cố gài lại tại Miền Nam sau khi Việt Minh đă rút hết khoảng 80.000 cán binh CS ra miền Bắc theo các điều khoản quy định của bản hiệp định này.

 

 Những thành quả mà chính phủ của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thu hoạch được trong chín năm cầm quyền (1954-1963) cần phải được nghiên cứu lại trong tinh thần đánh giá công b́nh, đúng đắn dưới ánh sáng của lịch sử.


Trong cuộc chiến giữa hai miền nam và bắc Việt Nam, điểm quan trọng trong sự tranh chấp Quốc-Cộng đó là vai tṛ của một hệ thống tư tưởng mà chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng ḥa đă xử dụng làm lợi khí đấu tranh để xây dựng các cơ chế dân chủ và xă hội. Chủ thuyết của miền nam lúc bấy giờ là chủ thuyết Nhân Vị vốn được coi là nền tảng tư tưởng hoạt động của Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng do ông Ngô Đ́nh Nhu thành lập tại Sài g̣n năm 1950.

 

Về phương diện tư tưởng, Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă tiên liệu và ư thức về sự cần thiết của một chủ nghĩa trong công cuộc xây dựng đất nước. Ông đă đưa ra “chủ thuyết Nhân Vị” hoàn chỉnh  để phù hợp với t́nh h́nh của một quốc gia Á châu, nhằm đối đầu với chủ nghĩa Cộng Sản ở miền Bắc.

Ngày 8-1-1963, trong cuộc nói chuyện với cử tọa gồm các nhà trí thức, giáo sư đại học, giáo sư trung học và cán bộ tại Trung Tâm Thị Nghè, ông Ngô Đ́nh Nhu giải thích rằng:

 

"...ḿnh đánh nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh ḿnh với một Ư Thức Hệ, mà chúng ta không có một Ư Thức Hệ cứng rắn, rơ ràng, trong tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà đánh Cộng Sản th́ chúng ta sẽ bị ư thức hệ Cộng Sản lan tràn lung lạc."

 

Cuộc chiến tranh ư thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, một cuộc chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn c̣n là một vấn đề tranh căi , sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV và đạo luật 10/59 của chế độ VNCH đă được đánh dấu bởi những biến cố lịch sử quan trọng cần phải được nh́n đến trước khi đi sâu vào nghiên cứu lại sự kiện. Ông  Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu nhấn mạnh:

 

" Muốn phục vụ con người trong xă hội th́ con người đó phải tiến, xă hội đó phải tiến. Nhưng xă hội chỉ tiến được với những con người có ư thức nhiệm vụ. Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta phải nh́n nhận rằng cần phải có một ư thức hệ tiến bộ. Ư Thức Hệ chúng tôi chủ trương là Ư Thức Hệ Nhân Vị. Về Tư Tưởng Nhân Vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tín ngưỡng hữu h́nh, một tín ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại nhuốm phần nào vô thức... Ư thức hệ Nhân Vị chúng tôi chủ trương nó rất rộng răi và không cần phải đi sâu vào các đạo giáo. Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lư khác, có thể cùng đi với chúng ta được trong ư thức hệ đó."

 

"Nhân là người. Vị là thứ bậc”. Nhân-Vị là tính cách con người sống đầy đủ con người theo thứ bậc của ḿnh, đối nội cũng như đối ngoại. Theo nghĩa đó, hai chữ Nhân-Vị đầy đủ hơn chữ Personne Humaine của Pháp ngữ, v́ hai chữ Personne Humaine nhấn mạnh đến ư nghĩa của chữ nhân mà ít chú trọng tới vị. Cần phải hiểu theo một ư nghĩa đầy đủ của cả hai chữ.

 

“Nhân là sống đầy đủ con ngườiVị là sống theo đúng thứ bậc của ḿnh trong những tương quan với người khác và vạn vật.”

 

 Như vậy th́ quan niệm về nhân-vị tùy thuộc quan niệm về con người và quan niệm các tương quan.

 

"Chủ nghĩa Nhân Vị nhấn mạnh đến sự điều ḥa những ước vọng vật chất cũng như tinh thần của cá nhân với các nhu cầu xă hội của cộng đồng và các nhu cầu chính trị của quốc gia. Nó nhằm t́m kiếm một con đường trung dung giữa chủ nghĩa cá nhân tư bản và chủ nghĩa tập thể mác-xít."



Một nữ kư giả Hoa Kỳ, bà Suzanne Labin, vốn có rất nhiều mối liên hệ với các viên chức của chế độ VNCH dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account, có trích lại bài viết về chủ nghĩa Nhân Vị của bà Ngô Đ́nh Nhu (đăng trên báo The Wanderer ngày 4.6.1964) lúc bấy giờ bà đang sống lưu vong ở hải ngoại sau biến cố đảo chính 1-11-1963.


"Đối với những người tị nạn đă trưởng thành, cần lao nhân vị là những tiếng quen biết. Cũng có lẽ v́ quen biết quá nên không mấy ai lưu tâm đến ư nghĩa của nó. Sự thật, mấy tiếng đó xếp lại bên nhau có thể tạo nên một phương châm thiết thực nhất và cao cả nhất cho đời sống cá nhân và xă hội. Cần lao nhân vị gọn gàng là một triết lư của đạo làm người. Cần lao không có nghĩa là làm việc suông, v́ chữ “Cần” nói lên rằng người làm việc đang tâm hướng về một mục tiêu nào đó. Và mục tiêu này được tức khắc bày tỏ bằng hai tiếng nhân vị. Cần lao là để phát huy và để bảo tồn nhân vị, chứ không phải để phục vụ tư lợi hay để làm mọi cho giai cấp đấu tranh. Nói cách khác, “Cần Lao Nhân Vị” là đặt giá trị con người trên việc làm, và con người lấy việc làm để củng cố chỗ đứng của ḿnh giữa trời và đất."

 

Khi chúng tôi nói đến sự tương phản giữa lao động và tư bản, không phải chúng tôi nói đến một quan niệm trừu tượng hay một mănh lực phi vị (impersonal) đang chuyển hành trong cuộc sản xuất kinh tế. Đàng sau cả hai quan niệm đó (lao động và tư bản) vốn có con người sống động, con người như thấy được trong thực tế của cuộc đời.

 

V́ đó, vấn đề lao động trở thành vấn đề cần lao, nó không c̣n là nô lệ của lợi tức như trong chủ thuyết tư bản, hay nô lệ của đảng phái, như trong chế độ Cộng Sản, mà nó là của con người làm việc, của xă hội loài người. Thông điệp đề cập đến một lối xă hội hóa gọi là xă hội hóa thỏa đáng (satisfactory socialization) khác hẳn với lối xă hội hóa với nhà nước hay đảng làm chủ nhân ông của Cộng sản. Xă hội hóa thỏa đáng là đem một số các phương tiện sản xuất làm của chung nhưng dưới sự điều động của cần lao và tư bản. Như thế sẽ thực hiện được chủ thuyết bảo toàn giá trị con người, mà thông điệp gọi là thuyết nhân vị (personalism). 


Với chính sách đặc thù của Cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, “Cần Lao Nhân Vị” là một chính sách được tŕnh bày với màu sắc của địa phương. Con người không được quan niệm như là tối thượng, mà là một loại đầu đội Trời chân đạp đất. Ở trong tam tài “Thiên Địa Nhân”, con người không thể nào hơn Ông Trời, nhưng lại không thể nào thua vật chất. Đất, và tất cả những ǵ thuộc về đất, là để phục vụ con người. Nói một cách khác, con người không thể hoàn tất phận sự của ḿnh nếu không xử dụng vật chất. Cần lao, sự chăm chú làm việc, cốt là để thể hiện giá trị con người, cốt là để tô bồi chỗ đứng của con người.

 

NHÂN VỊ - khoảng giữa trời cao và đất rộng.

 

Trong xă hội “CẦN LAO NHÂN VỊ”, cố nhiên không có cảnh con người làm nô lệ con người, huống hồ là làm nô lệ phương tiện sản xuất. Nơi đây, chỉ có đồng lao cộng tác để thành tựu cuộc cách mạng NHÂN VỊ,với h́nh thức không gian ba chiều.

Về chiều sâu, con người cần lao luyện tập cho có thành tâm thiện ư. Phải tu thân đă mới mong tề gia và b́nh thiên hạ. Việc cách mạng phải ăn cả về chiều rộng, v́ con người cần phải tri kỷ, tri nhân, cho nên phải sống trong cộng đồng và phải cùng nhau đồng tiến. Chiều cao của cuộc cách mạng nhân vị là nhờ cần lao mà vươn lên, vươn đến Chân, Thiện, Mỹ để thông cảm với người lănh đạo đất nước. Trong chính sách cần lao nhân vị, con người sẽ làm viên măn điều mà "bổn phận và lương tri" bảo phải làm trong bất cứ trường hợp nào (nên nhớ lại lời Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm trả lời cho Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, khi cụ Diệm hỏi đại sứ này về thái độ của Washington với cuộc chính biến). 


Tư liệu sau đây nói về chính sách, kế hoạch quốc gia của VNCH lúc bấy giờ:

 
"Thuyết Nhân Vị Á Đông do La Sơn Phu Tử Thời Đại Ngô Đ́nh Nhu đề xướng được ông giản lược bằng phương tŕnh sau đây:

 

                                              “TAM TÚC + TAM GIÁC = TAM NHÂN”

 

A. TAM TÚC 

1.- Về Tư Tưởng là tự ḿnh suy luận, cân nhắc mà lựa chọn một chính nghĩa để phụng sự và một khi đă chọn rồi th́ không c̣n lay chuyển nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạng chính trị, xă hội, quân sự mà ta đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến Lược. Sau đó ta tự phát huy chính nghĩa trong tâm hồn, tự học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần ai thôi thúc. Tự túc về tinh thần, về tư tưởng, th́ tất nhiên trong mọi trường hợp khó khăn ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở Thủ Đô Sài G̣n chăng nữa, th́ ta cũng không bị hoang mang hay bị lung lạc. Tự túc về tư tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa. Muốn được vậy th́ phải:



2.- Về Tổ chức và Tiếp Liệu, là tự ta t́m ṭi, phát huy sáng kiến để có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của người khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số vốn căn bản, dựa vào đó ta t́m cách biến cải thêm để hành động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện giờ ta thiếu kẽm gai để làm Áp Chiến Lược, th́ ta cố gắng t́m vật liệu khả dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng bào Thượng đă làm trên cao nguyên); hoặc dùng địa h́nh địa vật để lồng hệ thống bố pḥng ACL vào trong đó, đỡ cần đào hào hay rào kẽm gai. Muốn thực hiện Tự túc về Tổ chức th́ cần phải:


3.- Về Kỹ thuật, là tự phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác, phát triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức 100 phần trăm.


Ba bộ phận của Tam Túc có liên hệ mật thiết với nhau: muốn Tự túc về Tổ chức mà không Tự túc về Kỹ thuật th́ Tổ chức không thành; thiếu Tự Túc Tư Tưởng th́ tất nhiên sẽ không có Tự Túc Tổ Chức và Tự Túc Kỹ Thuật. Từ quan niệm Tam Túc đó phát sinh ra quan niệm Tam Giác.


B. TAM GIÁC là:


1.- Cảnh giác về Sức Khỏe (thể xác) nghĩa là không được đau ốm. Do đó ta phải tránh tất cả những việc làm phương hại cho thân xác ta như đau ốm, tứ đổ tường. Bảo đảm sức khỏe th́ mới bảo đảm được khả năng làm tṛn nhiệm vụ.


2.- Cảnh giác về Đạo Đức và Tác Phong Đạo Đức, v́ tác phong và đạo đức là điều kiện cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tư tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể việc thất nhân tâm.


3.- Cảnh giác về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng chiến đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.

Vậy, không có sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo th́ dù có sức khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi bổ vào sự thiếu thốn nhân vật lực, là t́nh trạng của một nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo, nhưng không có đạo đức, th́ sức khỏe ấy, óc sáng tạo ấy, sẽ phục vụ cho phi nghĩa, không phải cho chính nghĩa..." [8] 



Thật sự  nhà lănh đạo về tư tưởng Ngô Đ́nh Nhu một La Sơn Phu Tử  thời đại của nền Đệ Nhất ViệtNam Cộng Ḥa đă thấy được sự cần thiết của một thứ vũ khí tư tưởng trong cuộc chiến tranh ư thức hệ đối diện với Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tiếc thay khi Việt Nam Cộng Ḥa và người sáng lập đang mang hoài băo để huấn luyện và trang bị cho cán bộ và nhân dân Miền Nam thứ vũ khí cần thiết này, th́ Hoa Kỳ, người bạn đồng minh của chúng ta, đă không chia sẻ cùng một tâm thức như vậy. Trái lại đối với cộng sản Bắc việt th́ Lê Duẩn sau khi bị “Toán Đặc Vụ Miền Trung” của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Cẩn gửi vào Sài G̣n bắt hụt ở Vườn Tao Đàn phiá sau Nhà Kiếng của Tổng Liên Đoàn Lao Công, sau khi thoát lưới tử thần của Toán Đặc Vụ Miền Trung do ông Dương Văn Hiếu chỉ huy th́ chính Lê Duẩn đă báo cáo trước Bộ Chính Trị Cộng sản trong kỳ Đại Hội Đảng lần thứ hai tại Hà Nội vào cuối năm 1959 là:

 

  “Chúng ta đă gập đối thủ miền nam. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă lê máy chém đi cả nước để tiêu diệt chúng ta.”


Cuộc chiến tranh ư thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, một cuộc chiến mà ngay đến cái tên gọi của nó vẫn c̣n là một vấn đề tranh căi , sau Nghị quyết 15 năm 1959 của CSBV để đối đầu với Đạo Luật 10/59 của chế độ VNCH đă được đánh dấu bởi những biến cố lịch sử quan trọng cần phải được nh́n đến trước khi đi sâu vào nghiên cứu lại sự kiện

Khu trù mật và Ấp chiến lược.


Trước khi nói đến các cơ cấu trên đây, thiết tưởng cần nhắc đến chính sách Dinh Diền được tổ chức trước đó qua việc thiết lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền để thấy rằng các nhà lănh đạo của nền Đệ Nhất  Việt Nam Cộng Ḥa đă có một cái nh́n xuyên suốt trong chính sách an dân của ḿnh.

 
Ngày 17.9.1954, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm kư nghị định số 928-NV thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn, ngang hàng với một bộ trong Nội các, do ông Ngô Ngọc Đối làm Tổng Ủy Trưởng. Bên cạnh đó, v́ số người Công Giáo di cư gần khoảng 70% trên tổng số tị nạn nên có một tổ chức cứu trợ tư nhân với tên Ủy Ban Hỗ Trợ Định Cư do Giám mục Phạm Ngọc Chi điều khiển. Tổng số dân rời bỏ miền Bắc để vào miền Nam là 875478 người và họ được đưa đến Sài G̣n, Vũng Tàu hay Nha Trang, sau đó đi định cư các nơi khác như B́nh Tuy, Cái Sắn, Tân Mai…tùy ư họ lựa chọn.


Nói chung đối với hầu hết các cơ chế được tổ chức dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa và một khi đă bị giải thể hay bị chính quyền kế tiếp coi như là một thứ con ghẻ không hề lưu tâm tới (trong thời Đệ nhị Việt Nam Cộng Ḥa) tất nhiên sự kiện đó đă góp thêm rất nhiều yếu tố thuận lợi cho biến cố Tết Mậu Thân, mà rơ ràng nhất là “Hệ thống Khu Trù Mật và Ấp Chiến Lược” được tổ chức và nâng lên thành quốc sách dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.


Ngày nay ai cũng biết hệ thống tổ chức “Khu trù mật và Ấp chiến lược” là sáng kiến rất đỗi lợi hại của Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, nhờ đó mà bọn du kích Cộng Sản đă một thời khốn đốn không hoạt động được ǵ hữu hiệu. Thật ra việc gom dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quư báu của tiền nhân trong lúc đất nước có chiến tranh.

 

Người có sáng kiến tiên khởi về ấp chiến lược có lẽ phải kể đến Tĩnh Man Tiễu Phủ Sứ Nguyễn Tấn (1820-1871), tỉnh Quảng Ngăi. Năm 1863, Nguyễn Tấn đă áp dụng kế sách đó trong việc đánh dẹp người Mọi Đá Vách, Quảng Ngăi.

 

Một sử liệu của Triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, đă ghi lại như sau:


"Mới đặt chức Tiễu phủ sứ ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngăi. Phàm các việc quan hệ đến sự pḥng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính sát hạch, th́ cùng bàn với chánh phó lănh binh chuyên coi một nha mà tâu hoặc tư. Lấy người hạt ấy là Nguyễn Tấn lănh chức ấy. Tấn trước đây thự án sát Thái Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y cho. Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thị độc sung lănh chức ấy, cấp cho ấn quan pḥng bằng ngà. Tấn dâng bày phương lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh tinh, tiếp gần với địa phận núi th́, tham chước theo lệ của Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cơi ven một hay hai khu, đều đào hào đắp lũy, cổng ngơ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất của ai th́ trừ thiếu cho. C̣n 1, 2 nhà nghèo, ở riêng một nơi hẻo lánh, th́ khuyên người giàu quyên cấp cho dỡ nhà dời về trong khu; c̣n đất ở th́ không cứ là đất công hay đất tư đều cho làm nhà để ở. Các viên phủ huyện phụ làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người th́ bắt đầu làm ngay, nơi nào điêu háo (ít dân), th́ phái quân đến pḥng giữ, ngăn chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân."

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ, chế độ Việt Nam Cộng Ḥa dưới sự lănh đạo anh minh của Ngô Tổng Thống và nhà chiến lược tài ba La Sơn Phu Tử Thời Đại Ngô Đ́nh Nhu đă khai sinh cùng với các quốc sách được ban hành như Khu trù mật và Ấp chiến lược nhằm giải quyết cho công cuộc định cư của gần một triệu đồng bào từ bắc di cư vào nam và sau đó để đối phó với chính sách khủng bố của du kích Cộng sản tái hoạt động ở các vùng nông thôn miền nam.

 
Khu Trù Mật là một cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và gom thôn dân vào đấy sinh sống trong những thôn xóm hẻo lánh, xa cách các trục giao thông, do đó, chính phủ không thể kiểm soát được. Trước sự đe dọa của chiến tranh xâm lược Miền Bắc, Tổng Thống Ngô  Đ́nh Diệm quyết định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật, để tiện bề kiểm soát họ, đồng thời cô lập "Việt Cộng", tách địch ra khỏi dân giống như cá thiếu nước không thể sống tồn tại được. Mỗi Khu Trù Mật có khoảng 3.000 đến 3.500 dân, có hạ tằng cơ sở giống tựa như trường hợp của một thành phố:


* Một khu thương nghiệp (với một ngôi chợ xây cất bằng gạch và tiệm buôn bán).


* Một khu hành chánh (có một chi nhánh bưu điện), xă hội (một bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa (các trường tiểu học và trung học cấp I, một pḥng thông tin, nhà thờ và chùa chiền).


Các Khu Trù Mật được điện khí hóa. Vị trí của chúng được chọn lựa kỹ lưỡng, hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển (đất đai trù phú, gần các trục giao thông).


* Khu Trù Mật có thể phát triển nông nghiệp, diện tích đất trồng có thể được nới rộng nhờ khẩn hoang thêm đất màu mỡ, để trong tương lai, các thế hệ trẻ tấn lên trở thành điền chủ.


* Khu Trù Mật có thể phát triển thương nghiệp và các lănh vực dịch vụ khác, cùng phát triển các tiểu thủ công nghệ lên hệ với ngành nông nghiệp địa phương.


* Nhờ Khu Trù Mật, chính quyền có thể cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: cư trú tập trung cho phép chính phủ thực hiện nhiều công tŕnh phục vụ nhân dân, ít đ̣i hỏi nhiều đầu tư hơn h́nh thức cư trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)


Khu Trù Mật là nơi bảo vệ dân chúng chống lại chiến tranh xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Ngoài việc kiểm soát dân chúng trong Khu Trù Mật, chính quyền địa phương c̣n trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có thể biến Khu Trù Mật thành một "tiền đồn", ngăn chặn đoàn quân Bắc Việt xâm nhập vào Nam.


Bởi vậy các Khu Trù Mật thường được thiết lập tại các địa điểm có tính cách chiến lược, dọc theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đ́nh định cư một mảnh đất 3.000 m 2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một chuồng gà. Mỗi gia đ́nh có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh."


Sử gia Robert Scigliano, thuộc viện đại học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà Nội tuyên truyền phản đối chính sách Khu trù mật v́ ngoài việc ngăn chặn Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn, các Khu trù mật được xây dựng ở những vùng chiến lược chẳng hạn dọc theo một con đường chính hay một trục thủy lộ gây trở ngại rất nhiều cho việc chuyển quân của Cộng Sản. [11]


Trong tác phẩm “Ngo Dinh Diem en 1963: Une autre paix manqué”, tác giả Nguyễn Văn Châu, cựu Trung tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng cho rằng sự chỉ trích chính quyền về Khu Trù Mật chỉ nhắm vào những chuyện xấu về nhân sự, và dư luận đối lập đi xa hơn nữa cho rằng chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa.


Đối với bài học lịch sử cũ về Ấp Chiến Lược, thiết tưởng cần đọc Suzanne Labin, một nhà văn kiêm phân tích gia vốn nhiều lần tới thăm Miền Nam Việt Nam trong thời gian Đệ nhất Việt Nam Cộng ḥa, từng được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tiếp kiến nhiều lần, đă có những buổi thuyết tŕnh chính trị tại Sài G̣n và nói chuyện tại một số tỉnh. Trong cuốn sách Vietnam, an eye-witness account (bản tiếng Pháp nhan đềVietnam, révélation d'un témoin), Suzanne Labin từng viết:

 

"Khi nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn(8,000) ấp chiến lược đă được thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng bốn ngàn ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân sống rải rác dọc theo các con kênh, được yêu cầu dời chuyển để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung theo kiểu Âu châu. Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai hoặc hàng rào tre vót nhọn đằng sau có tăng cường hệ thống hào rộng gài ḿn để chận đứng Việt Cộng ṃ vào ban đêm. Trong ấp, mỗi gia đ́nh đều được khuyến khích đào một hầm trú ẩn ngay trước nhà họ.

Tại sao vậy?

Khi Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên chạy tứ tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi bắn cả vào người nhà ḿnh. Từ khi có hầm trú, người già và trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ trường quang đảng cho lực lượng chiến đấu hành sử”


Người dân làng được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực lượng tự vệ và thanh niên cộng ḥa là những đơn vị chiến đấu; những dân làng khỏe mạnh khác th́ tham gia công tác pḥng vệ, thanh thiếu niên th́ vót chông. Người có nhiệm vụ chiến đấu được cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên ḿnh ngay cả khi ở nhà. Nhiều làng mạc được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên thanh. Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo vệ ấp chiến lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một khi bị tấn công. Nhiệm vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù, vô hiệu hóa chúng ngoài các vành đai của ấp, cố ngăn chúng không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng chính quy kéo tới. Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một vùng dân cư có pḥng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở ngại.


Bà Suzanne Labin c̣n nhắc lại câu nói có tính cách cô đọng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rằng:

 

"...để nghiền nát quân thù giữa CÁI BÚA của sức mạnh cơ động và H̉N ĐE của các ấp chiến lược."

 

Bà cho rằng ấp chiến lược chính là tâm điểm của một cuộc cách mạng chính trị và xă hội : đó là lư do tồn tại của Ấp chiến lược v́ đă đưa lại một nền tảng vững chắc cho sự tiến bộ về kinh tế.


Chính sách Ấp chiến lược được thực hiện từ năm 1961 với sự cố vấn của Sir Robert Thompson, chuyên viên về chiến thuật phản nổi dậy người Anh cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và Dennis Duncanson được kể là một kế hoạch táo bạo nhất của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.


Nhận định tổng quát về kết quả của chính sách Ấp chiến lược, tác giả Nguyễn Văn Châu đă khẳng định:

 

"Quốc sách Ấp chiến lược sau hai năm đă thành công trong việc ngăn chặn làm cho Việt Cộng không c̣n sống bám rút ḅn nhân dân. Vấn đề an ninh làng ấp được vững vàng hơn, quân đội chính quy quốc gia trở thành lực lượng hành quân chủ động gây cho du kích cộng sản nhiều thất bại đáng kể, khiến cho các lực lượng du kích rơi vào thế bị động và mất thăng bằng sau khi đă mất hạ tầng cơ sở. Tinh thần quân đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ an ninh và du kích Việt Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa."


Trong cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Tự Do Úc Châu nhân ngày kỷ niệm 43 năm TỔng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu bị Trần Thiện Khiêm và nhóm phản loạn hạ sát vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 người viết đă xác nhận ưu thế của quốc sách ấp chiến lược gây cho lực lượng xâm lăng của Cộng Sản nhiều khó khăn và thất bại trước đây, đă thẳng thắn bày tỏ rằng: "Cùng với thời gian và sự t́m hiểu những tư liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ công bằng cho nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là một nhân vật chính trị đặc sắc, có ḷng yêu nước sâu sắc, có tính cương trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị."


Một khi chính sách Ấp chiến lược đă bị nhóm tướng lănh làm đảo chánh giải thể, an ninh nông thôn bị bỏ ngỏ trăm phần trăm th́ việc lực lượng vơ trang VC xâm nhập thành phố một cách rất dễ dàng như sẽ thấy qua vụ Tết Mậu Thân thiết tưởng cũng là điều dễ hiểu. Nhóm quân phiệt cầm quyền chỉ cần có chỗ dựa là Hoa Kỳ mà không cần chỗ dựa cốt yếu là nhân dân. Bởi thế cho nên khi Hoa Kỳ bàn giao một nửa đất nước Việt Nam vào tay Cộng Sản, bọn họ chỉ có việc im lặng thi hành và một vài lời phản đối chỉ là cử điệu chiếu lệ, giả dối mà thôi.


Công tác t́nh báo.

Nhắc lại các hoạt động t́nh báo thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa để thấy rằng qua biến cố Tết Mậu Thân như chúng ta sẽ bàn đến trong phần sau, dư luận đă lên án việc Hoa Kỳ và chính quyền của Đệ Nhị VN Cộng Ḥa đă không coi trọng vấn đề t́nh báo trước các hoạt động của CS. Chính nhờ công tác t́nh báo được thực hiện rốt ráo và nghiêm minh dưới thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa đă bảo đảm cho sự vững mạnh của chế độ trong một thời gian dài.


Cơ quan t́nh báo trung ương cần nói tới dưới thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa là Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xă Hội của bác sĩ Trần Kim Tuyến, trực thuộc Phủ Tổng Thống tức là CIA/VN do sự gợi ư của Hoa Kỳ. Tác giả Vĩnh Phúc trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă viết nhiều về Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xă Hội, cho biết có sự bất đồng giữa người Mỹ và hai ông Nhu-Tuyến về hoạt động của sở này, thí dụ "phía VNCH muốn thả người ra ngoài Bắc để phá hoại, rải truyền đơn tuyên truyền về chính trị..., trái lại Mỹ chỉ muốn tung người ra, cho nằm yên, len lỏi vào các hàng ngũ quần chúng, chính quyền và nếu có thể th́ cả tổ chức Đảng, để t́m hiểu. Tuyệt đối không được có hành động phá hoại. Chỉ cần nằm cho thật yên, ghi nhận, và nếu được th́ t́m cách leo càng cao, lặn càng sâu, càng tốt. Để đến khi nào hữu sự, cần thiết, th́ mới ra tay hành động. Nhưng vẫn không phải là các công tác phá hoại. Người Mỹ đă huấn luyện nhân viên Việt Nam cách sử dụng các loại máy truyền tin, cách đưa tin, cách chôn giấu tài liệu, vũ khí, cách sử dụng hóa chất trong ngành t́nh báo..."


Ông Trần Kim Tuyến điều khiển, là một người tương đối trong sạch, có đạo đức, nhiệt tâm làm việc. Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xă Hội do ông điều khiển, có trên 500 nhân viên, mặc dù bị vài người trong bộ máy lănh đạo chính quyền ghét nhưng cũng đă làm được nhiều việc trong lănh vực an ninh, t́nh báo. Đó là chưa kể đến Tổng Đoàn Thanh Thiếu Niên Dân Vệ được điều động trực tiếp bởi ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu.


Sau ngày chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ bởi đám tướng lănh đại việt tay sai ngoại bang hận thù với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu, họ đă xuyên tạc và bôi bẩn chế độ qua báo chí nói nhiều về tổ chức "Mật vụ Ngô Đ́nh Cẩn" tại Miền Trung, nhưng thực chất họ hoàn toàn không biết một chút ǵ về tổ chức này, nên đă viết với giọng điệu vu khống, xuyên tạc đầy ác ư.

 
Trong tác phẩm “Ḍng họ Ngô Đ́nh, ước mơ chưa đạt” tác giả Nguyễn Văn Minh cho biết vào nửa năm đầu năm 1957, ông Ngô Đ́nh Cẩn đă đề nghị lên Tổng Thống Diệm xin cho ông thực hiện một chính sách được ông gọi là "Chiêu Mời Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ", "Để giúp thành phần này dễ dàng thấu hiểu và chấp nhận chính sách, ông cho áp dụng kỹ thuật khai thác và chế độ giam giữ đặc biệt đối với những người bị bắt. Danh từ CHIÊU MỜI sau được đổi là CẢI TẠO theo đề nghị của các cán bộ Cựu Kháng Chiến."

 

Sau khi đề nghị được chấp thuận, ông Ngô Đ́nh Cẩn giao cho ông Dương Văn Hiếu thành lập Đoàn Công Tác Đặc Biệt gồm có 10 nhân viên với chủ trương cùng ăn chung, ở chung, chơi chung, ngủ chung với tù nhân Cộng Sản. Đoàn được tổ chức thành 4 ban: nghiên cứu, tuyên huấn, cải tạo, quản trị. Sau đây là ghi nhận của Dư Văn Chất, một cán bộ t́nh báo của CS trong cuốn “Người Chân Chính”:

 

 "Đây là một ngành an ninh đích thực, nhưng là một "siêu tổ chức" với nhiều đặc thù mà không có bộ máy nào của Ngụy so sánh được. Nó tập trung quyền lực cao độ: cực quyền, với các phương thức hoạt động hết sức tinh vi, hiểm độc và tàn bạo. Trong cái nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ cùng với kháng chiến Việt Cộng, ăn chung, ngủ chung, chơi chung và công tác chung. Chuyện khó tin mà có thật, và chỉ có được trong thời điểm lịch sử nhất định. Bắt đầu từ cuộc đấu tranh chính trị đ̣i hiệp thương tổng tuyển cử cho tới tiếng súng đồng khởi hạ màn kết thúc. Thành tích chống Cộng của Mật vụ Ngô Đ́nh Cẩn - Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ. Chúng đánh phá thẳng vào các cơ quan đầu năo của các Đảng bộ miền Trung như Liên khu Ủy khu Năm, tỉnh ủy Thừa Thiên, thành ủy Huế rồi Đà Nẵng. Tiến xuống phía Nam, chúng tấn công cơ sở đặc khu Sài G̣n Chợ Lớn, Thủ Biên, Cần Thơ. Nổi bật nhất là mật vụ miền Trung đánh bắt gọn các lưới t́nh báo chiến lược của cộng sản trải suốt từ Bến Hải tới Sài G̣n trong ṿng chỉ có một năm."


Theo tác giả Nguyễn Văn Minh, do phương pháp khai thác độc đáo, chế độ nhà tù đặc biệt chưa từng có, chính sách “Cải Tạo Và Sử Dụng Những Người Kháng Chiến Cũ” đă thâu đạt được kết quả gây ngạc nhiên cho mọi người. Năm 1985, tôi có ở chung trại tù Nam Hà (tỉnh Hà Nam Ninh) với ông Lê Phước Thưởng, một cán bộ phái khiển của VC về đầu thú chính quyền quốc gia thời ông Ngô Đ́nh Cẩn. Trong câu chuyện, ông Lê Phước Thưởng luôn luôn tỏ ra kính phục ông Ngô Đ́nh Cẩn, và đúng như tác giả Nguyễn Văn Minh viết, ông Thưởng sẵn sàng đánh lộn với những ai nói xấu ông Cẩn hoặc Đoàn Công Tác Đặc Biệt.

 

Một cơ quan khác cũng chuyên lo về vấn đề an ninh, t́nh báo trong quân đội, đó là Nha An Ninh Quân Đội đặt tại Thủ đô Sài G̣n, và tại mỗi tỉnh đều có một Ty An Ninh Quân Đội phụ trách công tác này tại địa phương. Theo bài báo “Sớm đầu tối đánh”, trong thời gian Đỗ Mậu làm Giám Đốc An Ninh Quân Đội, v́ biết khả năng kém cỏi của Đỗ Mậu nên "ông Ngô Đ́nh Nhu đă giao cơ quan này cho bộ ba Tống Đ́nh Bắc (nguyên Trưởng Ty Đặc Cảnh Miền Bắc), Tống Tấn Sĩ và Nguyễn Văn Minh phụ trách mọi công việc, v́ Đỗ Mậu chẳng biết ǵ. Đỗ Mậu chỉ có nhiệm vụ theo dơi và báo cáo. Thỉnh thoảng Đỗ Mậu cũng được giao cho một số công tác đặc biệt, nhưng Đỗ Mậu thường làm hỏng hoặc làm không đến nơi đến chốn."

 

Nói chung, các hoạt động t́nh báo dưới thời Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă tỏ ra hữu hiệu, không như t́nh báo dưới thời của Tướng Nguyễn Văn Thiệu, v́ nhân viên về sau kém khả năng, làm việc chiếu lệ, không có tinh thần nghề nghiệp và ḷng nhiệt thành như thời gian Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa.

Về tác phong vị lănh đạo của người đă khai sáng ra bốn chữ “Việt Nam Cộng Ḥa”, sử gia John M. Newman trong cuốn Tổng Thống John F. Kennedy và cuộc chiến Việt Nam đă ghi:

 

"Khoảng đầu năm 1957 TổngThống Ngô Đ́nh Diệm, bấy giờ là quốc trưởng, đă dùng quyền hành của ḿnh để chế ngự các giáo phái bất phục tùng và nghiền nát các chi bộ Việt Minh ở đồng bằng sông Cửu Long; những thành tích này khiến tổng thống Eisenhower ca tụng ông ta là CON NGƯỜI THẦN KỲ của Á Châu."


Minh Hùng, tác giả Đời Một Tổng Thốngin tại Sài G̣n năm 1971, đă có ghi lại lời phát biểu của cụ Phan Bội Châu về việc ông Diệm rũ áo từ quan năm 1933 như sau:

 

"Ông Ngô Đ́nh Diệm, con người có tâm huyết, biết thương giống ṇi, biết nhục vong quốc, nên ông dám chống lại cường quyền, lui về ẩn tích, đợi thời tuyết sỉ. Đó mới là đáng bậc CHÍ SĨ, VĨ NHÂN, tất sau này cuộc Phục Hưng chỉ có hạng người ông Diệm mới làm nổi... Ta muốn tặng ông Diệm một bài thơ để tỏ ḷng kính trọng bậc thiếu niên hiền triết... Ông Diệm bây giờ mới là ông lớn thật sự.”


Trong cuốn hồi kư Honorable Men/My life in the CIA, William E. Colby đă từng làm trưởng nhiệm CIA tại Sài G̣n từ tháng 6 năm 1960 đến 1962, đứng đầu ngành CIA từ năm 1973 đến 1975, đă viết về Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và chính sách của ông như sau: “...Sau khi tŕnh bày cho giám đốc McCone nghe, tôi cùng ông tới ṭa Bạch Ốc trong chiếc Limousine của ông và tôi đă thú nhận với ông ta rằng cái chết của hai ông (Diệm Nhu) làm cho riêng cá nhân tôi rất đau ḷng; tôi đă từng quen biết họ và kính trọng cả hai người; tôi là một trong số rất ít người Mỹ đă có cảm t́nh đó, đặc biệt là về phần ông Nhu...”


“Ấp chiến lược tại Việt Nam” ở sách của Colby, cho biết Colby đă nói nhiều về tính cương nghị và cái uy của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm biểu lộ trong những cuộc khủng hoảng chính trị và gọi ông Diệm là nhà ĐỘC TÀI NHÂN TỪ:

“Thực vậy, ông Diệm điều hành công việc như một ông quan cai trị. MỘT NHÀ ĐỘC TÀI CÓ THIỆN TÂM (hay nhân từ, theo soạn giả), dùng quyền lực ép dân phải bắt tay vào công cuộc phát triển (cộng đồng), v́ lợi ích của chính họ, bất chấp họ nghĩ ǵ về điều đó, độc đoán, thiếu dân chủ. Ông ta dùng - nhưng lại than phiền về - hệ thống thư lại do Pháp đào tạo vào công việc đó, v́ ông tin rằng nó sẽ có thể được cải tiến dần dần và sẽ được thay thế bằng lớp người sắp tốt nghiệp từ những trường huấn luyện về hành chánh, quản trị của Mỹ.”

 

Ở một đoạn khác Colby viết: “Rơ ràng đây là giai đoạn đầu của “chiến tranh nhân dân”, (Cộng sản đang) động viên và tổ chức các lực lượng để dùng vào cuộc chiến. Và rơ ràng ở điểm này sự thách thức có tính chính trị và khuynh đảo, chứ không phải là thứ cần đến các bộ tư lệnh sư đoàn hay quân đoàn để đối phó. Mặt khác cuộc thách thức chính trị, tuy vậy, cũng chẳng phải là loại mà giới thượng lưu trí thức có thiện ư nhưng không có thực lực (cơ sở chính trị) ngồi trong khách sạn Caravelle để ra tuyên ngôn, kêu gọi lập “chính phủ lương thiện, công chính”, “một quân đội anh dũng được phấn chấn bởi một tinh thần duy nhất”, và một nền kinh tế “phồn vinh”, miễn là chính phủ thay đổi đường lối. Và như vậy, theo ư tôi, những khuyến cáo có tính mệnh lệnh của ṭa Đại Sứ Mỹ ép ông Diệm phải bổ nhiệm những người chống ông vào trong chính phủ, và cổ vơ một cuộc điều tra của quốc hội theo kiểu Mỹ xem ra rất không xác đáng. Theo thiển ư của tôi, cuộc đọ sức thực sự lúc ấy là ở thôn xă. Những vấn đề căn bản hơn nằm ở đó.”

 

Nhận xét của Colby được ghi nhận như sau khi ông tới thăm các vùng thôn quê Việt Nam:

 

“Đường xá được mở lại. Số trường học tăng nhanh ở thôn quê.

Chương tŕnh ngũ niên Diệt Trừ  Sốt Rét xịt thuốc diệt muỗi được khởi sự để thanh toán bệnh sốt rét rừng. Sức sản xuất lúa gạo bắt đầu tăng, xuất cảng gạo, lông vit... Những tiến bộ về kinh tế, xă hội lúc đó đă xuống đến nông thôn... Đặc biệt kế hoạch “Khu trù mật” năm 1959, là kế hoạch được Tổng Thống Diệm nâng niu nhất, bắt đầu với nhiều hứa hẹn. Những “đô thị” nông nghiệp được xây dựng trên phần đất truất hữu của địa chủ theo chương tŕnh cải cách điền địa và được chia thành những khu trung tâm dân cư và vùng ruộng lúa...”


Nhưng chỉ một vài ngày sau biến cố 1-11-1963, Dương Văn Minh và nhóm tướng lănh cầm đầu cuộc đảo chính như Lê Văn Kim, Trần Thiện Khiêm…đă cho lệnh phá bỏ 16.000 Ấp chiến lược, thả lỏng ṿng rào kềm chế cho Việt Cộng mặc sức tung hoành ở nông thôn Miền Nam, bỏ tổ chức nghĩa quân, dân vệ, khiến Hoa Kỳ có cơ hội đổ quân ồ ạt vào Việt Nam, và chưa đầy 5 năm sau đă tạo một môi trường hết sức thuận lợi cho VC tiến hành cái gọi là cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa với những hệ lụy rất trầm trọng.

 

Tướng Tôn Thất Đính c̣n tuyên bố: "Ấp chiến lược đem lại ấm no nhưng không đem lại hạnh phúc".(Sic!)

 

Với cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu người mà chúng tôi xin được phép được ví ông như một La Sơn Phu Tử Thời Đại, những nhà lănh đạo xuất sắc và tâm huyết của Việt Nam Cộng Ḥa, Hoa Kỳ đă đạp đổ một mẫu người thần tượng lănh đạo của Miền Nam Việt Nam, những đối thủ đă từng gây lo sợ cho chính quyền miền Bắc của Hồ Chí Minh, và đặt lên một nhóm tướng lănh Đại Việt cầm đầu đất nước mà chính Tổng Thống Hoa Kỳ Lindon B.Johnson mệnh danh là lũ côn đồ ác ôn đáng nguyền rủa (a goddam bunch of thugs), số phận của Miền Nam như vậy là đă được tính toán từ trước. Và biến cố Mậu Thân xảy ra cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên đối với ai có những chú tâm theo dơi thời cuộc lúc bấy giờ.

 

Khi được tin Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ và bị giết cùng với người bào đệ là cố vấn Ngô Đ́nh Nhu sau khi nhóm tướng lănh đại Việt làm đảo chánh đă đưa hai ông vào tra khảo  đánh đập tại Tổng Nha Cảnh Sát tr6n đường Vơ Tánh, Hồ Chí Minh đă nói với kư giả Wilfred G. Burchett: "Tôi không ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế". Ellen J. Hammer trong cuốn A Death in November cho biết: "Đài phát thanh Hà Nội đă trích dẫn báo Nhân Dân nói rằng do sự lật đổ Ngô Đ́nh Diệm và em ông là Ngô Đ́nh Nhu tụi đế quốc Mỹ đă tự ḿnh hủy diệt những cơ sở chính trị mà họ đă mất biết bao năm để xây dựng."

 

Gần nửa thế kỷ sau suốt gịng lịch sử cận đại khi chúng tôi ngồi thu thập và viết lại những gịng chữ này th́ những nhân vật nhúng tay vào việc giết hại Tổng Thống Ngô Đ́nh Điệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu đang tŕnh diện trước một “ĐẠI HỘI OAN HỒN”   nơi âm phủ là ṭa án lương tâm, chắc chắn Mai Hữu Xuân, Trần Văn Đôn, Đương Văn Minh…của nhóm phản loạn sẽ tŕnh với ngài Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu về sự thật âm mưu đảo chánh và hạ sát vị sáng lập VNCH là do Trần Thiện Khiêm và Lê Văn Kim chủ trương.

Chúng tôi sẽ có dịp viết ve cêái chết thật sự của Đại úy Nguyễn văn Nhung trong trại giam Chí Ḥa do cú đá của một trung sĩ giám thị (tôn thờ Ngô Tổng Thống), trước khi được chở về trại Hoàng Hoa Thám để ngụy trang cái chết tự tử. Nhân chứng sống là thiếu úy nhảy toán(1962-63) hiện có mặt tạo bắc California bị nhốt chung tại pḥng giam ở Khám Chí Ḥa.

Cũng như chúng tôi sẽ viết về thiếu Úy Hồng thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh là người đă ném quả lựu đạn ám sát ông tỉnh trửơng Thừa Thiên Nguyễn Phước Đảng khi xe ông ta tiến vào đài phát thanh Huế để kêu gọi sư săi Huế ngưng làm loạn, th́ tiếp theo là vụ nổ của chất Plastic do trung úy James Scott(nhiều sách viết lộn là Đại úy)… Sau đó thiếu Hồng đào ngũ về Sai g̣n đăng lính vào TĐ.6 nhảy dù và bị chết tại trận Cái lậy.

 

Nhân ngày kỷ niệm QUỐC KHÁNH 26 THÁNG 10 LẦN THỨ 53 CỦA VIỆT NAM CỘNG H̉A DO TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH ĐIỆM VÀ CÔ VẤN NGÔ Đ̀NH NHU SẮNG TẠO.

 

CM Magazine xin thắp nén hương ḷng tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và La Sơn Phu Tử Thời Đại Cố Vấn Ngô Đinh NhuNguyên xin Thiên Chuá Ba Ngôi phủ đầy hồng ân và thiên phước cũng như cất giữ linh hồn họ nơi nước thiên đàng. Và giờ này linh hồn của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và Cố Vấn Ngô Đinh Nhu chỗ Kẽ Đá Vững An” đang cất tiếng trong bài ca thánh “Này Là Truyện Kư Tôi”. Amen.

 

 

Ngạn ngữ Á Rập có câu: "Nếu anh bị chó sủa, anh có cúi rạp ḿnh xuống để cắn lại nó hay không?"

 

Chính v́ vậy tôi không mất th́ giờ để ư đến tiếng sủa của chúng.

Chúng thất vọng và nhục nhả v́ bị tôi khinh rẻ nên chúng tự ái và mặc cảm mà quay qua "cắn" lung tung cho đỡ tức tối. 

 Hăy từ bi hỉ xả, ḷng sẽ thanh thản.

Khẩu nghiệp ! Khẩu nghiệp !

 

“Phượng hoàng tắm nước ao tù.

 Người khôn nói với kẻ ngu cực ḷng.”

 

 Tôi yêu bài thơ “NHỚ LỜI MẸ DẠY” của Phùng Quán, nên “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai cầm dao dọa giết, không nói ghét thành yêu, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét”.

 

Đường đời có lắm mối sầu đau 

Uất hận sân si ngập nát đầu 

Chụp mũ người đời ḿnh đại nạn 

Vu oan kẻ khác tự chôn sâu  

Già thân chửa chắc tâm b́nh trí 

Kém dạ  hùa theo chuyện bể dâu 

Tội nghiệp thân tàn danh tơi tả

Ngàn năm giử măi mối u sầu 

Lạy Chúa xin hăy dùng con như khí cụ b́nh an của Chúa.
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an ḥa vào nơi tranh chấp, đem chân lư vào chốn lỗi lầm.
Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng, để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu.

 

Nguồn: Wilson Center Digital Archive :

 

“Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm trong những năm đầu (1954 - 60) đă gặt hái nhiều thành quả và có hậu thuẫn quần chúng. Những chương tŕnh kiến quốc đề ra như Dinh điền, Khu trù mật, Ấp chiến lược... đều đi đúng đường mặc dầu cấp thừa hành không thực hiện đến nơi đến chốn. Riêng năm 1960, những thành quả kinh tế đưa Nam VN lên hàng thứ 3 tại Á châu, hơn Đại Hàn, Ấn, Thái… (1) Đây là một chính quyền quốc gia vững mạnh nhất, có chủ đạo, có tổ chức, có nhân sự hậu thuẫn, có cốt lơi trung ương chỉ đạo, có quốc tế ủng hộ (khối Thiên Chúa Giáo) kể từ sau chính phủ Trần Trọng Kim 1945.”

VIỆT NAM CỘNG H̉A MUÔN NĂM

NGÔ TỔNG THỐNG MUÔN NĂM

 *** Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không phải của riêng nguời theo thiên chuá giáo.

 

*** Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm không phải của riêng người di cư từ bắc vào nam.

 

*** Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm không phải là kẻ thù truyền kiếp của Phật Giáo.

 

***Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chỉ là kẻ thù riêng của cộng sản VN mà thôi.



 

TOÀN DÂN VIỆT NAM

 

NHỚ ƠN NGÔ TỔNG THỐNG.

CỘNG SẢN ĐANG BƯỚC VÀO CÁC NGƠ NGÁCH CỦA CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG , ĐANG DÙNG CHÍNH NHỮNG NHÂN VẬT CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỂ PHÂN HÓA , LÀM TÊ LIỆT Ư CHÍ , LÀM NGAO NGÁN SỰ CHỐNG ĐỐI CHÚNG , XIN ĐỒNG BÀO CẨN THẬN , CHÚNG DÙNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỬI BỚI LẪN NHAU , PHÁ NÁT NIỀM TIN THIÊNG LIÊNG CỦA CHÚNG TA , BÔI NHỌ CÁC VỊ LĂNH ĐẠO CÁC TÔN GIÁO
 ĐÓ LÀ MỤC ĐÍCH CỦA CHÚNG. AI THEO VÀ TIN ĐẠO NÀO CỨ MỘT L̉NG VỚI NIỀM TIN ẤY , ĐỪNG MẮC MƯU CHÚNG

 

Tham khảo

·   Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Indiana University Press, 2001.

·   Goodman, Allan E. Politics in War. Cambridge, MA: Harvard Univerity Press, 1973.

·   Keesing's Research Report. South Vietnam, A Political History 1954-1970. New York: Charles Scribner's Sons, 1970.

·   Lê Xuân Khoa. Việt Nam 1945-1995, Tập I. Bethesda, MD: Tiên Rồng, 2004.

·   Masur, Matthew B. "Hearts and Minds: Cultural Nation-building in South Vietnam, 1954-1963." Ohio State University, 2004.

·   Nguyễn Văn Lục. Lịch sử c̣n đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008.

·   Penniman, Howard R. Elections in South Vietnam. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, 1972.

·   Phạm Thăng. Tiền tệ Việt Nam.: Phạm Thăng, 1995.

·   Press and Information Office. Embassy of the Republic of Viet-Nam. News from Viet-Nam. Vol 10, No 10. Washington, DC: October, 1961.

·   Press and Information Office. Embassy of the Republic of Viet-Nam. News from Viet-Nam. Vol 10, No 11. Washington, DC: December, 1961.