báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

[Bài Viết - Article]                                                             


Hồ Chí Minh toàn tập - Lịch sử chính xác Chủ tịch Hồ Chí Minh -


Toàn bộ cuốn DVD "Đại Họa Mất Nước"

 ***

Vương Hồng Sển


Ông Diệm lựa mua đồ cổ

 

Ngày 15-1-1963 (ngày thứ ba 15 tháng giêng dương lịch, là ngày 20 tháng chạp Nhâm Dần). Vào lúc tám giờ sáng, tôi đang ngồi làm việc trong văn pḥng Viện bảo tàng th́ có chuông điện thoại reo. Nơi đầu dây, ông Giá, chủ sự pḥng vật liệu phủ Tống thống gọi tôi và mời lên trên đó để giảo nghiệm một mớ đồ sứ cổ.

Khi tôi giáp mặt th́ ông nói Tổng thống muốn biết ư kiến của tôi về những cổ vật do Tổng thống đă lựa nơi pḥng triển lăm báo chí đô thành và do hai nhà buôn Chánh và Trọng trưng bày từ 16-12-1962 đến 12-1-1963 và hiện đă đem về để tạm nơi tầng dưới trong phủ. Ông Giá liền đó đưa tôi vào pḥng xem, khi về sở là hết trọn buổi sáng.

Qua buổi chiều, đồng hồ chỉ mười lăm giờ th́ có tiếng điện thoại gọi nữa. Chuyến nầy, tôi lên phủ tổng thống là lần thứ hai trong một ngày, gặp lại ông Giá, ông đưa tôi giới thiệu với chánh văn pḥng là ông Vơ Văn Hải. Tôi được hai người dắt tôi lên pḥng tiếp khách rằng hăy chờ khi nào Tổng thống rảnh việc, sẽ cho vào yết kiến. Pḥng nầy rất rộng, nguyên là pḥng họp của hội đồng tư vấn (conseil privé) của trào Pháp cũ, và với tôi không lạ v́ trước kia tôi từng làm việc nơi toà lâu đài nầy, thuở ông Rivoal làm thống đốc Nam Kỳ. Tôi ngồi chưa nóng ghế: th́ thấy một người sĩ quan bưng ra để trước mặt tôi một mâm gỗ, trên mâm có bày một hộp thuốc lá 555 vừa khui (vừa mở), chưa dùng điếu nào, kế bên có để sẵn một hộp diêm quẹt cũng mới, thêm có một tách trà thơm khói bốc ngát và một tách cà phê sữa xem ngon mắt lắm.Vị sĩ quan ấy cúi đầu mời tôi “Xin cứ tự tiện” rồi lui ra bỏ tôi lại bơ vơ với bao nhiêu món cám dỗ ấy. Tôi làm cao không động rớ món nào, ngực th́ nhảy th́nh thịch, mắt vẫn liếc, nh́n từ cái bàn cái ghế sang trọng đến màu sơn trên vách, quả không thấy thay đổi nhiều sau cuộc đảo chánh vừa rồi năm 1945. Quả thật không có chi nặng ḷng bằng sự chờ đợi. Tôi khó chịu v́ ngồi đă lâu mà không ai nói đến ḿnh, trong khi ấy tôi cố nh́n những vật trước mắt đă biến thành cố tri, từ cây đinh cũ nơi chưn bàn, và thấy tiếc tiếc cho tách cà phê, cho tách trà, ở nhà ḿnh không có để uống, mà ở đây đành để cho nguội không người dùng, thiệt là phí phạm. Đôi giày vẹc-ni đen mới; tôi lấy ra “khai trương” bữa nay nhơn dịp ra mắt ông Tổng thống đă bắt đầu làm tê tê mấy đầu ngón chân, nay khởi sự ngứa rần rần mà ở đây là chốn tôn nghiêm làm sao dám cởi giày ra để găi cho sướng! Chờ măi đến mười tám giờ, ngồi nhớ tiếc cái cảnh làm việc ở Viện bảo tàng, tuy ăn lương ít, nhưng cũng “làm vua một cơi” và cũng v́ ham chút bă vinh hoa ấy mà nay bị hành phạt như vầy.

Bỗng ông Giá mở cửa pḥng bước vô nói năm điều bảy chuyện, cho hay Tổng thống quá bận khách có lẽ không tiếp được, thôi th́ hăy về nhà và dặn kỹ đêm nay đừng đi đâu hăy túc trực sẵn, pḥng hờ Tổng thống rảnh sẽ cho xe đến rước! Nghe mà chết được trong ḷng, không lẽ kêu ḿnh ban đêm để ngủ chung? Huống hồ ǵ, đêm nay lại được lần thứ nhứt, vợ mua vé tặng xem cải lương gánh Năm Châu, diễn tại rạp Thống Nhứt tuồng “Tây Thi gái nước Việt” mà ḿnh ao ước muốn xem diễn lại. Thôi th́ trối kệ, cứ đi xem hát cái đă, rủi mất chức th́ cũng đành, chớ không lư bỏ vé vợ mua sẵn để bận đồ lớn ngồi nhà chờ xe Tổng thống. Tuy vậy, ngồi xem diễn tuồng mà ḷng đă thất hứng, lát lát liếc ngó chừng phía cửa rạp, chỉ sợ có lịnh đ̣i.

Nhớ buổi chiều tài xế trên phủ lái xe đưa về, nay thấy ai bước vào bận áo bâu cứng cao cổ cũng tưởng đó là bác tài xế Hiệp. Văn hát về không ngủ được v́ vẫn hồi hộp.

Ngày 16-1-1963 - Buổi sáng đi làm, vô sự. Buổi chiều vững bụng, nên ăn quen vẫn mặc bộ đồ “xườn xám” cho gọn. Dè đâu vừa vô sở, th́ điện thoại gọi.., lật đật đạp xe về nhà (lúc ấy nhà ở Vườn Dâu bộ Canh nông, đường Hồng Thập Tự) hối hả thay bộ đồ lớn, trở lại Viện bảo tàng th́ vừa kịp có xe lại rước đưa lên phủ.

Phen nầy, trong lúc ngồi chờ, ông Giá đưa một xấp giấy trắng và mời viết vào đó những ư kiến của ḿnh đối với từng món cổ vật bày trong pḥng mật viện cũ. Viết thẳng thét trong hai tiếng đồng hồ, được bảy trang chữ bút atomic xanh. Thấy thấm mệt, nên tự thưởng một tách cà phê sữa ngon lành và nốc luôn một tách nước trà. Không làm kiêu nữa, và dại ǵ của sẵn không dùng? Đúng mười tám giờ, có xe đưa về, không quên dặn đừng ra cửa, e có lịnh đ̣i, nhưng trọn đêm vô sự, ngủ bằng an.

Ngày 17-1-1963. Nghe theo lời ông Giá dặn hôm qua, nên sáng nầy vận đại phục vô sở, ngồi chờ tới trưa không việc ǵ. Buổi chiều có giờ dạy nơi Đại Học văn khoa, vừa dạy từ mười bốn giờ rưỡi, đang ngon trớn, kế có lịnh đ̣i. Lật đật từ giă sinh viên xách cặp bước mau qua phủ, cũng may ở gần cùng một khu. Chưa đi bươn bả theo ngơ tắt, lính kêu mặc lính, vừa đến kịp gặp ông Giá, ông đưa qua phủ, đến ngay phủ nơi pḥng có trưng bày cổ vật, chưa kịp mở cửa vào pḥng th́ có điện thoại gọi giựt dội từ trên lầu ra chỉ thị xuống, dạy ông Giá phải đưa tôi thẳng lên từng thượng, để yết kiến ông Tổng thống, v́ ông vừa rảnh tay và hiện chờ tôi tại văn pḥng của người. Xin nhắc lại dinh Gia Long, nay Tổng thống lấy đó làm phủ từ ngày ở “điện Toàn quyền cũ” về đây, nguyên là dinh cũ Phó Soái Nam Kỳ và từ năm 1935 đến 1942, tôi từng làm việc ở đây, nên vốn không xa lạ đối với tôi. Chân tôi bước theo bén gót ông Giá, mỗi lần gót giày nện mạnh lên thang gỗ ḷng thấy nao nao nhớ lại buổi thanh xuân c̣n ghi dấu đâu đây. Lên đến từng lầu trên, th́ phong cảnh dấu vết cũ không thay đổi chi nhiều, nền gạch bông vẫn bóng láng như xưa, duy trên vách gạch, tấm tranh sơn dầu “cảnh vẽ cột cờ thủ ngữ và cầu tàu tán dóc” (Pháp gọi “poinle des blagueurs”) v́ có tánh cách thực dân, nên đă bôi mất dấu, cũng như cảnh vẽ “vườn cao su” nơi sau chỗ ngồi của hai ông Rivoal và Weber độ nào, nay cũng bị tẩy đi cho sạch vết tích chế độ Pháp cũ. Bức vách nầy, như các bức vách khác, nay sơn dầu một màu vàng trứng gà, xem vừa sạch vừa nhă và trang trọng tinh khiết hơn xưa. Tôi bước tới trước cửa văn pḥng, ḍm vô trong thấy ông Ngô Đ́nh Diệm, mặc bộ u-oe túc xo, ngồi chễm chệ trong một chiếc ghế bành bọc da thật lớn và mới toanh, hai tay ông đặt ngay thẳng trên chỗ dựa y như một tượng gỗ, c̣n hai mắt ông th́ ngó thẳng vào cửa chỗ tôi đang đứng. Tôi thủ lễ, đứng thẳng người, đầu cúi miệng thưa lễ phép “Kính chào Tổng thống”. Ông gật đầu, xem bộ hiền lành, tôi nghe ông thốt hai tiếng “Mời ngồi” mà không nghe rơ mời ai, cụ, ông hay là mầy. Tôi lúc ấy vẫn cứ đứng, y như điệu chàng rể tiếp xúc lần đầu tiên với nhà gái. Kế tôi nghe ông ban thêm ba tiếng “Ngồi đi mà!” nghe êm ái hơn hai tiếng “mời ngồi” ban năy. Rồi tôi bước tới, đặt bàn toạ vào ghế, nhưng chỉ ngồi ghé nơi b́a cạnh, y một kiểu với cách mấy chục năm xưa tôi ra mắt nhạc gia tôi khi đi xem mắt vợ. Cái ghế của tôi ngồi, vẫn đặt mé bên tả của ghế ông và vẫn giống y cái ghế đặt bên hữu, hai ghế nầy thấy đều cũ kỹ, đă “xập kỷ ńnh” (cũ thập dư niên); v́ tôi ngồi ghé nên thấy dường như ngồi trên khúc củi, vừa ê vừa thốn, thật không êm ái đỡ mỏi chút nào. Tôi vừa an toạ, kế có điện thoại reo. Tổng thống với tay chụp ống nghe, và trong khi ông bận lo trả lời, tôi thừa dịp lấy mắt quan sát kỹ vuông pḥng nầy mà những năm xưa kia, vào dịp đầu xuân hay khánh hạ, tôi đă từng ra vào, tôi thấy trong pḥng, những đồ tư khí cũ thời Pháp, hoặc dă di chuyển một nơi khác, hoặc đă biến mất từ năm đảo chánh 1945, hoặc v́ ngày nay không vừa ư nên đă dời chỗ nào tôi chưa biết, tức là không mất.

Tóm lại những lời đă nghe có sự mất mát nơi nầy, chỉ là lời đồn đăi thất thiệt. Tôi chú ư nhứt là chiếc ghế bành của ông Tổng thống ngồi, bọc da màu vàng, xám nâu (beige) xem bề thế và rất mềm, rất êm ái. Đây là chỗ ông ngồi làm việc thường ngày, vừa khỏe lưng trong lúc tỷ như duyệt khán công văn, và cũng tiện lợi v́ có thể nằm nghỉ lưng đỡ mỏi trong chốc lát. Kế bên chiếc ghế bành nầy, nơi mé tay mặt, có đặt một hộp lớn làm bằng gỗ trắng đánh vẹt-ni, trong chứa đựng cả xấp hồ sơ và công văn đang nghiên cứu hay c̣n xem xét. Hộp gỗ nầy có gắn một hàng nút điện sành trắng và nhỏ bằng cỡ đầu ngón tay út khi Tổng thống bấm vào là để gọi từng bộ hạ cộng tác, khi gọi ông chánh văn pḥng hay chánh vơ pḥng, hoặc bí thơ hay tùy giá quan,.., khỏi nhọc công sai người đi mời. Trước mặt ghế ông ngồi và đôi bên tả hữu của chiếc ghế nầy, như đă có nói rồi, là hai chiếc ghế dạ đỏ đă phai màu, góc cạnh đă sù ś v́ đă quá thâm niên, quá tuổi lưu dụng.

Một chiếc tôi đang ngồi, và v́ không dám ngồi ngay giữa ghế nên không rơ bộ ḷ-xo có c̣n êm ái không, duy chiếc để trước mặt tôi, vốn là một cặp với chiếc kia, không nữa cũng đồng niên đồng tuế năm mua năm sẩm, hai chiếc ghế dành cho khách ngồi nầy, tại sao quá khác biệt với chiếc của Tổng thống ngồi, chiếc ghế của chủ th́ vừa đẹp vừa êm, thêm vừa mới, c̣n hai chiếc nọ lại cũ kỹ và hư tệ đến thế. Xem ghế biết tánh chủ nhà, cực chẳng đă ông mới dám sài chớ b́nh sanh để làm theo ư ông, th́ ông là người hà tiện nhứt trên đời, v́ tiếng c̣n để lại, gia đ́nh ông thuở ông Khả c̣n sanh tiền, th́ đất Huế c̣n nhắc danh nhà nầy lấy tôn chỉ là “tề gia chi bổn thượng sách”. Có một chiếc ghế khác, kiểu xích đu loại Rocking chair hiệu Thonet thứ thiệt, th́ chắc là không mấy năng đùng, nên tôi thấy trên mặt ghế chồng chất một đống hồ sơ cao nghệu, thấy mà ngán. Xem kỹ lại đâu đâu cũng thấy toàn là hồ sơ cái b́a xanh cái lại b́a đỏ, trước mặt Tổng thống, hai bên Tổng thống, bên vách tả cũng có một hàng dài dài trừ bên vách hữu, thấy một dăy ba chiếc tủ gỗ to tướng, choán gần trọn mặt vách trên sáu thước chiều dài, những tủ nầy do trào Pháp c̣n sót lại, mặt gỗ liền màu đỏ kiến gián làm bằng gỗ danh mộc đắt tiền. Trong tủ không biết có chứa đựng giấy má hồ sơ tối mật chi không, nhưng độ chừng ông Tổng thống là một thầy tu lỡ mùa, thuở nay quen sống độc thân, cho nên y phục tế nhuyễn vật cần thiết của người, người đều dồn hết vào đây, là một văn pḥng mà cũng một tư pḥng bất khả xâm phạm, và bấy lâu v́ thiếu bàn tay bà nội tướng, nên tha hồ người để bừa băi, thậm chí tôi liếc thấy chiếc gậy tuỳ thân ông thường cầm trên tay mỗi khi đi kinh lư “làng chiến lược” và chiếc nón nỉ lịch sử ông thường đội đầu, nay cũng ngự chễm chệ, nón th́ đặt trên một hồ sơ một nơi nầy, gậy th́ dựng nơi kẹt một góc nọ, măi xa mút sau chót ba chiếc tủ gỗ kia. Trong khi Tổng thống măi bận trả lời trong điện thoại, tôi chợt đưa mắt lên đầu chiếc tủ giữa bỗng thấy một khuôn h́nh lớn vẽ dầu màu, hoạ chân dung cụ cố Ngô Đ́nh Khả, ḿnh mặc sắc phục vơ tướng, hai tay giụm lại đứng chống gươm xem rất oai nghi, nhưng cớ sao trong mắt tôi lúc ấy lại thấy dường như bơ vơ trơ trọi trên đầu loại tủ đựng áo quen mặt bằng gỗ liền nầy. Trong bụng tôi suy nghĩ bâng quơ: Hỡi trời? Đă tột bực đỉnh chung, lên ngồi trên cả thiên hạ, thế mà t́m không được một chỗ thờ cha cho xứng đáng. Hăy chừa cho bọn thơ kư nghèo như chúng tôi thờ cách ấy! Nếu ông là người công giáo thuần tuư không nh́n nhận sự thờ phượng ông bà, không muốn bắt chước bọn bên lương lập bàn thờ thờ cúng tổ tiên, th́ cứ việc “làm theo Tây u”, tốn một cây đính đóng lên vách như treo h́nh đức Chúa hay h́nh kư kiểu La Joconde chẳng hạn, bằng không nữa th́ thà đừng thờ và chỉ “tâm thờ”, thờ trong ḷng, trong tư tâm cũng được đi, chứ thờ làm chi trên đầu tủ bọn tiểu công chức nhà như ổ chuột, trong nhà chỉ có cái tủ áo là cao, cũng không đành thờ cha mẹ ông bà như thế. Đang trí c̣n nghĩ ngợi viễn vông, thoạt nghe Tổng thống đặt máy nói vào móc tôi vừa day lại th́ nghe ông nói chậm răi nửa thân nửa chí t́nh: “Cách nay mấy mươi năm, tôi cũng từng làm một nghề tương tợ như nghề ông (tiếng ông gọi tôi lần thứ nhứt), nhưng vẫn không phải nơi chốn nầy đâu!”.

- Dạ thưa Tổng thống, - tôi thầm phục và thầm khen ông khéo lựa mấy lời quá êm cởi mở - Dạ thưa Tổng thống, tôi đă từng đọc bài nghiên cứu của Tổng thống viết về chiếc nghiên mực “Tức mặc hầu” đăng năm xưa trong tập san Đô thành hiếu cổ.

- Ờ! Phải đấy. Bài ấy tôi viết đă lâu lắm rồi. Có đọc hỉ!

Nói đến đó rồi ông chăm chỉ lật lật xấp bản thảo tôi đă viết, vừa đọc vừa hỏi trống lỗng:

- Chữ ai viết mấy trang nầy vậy?

- Dạ, chữ cụ Sển viết! - Ông Giá khoanh tay đứng gần tôi trả lời.

- Già mà chữ viết c̣n hay hỉ! - Tổng thống ngó tôi mà khen.

Tôi cúi đầu nói nhỏ câu “Tôi không dám!” nhưng trong bụng, tật cũ không chừa, vẫn căi:

- Trong Nam, chúng tôi nói chữ viết “cứng”? Viết hay là khác!

Rồi lại nghe Tổng thống hỏi tiếp:

- Hiệu “Ngoạn Ngọc” dùng được chớ hỉ?

- Dạ thưa, Ngoạn Ngọc là quư, là cổ lắm vậy.

- Ờ, ờ! Xưa tại nhà, có khá nhiều đồ hiệu Ngoạn Ngọc.

- Dạ thưa, - Tôi bất trớn nói tiếp - Đồ cổ đề hiệu Ngoạn Ngọc là nên dùng lắm. Người châu Âu, châu Mỹ, rất chuộng, và gọi theo Pháp là “Bibelot de jade”. Dạ, nhưng nó chưa quư bằng đồ cổ kiểu kư hiệu chữ “Nhựt”.

- V́ sao vậy? Tổng thống hỏi.

- Dạ, theo tôi hiểu, thưa Tổng thống. Hiệu “nhựt” là đồ sứ “Quân dụng”, chế tạo riêng cho quân vương dùng, khác với Ngoạn Ngọc là hiệu thường, kư trên đồ sành sứ từ nhà quan quyền đến nhà lê thứ đều dùng được cả, tức cũng như đồ thông thường, “quan đụng”, “dân dụng”.

Nói đến đây, tôi nh́n trộm, thấy mặt Tổng thống vui lên, cười cười rồi với tay bấm một nút chi nhỏ nhỏ gắn nơi hộp gỗ đă tả, tức th́ hiện ra một tùy giá quan mặc một bộ quân phục bén ngót, vừa mở cửa vào, vừa chào và đứng thẳng ḿnh.

- Cho ở dưới lầu hay tôi xuống xem các vật vừa sắm đó.

Ông Tổng thống đứng dậy, tôi cũng lật đật đứng theo. Tôi bước trái qua một bên, nhường chỗ cho ông bước ra khỏi ghế, rồi chờ ông bước được vài bước, tôi khi ấy mới nối gót theo sau. Bỗng cửa pḥng mở toác, tôi giựt ḿnh khi thấy ngoài cửa có hai ông cao cấp quen mặt, tay ôm hồ sơ chực sẵn từ lúc nào, đầu cúi ngó mũi giày, áo gài nút kín, mỗi ông đứng một bên cửa, không khác ông Thiện và ông Ác vẽ trên cửa chùa, nói làm vậy chớ vẫn mong hai ông đều hiền và không có ông nào xứng danh là ông Ác. Một ông, bấy lâu tôi nghe tiếng đồn là thanh liêm “tuy gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, nhưng nay thấy tận mắt v́ ông có xương sống gắn bản lề khá dẻo cho nên người ta mới c̣n dùng đến nay, trong bụng thầm tiếc một người có Đức như ông, nấm nuối làm chi chốn nầy, ham quyền chức e có ngày vướng bùn mất chữ thanh cao, hay là cũng v́ ông đă trót lựa chữ lót là “Ṭng”.

Ông kia tôi gặp một lần trong một buổi đi nghe diễn thuyết nay cũng không nhớ tên, khi tôi đi ngang chỗ ông đứng, tôi ễnh ngực, nện mạnh gót giày, ư chừng muốn cho ông thấy tên ăn lương công nhựt nầy, cũng có lúc đi gần chủ của ông để được ông cúi chào, sướng quá. Buổi ấy, Tổng thống dẫn đầu đi trước, thứ đến là tôi kế nữa là một cận vệ quan, và sau rốt là ông Giá, chức coi về từ khí thập vật trong phủ, Pháp gọi “garde-meuble du palais”, tạm dịch nội phu quan chớ không lư dùng chữ “nội dịch” nghe tệ quá.

Xuống đến pḥng tạm chứa đồ sứ, một pḥng rộng lớn thênh thênh thuộc mé hữu của toà lâu đài nầy, tôi thấy các cổ vật, cổ ngoạn đă được dọn bày sẵn làm ba hàng dài: chóe sành, bầu hồ lô tô kiểu, b́nh phong nạm ngọc, vân vân, đủ thứ, nhưng thứ thật tốt, đẹp và cổ th́ ít, thứ xoàng xoàng không xưa không nay th́ nhiều, theo ư riêng tôi, sở dĩ họ đem đến đây, cốt bán cho được nhiều tiền, kiếm đồng lăi và không sợ sự b́nh luận mai sau. Gẫm lại nguy hiểm thay cho cái nghề “chuyên viên khảo về cổ vật” như ḿnh, có tiếng mà không có miếng, nay được đ̣i đến đây để giảo nghiệm, nhưng xét ra từ ông Tổng thống cho đến ḿnh, c̣n cách xa biết bao nhiêu độ, mấy lời ḿnh trực ngôn c̣n bị nhiều ư kiến tay ngang của các “cục cưng giỏi sàm tấu” xuyên lạc, không khéo “chơi dao có ngày đứt tay”, ḿnh nói trắng, họ thay đen, ḿnh nói “nay” họ đổi ra “xưa”, ḿnh sẽ bị “bán đứng” bị lợi dụng, bị mang tai tiếng, từ đó đi đến sự “ủ-tờ” cũng chưa biết chừng. Ôi! Cái nghề làm quản thủ Viện bảo tàng ăn lương công nhựt!

Trong buổi ấy, tôi theo sát bên lưng Tổng thống. Ông xem xét từng món, ông hỏi tôi về món nào, tôi cố đem hết sức b́nh sanh t́m lời giải thích cặn kẽ về gốc tích, điển cố nào tôi biết được. Đi xem được giây lát, định chừng ông hài ḷng về mấy lời tôi cắt nghĩa, nên ông “nói chuyện” quên thôi, và lần lần nói giọng rất thân mật, và cố nhiên bầu không khí trong pḥng trở nên nhẹ nhàng dễ chịu. Ông Giá lấy mắt nháy lén tôi, h́nh như muốn nói: “Được lắm! Tiếp như vậy hoài đi”! Mỗi lần tôi cố ư nói giặm nói chêm một đôi chỗ cho thêm vui câu chuyện, tôi lén nh́n thấy hai môi Tổng thống như muốn cười nhưng c̣n giữ bộ nghiêm. Và khỏi nói khi thấy được cởi mở, mấy ông tuỳ giá lúc ấy cũng tiếp sức tôi vài câu đúng lúc cho không khí được “dễ thở” thêm. Tỷ dụ khi đứng trước một cái tô có đề thi nôm, tôi quên lửng hiện ḿnh đang giỡn với lửa và tôi bỗng đọc đủ giọng phù trầm.

- Bộ biết chữ Nho khá lắm hả? - Tổng thống cắt ngang và hỏi tôi như vậy.

- Dạ thưa Tổng thống, đó là tôi thuộc ḷng v́ quá quen mặt với tô nầy, chớ về chữ Nho, tôi vẫn dốt, v́ cha tôi không cho tôi học chữ ấy từ lúc nhỏ.

Qua khỏi truông vấn nạn nầy, tôi lại tiếp tục nối gót theo ông Tổng thống. Bỗng đi đến trước một bộ chén trà cổ. Ông với cầm lên một cái chén “quân” và nói: “Đây chữ ǵ? Tôi không đọc được?”. Nghe vậy tôi tiếp cầm cái chén, vụt đọc lớn: “Tuyên Hoá”.

Ông Tổng thống chận tôi lại, cười và nói: “Đó! đọc được chữ Nho đó!”

Hồn bất phụ thể, tôi vội nói chữa lời: “Dạ! Cái chén nầy, thưa Tổng thống, nó là chén giả hiệu. V́ chữ viết nḥe nên Tổng thống không đọc được. Tôi quá quen và đă từng thấy nhiều bộ cổ hơn và chánh hiệu, nên mấy chữ nầy dễ nh́n, dễ đọc ra. Vả lại vua đời Minh có hiệu Tuyên Đức và hiệu Thành Hoá mà thôi. Nay chén nầy xưng “Tuyên Hoá” không có trong niên hiệu nhà Minh, cho nên tôi gọi là giả hiệu. Họ lấy chữ Tuyên trong Tuyên Đức và chữ Hoá trong Thành Hoá, hai chữ đều dễ đọc. Tổng thống gật đầu bước qua dăy khác, và tôi thoát nạn. Hú hồn!

Đi được giáp pḥng một ṿng tṛn, đại khái đi đến đâu tôi đều trả lời suôn sẻ, độ chừng năy giờ Tổng thống bằng ḷng lắm. Kế đó bắt qua xem mấy bức b́nh phong sơn mài có nạm ngọc quư, treo trên vách. Đến đây tôi có dịp ḍ xét ư ông. Quả ông là người có bản lĩnh, đừng khinh ông mà lầm. Ông là người tự làm lấy ḿnh, tự xem xét và tự quyết định lấy ḿnh, vốn ít nghe lời ai mà cũng không muốn nghe lời ai khuyến biểu. Sở dĩ sau nầy việc đa đoan và bọn gian thần sanh ra quá nhiều và thời đă hết nên phải hư việc. Như hôm nay, ông đang đứng trước một bức b́nh phong có nạm ngọc nầy. Đó là một bộ tranh sáu bức, dài và hẹp, cỡ 2m x 0,50, cả thảy sáu tấm ráp lại bằng nhiều bản lề, nền tranh là gỗ thông sơn mài màu đen, trên nền sơn, cẩn đủ thứ ngọc quư giá, từ ngọc vân thạch, đến nhiều thứ quư hơn nữa...

- Tranh ngọc nầy, - Tổng thống nói - tại sao lặp đi lặp lại có một kiểu, trông nhàm quá.

- Thưa, tuy vậy mà nay không làm được nữa - Ông Hải nói tiếp - Nếu nhà Thành Lễ làm như vầy được, không biết sẽ tính đến giá nào!

Câu nói là câu có ư tán thành, ư định muốn giúp cho tấm b́nh phong được Tổng thống chấm mua, không dè đă làm Tổng thống nổi cơn thịnh nộ bất ngờ, như trời không kéo mây bỗng vụt mưa ồ. Ông day lại, nói rất lẹ:

- Mà ai mua làm chi của nhà Thành Lễ. So sánh làm chi vật xưa với vật nay. Bức tranh nầy, vừa nói ông vừa lấy gậy chỉ, giá sáu chục ngh́n (60.000$) kia mà!

- Dạ, hai trăm sáu chục ngh́n chứ (260.000$). - Ông bí thư Hải cải chính.

- Ôi cha! Tôi không mua với giá đắt đó đâu!

Ông Tổng thống đáp và bước te te đi một nước, làm cho chúng tôi phải bước lẹ mới theo kịp. Rồi liền đó, ông hạ giọng, day lại tôi và chậm răi nói:

- Với những giá biên ra đây, tôi định sẽ giảm bớt đồng đều hoặc 25 hoặc 30 phần trăm. Nghĩ sao? Nếu họ không bằng ḷng bán th́ không mua.

- Dạ thưa Tổng thống, nếu cho phép tôi đưa ư kiến. Tôi chuyên xem kỹ về vấn đề tốt hay xấu, giả hay thật, cổ hay không cổ c̣n về giá cả, tưởng tôi không quyền định đoạt.

- Thôi được! ông Tổng thống nói - Rồi ông bắt qua chuyện khác. Kế ông lại hỏi:

- Đây họ đề “ambre”. Mà “ambre” là ǵ?

- Dạ thưa Tổng thống, “ambre” là hổ phách.

- Ủa! Lạ nầy! Tổng thống nói. Ambre, không phải là chất nọ tiết ra bởi loài cá ở biển kia sao?

- Thưa Tổng thống, tôi đáp. Nếu “ambre gris” th́ đó là chất vôi hay là tinh của loại cá “cachalot”, thường thấy trôi cả giề lên mặt biển và người đánh cá vớt lên đem phơi khô, cân bán với giá rất mắc, gọi là “long diên hương”. Dạ, c̣n “ambre” nầy là ngọc hổ phách, vốn là mủ, nhựa cây thông bên Tàu, được trên ngàn tuổi, biến thành. Dạ thưa, mủ thông, ta gọi “ṭng hương”, Pháp gọi “résine de conịfères”. Ṭng hương, ta dùng thoa dây kéo đàn, cũng giống như colophane của Pháp. Và khi nào “ṭng hương” để lâu được trăm năm, sẽ biến thành “phục linh”, một vị thuốc Bắc và nếu “ṭng hương” ở dưới đất trên ngàn năm, sẽ biến thành hổ phách, như vầy đây. Đó là tôi đọc theo sách Tàu dịch ra, chớ đúng không th́ tôi không rơ.

Buổi đặc biệt tôi được tiếp xúc với ông Ngô Đ́nh Diệm, đến đây là chấm dứt. Và đây là lần thứ nh́ ông cho tôi yết kiến. Tên tôi viết theo Tàu có lẽ ông không ưa, v́ b́nh sanh ông chỉ thích những người có tên tốt. Cũng v́ tên không tốt, nghe không thanh và quá “chệc”, nên ông hành tội bắt chầu hầu suốt mấy hôm liền mới cho ra mắt. Ông đă hiểu lầm và có lẽ hôm nay ông biết rơ tôi hơn chăng?

Nhắc lại, sau khi tôi trả lời đầy đủ như học tṛ trả bài cho thầy, ông Tổng thống gật đầu, quay lưng lại, và vừa đi vừa nói: “Thôi được? Mời ông lên lầu dùng trà”.

- Đội ơn Tổng thống, tôi đáp. Nhưng tôi không dám làm mất th́ giờ quư báu của Tổng thống. Xin cho tôi về.

Ông gật đầu, bước thẳng lên thang. Tôi vừa mừng thoát nạn, bỗng ông chánh văn pḥng Vơ Văn Hải đến gần khều tôi và nói nhỏ:

- Sao cụ không nhận lời ông Tổng thống mời, ngàn năm một thuở mà?

- Thưa ông, - Tôi đáp lẹ - Cũng biết vậy đó chứ, nhưng ông nghĩ lại: phàm một tên học tṛ đi thi, một khi ứng đáp được trôi chảy, kể chắc có hy vọng thi đậu, là đủ mừng. Há tham làm tàng và đèo ḅng, chạy theo chủ khảo, ông chất vấn thêm, rủi bí là bao nhiêu công khó cũng trôi ḍng nước, chằng là uổng công tu luyện hay sao?

Ông Hải cười và nói:

- Cụ là người cao kiến.

Giờ tôi bước vào phủ Tổng thống, nhớ lại là mười lăm giờ chiều. Nay bước chân ra khỏi phủ, là đồng hồ đă điểm mười bảy giờ bốn mươi phút. Thế là tôi được hầu ông Tổng thống ngót hai giờ bốn mươi phút. Khi bước vô, ḷng nặng như núi đè. Nay bước ra, ḷng nhẹ như được đầu thai kiếp mới.

Vài hôm sau, tôi nhận được một bức công văn, xin chép y, để làm kỷ niệm:

Việt Nam Cộng Ḥa
Tổng thống phủ
Văn pḥng
Số 62-TTP/ĐL
Sài G̣n, ngày 18 tháng 1 năm 1963
Đổng lư Văn Pḥng Phủ Tổng thống

Kính gửi ông Bộ trướng Quốc gia Giáo Dục Sài G̣n.
Thưa ông Bộ trướng,
Văn pḥng tôi trân trọng kính chuyển quư Bộ, chỉ thị sau đây của Tổng thống. “Có nhiều đồ cổ cần mua cho Viện bảo tàng, xin ngân khoản mà mua th́ có khó khăn, cho nên cho phép ông Quán thủ Viện bảo tàng là người rành rơi và biên khá về đồ cổ, khi nào có gặp đồ cổ th́ ông ấy có thể tŕnh gấp, v́ theo thú tục giấy tờ mất ngày giờ, trễ kẻ khác đă mua rồi.
Nếu thiếu ngân sách, th́ tŕnh lên Thượng cấp để xin ngân khoản đặc biệt.
Nay kính,
Kư tên
Quách Ṭng Đức

Dưới bức công văn chánh, do phủ Tổng thống gởi, c̣n mấy hàng phụ như sau:

Bộ Quốc Gia Giáo Dục
Số 2044 - GD/KTNS/2
Sao y kính gửi.
Ông Giám đốc Viện Khảo cổ, Sài G̣n.
Quản thủ Viện bảo tàng, Sài G̣n.
“để thi hành”.
Sài G̣n ngày 9 tháng 2 năm 1963.
K. T. Tông thơ kư, Phó Tổng Thơ kư
Kư tên: Đỗ Bá Khê

Do công văn chép lại như trên th́ từ đây, tôi đă được lọt mắt xanh. Người khác, nếu được như vầy, ắt mừng lắm v́ tương lai hy vọng tràn trề.

Nhưng đối với tôi, vốn sẵn tánh bi quan từ thuở nào, tôi chỉ thấy kể từ đây thiếu ǵ nguy hiểm khó pḥng ngừa được: mỗi lần trên Phủ muốn mua đồ cổ, sẵn tôi đang được tin dùng, thiếu chi người, từ bọn buôn đồ cổ, bọn đứng trung gian đến kẻ hám lợi chưa biết được, họ có thể sẽ bán đứng tôi có ngày. Tỷ dụ tôi không thấy món đồ, mà họ hô “tôi xem rồi”, hoặc tôi đă bảo biết là đồ quư.

Nhưng cũng may, cái sợ của tôi chỉ là trong tưởng tượng.

Cách đó không bao lâu, Tổng thống Diệm đột ngột ĺa đời, c̣n tôi cũng bị cho ra ŕa, ĺa khỏi Viện bảo tàng, trở về kiếp sống “hưu trí non”, và mười mấy năm làm thêm nơi viện nầy, không được kể vào tuổi thâm niên hưu trí, v́ trong khế ước, tôi là nhân viên công nhựt.

Nay xin có mấy hàng hồi kư, không phải tiếc ông Diệm, sự thật chỉ ngậm ngùi cho thân. Từng đọc bài thi Lăo ky qui y của ông Tôn Thọ Tường, càng thấm thía thấy thân sao giống hệt. Đối với riêng tôi, ông Diệm không có làm điều ǵ có hại cho cá nhân tôi.

Một phút gặp gỡ cũng là t́nh, dẫu không phải một bức t́nh chung, nhưng cũng đủ hư thân trọn đời. Tôi viết mấy trang nầy, chẳng qua để nhắc việc cũ, dẫu có người trách tôi c̣n tưởng niệm ông, thân nầy có thể ví với gái hư, nay đă già, cho nên thà ở góa ngồi ngoài lần chuỗi cho qua ngày tháng.

Gia Định 15-7-1968 chép lại 20-4-1975.

Vương Hồng Sển

Nguồn: Trích trong “Hơn Nửa Đời Hư

 

Ngun: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/vuong-hong-sen/ong-diem-lua-mua-do-su-co

 

 

 
  Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

L.m. Nguyễn Văn Khải - ĐHLKĐTDCNQ 08-11-12: Hiện t́nh đất nước