báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                             

 

 Trần Đông Phong

VNCH - 10 ngày cuối cùng 

Thứ ba 29.04.1975: Cụ Trần Văn Hương không hề nhận “quyền công dân” của cộng sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 th́ Cụ vẫn c̣n là công dân của Việt Nam Cộng Ḥa.

ditan_benbachdang197520100315fall_of_saigon

Vào lúc 4 giờ Sáng ngày 29, cộng quân pháo kích nhiều trái đạn đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly vào khu vực Phi Trường Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa và Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bến Bạch Đằng. Cuộc pháo kích này đă gây nhiều tổn thất quan trọng tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt: Một chiếc C-130 của Không Lực Hoa Kỳ bị trúng đạn khi sắp sửa cất cánh, hai chiếc C- 130 khác chở người tỵ nạn may mắn đă cất cánh trước đó chừng vài ba phút và hai Binh Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Hạ Sĩ Darwin Judge và Hạ Sĩ Cbarles McMahon, vừa mới được đưa đến Sài G̣n cách đó 10 ngày để phụ trách về an ninh cho chiến dịch di tản Mỹ kiều, bị tử thương trong ṿng đai pḥng thủ Phi Trường. Hai binh sĩ này là hai người Mỹ cuối cùng bị thiệt mạng trong lịch sử Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam trong hai thập niên.

Một điều đáng chú ư là dường như McMahon là một cái tên định mệnh: Người Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam là Trung Tá Peter Dewey, nhân viên của cơ quan T́nh Báo OSS, là một người Mỹ rất ủng hộ Việt Minh, ông ta đă nhiều lần lên tiếng phản đối người Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các đại diện của Việt Minh, do đó đă bị người Pháp yêu cầu phải rời khỏi Sài G̣n. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trung Tá Dewey phải trở về Ấn Độ, tuy nhiên v́ máy bay bị trục trặc, ông từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt lái xe trở về Sài G̣n ăn trưa và đă bị tự vệ của Việt Minh tưởng lầm là người Pháp cho nên bắn chết tại cầu McMahon, lúc đó người Việt Nam gọi là cầu “Bạc Má Hồng”, sau này là cầu Công Lư. Đúng 30 năm sau th́ người Mỹ cuối cùng bị giết chết tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt v́ đạn pháo kích của quân cộng sản Bắc Việt vào rạng sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 là một Hạ Sĩ Quan Mỹ cũng mang tên là McMahon, cái tên mà người Việt ngày xa đă gọi là “bạc má hồng”.

Sau trận pháo kích này, kế hoạch di tản người Mỹ và người Việt tỵ nạn bằng phi cơ C-130 xem như là bị hủy bỏ hoàn toàn v́ Phi Trường Tân Sơn Nhứt đă bị hư hại nặng nề.

Đến 10 giờ 30 sáng, Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quân Sự tại Sài G̣n, gọi điện thoại cho Đô Đốc Noel Gayler, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương tại Honolulu báo cáo rằng Phi Trường Tân Sơn Nhứt không c̣n ở trong t́nh trạng sử dụng được nữa. Tin này được tŕnh lên cho Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger đang tham dự phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung và ông ta đă phúc tŕnh ngay cho Tổng Thống Ford.

Vào lúc 7 giờ sáng tại Washington tức là 7 giờ tối tại Sài G̣n, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đă triệu tập một phiên họp khẩn cấp dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Gerald Ford với sự hiện diện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger, Đại Tướng George Brown, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân (Jcs) và ông William Colby, Tổng Giám Đốc Cơ Quan T́nh Báo CIA. Phiên họp đặc biệt này nhắm vào việc t́m giải pháp hữu hiệu để di tản những người Mỹ c̣n lại ở Sài G̣n. Ngoại Trưởng Kissinger bác bỏ đề nghị sử dụng khu trục cơ để hộ tống cho phi cơ vận tải C-130, ông nói rằng nên thận trọng không có những hành động tấn công gây hấn để gây hiểu lầm cho Hà Nội trong lúc này. Sau cùng th́ Hội Đồng chấp thuận đề nghị dung ḥa của Đại Tướng George Brown, đó là thử dùng 7 phi cơ C-130 từ Phi Luật Tân và Thái Lan bay đến Phi Trường Tân Sơn Nhứt, nếu những phi cơ này c̣n đáp xuống được th́ chiến dịch di tản bằng phi cơ có cánh sẽ tiếp tục, tuy nhiên trong trường hợp phi đạo không c̣n sử dụng được th́ phải quay sang sử dụng kế hoạch cuối cùng, đó là kế hoạch “Frequent Wind: Option-IV”.

Đến 9 giờ 45 sáng, Tổng Thống Ford đă triệu tập một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung. Mở đầu phiên họp, Tổng Thống Ford nói rằng “trong hai tuần lễ vừa qua, Hoa Kỳ đă gặp phải rất nhiều khó khăn. Tuy cho đến giờ này th́ việc di tản đang diễn ra một cách tốt đẹp nhưng chúng ta cũng vẫn chưa thoát ra được những khó nhăn có thể xảy ra. Mục tiêu của chúng ta là ngăn không để cho hỗn loạn xẩy ra tại Nam Việt Nam rồi sẽ gây ra nguy hiểm cho việc di tản của người Mỹ, ngăn chận những hoạt động của Bắc Việt và giữ cho t́nh h́nh được ổn định nhằm hoàn tất cuộc di tản”.

Ngoại Trưởng Kissinger phúc tŕnh rằng cho đến giờ này (9 giờ 45 tối tại Sài G̣n), chỉ c̣n có khoảng từ 300 đến 400 người Mỹ c̣n đang hoạt động trong khuôn viên Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ và trong hơn hai ngày qua, có bơn 4.650 người đă được di tản ra khỏi Sài G̣n, nâng tổng sổ người được Hoa Kỳ di tản lên đến con số gần 45.000 người, trong số này chỉ có từ 500 đến 600 là người Mỹ.

Bộ Trưởng Quốc Pḥng James Schlesinger báo cáo rằng c̣n có khoảng 700 người tại Trụ Sở của Văn Pḥng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ tại Tân Sơn Nhứt nhưng phi cơ vận tải C130 không thể đáp xuống được nữa, do đó phải di tản bằng trực thăng từ trên sân thượng của Ṭa Đại Sứ. Ông cho biết thêm rằng vấn đề này cũng gặp phải khó khăn v́ chỉ có hai chiếc trực thăng có thể đáp xuống cùng một lúc và quân Bắc Việt đă bắn vào trực thăng di tản.

Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng mặc dù Tổng Thống Ford đă ra lệnh là chỉ di tản người Việt Nam nếu các phi cơ vận tải C-130 c̣n đáp xuống được Phi Trường Tân Sơn Nhứt và trong trường hợp không c̣n sử dụng phi cơ C-130 nữa th́ chỉ di tản người Mỹ mà thôi, tuy nhiên tại Sài G̣n Đại Sứ Martin và Thiếu Tướng Homer Smith đă quyết định vẫn tiếp tục di tản cả những người Việt Nam c̣n đang có mặt trong Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ.

Tổng Thống Ford nhấn mạnh rằng ông muốn phải di tản ít nhất là từ 43.000 cho đến 45.000 người Việt Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Bộ Trưởng Morton hỏi Tổng Thống Ford: “những người Việt Nam được di tản này sẽ đựợc đưa đi đâu và trong số này có bao nhiêu người là thuộc thành phần “chuyên nghiệp và có học” (white collar)?

Tổng Thống Ford trả lời rằng Bộ Ngoại Giao đang lo giải quyết vấn đề này và sẽ có 3 căn cứ quân sự tại Hoa Kỳ đang được chuẩn bị để đón người tỵ nạn. Tổng Thống Ford cũng cho biết rằng theo Ngoại Trưởng Kissinger th́ một số các quốc gia khác đă được Hoa Kỳ tiếp xúc để đón tiếp một số người tỵ nạn, tuy nhiên có lẽ Hoa Kỳ sẽ đón nhận 90 phần trăm số người này.

Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng cũng khó mà biết rơ được số người tỵ nạn có đủ tŕnh độ “nghề nghiệp” và “học vấn” là bao nhiêu tuy nhiên ông đoán chắc rằng có lẽ con số này cũng khá cao. Về đề nghị của Bộ Trưởng Norton dự định đưa một số khoảng 5.000 người tị nạn Việt Nam sang Lănh Thổ Giám Hộ tại Thái B́nh Dương (Pacific trust Territories) của Hoa Kỳ, nơi đó có lẽ sẽ cần đến tài năng của những người tỵ nạn này th́ Ngoại Trưởng Kissinger nhận xét rằng “đó có vẻ là một ư kiến hay”.

Đó là những chi tiết về phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các Hoa Kỳ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 và Tổng Thống Ford tuyên bố bế mạc phiên họp vào lúc 10 giờ rưỡi sáng, tức là 10 giờ rỡi tối tại Sài G̣n, khoảng hơn 12 tiếng đồng hồ trước khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng“. [*194: “cabinet Meeting Minutes. April 29. 1975. Giải mật ngày 12 tháng 10 năm 1990. Tài liệu “Box 4, James E. Connor Files,” lưu trữ tại Thư Viện Gerald Ford tại Grand Rapids, tiểu bang Michigan.]

Sáng ngày 29 tháng 4, “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu đă đọc đi đọc lại liên tục trên Đài Phát Thanh Sài G̣n một Bản Thông Cáo của Tân Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ. Bản thông cáo đó là Văn thư Số O33-TT/VT của Phủ Tổng Thống nguyên văn như sau:

Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa
Kính gởi: Ông Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Thưa ông Đại Sứ

Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại Sứ vui ḷng chỉ thị cho nhân viên của Cơ Quan Tùy Viên Quân Sự DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ kể từ ngày 29.4.1975 để vấn đề Ḥa b́nh Việt Nam sớm được giải quyết.

Trân trọng kính chào ông Đại Sứ

SAIGON, ngày 28 tháng 4 năm 1975

Kư tên và đóng dấu:
Việt Nam Cộng Ḥa-Tổng Thống
Đại Tướng Dương Văn Minh

Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đă phúc đáp như sau:

Thưa Tổng Thống,

Tôi đă nhận được văn thư nói trên và tôi đă ra chỉ thị thi hành đúng như lời yêu cầu của Tổng Thống.

Tôi tin rằng Tổng Thống sẽ ra lệnh cho các lực lượng Quân Đội của chính phủ cộng tác trên mọi phương diện để giúp cho sự triệt thoái của các nhân viên Ṭa Tùy Viên Quân Sự được dễ dàng và trong an toàn.

Tôi cũng xin bày tỏ sự hy vọng rằng Tổng Thống sẽ can thiệp với phía bên kia để họ có thể cho phép các nhân viên Ṭa Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ được ra đi trong sự an toàn và trật tự.

Xin chúc Tổng Thống đươc mọi sự lành.

Grabam Martin Đại Sứ Hoa Kỳ

“Tổng Thống” Dương Văn Minh hân hoan đuổi được người Mỹ ra đi và hy vọng rằng sẽ có triển vọng để nói chuyện với “người anh em bên kia” của ông th́ vào lúc 10 giờ sáng ngày hôm đó, Lê Duẩn đă gửi một điện văn “gửi anh Sáu, anh Bảy, anh Tuấn, anh Tư, đồng điện anh Tấn” như sau:

Bộ Chính Trị và Quân Ủy đang họp th́ được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngưng bắn. Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương chỉ thị:

1- Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài G̣n theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ Thành Phố, tước vũ khí Quân Đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.

2- Công bố đặt Thành Phố Sài G̣n-Gia định dưới quyền của Ủy Ban Quân Quản do Tướng Trần văn Trà làm Chủ Tịch.

Sẽ có điện tiếp, nhận được điện trả lời ngay.

BA.

[*195: văn kiện Đảng: trang 324.]

Như vậy th́ Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Việt đă có quyết định “giải tán chính quyền các cấp của Tổng Thống Dương Văn Minh và đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng”chứ không hề nói đến hai chữ “bàn giao” mà ông Dương Văn Minh cùng với nhóm Ḥa Giải Ḥa Hợp của ông đang mong đợi…

Sau khi phúc tŕnh về Bộ Tổng Tư Lệnh Thái B́nh Dương tại Hawaii, Tướng Smith tŕnh cho Đại Sứ Martin biết về vấn đề Phi Trường Tân Sơn Nhứt không c̣n có thể sử dụng được cho phi cơ vận tải C-130 và ông Martin cuối cùng phải nhượng bộ v́ cho đến ngày 29 tháng 4, ông Đại Sứ vẫn cương quyết chống lại lệnh di tản tức khắc tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam của Bộ Ngoại Giao. Thâm ư của Đại Sứ Martin là giữ người Mỹ lại để di tản càng nhiều người Việt Nam ra khỏi Sài G̣n th́ càng tốt chừng đó. Đại Sứ Martin gọi điện thoại thông báo cho Ngoại Trưởng Kissinger và ông Kissinger tŕnh ngay cho Tổng Thống Gerald Ford. Chỉ trong ṿng vài phút, Tổng Thống Ford ra lệnh cho thi hành Chiến Dịch “Frequent Wind, Option IV” tức là kế hoạch di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Việt Nam vào lúc 10 giờ 51 phút sáng tại Sài G̣n.

Trước đó, vào lúc 1 giờ sáng giờ Washington tức là khoảng 1 giờ trưa ngày 29 tháng 4, Đại Sứ Martin nhận được bức điện văn “thượng khẩn” số White House 50782 ngày 29 tháng 4 nguyên văn như sau:

Nơi gửi: White House
Nơi nhận: Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ-Sài G̣n

Ngoại Trưởng Henry A. Kissinger
Gửi đến: Đại Sứ Graham Marizn

1.    Tổng Thống đă chủ tọa một phiên bọp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và đă có những quyết định sau đây:

A.   Nếu ngày hôm nay mà Phi Trường Tân Sơn Nhứt c̣n có thể sử dụng được cho các loại phi cơ có cánh (phi cơ vận tải C-130) th́ ông Đại Sứ được phép cho di tản những người Việt Nam được xếp vào thành phần có thể bị nguy hiểm đến tính mạng. Cho đến cuối ngày hôm nay ông Đại Sứ phải cho di tản tất cả nhân viên người Mỹ tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt cũng như là tất cả những nhân viên Ngoại Giao tại Ṭa Đại Sứ, ngoại trừ một thiểu số tối cấn thiết cho nhiệm vụ di tản.

B.   Ông Đại Sứ không được tiết lộ cho ai biết rằng hôm nay là ngày cuối cùng loại phi cơ vận tải C-130 sẽ được sử dụng để di tản từ Phi Trường Tân Sơn Nhứt.

C.   Nếu Phi Trường trở thành bất khiển dụng đối với phi cơ vận tải và trở thành nguy hiểm nếu bị cộng sản pháo kích, ông Đại Sứ phải tức khắc cho di tản tất cả, lặp lại: Tất cả người Mỹ tại Văn Pḥng Tùy Viên Quân Sự DAO và Ṭa Đại Sứ bằng phương tiện trực thăng. Nếu cần th́ các phi cơ chiến đấu các phi cơ chiến đấu sẽ yểm trợ và hỏa lực sẽ được sử dụng để pḥng vệ trong trường hợp các trực thăng bị tấn công trong khi thi hành việc di tản.

2.    Đô Đốc Gayler, Tư Lệnh Hoa Kỳ tại Thái B́nh Dương, sẽ nhận được lệnh tương tự từ Bộ Quốc Pḥng.

Trân Trọng

[*196: “Secretary of State Henry Kissinger’s Cable on President Ford’s Decisions on the Saigon Evacuation, April 29, 1975.” (Công Điện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger về Quyết Định của Tổng Thống Ford trong việc Di Tản Sài G̣n ngày 29 tháng 4 năm 1975). Tài liệu giải mật ngày 10 tháng 1 năm 2000, lưu trữ tại Thư Viện Gerald Ford, Grand Rapids, Michigan.]

Trong khi bản thông cáo của “Tổng Thống” Dương Văn Minh đ̣i người Mỹ phải triệt thoái nhân viên của DAO được “Thủ Tướng” Vũ Văn Mẫu đọc đi đọc lại nhiều lần trên Đài Phát Thanh Sài G̣n th́ trên Đài Phát Thanh của Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam được gọi tắt là AFRS, vào buổi trưa một ngày cuối tháng 4 nóng bức, người xướng ngôn viên đọc đi đọc lại nhiều lần lời nhắn: “Mother wants you to call home” (Mẹ muốn con gọi về nhà) và người dân Sài G̣n được nghe bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” (Tôi mơ một Giáng Sinh Đầy Tuyết Trắng) phát đi phát lại liên tục trong ngày hôm đó. Lời nhắn và bản nhạc này là mật hiệu báo cho tất cả mọi người Mỹ tại Sài G̣n biết rằng Chiến Dịch Frequent Operation IV đă khởi đầu và tất cả mọi công dân Hoa Kỳ đều phải đến những điểm hẹn đă ấn định sẵn từ trước để được di tản ra khỏi Việt Nam.

Trong ngày 29 tháng 4, hàng trăm trực thăng C-53 và C-46 đă từ Hạm Đội Thứ Bảy ngoài khơi bờ biển Việt Nam bay đến Sài G̣n di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người Việt Nam đang tập trung tại các địa điểm như Văn Pḥng DAO ở Tân Sơn Nhứt, các cao ốc của người Mỹ và nhất là Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ trên Đại Lộ Thống Nhất. Đại Sứ Graham Martin không chịu di tản v́ ông muốn ở lại Ṭa Đại Sứ để kéo dài thời gian nhằm di tản thêm một số người Việt Nam dù rằng Ngoại Trưởng Kissinger đă nhiều lần ra lệnh cho ông phải ra đi càng sớm càng tốt.

Vào lúc 11 giờ 40 tối 29 tháng 4, một toán chuyên viên chất nổ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đă phá nổ toàn bộ Ṭa Tùy Viên Quân Sự DAO, tức là Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam gọi tắt là MACV trước năm 1973, nơi mà trong hơn 10 năm đă từng là biểu hiệu của sự cam kết của Hoa Kỳ với trên nửa triệu quân nhằm chống lại âm mưu thôn tính Miền Nam Việt Nam của cộng sản Bắc Việt. Sự phá hủy cơ sở này, trước đây được giới báo chí gọi là “Ngũ Giác Đài Phương Đông” (Pentagon East) là dấu hiệu cho biết rằng đối với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam đă kết thúc.

Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương Không Chịu Di Tản

Trong ngày 29 tháng 4, dù rất bận rộn trong việc di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người tỵ nạn Việt Nam, Đại Sứ Martin cũng đă t́m cách đến gặp Cụ Trần Văn Hương, cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa tại Phủ Phó Tổng Thống trên đường Công Lư lần chót. Theo Giáo Sư Nguyễn Ngọc An, bạn thâm giao của Cụ Hương th́ cuộc gặp gỡ này đă diễn ra như sau:

“Cũng ngày đó, 29 tháng 4 năm 1975, Đại Sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lư với một Tham Vụ Sứ Quán nói tiếng Pháp đại khái Đại Sứ nói:

– Thưa Tổng Thống, t́nh trạng hiện nay rất nguy hiểm. Nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng Thống cho tới ngày Tổng Thống trăm tuổi già.

Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:

– Thưa Ngài Đại Sứ tôi biết t́nh trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đă đến đỗi như vậyHoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông Đại Sứ. Nhưng tôi đă suy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng cộng sản vào được Sài G̣n, bao nhiêu đau khổ nhục nhă sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lănh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi t́nh nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại Sứ đă đến viếng tôi.

Khi nghe câu: “Les États Unis ont aussi leur part de responsibilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách niệm trong đó), Đại Sứ Martin giựt ḿnh nh́n trân trân Ông Trần Văn Hương.

Năm 1980, ông thuật lại với tôi: “Dứt câu chuyện, on se sépare sans même se serrer la main” (chúng tôi từ giă nhau mà cũng chẳng có hề bắt tay nhau). [*197: G.S. Nguyễn Ngọc An: “Cụ Trần Văn Hương” đăng trên Báo Thời Luận, không rơ ngày]

Đây không phải là lần đầu tiên Cụ Trần Văn Hương từ chối lời mời di tản ra ngoại quốc. Trong cuốn Hồi Kư “Saigon et Moi”, cựu Đại Sứ Pháp Mérillon cho biết rằng trước ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông ta có chuyển lời mời Cụ Trần Văn Hương sang sinh sống ở Pháp sau khi giao quyền lại cho Dương Văn Minh th́ cụ đă trả lời như sau:

– Ông Đại Sứ à! Tôi đâu có ngán việt cộng. Nó muôn đánh, tôi sẽ đánh tới cùng. Tôi chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tôi, nước tôi mất, tôi thề sẽ ở lại đây và mất theo nước ḿnh.

Cựu Đại Úy Nguyễn Văn Nhựt, Sĩ Quan Tùy Viên của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương cho người viết biết vào những ngày cuối cùng trong tháng 4 năm 1975, Cụ Trần Văn Hương đă nói với các anh em phục vụ tại Phủ Phó Tổng Thống rằng “thấy các em c̣n trẻ tuổi mà phải chịu hy sinh gian khổ v́ chiến tranh “qua” rất thương, tuy nhiên số phận của đất nước ḿnh là như vậy, ḿnh phải đánh cho tới cùng”.

Sau khi bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Dương Văn Minh, tối 28 tháng 4, Cụ Trần Văn Hương dă dọn ngay về tư gia ở trong hẻm đường Phan Thanh Giản, tuy nhiên qua sáng ngày hôm sau, 29 tháng 4, Cụ phải trở lại Dinh Phó Tổng Thống ở đường Công Lư một lần cuối cùng để tiếp kiến Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin khi ông Martin đến từ giă Cụ.

Trong một cuộc tiếp xúc với Bác Sĩ Nguyễn Lưu Viên, cựu Phó Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa tại Westminster vào cuối năm 2005, Bác Sĩ Viên có cho người viết biết rằng vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông và bà Trần Văn Văn có đến thăm Cụ Trần Văn Hương một lần cuối và Cụ Hương đă nói với hai người rằng hai vị Đại Sứ Pháp và Hoa Kỳ có đến mời ông đi tị nạn nhưng ông đă từ chối lời mời của họ.

Vào năm 1978, khi việt cộng trả lại “quyền công dân” cho Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem h́nh ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng Thống” Dương Văn Minh đang hồ hỡi hân hoan đi bầu quốc hội “đảng cử dân bầu” của cộng sản.

Cụ Trần Văn Hương cũng được cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng Cụ đă từ chối. Cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Ḥa Trần Văn Hương đă gửi bức thư sau đây đến các cấp lănh đạo chính quyền cộng sản:

“…hiện nay vẫn c̣n có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn vơ, từ Phó Thủ Tướng, Tổng Bộ Trưởng, các Tướng Lănh, Quân Nhân Công Chức các cấp các Chính Trị Gia, các vị Lănh Đạo Tôn Giáo, Đảng Phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai th́ ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được về.

Tôi là người đứng đầu hàng lănh đạo Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa, xin lănh hết trách nhiệm một ḿnh. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết v́ họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội ǵ cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, c̣n lo làm ăn xây dựng đất nước.

Chừng nào những người tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi.”

Cụ Trần Văn Hương không hề nhận “quyền công dân” của cộng sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 th́ Cụ vẫn c̣n là công dân của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

 Ngày nầy 41 năm trước:  Thứ hai 28.04.1975 “Trao Quyền” Cho Dương Văn Minh

Ngày nầy 41 năm trước: Chủ Nhật 27 tháng 4-1975: Lưỡng Viện Quốc Hội đồng ư "trao quyền" 

 

 

***

85 năm đời ta có đảng!

 

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

 

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

 

 

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

 

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

  

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc


 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.


 

Nguyên Thạch