Diễn đàn                                                             

 

Trần Thế Cung

Trường Sĩ Quan Trừ Bị

Quân lực Việt Nam Cộng Hoà.

  

 Sau khi kư Hiệp-Ước Pháp-Việt ngày 5-6-1948 tại vịnh Hạ-Long, công nhận Việt-Nam là một quốc-gia độc-lập trong khối Liên-hiệp Pháp, Quốc trưởng Bảo Đại đă kư hiệp-ước ngày 8-3-1949 tại điện Elysée với Tổng-thống Pháp Vincent Auriol, theo đó, Pháp sẽ giúp Việt-nam thành-lập Quân- Đội Quốc-Gia. 

Ngày 23-12-1950, Pháp-Mỹ-Việt kư hiệp- Định hỗ-tương, pḥng-thủ và viện-trợ quân sự; theo đó, Mỹ viện-trợ cho Quốc gia Việt Nam 2 tỷ Mỹ-kim trong bốn năm, từ 1950 đến 1954 để trang bị cho Quân-đội. Cùng ngày, Nghị Định thành-lập hai trường Sĩ-quan Trừ-bị Nam- Định và Thủ- Đức được ban-hành, nhằm đào-tạo sĩ-quan ngạch trừ-bị cho Quân-Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Ngày 5-5-1951, Bộ Quốc-pḥng mới thật-sự được thành-lập bằng những cơ-cấu tiên-khởi đă được phác-họa và tạm sắp-xếp từ thời chính-phủ Trung-ương Lâm-thời Nguyễn-Văn-Xuân.


     Do Sắc Lệnh của Quốc Trưởng Bảo Đại kư dụ số 12 ngày15-7-1951, gọi Tổng động viên thanh niên tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ. Việc động-viên thành-phần sĩ-quan nhắm vào tư-nhân, công tư-chức, học-sinh, sinh-viên có bằng từ Cao Đẳng Tiểu học hay trung-học đệ nhất-cấp hoặc tương-đương trở lên. Trong đợt động-viên đầu tiên, vào năm 1951, có nhiều sinh-viên sĩ-quan đă đậu bằng tú-tài hay cử-nhân, đặc-biệt tại trường Sĩ-quan Nam-Định có 197 SVSQ (55.33%) trong số 356 SVSQ có bằng tú-tài trở lên, riêng Sinh Viên Sĩ Quan Nguyễn-Phú-Đức đă có bằng Tiến Sĩ Luật-khoa.

 

     Nhưng v́ dự-án xây-cất trường ốc trên đồi Tăng-Nhơn-Phú chưa hoàn-tất nên khóa 1 Sĩ-quan Trừ-bị đă được khai-giảng tại hai địa-điểm ở Bắc và Nam-Việt, đó là Nam-Định và Thủ-Đức.

     Khóa Sĩ-quan Trừ-bị đầu-tiên khai-giảng cùng một ngày 9-10-1951 tại Nam- Định và Thủ- Đức. Trường Sĩ-quan Trừ-bị Nam-Định huấn-luyện Sinh Viên Sĩ  Quan thuộc các tỉnh từ Quảng-Trị ra Bắc. Tại Nam-Định, trường xử-dụng một số pḥng-ốc trong Camp Carreau làm nơi huấn-luyện. Camp Carreau là một căn-cứ quân-sự của Bộ chỉ-huy Quân-đội Viễn-chinh Pháp tại miền Nam, nằm trong khuôn-viên nhà máy sợi Nam-Định. Vấn-đề động Viên Sĩ Quan lúc đầu cũng gặp một vài trở-ngại như tại Nam-Định có một số khóa-sinh, sau khi hết phép vào dịp Tết Nguyên Đán, đă trở về đơn-vị trễ hay bỏ học, không trở lại trường. V́ vậy cho nên có một số Sinh Viên Sĩ Quan trong trường-hợp nói trên đă bị bắt giữ, nhưng sau lại được thả ra và đưa vào Thủ-Đức tiếp-tục học khóa 1 hay được phép thi vào trường Vơ-bị Đà-Lạt. Trường Sĩ-quan Trừ-bị Nam-Định chỉ đào-tạo được một khóa rồi đóng cửa vĩnh viễn vào năm 1952 v́ tại Thủ Đức Trường lúc đó đă được xây dựng xong đủ chỗ cho cả khóa. Sinh-viên khóa 2 Nam-Định được đưa vào Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức. Trường tọa-lạc trên khu đồi Tăng Nhơn Phú, cách chợ Thủ-Đức khoảng hai cây số. Trường Sĩ-quan Trừ-bị Nam-Định được bàn-giao lại cho trường Vơ-Bị Nam-Định vào khoảng cuối năm 1952. 

    Tại Thủ-Đức, để có đủ quân-số khẩn thành lập các đơn-vị khinh-quân thay-thế quân Pháp rút khỏi các đồn-bót, lệnh Tổng-động-viên đă được ban-hành vào ngày 1-4-1953. Theo kế-hoạch dự-trù th́ việc động-viên được chia làm 4 đợt, mỗi đợt 10,000 người trong tháng, kể từ tháng 7-1953. Các thành-phần trước đây đă phục-vụ trong quân-ngũ, nay cũng bị tái-ngũ.Ngoài ra, 60,000 thanh-niên Việt-Nam cũng được lệnh nhập-ngũ để thụ-huấn hai tháng về căn-bản quân-sự, sau khi măn-khóa, họ được trở về với gia-đ́nh để chờ lệnh.Sự thực th́ vấn-đề động-viên binh-sĩ lúc bấy giờ chỉ là một nhu-cầu chính-trị.

Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức huấn-luyện Sinh Viên Sĩ Quan tŕnh-diện nhập-ngũ thuộc các tỉnh từ Huế trở vào Nam. Ban đầu trường tạm dựng những dẫy nhà mái lá, vách phên tre làm chỗ cho sinh-viên sĩ-quan tạm-trú.

Chương-tŕnh huấn-luyện Sĩ-quan Trừ-bị cũng tương-tự như chương-tŕnh đào-tạo các sĩ-quan hiện-dịch.Thời-gian huấn-luyện dài khoảng 6 tháng, không kể thời-gian thực-tập. Tính đến cuối năm 1953, Quân Đội Quốc Gia gồm có 198,000 người, trong đó 151,000 (76.27%) là chính-quy và 47,000 (23.73%) là phụ-lực-quân.

Ngày 12-8-1954, dụ số 12 kư ngày 15-7-1951 và các nghị-định liên-quan đến dụ trên đều tạm đ́nh-chỉ cho đến khi có lệnh mới.Lệnh động-viên được tạm ngưng nhưng các quân-nhân trừ-bị vẫn được lưu-giữ.

Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ- Đức hoạt-động tới cuối tháng 4-1975, lúc đó mang tên là Trường Bộ-Binh.

     Từ khóa 1 đến khóa 5, hơn 4,000 sĩ-quan được đào-tạo tốt nghiệp với cấp bực Thiếu úy, không tốt nghiệp th́ tùy theo số điểm sẽ mang cấp Chuẩn úy hay Hạ sĩ quan.

Thiếu úy sau 2 năm được đương nhiên thăng Trung úy và Chuẩn úy sau 1 năm được đương nhiên thăng Thiếu úy.

Từ khóa 6 trở về sau, tốt nghiệp với cấp Chuẩn úy.

Tiến tŕnh phát triển

của Trường Sĩ-quan Trừ-bị trải qua ba giai-đoạn:

     Giai-đoạn 1951-1955: Để đáp-ứng nhu-cầu cán-bộ chỉ-huy các đơn-vị tân-lập cho kế-hoạch b́nh-định lănh-thổ và để thay thế các sĩ-quan Pháp hiện đang chỉ-huy đơn-vị Việt-Nam, trường Sĩ-quan Trừ-bị được thành-lập vào khoảng đầu năm 1951 và khởi-sự huấn-luyện từ tháng 10-1951.

Khóa 1 Sĩ-quan Trừ-bị khai-giảng vào ngày 16-10-1951. Tại Nam-Định, sĩ-số là 356 Sinh Viên Sĩ  Quan, măn-khóa vào ngày 1-6-1952, được đặt tên là Khóa Lê-Lợi. Tại Thủ-Đức, sĩ-số khoảng 250 Sinh Viên Sĩ  Quan, măn-khóa vào ngày 31-5-1952, được đặt tên là khóa Lê-Văn-Duyệt. Tổng-cộng cả hai khóa Lê-Lợi và Lê-Văn-Duyệt có 580 tân sĩ-quan gồm 495 Thiếu-úy và 85 Chuẩn-úy.Thủ-khoa khóa Lê-Lợi là Thiếu-úy Nguyễn-Duy-Hinh và thủ-khoa khóa Lê-Văn-Duyệt là thiếu-úy Phạm-Kim-Quy. Cấp-hiệu thiếu-úy, dập theo cấp-bậc của quân-đội Pháp, là một gạch vàng hay trắng bằng kim tuyến, nằm trên hai cầu vai. “Lon” mầu trắng dành cho các sĩ-quan thuộc binh-chủng Thiết-Giáp, Quân-Cụ và Thông-Vận-Binh.Cấp-hiệu mầu vàng dành cho Bộ-binh và các binh chủng khác.

    Chỉ huy trưởng đầu tiên người Việt là Đại tá Phạm Văn  Cảm, xuất-thân Trường Thiếu-Sinh-quân. Trong Giai-đoạn 1951-1954, các sĩ-quan tốt  nghiệp mang cấp bậc Thiếu-úy và có thể chọn ở lại Bộ-binh hay chuyển sang các quân-chủng Không-quân, Lục-quân hoặc binh-chủng Nhảy Dù.

Nhằm tăng-cường cho biện-pháp động-viên, ngày 12-4-1954, thủ-tướng Bửu-Lộc đă quyết-định động-viên tập-thể mọi thanh-niên sinh từ 1-1-1929 đến 31-12-1933. Hầu hết số người trong hạng tuổi này, khoảng 1,250 người đủ điều-kiện học-vấn, đă tŕnh-diện các Bộ Tư-lệnh Quân-khu để theo học khóa khóa 4 (Khóa Cương Quyết và Cương Quyết 2) gồm 1,250 sinh-viên sĩ-quan. 900 Sinh Viên Sĩ Quan, khai-giảng vào ngày 25-3-1954 tại Trường Thủ-Đức (Khóa Cương Quyết), số 350 sinh-viên c̣n lại được chuyển lên Đà-Lạt thụ-huấn (Cương Quyết 2), nhưng đến ngày măn-khóa, 1-10-1954, người ta ghi nhận chỉ c̣n lại 160 thiếu-úy và 99 chuẩn-úy tốt-nghiệp, gần 100 sinh-viên khác không hội đủ điều-kiện nên đă bị loại sau kỳ khảo-hạch giai-đoạn 1. Thủ-khoa Cương Quyết 2 tại Đà-Lạt là thiếu-úy Ngô-Văn-Lợi. Thời-gian huấn-luyện dành cho khóa 4 là 6 tháng nhưng khóa Cương Quyết tại Thủ-Đức măn-khóa sau khóa Cương Quyết 2 tại Đà-Lạt đúng một tuần.

     Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức đă  đào-tạo hơn 4,000 sĩ-quan (từ khóa 1 đến khóa 5)

     Sau khi hoàn-tất việc huấn-luyện khoá 5 Sĩ-quan Trừ-bị, Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức tạm ngưng đào-tạo Sĩ-quan Trừ-bị trong một thời-gian khoảng 2 năm do ảnh hưởng của Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954 trong điều kiện giảm trừ quân bị.

     Vào cuối năm 1955, các lớp huấn-luyện chuyên-môn như Quân-Cụ, Quân-Chánh, Thông-vận-binh, Thiết-giáp-binh, Pháo-binh, Công-binh, Truyền-tin . .. lần-lượt trở thành các Trường chuyên-môn, phụ-trách huấn-luyện cán-bộ các cấp, từ hàng binh-sĩ cho đến sĩ-quan, thuộc binh-sở hay binh-chủng. Nhưng các trường hay lớp huấn-luyện chuyên-môn này vẫn được đặt dưới quyền kiểm-soát của Bộ Chỉ-Huy Trường Sĩ-quan Trừ-bị. Do đó, vào đầu năm 1957 trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức được cải-danh thành Liên-Trường Vơ-Khoa Thủ-Đức gồm các quân-trường:

     - Trường Bộ Binh

     - Trường Thiết Giáp

     - Trường Pháo Binh

     - Trường Công Binh

     - Trường Truyền Tin

     - Trường Quân Cụ

     - Trường Thông Vận Binh

     -Trường Quân Chính

     Riêng hai trường Pháo-Binh và Công-Binh tuy thống-thuộc Liên-trường nhưng trú-đóng tại B́nh-Dương và Khoá 6 sĩ quan trừ bị được tiếp tục huấn luyện ngày 25-3-1957. Khoá 6 là khóa Sĩ-quan Trừ-bị đầu tiên kể từ ngày nước Việt-Nam bị chia cắt làm hai miền Nam, Bắc tại vĩ-tuyến thứ 17 bởi Hiệp-Dịnh Genève, do Pháp và Việt-Minh cùng thỏa-thuận kư-kết vào ngày 21 tháng 7 năm 1954. Đại-úy Nguyễn-Viết-Thanh, sau này là Thiếu-tướng Tư-Lệnh Quân-Đoàn IV, được chỉ-định làm giám-đốc “Trường Sĩ-quan Trừ-bị” này.Tổng-số sinh-viên sĩ-quan khóa 6 gồm khoảng 600 người kể cả 200 khóa-sinh thuộc Bảo-An-đoàn.Đặc biệt khóa này được huấn-luyện trong thời-gian 11 tháng để các tân sĩ-quan có đủ khả-năng chỉ-huy một đơn-vị cao hơn cấp trung-đội khi cần.

Cũng kể từ khóa 6 Sĩ-quan Trừ-bị, sinh-viên sĩ-quan sau khi tốt-nghiệp được mang cấp bậc Chuẩn-úy thay v́ Thiếu-úy như 5 khóa trước áp-dụng quy-chế của quân-đội Pháp.Chuẩn-úy Phạm-Văn-Vĩnh   Thủ-khoa khóa 6.

Giai-đoạn 1955-1963: Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức được đổi tên thành Liên-trường Vơ-khoa Thủ-Đức, ngoài sĩ-quan Bộ-binh, trường c̣n đào-tạo sĩ-quan Thiết-vận, Quân-chính, Quân-cụ, Quân-nhu, Quân-y, Dược, Truyền-tin, Công-binh, Thông-vận–binh (xa binh). Thời gian huấn-luyện: 38 tuần.

     Từ 1955 đến1961, Liên trường Vơ-khoa Thủ-Đức cung-cấp:

     - 2/3 tổng-số sĩ-quan Bộ Binh.

     - 80% cán-bộ (sĩ-quan và chuyên-viên Quân Nhu)

     - 89% cán-bộ Quân Cụ

     - 95% cán-bộ Thiết Giáp và Truyền Tin

     - 97% cán-bộ Pháo Binh

     - 90% cán-bộ Công Binh

      Kể từ Khóa 10 (tháng 6-1960), các khóa sinh có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp phải qua một kỳ thi tuyển để theo học vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị.

Tháng 10-1961, một số trường chuyên-môn được tách ra.Liên Trường Vơ-khoa Thủ-Đức chỉ c̣n ba Trường là Bộ Binh, Thiết Giáp, Vũ-thuật và Thể Dục Quân Sự.

     Đầu năm 1962, Bắt đầu từ Khóa 13 điều kiện theo học Trường Sĩ Quan Trừ Bị là phải có bằng tú tài 1 trở lên. Các khóa sinh Bảo An kể từ khóa này cũng phải qua nột kỳ thi tuyển.

     Từ tháng 10 năm 1962, Liên Trường phụ trách huấn luyện những Sĩ Quan Lục Quân (Bộ Binh) về theo học lớp Đại Đội Trưởng Bộ Binh (theo chương tŕnh học khi tốt nghiệp được văn bằng tốt nghiệp Đại Đội Trưởng hay Bộ Binh Cao Cấp)

     Ngày 1 tháng 8 năm 1963 (giữa khóa 15) Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức đổi tên thành Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và chỉ đảm trách việc đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị cho toàn thể Lục Quân Việt Nam. Mỗi năm, Trường có ba khóa huấn-luyện.

     Sau cách mạng 1-11-1963, Bảo An cải danh thành Địa Phương Quân.

Ngày 1 tháng 7 năm 1964, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được đổi lại danh xưng Trường Bộ Binh cho đến năm 1975.

Tháng 4 năm 1964, Trường được giao phó thêm việc huấn luyện lớp Tiểu Đoàn Trưởng Bộ Binh.

Từ năm 1951 đến 1967, mỗi năm chỉ có một khóa, đánh số từ 1 đến 27. Đến năm 1968, một năm có nhiều khóa, nên đánh số theo năm (1/68; 2/68, ...)

Giai-đoạn 1964-1975: Sau biến-cố Tết Mậu Thân và sắc lệnh Tổng Động Viên ban hành ngày 19-6-1968, hàng năm Trường Bộ Binh Thủ-Đức đào-tạo 6 đến 8 khóa, do nhu-cầu chiến-trường.Chương-tŕnh huấn-luyện chia thành hai giai-đoạn: Trong giai đoạn 1, khóa-sinh được gọi là Tân Khóa-Sinh Dự-bị Sĩ-quan, thụ-huấn tại Trung Tâm Huấn-Luyện Quang-Trung. Sau khi hoàn tất giai-đoạn 1, các Tân Khóa-Sinh/Dự-bị Sĩ-quan đủ tiêu-chuẩn được chuyển sang Thủ-Đức học tiếp giai-đoạn 2. Về sau, các Tân Khóa-Sinh được huấn-luyện giai-đoạn 1 ngay tại Thủ-Đức.

Trong giai-đoạn này, v́ số lượng SVSQ quá lớn, thiếu trường sở và huấn-luyện-viên, nhiều khóa sĩ-quan trừ-bị đă được đào-tạo tại Trường Hạ-sĩ-quan Đồng-Đế.

Các giai đoạn học của Sinh Viên Sĩ Quan

Chương tŕnh huấn luyện đào tạo sĩ quan chỉ huy Trung đội gồm có 2 giai đoạn.

     Giai đoạn 1(18 tuần)

     Bộ binh căn bản.Tác chiến cá nhân.

     Cơ bản thao diễn, tác xạ, vũ khí cá nhân (Colt 45, Garant M-1, tiểu liên Thompson, trung liên Bar, Carbine M1, M2, AR-15, M-16,) Thủ lịnh các đội h́nh hàng dọc, hàng ngang, quả trám. Học cách chỉ huy tiểu đội.

     Giai đoạn 2 (28 tuần)

Tập chỉ huy trung đội.Chiến thuật trung đội.Vũ khí cộng đồng. Chiến thuật đánh đêm, đánh ngày, bố trí hỏa lực, các đội h́nh di chuyển khi hành quân, khi pḥng thủ, dừng quân, hành quân đổ trực thăng, tùng thiết Thiết giáp, vượt sông, phục kích, tao ngộ chiến, xa luân chiến…

     Học Chiến tranh chánh trị, Quân pháp, Lănh đạo chỉ huy, giải tán biểu t́nh, bắt tù binh…Rèn luyện can đảm bằng ḅ hỏa lực bắn đạn thật, đi dây tử thần, tuột núi, vượt sông.

     Vũ khí cộng đồng như: đại liên, súng cối 60 ly, 81 ly, súng phóng hỏa tiển, M72, M79…

Tuần lễ hành quân thực tập để ôn lại tất cả những môn học, được tổ chức bên ngoài các băi tập.

     Trong năm 1969-1970, mấy chục Sinh Viên Sĩ  Quan đă chết trên những băi tập do ḿn thật của Cộng quân gài trên đường thực tập.

     Quân sự là phương tiện của chính trị, Sinh Viên Sĩ  Quan cũng được học về những điều sai lầm của Chủ nghĩa Cộng Sản.

     Bắt đầu khoá 26, áp dụng phương pháp huấn luyện theo Bộ Binh Hoa Kỳ. Chương tŕnh học vẫn nội dung cũ, chỉ khác biệt ở phần huấn luyện thể chất. Cụ thể là di chuyển bằng cách chạy. Vất vả nhiều cho Sinh Viên Sĩ  Quan hơn. Theo kiểu Hoa Kỳ không nổi, v́ thể chất của người Việt Nam nhỏ con hơn người Mỹ, do đó, có sự điều chỉnh cho hợp với thể trạng của người Việt Nam. Một sĩ quan cán bộ tốt nghiệp Fort Benning, anh Nguyễn Thượng Hà, sau một thời gian chạy theo đại đội, bị ngă gục v́ kiệt sức. Giải ngũ.

     Một số sĩ quan được gởi sang Mỹ học khoá Bộ Binh ở trường Fort Benning, bang Georgia, Hoa Kỳ, kéo dài 24 tuần lễ đă đào tạo hàng trăm sĩ quan làm cán bộ của Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan Trường Bộ Binh.

     Tháng 4-1974 Trường Bộ-binh Thủ-Đức chuyển sang căn cứ huấn-luyện mới tại Long-Thành (doanh trại cũ  của Quân Đội Thái Lan cũ).

     Đến đầu tháng 4 năm 1975, Trường Bộ Binh lại dọn về Thủ Đức. Khóa cuối cùng là khoá 3/75

Ngày 27-4-1975 trường lại được lệnh di-tản chiến-thuật về Tăng Nhơn Phú Thủ-Đức để nghênh-cản địch-quân.dưới quyền điều-động của Đại-tá Liên-đoàn-trưởng Lộ Công Danh. Một trong những nhân-chứng có mặt tại đồi Tăng-Nhơn-Phú vào giờ chót của ngày cuối cùng, ông Minh-Tân Lê-Quảng-Trị, đă tường-thuật đại để như sau: Vào lúc 8 giờ 15’ sáng 30-4-1975, từ xa-lộ Biên-Ḥa, 4 chiến-xa T-54 của CS Bắc-Việt lồng-lộn tiến nhanh về phía quân-trường Thủ-Đức, nhưng ba trong bốn chiến-xa nói trên đă bị bắn cháy ngay tại bờ rào kẽm gai bởi pháo-binh 105 ly bố-pḥng trực-xạ. Chiếc chiến-xa T-54 c̣n lại vượt-thoát chạy thẳng vào trung-tâm trường Thủ-Đức, dùng đại-liên 50 trên pháo-tháp bắn sối-xả vào lực-lượng pḥng-thủ khiến trung-tá Ông-Văn-Tuyên, trung-sĩ I Nhân và 5 Sinh-viên sĩ-quan tử-thương, thiếu-tá Vương-Bá-Thuần và 9 người khác bị thương. Sau đó chiếc chiến-xa này chạy thẳng ra cổng số 1, t́m đường tẩu-thoát nhưng đă bị các tổ Sinh-viên Sĩ-quan xử-dụng súng phóng hỏa-tiễn M-72 bắn đứt xích.Khi chiến-xa lết ra tới Niện-Phật-đường Quảng-Đức, chợ Nhỏ, chúng quay pháo-tháp vào Trường, tiếp-tục bắn phá.Trước t́nh-trạng nan-giải này, hai tân khóa-sinh, mỗi người t́nh-nguyện mang 4 trái lựu-đạn lân-tinh, ḅ ra ngoài để tiêu-diệt chiến-xa địch. Trong lúc chiếc T-54 đang nhả đạn vào Trường, hai khóa-sinh nói trên đă leo lên chiến-xa, thả lựu-đạn lân-tinh vào trong pháo-tháp khiến chiến-xa địch phát hỏa, đạn trong pháo-tháp phát nổ tung. Chiến-tích dũng-cảm của hai tân khóa-sinh không những đă làm mọi người phải ngưỡng-phục mà c̣n nói lên cái khả-năng chiến-đấu siêu-việt cũng như ư-chí bất-khuất và quyết-thắng của Sinh-viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức.

     Vào lúc 10 giờ 20 sáng ngày 30-4-1975, đại-tướng Dương-Văn-Minh, tổng-thống vài ngày cuối cùng của Việt-Nam Cộng-Ḥa, đă ra lệnh cho Quân-lực Việt-Nam Cộng-Ḥa buông súng đầu-hàng. Tất cả cán-bộ cũng như sinh-viên, khóa-sinh, không ai bảo ai, đă lần-lượt giă-từ vũ-khí, về với gia-đ́nh

Phù-hiệu Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức:

     Năm 1962, Phù hiệu của Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức gồm ngọn lửa hồng bao quanh thanh kiếm bạc trong nền xanh, được ghi thêm phương châm “Cư An Tư Nguy” trên phù  hiệu  có  nghĩa  là  muốn sống

yên ổn th́ phải nghĩ đến lúc hiểm nguy, suy rộng ra “Muốn Ḥa B́nh phải chuẩn bị Chiến Tranh” do sáng kiến của Đại Tá Phan Đ́nh Thứ, tự Lam Sơn, đương kim Chỉ Huy Trưởng Trường.

Nền xanh da trời biểu-hiện sự thanh-khiết từ tư-tưởng đến hành-động, và ư-chí cao-cả của thanh-niên đối với quê-hương.

Ngọn lửa hồng biểu-hiện ḷng dũng-cảm, chí cương-quyết, đức hy-sinh.

Thanh kiếm biểu hiện cho cấp chỉ-huy

     Bốn chữ “ Cư an tư nguy” – sống yên (không quên) lo nguy, được ghi thêm vào theo đề nghị của Đại-tá Lam Sơn trong thời gian ông làm Chỉ Huy Trưởng (1962). Câu này trích từ Hệ Từ Hạ của Khổng-Tử:

Nguy giả an kỳ vĩ giả dă

     Vong gỉa bảo kỳ tồn giả dă

     Loạn gĩa hữu kỳ trị giả dă

     Thị cố quân-tử an nhi bất vong nguy,

tồn nhi bất vong vong

     Tri nhi bất vong loạn

     Thị dĩ nhân an nhi quốc gia khả bảo gia

     Nghĩa là:

     Người bị nguy là bởi cứ yên vui nơi ngôi phận ḿnh

     Bị mất là bởi chỉ tới cái hiện có

     Bị loạn bởi tin cậy cái trị có sẵn,

     Bởi thế, người quân-tử lúc sống yên không quên cái nguy, c̣n không quên lúc mất          

     Khi thịnh-trị không quyên cảnh loạn suy, như vậy mới yên thân mà giữ được nước nhà

Câu từ dài ấy được rút lại c̣n 8 chữ: “ Cư an lự nguy, xử trị tư loạn” và gọn hơn nữa, 4 chữ: “CƯ AN TƯ NGUY

Dây biểu chương Trường Sĩ-quan Trừ-bị Thủ-Đức

Trường Bộ Binh được tuyên dương công trạng hai lần trước quân đội.Được mang dây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh.

Các vị Chỉ Huy Trưởng liên tiếp và thời gian phục vụ:

Kể từ ngày thành lập cho đến năm 1975, đă trải qua 18 vị Chỉ Huy Trưởng (trong đó Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn hai lần đảm nhiệm chức vụ).

 

                                1. ThiếuTướng Georges Bouillet (ThủĐức) : 1-10-1951

                                2. ThiếuTá Tilly (Nam Định) : 1-10-1951

                                3. ĐạiTáChalandon (Nam Định&ThủĐức) : 5-1-1952

                                4. ĐạiTáPhạmVănCảm : 01-11-1953 đếnngày 30-9-1956.

                                5. ThiếuTướngLêVănNghiêm : 30-9-1956

                                6. ĐạiTáNguyễnVănChuân : 26-5-1961

                                7. ThiếuTưốngHồVănTố : 27-7-1961

                                8. ĐạiTáPhanĐ́nhThứ, tự Lam Sơn : 19-5-1962

                                9. ThiếuTướngTrầnNgọcTám : 3-11-1963

                              10. ĐạiTáBùiHữuNhơn : 7-4-1964

                              11. ChuẩnTướng Cao HảoHớn : 20-11-1964

                              12. ĐạiTáTrầnVănTrung : 20-5-1965

                              13. ThiếuTướngBùiHữuNhơn :2-12-1966

                              14. ĐạiTáLâmQuangThơ : 14-4-1967

                              15. ThiếuTướngPhạmQuốcThuần : 20-8-1969

                              16. TrungTướngNguyễnVănMinh : 31-10-1973

                              17. TrungTướngNguyễnVĩnhNghi : 1-11-1974

                              18. ĐạiTáTrầnĐứcMinh : 4-4-1975 đến 30-4-1975


 

Đ.TáPhạmVănCảm/Th.TướngLêVănNghiêmĐ.TáNguyễnVănChuânTh.TướngHồVănTố

Đ.TáPhanĐ́nhThứ, tự Lam Sơn /Th.TướngTrầnNgọcTám/ Ch/TướngBùiHữuNhơn /T.Tướng Cao HảoHớn

Ch/TướngTrầnVănTrungCh/TướngLâmQgThơTr/TướngPh.QuốcThuầnTr/TướngNg.Văn Minh


 
TrungTướngNguyễnVĩnhNghi                     ĐạiTáTrầnĐức

CÁC VỊ TƯỚNG XUẤT THÂN TỪ TRƯỜNG SĨ QUAN TRỪ BỊ :Khóa 1 Nam-Định

     219 Sĩquan Tốt nghiệp gồm có:

       - Trung-tướngNguyễnĐứcThắng (BộTrưởngXâyDựngNôngThôn)

     - Trung-tướngLêNguyênKhang (TưLệnhThủyQuânLụcChiến)

     - Trung-tướngNguyễnBảoTrị (TổngCục-trưởngQuân-Huấn)

     - Thiếu-tướngNguyễn Cao Kỳ, (TưlệnhKhôngQuân, Chủ-tịchỦy-ban Hành-phápTrung-Ương)

      - Thiếu-tướngNguyễnDuyHinh (TưLệnhSư-Đoàn 3 Bộ-binh)

     - Chuẩn-tướngVũĐứcNhuận (CụcTrưởngCụcAnNinhQuânĐội)

     - PhóĐềĐốcĐặng Cao Thăng (TưlệnhHảiQuânVùng IV sôngng̣ikiêmTư

lệnhHạmĐội 21)

     - Chuẩn-tướngNguyễnHữuTần (TưLệnhSưĐoàn 4 KhôngQuân)

     - Chuẩn-tướngPhanPhụngTiên (TưLệnhSưĐoàn 5 KhôngQuân)

     - Chuẩn-tướngNguyễnVănĐiềm (TưLệnhSưĐoàn 1 BộBinh)

     - Chuẩn-tướngNguyễnVănLượng (TưLệnhSưĐoàn 2 KhôngQuân)

     - Chuẩn-tướngĐặngĐ́nhLinh (ThamMưuPhóTiếpvậnBộTưLệnhKhôngQuân)

    - Chuẩn -tướngNguyễnChấn (biệtpháiBộCanhNông)

     - Chuẩn-tướngPhạmHữuNhơn (TrưởngPḥng 7 BộTổngThamMưu)

Khóa 1 Thủ-Đức278 Sĩ quan Tốt nghiệp gồm có:

     - Trung tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân)

     - Trung-tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận)

     - Thiếu tướng Nguyễn khắc B́nh (Tổng Giám Đốc Cảnh-Sát Quốc Gia)

     - Thiếu-tướng Nguyễn Ngọc Loan (Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia)

     - Thiếu tướng Vơ Xuân Lành (Tư Lệnh Phó Không Quân)

     - Thiếu tướng Phan Đ́nh Soạn (Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I Quân Khu I). Truy thăng

     - Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang (Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân)

     - Chuẩn-tướng Huỳnh Bá Tính (Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân)

     -Chuẩn tướng Trương Bảy (Phụ tá Đặc Biệt Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Điều Hành)

     - Chuẩn-tướng Huỳnh Công Thành (Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng B́nh Tuy. Truy thăng

     Khóa 2 Thủ –Đứcgồm có:

     - Chuẩn-tướng Bùi Quư Cảo (Tổng Giám Đốc Tài-Chánh và Thanh Tra Quân Phí)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiện (Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà)

     - Chuẩn -tướng Ngô Hán Đồng (Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I). Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Nguyễn Văn Khương (Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh). Truy thăng

     Khóa 3 Thủ-Đức

     - Thiếu-tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam lọt vào tay Cộng-Sản Bắc Việt)

     - Chuẩn -tướng Huỳnh Văn Lạc (Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Văn Giàu (Phụ Tá Đặc Biệt Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách An Ninh)

     - Chuẩn tướng Chung Tấn Phát (Chánh Vơ Pḥng Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu)

Khóa 3 Phụ Thủ-Đức (tức Khóa 9B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Bá Liên. Tư Lệnh Biệt Khu 24 Kontum. Truy thăng

     Khóa 4 (gồm Cương Quyết & Cương Quyết 2 : 1,148 sĩ quan tốt nghiệp

     Cương Quyết học tại Thủ-Đức

     - Trung-tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân-đoàn I)

     - Thiếu-tướng Bùi Thế Lân (Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến)

     - Chuẩn-tướng Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhảy Dù)

     - Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (Tư Lệnh cuộc hành quân triệt thoái Quân Đoàn II khỏi cao nguyên)

     - Chuẩn-tướng Đỗ Văn An. Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 10, Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Nguyễn Trọng Bảo. Tham Mưu Trưởng kiêm Phụ Tá Hành Quân Sư Đoàn Dù. Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Hồ Trung Hậu (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn III Quân Khu III)

     Cương Quyết 2 (từc Khóa 10B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt)

     - Chuẩn-tướng Trần Quốc Lịch (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn IV Quân Khu IV)

     Khóa 5 Thủ-Đức : 1,396 sĩ quan tốt nghiệp

     - Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam bị cưỡng chiếm bởi Cộng Sản Bắc Việt)

     Khóa 16 Thủ-Đức

     - Chuẩn-tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn (Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Đô-Thành Sài G̣n)

THÀNH-QUẢ CỦA TRƯỜNG BỘ-BINH  THỦ-ĐỨC

     Từ năm 1951 đến năm 1975, qua 24 năm đào tạo, đă có 87 khoá SQ/TB với 99,223 sĩ quan. Trong đó khoảng 15,000 nguời biệt-phái về các ngành chuyên môn (hầu hết là giáo chức. Đặc-biệt trong năm 1972 có 15 khóa SQTB thụ-huấn tại Nha-Trang và Thủ-Đức. Kể từ tháng 1-1968 đến tháng 12-1973, trong việc tiếp sức trường Bộ-binh Thủ-Đức, riêng trường Hạ Sĩ-quan Đồng-Đế Nha-Trang đă đào-tạo được 12,000 sĩ-quan trừ-bị. Ngoài ra, trường Bộ-binh Thủ-Đức c̣n phụ trách huấn luyện các khóa như sau:

     - Khoá Đại Đội Trưởng: 44 khoá với 5,000 sĩ quan

     - Khoá Tiểu Đoàn Trưởng và Bộ Binh Cao Cấp: 18 khoá với 1,500 sĩ quan.

Các khoá khác:

     - Khoá Hoàn Hảo sĩ quan Địa Phương Quân

     - Khoá bổ túc quân sự cho Sĩ quan Y, Dược sĩ trưng tập.

     - Khoá đào tạo Huấn luyên viên cho hàng ngàn sĩ quan Không Quân, Hải Quân và Cảnh Sát Quốc Gia.

Theo niên giám ngày 31-1-1974, th́ có 23/81 tướng lănh xuất thân từ trường Bộ Binh.

     Ngày 12-4-1954, lệnh động viên lớp tuổi 21 đến 23 vào khoá 4 với tổng số là 1,250 người. V́ Trường Thủ Đức không đủ pḥng ốc, cho nên 250 người được gởi tới học tại trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt. Học xong, trở về Thủ Đức làm lễ măn khóa.

Rời Thủ Đức có người thành chiến tướng

Cũng có người thành chiến sĩ vô danh.

 Đời binh nghiệp là đường sát nghiệp

“Nhất tướng công thành vạn cốt khô.”

 

DANH SÁCH CÁC KHÓA TRƯỜNG SĨ QUAN TRỪ BỊ THỦ ĐỨC

 

Khóa

Ngày Nhp

Ngày Măn Khóa

TÊN KHÓA

TH KHOA

 1 Nam Dịnh

 15.10-1951

 15.10.1952

 LêLợi               

 Nguyễn Duy Hinh

 1 Th Đức

15/10/1951 

15/10/1952 

 Lê Văn Duyệt

 Phạm Kim Quy

2

 1/10/1952

1/4/1953

 Phụng Sự

Nguyễn Thanh  Huê 

 1/4/1953

1/11/1953 

 Đống Đa

Phạm Văn Mân 

3 Ph

1/9/1953 

 16/3/1954

 Đống Đa

Nguyễn Cao Trường 

 4

1/12/1953

1/6/1954 

 Cương Quyết

Nguyễn Văn Hai 

 4 Ph

16/3/1954 

1/10/1954 

Cương Quyết 

Nguyễn thanh Nguyên 

 5

16/6/1954 

1/2/1955 

V́ Dân 

Nguyễn Văn Minh 

 6

25/3/1957 

8/3/1958 

Cộng Ḥa 

Phạm Văn Vĩnh

 7

 25/6/1958

 10/6/1958

 Nhân V

 Nguyễn Hữu Phú

 8

 2/3/1959

 7/3/1960

 Bạch Đằng

Phạm Thanh Nhân 

 9

12/10/1959 

 14/11/1960

 Đoàn  Kết

Lương Văn Ḥa 

 10

 20/6/1950

14/6/1961 

 Thành Tín

 Huỳnh Văn Be

 11

 9/1/1961

 22/12/1961

 Đồng Tiến

Trần Văn Ân 

 12

 23/10/1961

 1/8/1962

 Trần Hưng Đạo

 Ngyễn Ngọc Linh

 13

 15/3/1962

28/12/1962 

 Ấp Chiến Lược

 Trương Đ́nh Ngữ

 14

 17/9/1962

 14/6/1963

 Nhân Trí Dũng

Nguyễn Ngọc Diệp 

 15

 25/2/1963

 27/11/1963

 Cách Mạng

Nguyễn Lương Y 

 16

Sept/1963 

 30/4/1964

Vơ Tánh 

Mai Văn Men 

 17

13/1/1964 

 22/10/1964

 Nguyễn Thái Học

 Nguyễn Văn Long

 18

 8/6/19/64

 18/3/1965

 Phan Văn Tr

Trần Văn Ngôn 

 19

 23/11/1964

 57/8/1965

 Nguyễn Huệ

 Trần Sách Dọc

20 

 12/4/1965

 22/12/1965

 Xây Dựng

Lư Công Thuần 

 20 Ph

 7/1965

 1/4/1966

 

 

 21

 10/1965

19/10/1966 

 

 

 22

 

 

 

 

 23

9/1966 

6/1967 

 

 

 24

1/1967 

9/1967 

 

 

 25

 12/4/1967

5/11/1968 

 

 

 26

9/1967 

8/6/1968 

 

 

 27

 26/12/1967

 1/8/1968

 

 Châu Minh Ba

Các Khóa sau đánh số theo năm học:

Năm 1968 có 5 khóa :

     Khóa 1/68 tại Nha Trang

     Khóa 2/68 tại Nha Trang

     Khóa 3/68 tại Thủ Đức

     Khóa 4/68 tại Thủ Đức

     Khóa 5/68 tại Thủ Đức có 8 đai đội, sĩ số khoảng 1,500 người

          Măn khóa tại Quang Trung ngày 28 tháng 7, 1968, giai đoạn 2 tại Thủ Đức từ 8 tháng, 10 1968 đến 25 tháng 1, 1969. Thủ khoa là Chuẩn úy Nguyễn Đ́nh Mô. 

     Khóa 6/68

     Khóa 7/68 tại Thủ Đức

     Khóa 8/68 tại Thủ Đức

     Khóa 9/68 tại Thủ Đức

Năm 1969 có 6 khóa :

     Khóa 1/69 tại Thủ Đức

     Khóa 2/69 tại Nha Trang

     Khóa 3/69 tại Thủ Đức gồm 5 đại đội, mỗi đại đội có 200 người, sĩ số là 1,000 SVSQ.

Khóa này khai giảng vào tháng 3 và măn khóa vào khoảng tháng 10, 1969.

Khóa 4/69 tại Thủ Đức, măn khóa tháng 7, 1970.

     Khóa 5/69 tại Thủ Đức

     Khóa 6/69 tại Thủ Đức, khai giảng tháng 7, 1970

Năm 1970 có 6 khóa :

     Khóa 1/70

     Khóa 2/70

     Khóa 3/70

     Khóa 4/70

     Khóa 5/70

     Khóa 6/70, 1650 SVSQ

Năm 1971 có 5 khóa :

     Khóa 1/71

     Khóa 2/71

     Khóa 3/71

     Khóa 4/71 tại Thủ Đức, khai giảng ngày 22 tháng 8, 1971 đến

ngày 2 tháng 5, 1972, tổng cộng hơn 8 tháng. Có tên là Khóa

          B́nh Long Anh Dũng

     Khóa 5/71, Tổng số khoảng 500 SVSQ, mà 1/5 thuộc thành phần giáo chức nhưng trước ngày măn khóa có một số được trả về nhiệm sở cũ. thời gian, địa điểm, ngày khai giảng, măn   khóa, thủ khoa được bổ sung về ngành HCTC. Khóa này có tên là Kontum kiêu hùng.

Năm 1972 có 15 khóa :

Tất cả đều tham dự chiến dịch, chia làm nhiều toán khoảng 4, 5 người đi với Địa phương quân và nghĩa quân để tác động tinh thần và phổ biến hiệp định Paris.Thời gian học quân sự và chiến dịch khoảng một năm.

     Khóa 1/72 tại Nha Trang, do Đại tá Bùi Trạch Dần, Liên đoàn

trưởng,  phụ  trách.  Khai  giảng... Lẽ  ra  măn  khóa  ngày 8

tháng 12, 1972, nhưng v́ Hiệp Định Paris nên măi đến tháng

3, 1973 mới măn khóa.Sĩ  số  khoảng  700  SVSQ,  hầu hết là

sinh viên Kiến Trúc nhập ngũ theo lệnh tổng động viên.

     Khóa 2/72

     Khóa 3/72

     Khóa 4/72

     Khóa 5A/72

     Khóa 5B/72

     Khóa 6/72 Nha  Trang (Thiếu  tướng  Vơ  Văn  Cảnh  Chỉ  Huy

Khóa 1 Thủ-Đức278 Sĩ quan Tốt nghiệp gồm có:

     - Trung tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân)

     - Trung-tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận)

     - Thiếu tướng Nguyễn khắc B́nh (Tổng Giám Đốc Cảnh-Sát Quốc Gia)

     - Thiếu-tướng Nguyễn Ngọc Loan (Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia)

     - Thiếu tướng Vơ Xuân Lành (Tư Lệnh Phó Không Quân)

     - Thiếu tướng Phan Đ́nh Soạn (Tư Lệnh Phó Quân Đoàn I Quân Khu I). Truy thăng

     - Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang (Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân)

     - Chuẩn-tướng Huỳnh Bá Tính (Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Không Quân)

     -Chuẩn tướng Trương Bảy (Phụ tá Đặc Biệt Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách Điều Hành)

     - Chuẩn-tướng Huỳnh Công Thành (Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng B́nh Tuy. Truy thăng

     Khóa 2 Thủ –Đứcgồm có:

     - Chuẩn-tướng Bùi Quư Cảo (Tổng Giám Đốc Tài-Chánh và Thanh Tra Quân Phí)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Văn Thiện (Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà)

     - Chuẩn -tướng Ngô Hán Đồng (Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I). Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Nguyễn Văn Khương (Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh). Truy thăng

     Khóa 3 Thủ-Đức

     - Thiếu-tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam lọt vào tay Cộng-Sản Bắc Việt)

     - Chuẩn -tướng Huỳnh Văn Lạc (Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Văn Giàu (Phụ Tá Đặc Biệt Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Đặc Trách An Ninh)

     - Chuẩn tướng Chung Tấn Phát (Chánh Vơ Pḥng Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu)

Khóa 3 Phụ Thủ-Đức (tức Khóa 9B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt)

     - Chuẩn tướng Nguyễn Bá Liên. Tư Lệnh Biệt Khu 24 Kontum. Truy thăng

     Khóa 4 (gồm Cương Quyết & Cương Quyết 2 : 1,148 sĩ quan tốt nghiệp

     Cương Quyết học tại Thủ-Đức

     - Trung-tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân-đoàn I)

     - Thiếu-tướng Bùi Thế Lân (Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến)

     - Chuẩn-tướng Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhảy Dù)

     - Chuẩn tướng Phạm Duy Tất (Tư Lệnh cuộc hành quân triệt thoái Quân Đoàn II khỏi cao nguyên)

     - Chuẩn-tướng Đỗ Văn An. Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 10, Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Nguyễn Trọng Bảo. Tham Mưu Trưởng kiêm Phụ Tá Hành Quân Sư Đoàn Dù. Truy thăng

     - Chuẩn-tướng Hồ Trung Hậu (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn III Quân Khu III)

     Cương Quyết 2 (từc Khóa 10B tại Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt)

     - Chuẩn-tướng Trần Quốc Lịch (Chánh Thanh Tra Quân Đoàn IV Quân Khu IV)

     Khóa 5 Thủ-Đức : 1,396 sĩ quan tốt nghiệp

     - Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng (Tư Lệnh Phó Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam bị cưỡng chiếm bởi Cộng Sản Bắc Việt)

     Khóa 16 Thủ-Đức

     - Chuẩn-tướng Cảnh Sát Trang Sĩ Tấn (Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Đô-Thành Sài G̣n)

Các Khóa sau đánh số theo năm học: 

Năm 1968 có 5 khóa :

     Khóa 1/68 tại Nha Trang

     Khóa 2/68 tại Nha Trang

     Khóa 3/68 tại Thủ Đức

     Khóa 4/68 tại Thủ Đức

     Khóa 5/68 tại Thủ Đức có 8 đai đội, sĩ số khoảng 1,500 người

          Măn khóa tại Quang Trung ngày 28 tháng 7, 1968, giai đoạn

2 tại Thủ Đức từ 8 tháng, 10 1968 đến 25 tháng 1, 1969. Thủ

khoa là Chuẩn úy Nguyễn Đ́nh Mô. 

     Khóa 6/68

     Khóa 7/68 tại Thủ Đức

     Khóa 8/68 tại Thủ Đức

     Khóa 9/68 tại Thủ Đức

Năm 1969 có 6 khóa :

     Khóa 1/69 tại Thủ Đức

     Khóa 2/69 tại Nha Trang

     Khóa 3/69 tại Thủ Đức gồm 5 đại đội, mỗi đại đội có 200 người,

sĩ số là 1,000 SVSQ. Khóa này khai giảng vào tháng 3 và

măn khóa vào khoảng tháng 10, 1969.

Khóa 4/69 tại Thủ Đức, măn khóa tháng 7, 1970.

     Khóa 5/69 tại Thủ Đức

     Khóa 6/69 tại Thủ Đức, khai giảng tháng 7, 1970

Năm 1970 có 6 khóa :

     Khóa 1/70

     Khóa 2/70

     Khóa 3/70

     Khóa 4/70

     Khóa 5/70

     Khóa 6/70, 1650 SVSQ

Năm 1971 có 5 khóa :

     Khóa 1/71

     Khóa 2/71

     Khóa 3/71

     Khóa 4/71 tại Thủ Đức, khai giảng ngày 22 tháng 8, 1971 đến

ngày 2 tháng 5, 1972, tổng cộng hơn 8 tháng. Có tên là Khóa

          B́nh Long Anh Dũng

     Khóa 5/71, Tổng số khoảng 500 SVSQ, mà 1/5 thuộc thành

phần giáo chức nhưng trước ngày măn khóa có một số được

trả về nhiệm sở cũ. thời gian, địa điểm, ngày khai giảng, măn  

khóa, thủ khoa được bổ sung về ngành HCTC. Khóa này có

tên là Kontum kiêu hùng.

Năm 1972 có 15 khóa :

Tất cả đều tham dự chiến dịch, chia làm nhiều toán khoảng 4, 5 người đi với Địa phương quân và nghĩa quân để tác động tinh thần và phổ biến hiệp định Paris.Thời gian học quân sự và chiến dịch khoảng một năm.

     Khóa 1/72 tại Nha Trang, do Đại tá Bùi Trạch Dần, Liên đoàn

trưởng,  phụ  trách.  Khai  giảng... Lẽ  ra  măn  khóa  ngày 8

tháng 12, 1972, nhưng v́ Hiệp Định Paris nên măi đến tháng

3, 1973 mới măn khóa.Sĩ  số  khoảng  700  SVSQ,  hầu hết là

sinh viên Kiến Trúc nhập ngũ theo lệnh tổng động viên.

     Khóa 2/72

     Khóa 3/72

     Khóa 4/72

     Khóa 5A/72

     Khóa 5B/72

     Khóa 6/72 Nha  Trang (Thiếu  tướng  Vơ  Văn  Cảnh  Chỉ  Huy

TrưởngTrườngĐồngĐế)

Khóa 7/72

Khóa 8/72

Khóa 9A/72

Khóa 9B/72

Khóa 9C/72, Thủ Đức

Khóa 10/72

Khóa 11/72 tại NhaTrang,  sĩsố  922 người.  khai giảng 16-10-

          1972, mănkhóa 2-6-1973

Khóa 12/72

Năm 1973 có 8 khóa :

Khóa 1/73 tại Thủ Đức

Khóa 2/73 tại Thủ Đức

Khóa 3/73 tại Long Thành

Khóa 4/73

Khóa 5/73

Khóa 6/73

Khóa 7/73 Rất đông sinh viên SQ có bằng Cử nhân và Cao học, một số lớn xin gia nhập ngành Quân Cảnh và Địap hương quân. Khóa học trên 11 tháng kể cả thời gian đi chiến dịch lấn đất, giành dân.

Khóa 8/73

Năm 1974 có 3 khóa :

Khóa 1/74 tại Long Thành

Khóa 2/74 tại Long Thành

Khóa 3/74 tại Long Thành

Trang h́nh các Tướng VNCH

tốt nghiệp Trường Sĩ quan Trừ Bị Nam Định và ThủĐức.

Khoá 1 Nam Địnhcó 14 Tướng.

Tr/Tướng Nguyễn Đức Thắng  Tr/Tuong Lê Nguyên Khang Tr/Tuong Nguyễn Băo Trị


ThTướngNguyễn Cao KỳThTgNguyễnDuyHinhChTgVũĐứcNhuậnChTgNguyễnHữuTấn

ChTgPhanPhụngTiênChTgNguyễnvănĐiềmChTgĐặngĐ́nhLinhChTgNguyễnvănLượng


P.Đề Đốc Đặng Cao Thăng      Ch/Tg  NguyễnChấn     Ch/Tg Phạm Hữu Nhân

TrTướngTrầnvăn Minh TrTgĐổngvănKhuyênThTgNguyễnKhắcB́nhThTgNguyễnNgọc Loan

 


 

ThTgVơXuânLành   ChTgPhạmNgọc Sang   ThTgPhanĐ́nhSoạn   ChTgHuỳnhBáTịnh

 

ChTgTrươngBẩy           ChTgHuỳnhCôngThành

 

Khoá 2 Thủ Đức có 4 Tướng.

 


 

ChTướngBùiQúyCảo ChTgNguyễnvănThiện ChTgNgôHánĐồng ChTgNguyễnvănKhương

 

Khoá 3 Thủ Đức có 2 Tướng.   Khoá 3 Phụ có 1 Tướng.

 


 

ThTgNguyễnKhoa Nam          ChTgHuỳnhvănLạc                ChTgNguyễnBáLiên

 

Khoá 4 Thủ Đứccó 7 Tướng.

 


 

TrTgNgôQuangTrưởng  ThTgBùiThếLân   ChTgLêQuangLưỡng  ChTgHồTrungHậu

 


 

ChuẩnTướngPhạmDuyTất    ChuẩnTướng Đỗvăn An    ChuẩnTướngNguyễnĐ́nhBảo

 

Khoá 4 Thủ Đức Phụ, Khoá 5 Thủ Đức Khoá 16 ThủĐức

Có 1 Tướng.      có 1 Tướng.                    có 1 Tướng

 

 

ChuẩnTướngTrầnQuốcLịch       /ChuẩnTướngLêvănHưng      /ChuẩnTướngTrangSĩTấn

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa” được biên soạn bởi Cựu ĐạiTáTrầnNgọcThống, CựuThiếuTá Hồ Đắc Huân và CốTrung Úy Lê Đ́nh Thụy

     - “Bản Phúc tŕnh của James Nach” the RVNAF reserve officer schools at Thu Duc and Nam Dinh”

- The National Military Academy and Its Prominent Graduates, James Nach, American Embassy Saigon, Airgram A-95, May 13, 1974; Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools, James Nach, airgram A-131, no date

 - Phạm-Văn-Sơn và Lê-Văn-Bân :Quân-Sử III, 1972, BộTổngTham-Mưu QLVNCH

 - Lược sử Trường Trường SĩQuan Trừ Bị Thủ Đức của Cựu Đại Tá Hà Mai Việt

 - Đặc San Bộ Binh Số Đặc Biệtkhoá 8 / 72 (khoá Bất Khuất)