Diễn đàn                                                             

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhimtrang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim được!!!

 


85 năm ĐCSVN đă làm được ǵ cho đất nước

***

   NguyễnThùy

                                                      Nhà Chính Trị và Nhà Thơ

          (để tưởng niệm Luật sư Lê Ngọc Chấn, phu quân nữ sĩ Vân Nương) - nt   

          Trên chính trường VN từ 1940 đến 1986, có một nhà chính trị được nhắc nhở nhưng cũng là nhà thơ mà rất ít người biết đến. Đấy là Luật sư Lê Ngọc Chấn, một đảng viên VNQDĐ. Làm tri huyện tại Thanh Hóa, bỏ về Hà Nội, tham gia VNQDĐ, hoạt động chống Pháp và chống cả Cộng sản. Sau vụ Ôn Như Hầu (1), Lê Ngọc Chấn vào Nam mở Văn pḥng Luật sư (đă cùng Luật sư Vương Quang Nhường biện hộ cho Ba Cụt Lê Quang Vinh) nhưng hoạt động chính trị là chính,  phó hết việc nhà, việc gia đ́nh cho vợ tận tụy đêm ngày để chồng yên tâm lo  chính trị.

          Lê Ngọc Chấn vốn không có khiếu thơ. Anh không làm thơ trong thời gian hoạt động chính trị, không làm thơ trong nhà tù. Anh chỉ bắt đầu làm thơ sau khi ra khỏi tù Cộng sản, trong cảnh nhà và cảnh t́nh đất nước héo hon, tan nát, lúc tuổi đời đă quá 60. Chỉ trong ṿng không đầy hai năm, thơ của anh liên tiếp ra đời, so ra không mấy thua kém thơ của bao người sành sơi.

         Thơ của anh có thể tập trung vào hai chủ đề chính.

         A.- T́nh tự Quê hương, Dân tộc.

          Lớp người của anh nào Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Ân, Trần Văn Tuyên, Hồ Hữu Tường, Trương Tử Anh, Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Ngọc Huy, Lương Trọng Nhân, Hoàng Tăng, Tŕnh Minh Thế và bao bao nữa, tiêu biểu cho cả một giai đoạn dài loạn ly, đen tối của dân tộc. Bao nhiêu biến chuyển dập dồn liên tiếp hầu như thoat khỏi tầm tay và năng lực của người VN. Họ đă phải trải qua liên tiếp nào từ thời Pháp thuộc đến Nhật thuộc đến thời Việt Minh cướp chính quyền rồi cuộc kháng chiến chống Pháp,  thời bao chính phủ khập khiễng ở Miền Nam do ư đồ của Thực dân (chính phủ Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bữu Lộc)  rồi đất nước phải cảnh chia đôi, tiếp theo là nền Đệ Nhất Công Ḥa, rồi rồi nền Đệ Nhị Cộng Ḥa với tập đoàn tướng lănh chuyên quyền, rồi Mỹ rút quân, Dương Văn Minh đầu hàng, cuối cùng Cộng sản chiếm trọn Miền Nam, phủ trùm lên dân tộc một chế độ sắt máu, đưa dân nước từ Bắc đến Nam vào cùng độ bi đát, điêu linh, có thể sắp sửa mất nước về tay giặc Tàu một khi tập đoàn Cộng sản c̣n thống trị đất nước như suốt 70 năm qua.

          Lớp người đó đă từng chứng kiến, vừa là chứng nhân vùa là nạn nhân của bao tấn tuồng thời cuộc đổi thay, đă tiếp xúc với bao tầng lớp nhân dân, với bao nhân vật tiêu biểu cho bao khuynh hướng Chính trị, Tôn giáo ; một số đă tham dự biết bao phong trào, hội nghị quốc nội cũng như quốc tế, nh́n ra được những cơ mưu xảo trá cùng những thủ đoạn bất nhân, những chủ trương, chính sách, những chiêu bài ma mị, những nhân danh quỷ quyệt, những tṛ tráo trở lật lường của quốc tế cũng như của bao tập đoàn trong nước giỡn đùa trên máu trên xương người dânViệt, trên mảnh đất nhỏ hẹp Việt Nam điêu tàn v́ hận thù và bom đạn. Một quyển tiểu thuyết ‘Chiến tranh và Ḥa b́nh VN’  hẳn phải dày bốn năm lần hơn tác phẩm của Léon Tolstoi. Có lẽ nên có một ‘Ṭa án Dân tộc’ hay rộng hơn một ‘Ṭa án nhân loại’ gấp mấy lần hơn Ṭa án Nuremberg để xử lại tất cả từ Chủ nghia, Lư thuyết, Chủ trương, Chính sách, Đường lối, Chiến lược, Chiến thuật đến âm mưu, thủ đoạn, ư đồ, mánh khóe, thủ thuật, toan tính, mưu đồ của quốc tế (Liên Xô, Trung quốc, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật,…) và quốc nội (Chính phủ, tập đoàn, đảng phái, tôn giáo, phong trào,…) ; từ nhũng kẻ chủ chốt trách nhiệm đến những kẻ tay sai, a ṭng ; từ Tư bản, Cộng sản, Quốc gia, tài phiệt,  đảng phiệt, giáo phiệt, quân phiệt đến những kẻ hoạt đầu, cơ hội, đầu cơ, tích trử, lợi dụng chiến tranh ; những tên con buôn nhỏ lớn, kể cả những nhà triết, nhà kỹ thuật, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc, kịch sĩ, ca sĩ, diễn viên điện ảnh, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền h́nh, những phong trào phản chiến, tả khuynh, hữu khuynh,…Vâng, thiết nghĩ nên có một Ṭa án nhu thế, nên có ‘Cuộc Phán xét cuối cùng’  của lịch sử  để ‘trả lại cho César những ǵ của César’, để trả lại Công nghĩa cho người VN, minh oan cho dân tộc VN.

          

                      -Hành tinh kiệt sức dạt về đâu….(LNC)

          

          Cả hành tinh nầy, trái đất nầy kiệt sức v́ hỗn mang của một VN điêu tàn, nơi tranh hùng tranh bá của số người ‘không óc tim v́ không xót đau’ (LNC).

 

          Thơ Lê Ngọc Chấn không sôi nổi rộn ràng, không u uất, buồn đau, ngào nghẹn, không mang chở những ẩn ức, bi lụy, thê thiết dậy dàng cũng không hoài cảm xót xa về quá khứ ḿnh hay ray rứt, ngậm ngùi dĩ văng vàng son của dân tộc. Lê Ngọc Chấn đă từng tranh đấu, đă nếm chua cay, đă thấy ḿnh thất bại, dân tộc ḿnh thất bại, Lê Ngọc Chấn có ngậm ngùi nhưng không bi thương như một Đặng Dung, cũng không ngạo mạn v́ u uất như một Nguyễn Bính (trong ‘Bài Hành Phương Nam’).

                    …Thấp thoáng giai nhân miền ảo giác

                    Muôn đời trần thế cháy tâm can

                    Được thua cũng chuyện thời cơ cả

                    Ta luận anh hùng giữa thế gian

  

                    Ngồi đây gát kiếm nh́n thiên hạ

                    Dĩ văng trôi vào ánh mắt xanh

                    Thế sự âu đành cơ chuyển nước

                    Phong trần một kiếm nhục ḥa vnh

                                           L.N.C. (Gió lộng bốn phương)

          Sài-G̣n vỡ, Miền Nam rơi, chế độ VNCH sụp,.., chế độ VNCH, một chế độ mà LNC cùng bao đồng chí và người yêu nước thương ṇi không mấy ưa thích nhưng ngh́n lần dễ chịu, tốt đẹp hơn so với chế độ của đối phương, và thân ḿnh bắt buộc phải năm năm trong trại tù Cộng sản ‘Đêm khuya khoắc lũng sâu vuợn hú, Sáng tinh mơ đầu rú cọp gầm, Bốn bề hiu hắt lạnh câm, Đất xông khí đá trời ngâm sa mù’ (nt & tmx : VN tânhuyết sử diễn ca). Rồi ngày ra khỏi trại tù, bệnh tật, đau lên đau xuống, đôi chân từng lúc run run, nh́n nhà quạnh quẽ, nh́n vợ héo hon, nh́n dân nước rũ ṃn kiệt quệ, con người chiến sĩ ấy thấy không c̣n khả năng gầy dựng lại giữa điêu tàn Đau cho ḿnh, đau cho đất nước, cái phong độ chiến sĩ vẫn âm ỉ từng cơn. Không thể thể hiện cái phong độ ra cho đời được nữa th́ gởi vào thơ -bắt đầu làm thơ- để trấn át cô đơn, để giải bày, trao gởi với chính ḿnh. Thơ làm chỉ cho ḿnh đọc với người vợ hiền trong căn nhà đ́u hiu, mơi ṃn ngày lên đường đoàn tụ với con cái tại Pháp. Nhưng chế độ mới dễ ǵ buông tha. Đối với họ, năm năm tù của anh quá ít, cái giá trả quá thấp cho nỗi căm hờn của họ trút đổ vào anh, vào bao người yêu nước, yêu dân. Họ biết rơ rằng với hiểu biết và khả năng của anh, với quá tŕnh tranh đấu của anh, với sự yêu thương và kính mến của đồng chí, đồng bào và với uy tín cùng quen biết của anh với nhiều nhân vật ngoại quốc, sang xứ người, nhất định anh không ‘gát kiếm’ ngồi yên mà lại gây ra bao điều khó khăn cho chúng. Những người như anh, như Trần Văn Tuyên và bao bao nữa, chúng không làm cho sớm chết th́ cũng phải điêu đứng, đọa đày ngay trong ‘tù ngục quê hương’(!). Và họ đă toại nguyện, anh đă phải chết trong lạnh buồn, tê tái sau khi ra khỏi tù không quá hai năm.

          Trong những ngày quạnh quẽ, vô tích sụ đó, c̣n biết làm ǵ hơn là ‘làm thơ’ như một Phan Bội Châu một thời bị thực dâm giam lỏng ở Huế. Làm thơ để phần nào tự ḿnh ‘giải thoát’ cho ḿnh v́ rằng : ‘Phong vũ hoài nhân dư ư chí, Trần ai hại ngă đản văn chương’ - Nguyễn Thượn Hiền –(Mưa gió nhớ người thừa ư chí, Trần ai hại tớ, có văn chương – Dương Hồng Ngọc dịch – Trích trong ‘Thơ Nguyễn Du’ của Dương Hồng Ngọc, Institut du Sud Est ấn hành Paris 1983).

                    Thấp thoáng giai nhân miền ảo giác

                 Muôn đời trần thế cháy tâm can             (L.N.C.)

          Người viết liên tưởng đến lời thơ Nguyễn Du : ‘Trắc thân bất khuất hữu h́nh ngoại, Thiên tuế trường ưu vị tử tiền’ (tạm dịch : Hữu h́nh thân ấy không tồn tại, Vẫn nghĩ ngh́n sau chuyện thế trần). Trước khi chết vẫn lo nghĩ chuyện ngh́n sau nhân thế, Nguyễn Du thao thức về tấm ḷng nhân đạo và lẽ chuyển dịch trớ trêu của Lẽ Đạo đối với diễn tiến nhân sinh. Lê Ngọc Chấn gần gũi hơn, xót xa v́ t́nh dân cảnh nước, không thể nào thanh thản, yên vui trước lầm than của dân tộc, giống ṇi.

          Nỗi buồn cho vận nước, vận ḿnh lắng đọng vào tim, âm ỉ đêm ngày nhưng Lê Ngọc Chấn không âm thầm chịu chết trong nỗi buồn đó. Cho dù trong thời c̣n sức lực, khả năng và điều kiện đấu tranh hay lúc ván bài ngă ngũ mà ḿnh là kẻ thua cuộc  để cả đất nước, dân tộc phải bầm giập, tái tê th́ vẫn nuôi măi ‘muôn đời trần thế cháy tâm can’. Cái ‘cháy tâm can muôn đời trần thế’ đó, lúc nh́n lại ḿnh không c̣n chút điều kiện vẫy vùng nào, đành gát kiếm luận anh hùng về ḿnh, về người, chuyển thành lời nhắn nhủ với bạn bè và vói chính cả ḷng ḿnh :

                    -Quê hương măi ở ḷng ta đó

                     Vàng đá là đây nhắn nhủ lời

          Lời thơ không bi lụy, không xót xa. Lời thơ man mác ngân vang âm hưởng, mênh mang niềm tin và hướng vọng. ‘Nhắn nhủ’, vâng, nhắn nhủ, không đóng vai một ‘kẻ đi trước’, ‘kẻ đàn anh’ để chuyển giao, phó thác trách nhiệm cho người sau mà chỉ muốn chia sẻ, gởi trao trong thân thương, cảm thông, giao ngộ.

          Lê Ngọc Chấn không chán nản, tuyệt vọng. Anh âm thầm nhận chịu niềm đau và nỗi thất bại của ḿnh. Trong t́nh thế không cho phép ḿnh làm đuợc bất cứ ǵ, anh vẫn nuôi niềm tin và gây niềm tin đó nơi người, nơi đời :

                    -Đoàn người lại thấy nắm tay nhau

                     Ca hát vui tươi khắp địa cầu

                     Chung sức chung ḷng xây hạnh phúc

                     Từ ngày nay cho đến ngàn sau…

          Cái ‘nh́n’ của anh không c̣n giới hạn nơi người, nơi mảnh đất Việt Nam mà mở rộng đến nhân loại, đến toàn thể địa cầu. Do đâu ? Do tù Thơ :

                    -Nhưng có hồn thơ bỗng hiện về….

          Việt Nam hồi sinh, nhân loại hồi sinh do từ Thơ. Thơ, thứ rẻ tiền nhất thế giới, thứ không cần mua sắm bất cứ phương tiện vật liệu nào, thứ không có gía trị thực dụng nào cho cuộc sống thường nhật, thứ không là loại hàng hóa tiêu dùng, không tạo ra văn minh,..nhưng Thơ là ‘Tính thể’, là cái ‘Hồn’, là chất ‘Lửa thiêng’. Không có chất Lửa thiêng đó, con người bên ngoài ph́nh ra nhưng bên trong teo lại chẳng khác tên khổng lồ múa may, ḥ hét mà không óc tim hay chỉ có óc tim của loài hổ sói.

          Thơ, vâng, Thơ là chất sống của người Việt Nam dù trí thức hay b́nh dân, dù xưa hay nay. Trong lúc thế giới ngày nay hầu như quên Thơ, không lắm tha thiết với Thơ th́ người Việt Nam vẫn tiếp tục thích Thơ, nghe Thơ, ngâm Thơ, yêu Thơ và làm Thơ. Thơ để phản ảnh, để đề kháng, để giải tỏa, để trao gởi, cảm thông, để hướng vọng, dựng xây một trí tuệ ḥa nhập khối óc với con tim,  đức tin và lư trí, t́nh và lư, con người với con người, con người với cuộc sống, với cuộc đời, con người với thiên nhiên, với Thuợng Đế, với Lẽ Đạo huyền vi để Văn minh và Văn hóa, tiến bộ và tiến hóa luôn luôn đồng hành, kết hợp, luôn luôn thăng hoa ḿnh và xă hội.

                    -…Cùng nhau vào hội thơ nầy

                     Núi sông quy tụ, cỏ cây ngát mùa

                     Khúc đàn tuyệt diệu năm xưa

                     Dư âm đẹp măi bến bờ trăng sao

                     Tâm tư cô đọng thưở nào

                     Lời thơ châu ngọc gởi vào thiên thu.

          Và Lê Ngọc Chấn làm thơ dù không năng khiếu về Thơ. Trước tiên có thể do nhu cầu của chính ḿnh. Trong t́nh thế không tể ẩn náu vào một nơi nào b́nh an th́ ẩn náu vào Thơ, sau đó để trao gởi, nhắn nhủ và tạo cảm thông.

                   -…Có những phút giây tứ dạt dào

                    Chuyện đời, chuyện nước, chuyện chiêm bao

                    Suối nguồn êm ả trôi ngoài nội

                    Để thấy người người nét nhă tao..

 

                    Đô thị giờ đây vàng nắng úa

                    Mây trời lăng đăng giữa rừng thông

                    Ngồi đây gom lại niềm tâm sự

                    Nghe rộn ḷng vui nỗi cảm thông..

          Thơ là để cảm thông, cảm thông những trắc trở, truân chuyên của phận người, của ḍng đời nhân thế, cảm thông ḍng lịch sử hưng phế, thăng trầm của dân tộc, của nhân loại nói chung. Có cảm thông mới có ‘hồi đầu’ để chung sức, chung ḷng xây dựng những ǵ tốt đẹp cho nhau.

          Sống bên người vợ từng làm thơ trước anh lâu lắm, tiếp xúc với bạn bè cũng là những nhà thơ, bạn của vợ và bạn của ḿnh (Mộng Tuyết, Uyển Hương, Như Hiên, Thu Nga, Tuệ Nga, Hoàng Hoa Trang, Cao Mỵ Nhân, Trần Thiện Hiếu,…), anh làm thơ tặng họ v́ chỉ có họ mới cảm thông được tâm sự anh nhưng thật ra để ‘tự ḿnh cảm thông, tâm sự với ḿnh’ và trao gởi nguồn cảm thông đó đến mọi người vừa gây tin tưởng vừa như khuyến khích :

                    -…Từng lớp biển dâu từng lớp sử

                     Ḍng đời  lặng lẽ buớc kiên trinh

                     Tơ vàng sợi óng thương thân kén

                     Bàng bạc hương trời tâm hướng linh..

                                            L.N.C.(Hoa thơ từng lớp rụng trang đời)

                       -…Mặc cho vật đổi với sao dời

                    Lời thơ tao nhă

                                             Niềm chung thủy

                    Măi với thời gian, với đất trời !

                                             L.N.C.(Tô vẻ đẹp)

          Như đă nói, Lê Ngọc Chấn không hề phản ảnh cuộc sống ch́m nổi của ḿnh, không hề nhắc đến thời ‘oanh liệt’ (tạm gọi thế) của thuở làm quan, cáng đáng bao trách vụ trọng yếu,  không phản ảnh giai đoạn bi đát của lịch sử, cũng không nói đến thời gian khổ lụy nơi tù ngục, không hề đả động đến Cộng sản một lời nào. Anh không hoài cảm, tiếc nuối, không phẫn nộ, hờn căm, không quy lỗi cho ai. Hầu như nơi anh, vấn đề là do lịch sử, do cuộc đời thử thách chí hướng và can trường của kẻ trượng phu. V́ thế, có phải cảnh ‘Ngồi đây gát kiếm nh́n thiên hạ’ th́ cái chí của kẻ anh hùng, cái hoài bảo ‘xoay bạch ốc lại lâu đài’ như một Cao Bá Quát xưa kia cũng không lúc nào không sôi động nơi tấm ḷng con người ‘muôn đời trần thế cháy tâm can’ :

                    -…Nợ sông hồ ai trả ai vay

                     Trải bước thăng trầm cuộc tĩnh say !

                     Chí cả vươn theo ḍng thế sự

                     Đường trần đâu mơi cánh Bằng bay !

                                                   (Nợ sông hồ)

          ‘Cánh Bằng không mơi cánh’, tấm ḷng trung dũng với ước non, dân tộc, không v́ gian nan mà lịm tắt. Anh đem cất giữ vào tim, vào óc, chờ lúc lại săi cánh tung bay. Từng đêm, từng đêm, nh́n lại quăng đời đầy gảy đổ của ḿnh, anh có ray rứt v́ thế sự mang mang th́ vẫn vang vang lời ḥ hẹn với non sông ;

                    -…Mộng hồng một thưở hương gay gắt

                     Rượu đắng thiên thu khó cạn sầu

                     Vũ trụ mang mang ṿng ảo ảnh

                     Giang sơn ḥ hẹn trắng canh thâu !

                                                  (Nợ sông hồ)

          Nh́n chung, t́nh tự dân tộc, quê hương, đất nước nơi Lê Ngọc Chấn rộn ràng, sôi nổi nhưng lắng ch́m vào bên trong , thể hiện ra bên ngoài bằng nỗi niềm cảm thông trao gởi, nhắn nhủ một cách nhẹ nhàng trong lúc  thâm tâm vẫn trĩu nặng thương đau cùng lúc với lời ‘vàng đá sắt son’ cùng dân tộc, giống ṇi. Dù không gặp mặt Lê Ngọc Chấn, chỉ riêng qua thơ anh, ta thấy rơ cái ‘sĩ khí trượng phu’ của tinh thần Nho giáo nơi một kẻ tân học, có vấp ngă, có khổ lụy nhưng nhận chịu, không trách ḿnh, không oán người, không t́m cách đổ lỗi và biện hộ, luôn luôn nưôi dưỡng cái chí khí nơi ḿnh dù thời thế đảo điên không cho ḿnh cơ duyên thực hiện.

          Chỉ một lần, một lần duy nhất, qua bài ‘Kiếp đọa đày’, anh mới phản ảnh ít nhiều số kiếp lầm than của nhân dân, cái hiện thực bi đát của lịch  sử bấy giờ v́ không thể ‘nén’ đau thương trước cảnh những em bé bị giập giồi v́ sóng biển trên nhũng mảng bè vuợt biển mỏng manh, èo ụt, phải làm  mồi cho ḱnh ngư hay vùi sâu vào đáy đại duơng.

          Anh có oán trách, phẫn nộ không v́ phận ḿnh trôi nổi, thân ḿnh bị kẻ thù tra khảo mà chỉ v́ ‘ḷng nhân đạo’ nơi con người, ḷng nhân đạo mà ít nhiều ai cũng có –ngoài bọn Cộng sản- Ḷng nhân đạo đă kết tụ nơi anh tấm ‘t́nh nhân loại’ mà anh diễn tả trong một số bài thơ khác.‘t́nh nhân loại’ đó lại là động lực để anh tin tưởng, đồng thời cũng là động cơ để anh tranh đấu.

          T́nh tự dân tộc c̣n được phản ảnh nơi anh về truyền thống lịch sử của giống ṇi. Anh gợi lại vẻ đẹp của đất nước và lịch sử dựng nước, giữ nuớc mà tất cả đều rơ, không cần thiết trích ra nơi đây. Cái quê hương đó, cái lịch sử đó đang bị xéo dày, tiêu tan hết mọi vẻ đẹp, mọi nét kiêu hùng bỡi lũ người chạy theo ngoại bang, bán đứng giang san, tổ quốc :

                    -..Cuộc đời dâu bể đa đoan

                     Bao năm đất mẹ lầm than rối bời

                     …..

                     Rừng sâu biển thẳm một trời đau thương

                     Giáo điều áp đặt từ chương

                     Phuơng tŕnh xứ lạ, Quê Hương điêu tàn..

                                                      L.N.C. (gia tài của Mẹ)

          Nhưng, mọi người Việt Nam đang nơi quê hương lầm than hay nơi hải ngoại tha phương vẫn

                    -..Cùng nhau nghĩa nặng đất trời

                     Hồn thiêng quê Mẹ khôn rời tấc gang

th́ rồi

                    -…Mai nầy khơi lại niềm tin

                     Gia tài Mẹ đấy nhịp tim phục hồi !

          Niềm tin đó luôn sống động nơi anh để càng truân chuyên, càng bị đày đọa, anh càng thấy NÓ rực sáng thêm lên.

 

          B.- Ḷng nhân đạo của loài người. Ḷng nhân đạo, dễ hiểu thôi, đấy là t́nh thương giữa người và người ra tay đùm bọc, giúp đỡ, cứu vớt người qua cơn hoạn nạn, tai ương. Ḷng nhân đạo trở thành cái ‘T́nh nhân loại’ nơi con người, nơi tất cả mọi người, nơi tất cả mọi dân tộc, ngoại trừ số người ‘không óc tim v́ không xót đau’. Chính đấy là yếu tố đưa con người từ trạng thái dă thú sang trạng thái con người có văn minh, văn hóa :

                    -Trong đêm dày tăm tối

                     Thời huyền sử mịt mùng

                     Bỗng con dă thú rùng ḿnh đứng dậy

                     Đi hai chân, ngửa mặt nh́n trời

                     Và do một phép màu nhiệm nào

                     Một ánh trí tuệ, một tia nhân đạo

                     Đă chói chang vào tim óc

                     Cho dă thú biết suy nghĩ, yêu thương

                     Để trở thành CON NGƯỜI ! 

                                                (Tia nhân đạo)

          Không có ḷng nhân đạo đó, con người măi măi là dă thú dù có văn minh đến mấy. Ngày nay, ta thường gọi một kẻ nào đó, một nhóm nguời, một bộ tộc nào đó là  ‘dă man’, ‘man rợ’ v́ đă thiếu ḷng nhân đạo kia, dù họ có văn minh, tiến bộ như ta hoặc c̣n hơn ta nữa. Thế giới nầy đă phải trải chịu bao lần -đến nay vẫn c̣n- cái ‘dă thú’, cái ‘dă man’ của con người, không riêng từng người mà cả một lớp người tự khoác vào ḿnh những nhân danh, nhăn hiệu tốt đẹp để thẳng tay bóc lột, đàn áp, sát hại, giết chóc bằng mọi thủ đoạn tàn ác, bất nhân hàng ngàn, hàng triệu sinh linh bằng mọi cách công khai hay ám tàng. Những kẻ đó, xét cho cùng, dù văn minh, tiến bộ gấp ngh́n lần hơn ta th́ cũng chỉ là những ‘dă thú’ thôi. Lịch sử thế giới đă phải trải qua bao chế độ ‘văn minh man rợ’ cùng cái ‘man rợ của văn minh’. Và Việt Nam đă là địa bàn phải gánh chịu cùng lúc cả hai thứ ‘man rợ’ đó, than ôi ! V́ thế, nhân loại chỉ thực sự đáng gọi là tiến bộ, đáng gọi là văn minh, văn hóa, thực sự trưởng thành khi ḷng nhân đạo càng lúc càng nẩy nở tốt tươi. Lê Ngọc Chấn không cần triết lư, không cần dài ḍng, không cần chứng minh qua bao thuyết tiến hóa, qua bao nguồn triết lư, tôn giáo, đạo đức, xác nhận ngay :

                    -Và từ đó mỗi lần hoa Nhân Ái bừng nở

                     Là một lần nhân loại LỚN thêm lên ! 

                                              (Tia nhân đạo)

          Lê Ngọc Chấn có thể đem kiến thức luật học của ḿnh vào đây nhưng không cần thiết. V́ đây là Thơ không là luận thuyết về luật pháp. Đối tuợng phục vụ của luật pháp là Công b́nh và sự B́nh đẵng giữa nhau nhưng cứu cánh của Công b́nh, B́nh đẵng chẳng là T́nh thương sao, t́nh thương giữa từng người với từng người rồi mở rộng đến tất cả mọi người.

          T́nh  thương đă khiến con người thực sự là người. T́nh thương thể hiện nơi một người đối với một người không quen biết được gọi là ‘ḷng nhân đạo’. Đẹp biết bao việc làm của bao tấm ḷng thiện nguyện, của các cơ quan từ thiện, của các Hội thiện nguyện quốc tế cùng bao kẻ v́ ḷng nhân đạo, v́ t́nh yêu người, yêu đời đă cam chịu bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn để cứu trợ, đùm bọc bao nhiêu nạn nhân bị băo lụt, động đất, sóng thần, bị bệnh dịch hoành hành, bị chiến tranh, bị khủng bố,…v́ đă phần nào giảm thiểu đau khổ, đói nghèo, …cho bao nhiêu người chưa hề quen mặt, biết tên. Đấy là điều mà Đức Phật và Chúa Jésus đă căn dặn đệ tử ḿnh ‘bố thí tay trao mà mắt nhắm’, ‘Tay phải trao mà không cho tay trái biết’.

          T́nh Nhân loại đó đă đến với một phần nhân dân Việt Nam đă phải trải chịu cảnh đoạn trường lệ máu, bi thảm do cái ‘dă thú’ của một số người VN khác đang cầm quyền thẳng tay chà đạp đồng bào ḿnh :

                    -Tôi viết ra đây khúc đoạn trường

                     Nước non tôi sống, nguời tôi thương

                     Một cơn băo táp mờ sông núi

                     Để giống ṇi tan tác bốn phương..

          Ḷng nhân đạo đó đă cứu sống hàng trăm ngàn, hàng triệu người VN thoát khỏi tử thần và đă cho họ cuộc sống yên b́nh nơi những xứ sở tự do. Họ đă từ cơi chết trở về cơi sống :

                     -… Ṿm trời cao rộng

                     Ánh sáng tự do

                     Bàn tay người xoa dịu vết thương đau…

                                                        (Đất Lành)

          Cảm tạ Thượng Đế ! Cảm tạ loài người văn minnh có ḷng nhân ái. Lời cảm tạ đó đă được người  Việt hải ngoại khắp năm châu đă nói, đă phổ vào Thơ, vào Truyện qua những trang thư, những bài báo tri ân và cũng đă dựng tượng đài kỷ niệm những tấm ḷng cao quí tuyệt vời.

          Lê Ngọc Chấn không vượt biển, không là nạn nhân của băo tố, cuồng phong, không làm mồi cho ḱnh ngư, hải tặc. Lê Ngọc Chấn chỉ nghe nói, nghe kể nhưng anh đă ‘sống’ cái kiếp bi thảm, thê lương của số đồng bào ḿnh. Lê Ngọc Chấn đă xúc động trước ḷng nhân đạo của loài nguời, cảm tạ và tri ân. Ḷng cảm tạ không gởi riêng ai, riêng nhân dân và chính phủ nước nào mà gởi chung cho tất cả. Thực ra không riêng là lời cảm tạ mà là ‘Tiếng thốt’ cao lên từ cơi ḷng sung sướng, từ nỗi xúc động dâng tràn bằng một cử chỉ, thái độ mạnh hùng, kính cẩn, nghiêm trang, bằng một lời tôn vinh mạnh mẽ về cái tính ‘Nhân Bản’ sâu dày nơi bao người không quen mặt biết tên, những con người thực sự văn minh và có văn hóa :

                    -Tôi đứng lên ! Cúi đầu chào thế kỷ

                     Đẹp là đây ! Cao quí cũng là đây !

                     Người giúp chúng tôi thoát khỏi đọa đày

                     Để thực sự làm con người măi măi… 

                                                     (Đất Lành)

          Lê Ngọc Chấn ‘cúi đầu chào thế kỷ’ v́ chỉ ở thế kỷ nầy mới có sự ‘ra đi’ của người Việt Nam bất hạnh lũ lũ, đoàn đoàn, hàng hàng, lớp lớp trong bi thảm, tuyệt vọng, một cuộc ‘liều tử sinh’ nguy hiểm, một phiêu lưu vào hiểm họa, một mạo hiểm lao ḿnh vào cơi chết để mong t́m được tự do sau những tháng ngày lệ đỏ, xương phơi nơi quê nhà.

        Lê Ngọc Chấn đă ‘cúi đầu chào thế kỷ’, nhân cách hóa thế kỷ nầy (Người giúp chúng tôi) với tất cả niềm sung sướng và niềm tin. Niềm tin vào cái t́nh nhân loại đó là một trong những điều mà anh đă đấu tranh  không riêng cho đất nước ḿnh mà cho Con Người, cho nhân loại nói chung. Đấy là một điều căn bản trong lư tưởng chiến đấu của anh. Tiếc thay anh đă phải hiu hắt ‘ra đi’ do cố t́nh, cố ư của Cộng sản để chúng ta u uất đau buồn v́ mất đi một chiến sĩ đấu tranh cho nhân quyền, nhân bản.

        Cũng nên nói qua về ‘h́nh thức’ nơi thơ anh.

        Thơ người lớn tuổi và chỉ chuyên làm chính trị thường chú ư về nội dung, về ư, về t́nh hơn là về kết cấu, bố cục và lời thơ. Từ đó, Thơ không mắc phải tính cách cân nhắc từng chữ, từng lời sao cho trau chuốt, bóng bẩy, văn hoa. Ta không t́m thấy nơi thơ anh một h́nh ảnh nào nên thơ, thi vị, không một từ ngữ nào màu mè, không một biện pháp tu từ nào sinh động ; không đảo ngữ, ẩn dụ, thậm xưng, tỷ giảo, đảo ngữ, ngoa ngôn,…

        Thơ Lê Ngọc Chấn rất ‘hiền’, rất thật, dung dị, tự nhiên, không ‘phấn son’, đẻo gọt.Thơ anh, nh́n chung, b́nh dị, thật thà, gọn ghẽ, đôi khi như nói, không mang tính nhạc, không đập mạnh vào nhăn quan, thính giác của ta. Đây là thơ của người chiến sĩ bị ‘gảy kiếm cung’ nên chỉ ẩn chứa cái khí phách hào hùng trang trải với ḿnh, với đời, thường mang tính ‘tự sự’, nói với ḿnh, nói riêng ḿnh nghe thôi. Đừng t́m cái hoàn toàn cả ư và lời nơi thơ anh. Thơ nếu được cả hai th́ quá đẹp nhưng nếu lời hay mà ư rỗng th́ chỉ là kỹ thuật ; ngược lại ư hay mà lời không đẹp th́ cũng là một khuyết điểm nhưng ít ra c̣n khá hơn là lời hay mà ư rỗng v́ mang chở cái giản dị, thành thật chứ không cố ư ‘làm đỏm’, phô trương. Nếu trong Văn, ư thường đi trước lời th́ trong Thơ nhiều khi Lời đi trước Ư. Với thơ Lê Ngọc Chấn, lời buộc phải theo ư mà ư của anh lại là ư của người chiến sĩ chứ không là ư của nhà thơ đă quen sống với thơ.       

        Không thể đ̣i hỏi  quá nhiều  về cách toàn bích nơi thơ một người như anh, người làm thơ với hồn thơ sẵn có. Tuy nhiên, một người đă viết những câu :

                    -Muôn đời trần thế cháy tâm can

                    -Một thưở ra đi đổi đất trời

                    -Hành tinh kiệt sức dạt về đâu

                    -Tôi đứng lên ! Cúi đầu chào thế kỷ….

th́ tâm hồn hẳn phải sâu đậm, cao quí và ư chí hào hùng biết mấy. Điều cốt yếu, khi đọc thơ, đọc văn là ‘thấy được, nh́n ra’ cái tâm hồn của tác giả qua thơ văn. Mà cái sâu đậm của hồn chính là cái súc tích của thơ.

Anh Chấn,

Cảm tạ thơ anh đă cho tôi nh́n ra anh rơ hơn. Anh đă ra đi, đáng tiếc ! Bên kia thế giới, hẳn anh vẫn ngậm ngùi về đất nước c̣n lầm than, điêu đứng ; hẳn anh vẫn kỳ vọng bao người đem sức đem ḷng dựng xây xứ sở cho toàn dân no ấm, hưởng đủ mọi quyền người ; hẳn anh cầu nguyện cho tất cả mọi người phát huy tinh thần bao dung, nhân ái. Và cánh cửa thế giới bên kia chỉ ‘khép hờ’ lại thôi chứ không đóng hẳn để anh và bao bao người như anh nh́n về bên nầy, thấy được một Việt Nam vào ngày tuơi sáng như anh từng mong.

Gởi anh đôi ḍng về anh và về Việt Nam sớm đến giờ thực sự vinh quang :

                     -Hỡi Người, biết nói ǵ đây

                      Gần nhau gang tấc, xa dài trùng dương

                      Mây ngàn, gió núi, trăng sương

                      Thơ reo lửa dậy, t́nh vương tim hồng

                      Bao giờ cánh én qua sông

                      Theo ṿng nhật nguyệt, thuận ḍng luân lưu

                      Cho người được ở bên người

                      T́nh vui lại ấm cơi trời Việt Nam

                      Trùng trùng thế sự đa đoan

                      Xa vời con nuớc, mênh mang bến bờ

                      Cánh thuyền lạc nẻo bơ vơ

                      Hỏi Người, Người có đợi giờ triều lên !?

                     

                     Mỗi lần nghe gọi tên Em (Việt Nam)

                          Chừng như vũ trụ trở đêm vào ngày…

                     ……..

                     Bài thơ viết dở.., nào hay

                     Cửa kia dẫu đóng nào cài được then !

Cảm tạ Anh và Thơ anh.

nt

(Bài nầy được trích có rút gọn đôi đoạn trong tập ‘Nhớ Một Nguời Đi’ của nữ sĩ Vân Nương thực hiện, để kỷ niệm 10 năm giỗ anh Chấn, sau khi nhận được bài viết của tôi về thơ hai nguời)

 

 

 

 

 

 

***

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

 

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

 

 

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

 

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

  

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc


 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.


 

Nguyên Thạch