Diễn đàn                                                             

 

Chủ Nhật 20.4.1975

20041975

Trong cuốn hồi kư Đất Nước Tôi được xuất bản vào năm 2003, vị thủ tướng cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa là ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng:

“Cũng chính ngày 20 tháng 4 nầy, trong lúc Cộng Sản Bắc Việt đang chặt tay, chặt chân để bóp cổ và chọc thủng bụng theo thế đánh mà bọn chúng thường rêu rao để tuyên truyền th́ đồng minh của Việt Nam Cộng Ḥa đă “trảm thủ” miền Nam bằng một nhát gươm ân huệ. Thật vậy, sáng hôm ấy, Đại Sứ Martin đến gặp TT Thiệu. Sau khi Đại sứ Martin ra về th́ một màn khói im lặng và bí mật bao phủ Dinh Độc Lập cho đến sáng hôm sau” (Nguyễn Bá Cẩn: Đất Nước Tôi, Hoa Hoa Press, Derwood, Maryland, trang 420)

Ngày Chủ Nhật 20 tháng 4 không chỉ có Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin mà c̣n có cả đại sứ Pháp Mérillon đến hội kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập với mục đích thuyết phục ông từ chức để cứu văn t́nh h́nh v́ phe Cộng sản dứt khoát không chịu thương thuyết với ông. Theo Frank Snepp và các tác giả của bộ “The Vietnam experience” th́ Đại Sứ Mérillon vào gặp TT Thiệu trước Đại sứ Martin, tuy nhiên theo Oliver Todd th́ ông đại sứ Pháp vào gặp TT Thiệu sau ông đại sứ Hoa Kỳ.

Oliver Todd cho biết: vào ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mérillon đến Dinh Độc Lập một ḿnh và nói chuyện thẳng với TT Thiệu. Đại sứ Mérillon nói rằng: “Thưa Tổng Thống, tôi đến gặp Ngài tại v́ t́nh h́nh đă trở nên vô cùng nghiêm trọng. Không c̣n vấn đề quân sự nữa”. TT Thiệu không trả lời và Đại sứ Mérillon nói tiếp: “Tôi thấy chỉ c̣n là vấn đề chính trị. Cần phải để cho một tiến tŕnh dân chủ được khai triển”.

“Tổng Thống Thiệu ngồi nghe trong khi Đại sứ Mérillon tiếp tục tŕnh bày gần như là độc thoại về những thực tế mà ông Thiệu dần dần bắt đầu hiểu. Đại sứ Mérillon nói rằng chính phủ chỉ c̣n nắm giữ được vài thành phố lớn nhưng ba phần tư lănh thổ đă bị mất vào tay Cộng sản, rồi ông Đại sứ nói đến những mối liên lạc thân hữu giữa cá nhân hai người và cả giữa bà Thiệu và bà Mérillon nữa, ông kêu gọi đến trách nhiệm trước lịch sử, đến danh dự cá nhân và yêu cầu Tổng Thống Thiệu nên làm một sự hy sinh lớn lao cho dân tộc Việt Nam qua một sự thương thuyết không thể tránh khỏi để cho một vài quyền lợi nào đó c̣n có thể cứu văn được.

“Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói đến những tái phối trí cần thiết, về sự phản bội của Mỹ và tinh thần chủ bại của một số tướng lănh. Rồi Tổng Thống Thiệu kết thúc cuộc hội kiếh bằng mộtn câu nói rất b́nh dân: “thôi, tới đâu hay tới đó” và ông Đại sứ ra về” (ghi chú:Oliver Todd: sách đă dẫn, trang 312)

Vào hồi 10 giờ sáng, đến lượt Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin vào gặp Tổng Thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong một tiếng rưởi đồng hồ.

Đại sứ Martin trước hết tŕnh bày với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về nhận định của Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ đối với t́nh h́nh quân sự hiện tại. Thực ra th́ bản nhận định nầy đă được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích t́nh báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn Decent Interval, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đă được Polga, Giám Đốc CIA tại Sài G̣n ra chỉ thị phải “soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó. Đại sứ Martin sẽ dùng bản nhận định nầy để thuyết phục ông Thiệu rằng đă đến lúc ông ta phải ra đi”

Đại sứ Martin đă đưa cho TT Nguyễn Văn Thiệu bản nhận định do Frank Nepp viết nguyên văn như sau:

“Với cuộc sụp đổ của các cuộc pḥng thủ của quân đội của chính phủ quanh tỉnh lỵ Xuân Lộc và sự tiếp tục gia tăng tập trung quân đội của Cộng sản trong Vùng 3 Chiến Thuật cán cân lực lượng trong vùng chung quanh Sài G̣n hiện nay đă nghiêng về phía Bắc Việt và Việt Công. Mặc dù chính phủ vẫn c̣n có thể tăng viện cho một trong những mục tiêu có thể sẽ bị tấn công như Biên Ḥa – Long B́nh ở về phía Đông Sài G̣n, các tỉnh Long An, Hậu Nghĩa ở về phía Tây hay tỉnh B́nh Dương ở về phía Bắc, tuy nhiên lực lượng của chính phủ sẽ không đủ sức mạnh để pḥng thủ tất cả các mục tiêu nầy một cách hữu hiệu.Mặt khác về phía Bắc Việt và Việt công th́ chỉ trong ṿng ba hay bốn ngày, họ lại có đủ khả năng phóng ra những cuộc hành quân phối hợp trên mức nhiều sư đoàn vào tất cả những mục tiêu nầy. Như vậy th́ chính phủ VNCH sẽ phải đối phó với một t́nh trạng mà trong đó Sài G̣n sẽ bị cô lập và sẽ không c̣n liên lạc được với bên ngoài chỉ trong ṿng vài tuần lễ và có thể rơi vào tay của các lực lượng Bắc Việt – Việt Cộng trong ṿng 3 hay 4 tuần lễ.

(Frank Nepp nói rằng ông muốn viết “chỉ vài tuần lễ” nhưng Polgar không muốn như vậy. Frank Nepp cũng cho biết thêm rằng sau khi ra đi, ông Thiệu vẫn c̣n để bản nhận định nầy trên bàn giấy của ông trong Dinh Độc Lập. Khi VC chiếm Sài G̣n, Văn Tiến Dũng đă lấy được bản nhận định nầy và đă cho đăng nguyên văn trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông ta (ghi chú: Frank Nepp: sđd, trang 382)

Sau nầy, trong một buổi tường tŕnh với Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Mỹ vào ngày 22 tháng 1 năm 1976, Đại sứ Martin nói rằng ông ta đến gặp TT Thiệu “với tư cách cá nhân, ông ta không đại diện cho TT Gerald Ford, không đại diện cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger và cũng không nói chuyện với tư cách là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Ḥa, ông chỉ nói chuyện với tư cách là một người đă từng quan sát t́nh h́nh ở Đông Nam Á từ bao nhiêu năm qua và cũng là một người mà trong hai năm qua đă bỏ ra nhiều th́ giờ t́m hiểu tất cả ngọn ngành của các vấn đề quân sự tại Việt Nam”

Sau khi tŕnh bày với TT Thiệu về nhận định đầy đen tối về t́nh h́nh trong một vài ngày sắp tới, Đại sứ Martin nói rằng ông không hề nói với TT Thiệu là ông ta phải từ chức, ông “chỉ tŕnh bày với TT Thiệu một cách rơ ràng, chính xác và khách quan về nhận định của người Mỹ đối với t́nh h́nh hiện tại”

Đại sứ Martin nói rằng ông “nói với TT Thiệu, sau khi phân tích và so sánh lực lượng hai bên và nếu cả hai điều dồn lực lượng vào trận đánh cuối cùng th́ các cân quân sự về phía VNCH rất bi quan. Kết luận của tôi là nếu Cộng sản quyết tâm đánh để tiêu diệt Sài G̣n th́ Sài G̣n không thể cầm cự được hơn một tháng. Dù sự pḥng thủ có khéo léo, dũng cảm và quyết tâm đến đâu chăng nữa th́ cũng không thể kéo dài quá ba tuần lễ.

“Tôi nói, theo ư kiến của tôi th́ Hà Nội muốn giữ Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn Sài G̣n trở thành một đống gạch vụn khi họ chiếm đóng. Tuy nhiên không ai biết được một cách chắc chắn rằng Hà Nội sẽ không biến Sài G̣n thành b́nh địa nếu mà không có một sự thương thuyết nhằm vào việc đ́nh chiến” (ghi chú: Graham Martin: Bản Điều Trần Tại Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện Hoa Kỳ tại Washington ngày 22 tháng 1 năm 1976)

Đại sứ Martin nói trắng rằng đây là một việc mà chỉ có một ḿnh TT Thiệu mới có quyền quyết định, tuy nhiên ông Đại sứ cũng “nhắc khéo” TT Thiệu là đa số người Việt Nam đều quy trách ông Thiệu là người phải chịu trách nhiệm trước sự thăm bại quân sự trong hơn một tháng qua, đa số người Việt Nam không tin rằng ông Thiệu c̣n có đủ khả năng lănh đạo dất nước vượt qua cuộc khủng hoảng nầy và họ tin tưởng rằng nếu ông Thiệu ra đi th́ việc thương thuyết với phe Cộng sản sẽ dễ dàng hơn.

Tổng Thống Thiệu hỏi Đại sứ Martin rằng nếu ông ra đi, liệu quốc hội Hoa Kỳ có thay đổi ư kiến mà bỏ phiếu chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH hay không th́ Đại sứ Martin trả lời rằng nếu cách đây vài tháng, việc đó có thể giúp VNCH có thêm vài ba phiếu tại quốc hội Mỹ, tuy nhiên đó là việc đă qua. Đại sứ nói thêm rằng “giả thử như quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH đi nữa th́ sự viện trợ đó cũng không thể đến kịp thời để thay đổi t́nh h́nh quân sự tại miền Nam”

Thật ra th́ khoảng 10 ngày trước đó, vào ngày 10 tháng 4, TT Hoa Kỳ Gerald Ford trong một bài diễn văn được truyền h́nh trên toàn nước Mỹ đă cho biết rằng ông đă yêu cầu quốc hội cung cấp 722 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho VNCH theo đề nghị của Đại Tướng Frederick Weyand và c̣n xin thêm 250 triệu nữa để cung cấp thực phẩm, thuốc men và cứu trợ cho người tỵ nạn, tuy nhiên đề nghị đă bị Thượng Viện lúc bấy giờ do Đảng Dân Chủ kiểm soát ngâm tôm, không cứu xét.

Qua ngày 16 tháng 4, trong một bài diễn văn đọc trước “Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ (American Society of Newspaper Ediors), TT Ford đă lên án quốc hội bội ước không giữ đúng sự cam kết và nghĩa vụ trợ giúp cho VNCH trong khi Liên Xô và Trung Cộng lại gia tăng nổ lực viện trợ cho đồng minh của họ là Cộng sản Bắc Việt. Dùng ngôn từ của giới mộ điệu football, TT Ford nói rằng: “Tôi cảm thấy muốn phát bệnh khi mà trong hiệp chót (của trận football) nước Mỹ đă không có một nổ lực đặc biệt nào, không có một chút cam kết dù là nhỏ nhoi trong việc viện trợ kinh tế và quân sự mà VNCH cần phải có để có thể tránh được t́nh trạng bi thảm nầy”

Ngày hôm sau 17 tháng 4, Tiểu ban Quân vụ của Thượng Viện Hoa Kỳ do Đảng Dân Chủ kiểm soát biểu quyết không chấp thuận bất cứ viện trợ quân sự bổ nào cho VNCH, điều nầy có nghĩa là vấn đề viện trợ quân sự cho VNCH sẽ không c̣n được đưa ra cứu xét trước Thượng Viện Hoa Kỳ nữa.

Qua ngày 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô la dành cho nhiều nước trên thế giới, nhưng trong số những quốc gia nhận được viện trợ không có VNCH. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có c̣n tồn tại, VNCH cũng sẽ không c̣n nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa, không c̣n ngân khoản nào để mua súng đạn, nhiên liệu và cũng không c̣n để trả lương cho quân đội nữa.

Sau khi VNCH bị Cộng sản cưỡng chiếm, Đại sứ Graham Martin đă điều trần với quốc hội rằng: “Tôi nói với TT Nguyễn Văn Thiệu rằng kết luận của tôi là dù các sĩ quan trong quân đội vẫn c̣n phải tiếp tục chiến đấu, nhưng gần như hàu hết các vị tướng lănh của ông Thiệu đều tin rằng đó là một cuộc chiến vô vọng, trừ khi mà bên cạnh sự chiến đấu đó phải bắt đầu khởi sự tiến tŕnh thương thuyết. Tôi nói với ông Thiệu rằng các tướng lănh tin tưởng rằng tiến tŕnh đó không thể nào được khởi sự trừ khi ộng Thiệu ra đi hoặc là ông Thiệu phải thực hiện ngay tiến tŕnh thương thuyết đó với phe Cộng sản. Tôi nói tôi có cảm tưởng rằng nếu ông Thiệu không từ chức ngay tức khắc th́ các tướng lănh của ông buộc ông phải ra đi”

Sau khi Đại sứ Martin nói hết những điều cần nói. Tổng Thống Thiệu cam kết với ông Martin là ông “sẽ làm bất cứ những ǵ mà tôi nghĩ rằng có lợi nhất cho đất nước của chúng tôi. (*123: The Vietnam Experience, sđd, trang 136)

 

 

***

85 năm đời ta có đảng!

 

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

 

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

 

 

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

 

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

  

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc


 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.


 

Nguyên Thạch