"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."
 

Bài viết                                                             

 

 Giao Chỉ San Jose, giới thiệu:

Đường khuynh diệp,

Bút kư công tác của Jenny Đỗ,

 


Luật sư Jenny Đỗ trả lời Dân Sinh Media tại VietMuseum.
           

Đêm nay tôi t́m đọc bút kư có tựa đề lạ lùng của nữ luật sư Jenny Đỗ tại San Jose. Tôi hết sức xúc động. Xin viết đôi lời về tác giả. 

Tháng 2 năm 1984 chuyến bay Air France từ Phi qua San Francisco chở nhóm gia đ́nh con lai đầu tiên đến Hoa Kỳ. Cô gái lai Đặng Thị Phương Khanh đi cùng bà mẹ và em trai. Ngày hôm đó là ngày sinh nhật của Phương Khanh. 18 tuổi. Cô sinh ra tại Vũng Tàu. Lúc đó người cha Hoa Kỳ chưa hề biết mặt đă ra đi từ mấy tháng trước. Thế giới của cô là bên ngoại. Mẹ và ông bà ngoại. Quê ngoại ở ngoài Bắc xa xôi thuộc miền Nam Định. Họ Đặng cùng với Trường Chinh, một lănh tụ cộng sản nhưng riêng gia đ́nh cô lại có nhiều người bị "cách mạng" giết. Sau 9 năm sống với Việt nam Cộng Hoà cô bé Phương Khanh khá vất vả v́ hoàn cảnh con lai. Sau 75 lại c̣n cay đắng hơn trong 9 năm v́ thuộc thành phần con lai không có hộ khẩu. Cuộc sống hết sức đau thương từ kinh tế mới Túc Trưng cho đến Sài G̣n thời bao cấp. Năm 1984 đi Mỹ là cơ hội cho cô gái lai 18 tuổi chắp cánh bay cao. Hành trang là kinh nghiệm cuộc sống dưới 2 chế độ. Với cộng ḥa cô bé học được căn bản đạo đức gia đ́nh và văn hóa miền Nam. Với cộng sản cô trải nghiệm giai đoạn đau thương phải phấn đấu để sinh tồn.Thân phận con lai trở thành tấm vé cho cả gia đ́nh bỏ quê ngoại trở về đất nước của người cha chẳng bao giờ gặp lại. 18 tuổi với 9 năm thuộc nền giáo dục của xă hội chủ nghĩa qua chế độ tem phiếu, khi đến Hoa Kỳ, Phuơng Khanh không có vốn Anh ngữ nên đă phải bắt đầu hoàn toàn từ số không. Cô đi làm, đi học, tốt nghiệp luật sư và đặc biệt thành lập cơ quan bất vụ lợi, tổ chức bạn của Huế ra đời.

Phương Khanh trở thành luật sư Jenny Đỗ và là chủ tịch hội đồng quản trị Friends of Hue. Những chi tiết về tổ chức này được gián tiếp giới thiệu trong bút kư cô viết về chuyến thăm viếng năm 2009. Nhưng định mệnh khắt khe đă rung hồi chuông báo tử.                  Khi khám định kỳ Jenny phát giác ra bệnh ung thư vú. Sau thời gian hóa trị có kết quả tại San Jose, hy vọng b́nh phục, Jenny lạc quan tiếp tục đi công tác vào năm 2009. Bút kư Đường Khuynh Diệp ghi lại chuyến đi 6 năm trước. Niềm vui lớn lao là ngày nay tổ chức đă xây dựng hoàn tất một trung tâm cộng đồng tại Huế. Biết bao nhiêu kỷ niệm đấu tranh với công an Thừa Thiên khi từ chối treo h́nh Hồ chí Minh và cờ đỏ trong trung tâm. Friends of Hue nuôi các trẻ em ăn học để trở thành một lớp công dân hữu dụng tương lai. Tất cả các em đều có phía sau cả một câu chuyện đau thương bi đát. Trở lại San Jose, Jenny năm nay 49 tuổi quyết định ra tranh cử tại khu 4 với một ước vọng chính là xây dựng cho người Việt San Jose một trung tâm sinh hoạt cộng đồng. Nhiều bạn bè hứa hẹn yểm trợ, tinh thần rất mạnh mẽ và phấn khởi hướng về cuộc tranh cử năm 2016. Nhưng niềm vui đă nằm trong thiên tai. Tuần trước đi khám định kỳ, bà bác sĩ tuyên án bất ngờ. Bệnh ung thư tái phát cấp thời mạnh mẽ và thời gian c̣n lại của Jenny chỉ đếm được hàng tháng. Hai hay 3 tháng. Chúng tôi hỏi thăm tin dữ và tối thứ ba vừa qua luật sư Đỗ Quư Dân và Jenny Đỗ ghé đến nhà chúng tôi để kể chuyện về công tác thiện nguyện tại quê nhà và dự án trung tâm cộng đồng như một giấc mơ mới h́nh thành tại San Jose. Cô sẽ không c̣n sức khỏe để ra tranh cử và cũng không có ngày giờ để bàn chuyện lâu dài. Sẽ chuẩn bị công bố về hoàn cảnh cá nhân và tŕnh bày cho bằng hữu về giấc mộng sau cùng. Jenny b́nh tĩnh ngồi tâm sự suốt 4 giờ đồng hồ. Thể hiện một ư chí vô cũng mạnh mẽ, sẽ tiếp tục đấu tranh với Ung Thư trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Cô cho biết tâm sự và văn chương qua bút kư công tác xin bác t́m đọc Đuờng Khuynh Diệp. Vào lúc 2 giờ sáng qua tôi t́m thấy bài văn lạ lùng này trên thế giới ảo.Trong số các bài văn thuộc loại thăm dân cho biết sự t́nh, tôi nghĩ rằng tác phẩm này có thể được coi là xuất sắc nhất. Tấm ḷng của tác giả giăi bày trên từng trang giấy. Nhưng trong chuyện buồn cũng c̣n có lúc hết sức vui. Chuyện buồn là những đứa bé gái Việt lên 10 chưa có ngực phải làm điếm bên Cam Bốt. Người phụ nữ Việt ngày đêm bị nhốt trần truồng trong pḥng kín. Những con chim tội nghiệp bán ở cửa đền khi phóng sinh bay không được chết ch́m dưới nước. Cô gái bán tôm trên băi cát, bóc từng con cho khách ăn để rồi nh́n ra biển tâm sự rằng lo cho chồng một ngày ra khơi đánh cá sẽ không trở về. Phương Khanh mang thân phận con lai, 18 tuổi trở về quê cha Hoa Kỳ gọi là Coming Home, nhưng một đời sống trong cửa chùa c̣n nhớ măi mùi khuynh diệp quê nhà. Hơn 20 năm sau, cô luật sư Jenny trở về t́m mùi hương quá khứ. Không thấy khuynh diệp kỷ niệm bên Cam Bốt. Không có ở Hà Nội, ở Huế chỉ có chuyện nước lụt và đàn con chịu rét. Không có ở băi biển Hàm Tân. Sau cùng cô t́m thấy múi hương quá khứ ngay bên đường. Cây khuynh diệp c̣n gọi là bạch đàn mang hương vị thuốc, y khoa gọi là Eucalyptus. Nhưng khuynh diệp trong tâm tư cô gái lai t́m về cội nguồn không phải là t́m vị thuốc, cô chỉ t́m lại mùi hương trong nhang khói kỷ niệm nơi cửa Phật. Khuynh diệp của cô chính là lá Diêu Bông của Phạm Duy...                                                                 

Hàng triệu người Việt đă ra đi và hàng triệu chuyến trở về của du khách trên quê hương cũ.  Tôi đă nghe kể lại chuyện khốn cùng thời kỳ 80. Chuyện đổi mới thời 90 và người về khoe khoang những h́nh ảnh rực rỡ của quê nhà khi bước vào thế kỷ 21. Không một ai đem lại cho chúng ta mùi hương của Đường Khuynh Diệp. Rồi mai đây, những đứa con của sông Huơng trưởng thành trong t́nh thương của người bạn Huế. Giấc mơ cuả Jenny về một trung tâm Việt Nam ở San Jose có thành hay không, Đường Khuynh Diệp sẽ c̣n măi trong ḷng độc giả để ghi dấu tấm ḷng tác giả với quê hương.

Người phụ nữ can trường 49 tuổi đang chiến đấu những ngày tháng cuối cùng với định mệnh. Ba người phụ nữ tại Mỹ gặp ung thư th́ 1 người chết. Jenny biết rằng cô chính là người đó. Cô nói trong tiếng cười rằng việc riêng đă thu xếp xong. Việc chung cần thêm chút thời gian.                                                                               

Ung thư ơi, Chào mi. Ta cất đầu thật cao. Không một lời than thở...        Xin các bạn cùng tôi theo chân Jenny  đi t́m mùi hương khuynh diệp.

 Luật sư Jenny Đỗ trả lời Dân Sinh Media tại VietMuseum. Đôi lời thưa với cộng đồng Việt San Jose, các bạn con Lai, các đồng bệnh ung thư và  cô vĩnh biệt các con Friends of Hue tại trung tâm sinh hoạt Thừa Thiên.  Xuân này cô không về, các con cố gắng sống cho cô hănh diện,   sống để giúp cho các bạn không đau khổ như các con...


         Monday, March 30, 2009. Bút kư của Jenny Đỗ.

ĐƯỜNG KHUYNH DIỆP

     

     Mặn.
       Hàm Tân biển không người. Đêm rằm tháng Giêng trăng sáng đến màu nhiệm. Nơi đây, đất của vùng tù đày ngày xưa, cũng là điểm cuối trong cuộc hành tŕnh t́m thuốc của tôi. Đêm lộng lẫy hi hữu khi đất trời có trăng cao hoan hỷ, biển óng ánh ngút ngàn, và hạnh phúc nhỏ của tôi. Rung động trước sự hài ḥa của nước trời, tôi quỳ trong biển, dang tay đón nhận sóng, và van xin trăng cho thêm những ngày sống để có ích cho người. C̣n bao nhiêu việc cần phải làm, c̣n bao nhiêu người đang trầm luân.
       Khởi bước hành tŕnh, tôi từ Hoa Kỳ về Châu Á với hai mục đích, trước là để dưỡng bệnh và sau là để thăm 40 đứa trẻ mồ côi do hội Friends of Huế Foundation đang nuôi dưỡng tại Huế. Tất cả cần phải làm xong trước khi tôi trở về lao đầu vào công việc luật pháp, sau bao tháng nghỉ ngơi để điều trị bệnh ung thư vú. Các thân chủ tôi đă khuyên nhủ: “Luật sư cần phải về Việt Nam chữa trị,…hốt thuốc tam thất, hốt lá đu đủ, uống cỏ…gặp thầy lang 90 tuổi, v.v.” Những lời thật chân t́nh. Mặc dầu tôi không mấy tin tưởng về những phương pháp này, thay đổi không khí, giải tỏa tâm trí, t́m thêm sức sống là chuyện tôi nên làm.
Một trong những hương vị mà tôi nhớ và thèm t́m lại được là mùi hương lá khuynh diệp ở Việt Nam. Ngày c̣n bé sống trong chùa, tôi thường ngâm lá khuynh diệp để làm thuốc hay rượu cho Thầy trụ tŕ. V́ nghịch ngợm, tôi hay ṿ lá cho xanh cả tay và hít hà hơi nồng thơm của khuynh diệp. Mỗi lần như vậy, tôi h́nh dung là đă tận hưởng sức sống với mùi ngai ngái của lá, và cảm thấy người ḿnh như tăng thêm năng lực. Trong những tháng yếu ớt v́ hóa trị (chemotherapy), tôi đă ước mong được trầm ḿnh trong hương ṿ của lá. Bạn có thể thắc mắc là tại sao tôi lại phải quay về Việt Nam để t́m khuynh diệp khi những cây này mọc đầy rẫy tại California, như những hàng cây bạn thấy chạy dọc theo các đường lộ ở Santa Rosa hay tỏa bóng mát trong sân trường đại học Stanford? Tôi đă từng hái lá khuynh diệp ở những nơi này nhưng hương vị không đậm đà bằng lá khuynh diệp trong trí nhớ của tôi, và cảm giác được gia tăng năng lực th́ hoàn toàn không có. V́ khác khí hậu chăng? Mùi vị húng quế của California cũng thế, không được thơm như húng quế ở Việt Nam. Trang bị đầy đủ lư do, tôi lên đường.
       Phnom Penh                                                                                     Trước khi về đất Mẹ, tôi tự nhủ phải nên ghé thăm đất thánh thần Kampuchea. Biết đâu khuynh diệp nơi này c̣n tốt hơn ở quê nhà Âu Lạc. Phnom Penh tiếp nhận tôi lặng lẽ như thiếu ḷng chào đón. Có một cái ǵ đó quen thuộc nhưng xa lạ. Một thành phố hỗn tạp, đầy rẫy những xe lam đủ màu gọi là “tuk tuk”. Đất khô bụi đỏ nằm phơi dưới ánh nắng cháy da, người dân đen lam lũ. Không một bóng cây khuynh diệp.
       Rồi tôi phạm một lỗi lầm lớn. Tôi ghé thăm bảo tàng viện Diệt Chủng Toul Sleng và nơi chôn người tập thể Choeung Ek. Hai nơi địa ngục của trần gian. Toul Sleng trước đây là trường trung học. Những căn lầu ba tầng nối hàng nhau im lặng dưới trưa. Các lớp học cửa gỗ ngây ngô sơn đă phai màu, với những hành lang gạch đầy bóng mát, nằm dưới sự che chở dịu dàng của các rặng dừa lao xao trong gió lộng. Nh́n thoáng qua, Toul Sleng là một khung cảnh nên thơ, nơi khách viếng thăm có cảm tưởng như nghe được tiếng cười của trẻ em vang vang đâu đó. Thế nhưng ở cái khung cảnh thanh b́nh ấy, những thảm cảnh khủng khiếp về tội ác của loài người đă diễn ra.
       Bước vào các lớp học, tương phản với các ô gạch dưới sàn nhà là hàng ngàn, hàng vạn những tấm h́nh chụp. Đây là h́nh ảnh những nạn nhân và những cuộc tra tấn hành h́nh mà họ phải gánh chịu. Những đôi mắt của các em bé đáng yêu, của các chị phụ nữ sợ hăi ngơ ngác, của các thanh niên bất lực và tuyệt vọng, của các cụ già cam chịu, như dơi theo từng bước chân tôi. Các câu hỏi h́nh như c̣n đọng lại trong mắt họ. Họ đă nghĩ ǵ trước khi bị tra tấn và tử h́nh? Ḱa những h́nh ảnh của các phụ nữ ôm con trước khi họ và con họ bị phân thây. Nước mắt tôi ướt áo. Đưa tay chặn nước mũi, hồn tôi nghe đau nhức cho thân phận những người xấu số chết không toàn thây dưới lưỡi hái của tử thần mang danh là chính quyền Pol Pot. Những người này đă không được “ân huệ” chết bằng đạn bắn. Bị bắn chết là một sự may mắn. V́ tiết kiệm đạn, chính sách của Pol Pot là hành hạ nạn nhân cho đến chết. Bọn sát nhân đă chế ra những cái xiềng và ghế tra tấn khủng khiếp. Như để khoe thành tích của ḿnh, chúng đă chụp h́nh nạn nhân trước khi, trong khi, và sau khi tra tấn họ. Đi qua các lớp học, tôi không c̣n h́nh dung được tiếng cười của trẻ thơ, mà chỉ cảm thấy chung quanh vang lên tiếng kêu khóc thê thảm của các em. Gần 3 triệu người đă mất mạng một cách dă man trên đất này, trong đó có một số không nhỏ là người Việt. Mấy ai trong chúng ta có thể tưởng tượng được sự ác độc của loài người lại sâu thẳm đến thế.
       Khi thăm trại chôn người Choeung Ek, tôi phải đối diện với sự hăi hùng chưa từng gặp. Ngoài các mộ tập thể loang lở trên khu đất rộng, ngoài ṭa lầu sọ người cao đến rùng ḿnh, ngoài những đống quần áo phảng phất dấu bùn và máu khô, những đôi dép há mơm, những đống xương ống chân tay, những cái ly đựng răng hàm của nạn nhân, tôi c̣n thấy những cây có bát nhang và giỏ trái cây treo lơ lửng trên cành. Tôi cố nén xúc động. Tự hỏi tại sao người dân lại thờ những cây này? Mấy giây sau th́ tôi vỡ lẽ. Trên thân cây có những vết dao sâu hoắm ngang dọc chi chít. Th́ ra trẻ em đă bị đè vào những cây này trước khi thân h́nh bị chặt ra. Ở các hố chôn người đă được t́m thấy ở chung quanh, có biết bao xác đă không được nguyên vẹn h́nh hài. Có một hố đa số xác phụ nữ và trẻ em không có đầu và quần áo. Hơn 30 năm đă trôi qua, vậy mà người viếng thăm Choeung Ek vẫn c̣n có thể nh́n thấy xương vụn và quần áo của nạn nhân nằm rải rác đâu đó bên bờ các ngôi mộ tập thể.
       Lúc lính của Pol Pot tràn qua biên giới Tây Nam đánh giết người Việt, tôi c̣n sống tại SàiG̣n. Theo sự hiểu biết ít ỏi của tôi lúc đó th́ Trung Quốc không muốn cho Việt Nam được độc lập, Thế nên họ không hài ḷng lắm khi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Tôi nghe phong phanh là họ muốn dạy cho Việt Nam một bài học. Trung Quốc đă tiếp tay với chính quyền Pol Pot để tấn công Việt Nam ở biên giới Tây Nam và đồng thời dẫn quân tràn vào vùng Lào Cai nơi biên giới Hoa Việt. Sau khi lính Cộng Sản Việt Nam tấn công và chiếm được Phnom Penh, Trung Quốc lại tiếp trợ cho tàn binh Khmer Đỏ của Pol Pot chạy trốn trong rừng để chống Việt Nam. Biết bao thanh niên Việt Nam đă hy sinh trong cuộc chiến Miên Việt này. Trong số những người hy sinh, một người bạn học chung lớp của tôi đă đạp phải ḿn chết nơi đất người vào năm 1984. Sự mất mát của người Việt tại Kampuchea thật nặng nề, vậy mà ít ai nhắc tới. Người Việt sống tại Kampuchea rất đông, và đă bị chính quyền Pol Pot giết gần hết vào lúc đó. Người Chàm (Chiêm Thành) chạy loạn từ Việt Nam sang Kampuchea từ thế kỷ 13 cũng khá đông. Khoảng 2/3 dân số Chàm tại Kampuchea cũng bị Pol Pot tiêu diệt.
       Điều đáng buồn là không phải chỉ riêng chính quyền Pol Pot, mà người dân Kampuchea nói chung cũng rất căm hận người Việt Nam. Tôi biết chuyện này một cách mơ hồ cho đến khi có mặt tại xứ người. Lịch sử như sống dậy trước mắt. Qua những cuộc nói chuyện với dân bản xứ, tôi được biết là từ bao nhiêu năm qua người Miên đă luôn cảm thấy bị người Việt đô hộ, bằng áp lực quân sự cũng như bằng sức mạnh kinh tế. Là người Việt, phản ứng tự nhiên là tôi muốn phủ nhận chuyện này. “Người Việt không tốt với chúng tôi.” Người lái xe tuk tuk nói trong một buổi ăn trưa. Khi bị hỏi cặn kẽ, anh chỉ lắc đầu, và lại lắc đầu. Mặc dầu có mấy đài tưởng niệm sự hy sinh của các chiến sĩ Việt tại Phnom Penh và Siem Reap, người Miên không chút ái mộ người Việt. Tôi đến chợ tṛ chuyện với các chị thúng rổ người Việt. Hỏi xem gia đ́nh họ ở đây có bị ngược đăi không? Hoàn toàn không. Họ khẳng định với tôi và vồn vă cho rằng buôn bán ở Phnom Penh rất thuận lợi. Người bản xứ cũng ḥa nhă. Hai bên không hiểu nhau chăng?
       “Người Việt đẹp lắm!” Cô gái Miên có đôi mắt to đen cười nói với tôi. Tôi được biết là người Việt rất được chuộng trên thị trường sex của đất Kampuchea. Các trẻ em và phụ nữ Việt ở đây “bán” rất được giá, khách mua dâm chịu trả tiền cao cho những người có làn da trắng hơn da người Miên bản xứ.
       Nếu hôm qua người Miên và người Việt là nạn nhân của phong trào diệt chủng của Pol Pot, th́ hôm nay họ là nạn nhân của một tội ác mới. Đó là tội buôn người. Những cuộc mua bán người Việt Miên để làm nô lệ t́nh dục đang được tiếp diễn hàng ngày tại Kampuchea. Khi phái đoàn chúng tôi đến Siem Reap, một em bé gái độ chừng 9 tuổi đă t́m đến một người đàn ông Mỹ trong nhóm du lịch của chúng tôi và hỏi “You need yum yum?” Ông trợn mắt nh́n em bé: “What did you say to me?” Em bỏ chạy.
       Dựa trên báo cáo TIP (Trafficking In Persons Report) đưa ra vào năm 2005, 2006 và 2007, rất nhiều phụ nữ và trẻ em Việt đă trở thành nạn nhân của các cuộc mua bán người ở Kampuchea. Tôi thử đến một vài pḥng trà tại Phnom Penh để t́m hiểu t́nh h́nh. Vào thế giới đêm đầy muỗi đói tôi phải đối diện với ánh mắt ḍ xét của các ông khách dị hợm người da trắng đổ dồn vào ḿnh. Đa số các “nhân viên” pḥng trà đều là người Việt. Họ đă từng nghe lời dụ dỗ vượt biên giới để có được những công việc ngon lành. Những lời dụ dỗ ấy đă chấm dứt ở đây. Những ước mơ đơn giản vỡ vụn khi va chạm với thực tế phũ phàng. Trên đất người, trong ánh đèn lờ mờ sau khói thuốc, tôi nghe một cảm giác thật lạ khi quanh tôi vang lên những giọng nói miền Nam đặc dẻo ḥa lẫn tiếng hát của Celine Dion. Thấp thoáng những khuôn mặt xinh tươi chỉ độ khoảng tuổi con tôi.
       Tôi ghé qua nhiều pḥng trà như thế nhưng không thấy một người khách Á Đông nào. Hỏi ra th́ được biết có những nơi kín đáo khác dành riêng cho họ. Người lái taxi rất ngần ngại không tiết lộ cho tôi, nhưng theo tôi được biết th́ thế giới đen này c̣n bỉ ổi hơn. Nơi đó người ta sẽ thấy rất nhiều các em bé.
       Trẻ em th́ không tự ḿnh đi đến chốn này. Bị ép, bị dụ hoặc bị bán. Gia đ́nh các em bán rẻ hoặc thả liều cho các em đi qua đất Angkor bán cà phê hay buôn gạo. Kết quả là các em trở thành nô lệ t́nh dục mà không có cách nào t́m ra lối thoát. UNICEF ước lượng 1/3 phụ nữ “bán hương” ở Kampuchea tuổi dưới 18 mà trong số đó phần đông là gái Việt. Nhu cầu “hàng” nhỏ tuổi, chưa dậy th́, ngày càng gia tăng, v́ khách hàng muốn mua gái c̣n trinh, gái không mang bệnh tật. Theo điều tra của một số người chuyên môn, các thương gia Á Đông, nhất là các thương gia Trung Hoa, tin rằng ăn ngủ với con gái c̣n trinh sẽ đem may mắn cho việc làm ăn của họ đồng thời giúp cho họ tăng thêm sức khỏe. Do đó gíá của các em rất cao, cao đủ để trinh tiết của các em bị gia đ́nh “hy sinh”. Nhưng gia đ́nh các em không biết rằng họ đă giết chết các em tự thuở đó. Chết cả tinh thần lẫn thể xác. Một em thuật lại với nhân viên xă hội là khi em bị bán đi, ngực em vẫn chưa thành h́nh. Sau bao nhiêu năm bị hành hạ, em đă không c̣n muốn sống và đă thường dùng dao để tự cắt ḿnh.
       Chuyện buôn người hiện nay đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, từ Việt Nam đến Dubai, từ Đông Âu đến Ai Cập, song theo thống kê th́ đây là bi kịch dài của vùng Đông Nam Á. Bi kịch này tôi xin hẹn bạn đọc ở một bài tường tŕnh khác.
Mùi khuynh diệp đă không đến với tôi tại Phnom Penh.

Siem Reap
Khi tàu tốc hành của chúng tôi đến cảng Siem Reap, tôi đă không thể kiềm chế nổi nỗi xúc động khi chứng kiến cái nghèo thê thảm của người dân vùng này. Dưới cái nóng ngộp thở của bến cảng là cảnh tượng hỗn loạn của những người tranh nhau kiếm ăn. Người dân bu quanh khách du lịch để bán hàng hoặc mời gọi đi xe tuk tuk. Bụi bay mịt mờ trên những con đường đầy ổ gà to lớn. Tất cả nằm trong một bầu không khí nồng nặc mùi tanh của cá. Hai bên vệ đường đất đỏ là những ngôi lều được dựng lên bằng những mảng ny lông. Dưới những mảng ny lông đó, vợ chồng con cái chen nhau sống. Các em bé trần truồng như nhộng chạy lông nhông trên đường. Tôi đă đi qua rất nhiều nước và đă đến những vùng nghèo khó của Mễ Tây Cơ và Việt Nam, nhưng chưa nơi nào thảm thương như nơi này.
       Vào để hiểu thêm Siem Reap, người ta sẽ thấy cái nghèo và tệ nạn xă hội đi đôi với nhau. Trẻ em đi ăn xin đầy đường đến khó chịu. Những em bé sơ sinh được bồng như một dụng cụ để ăn xin. Tôi để ư thấy những em này lúc nào cũng ngủ say mê man. Tôi đoán là họ, những thành phần của cơ cấu “cái bang”, đă cho các em bé này uống thuốc để ngủ, để chuyện đi ăn xin được dễ dàng hơn.
       Trước các cảnh tượng này, tôi phải làm ǵ?
       Ở Kampuchea có rất nhiều cơ quan hoạt động phi chính phủ (NGO), nhưng qua nhận xét của các chủ khách sạn th́ các cơ quan hoạt động hữu hiệu rất ít. Tôi không sao t́m ra một cơ quan nào do người Việt quản lư, tuy người Việt định cư ở nơi này rất tấp nập. Đa số các quán hàng lớn, sạp bán ngoài chợ đều do người Việt làm chủ. Họ sống sung túc và thành công, trái với cái tôi nh́n thấy ở người bản xứ.
       Nợ máu, nợ đất, tôi không biết ai nợ ai giữa hai phía Việt và Miên, điều đó đối với tôi không quan trọng. Tôi cảm thấy ḿnh phải làm cái ǵ đó trước khi rời khỏi miền đất khổ sở này. Tôi may mắn được sự hỗ trợ của hội Friends of Huế Foundation, và đă qua đó để nối kết với một ngôi chùa Phật Giáo cùng các sư tăng đi đến vùng người dân chài sống để giúp họ gạo và nước mắm. Những người lam lũ và khốn khổ này đă quỳ xuống lạy phái đoàn một cách hết sức chân t́nh khi tiếp nhận sự cứu trợ. Tôi đă ứa nước mắt đứng tránh ra không dám nhận lễ của họ.
       Tôi muốn mua sắm rất nhiều thứ để phân phát cho các trẻ em mồ côi. Một đất nước chỉ có 6 triệu dân, vậy mà số trẻ em không cha mẹ lên tới 670,000 (theo thông tin của UNICEF). Khi đi chợ tôi mới khám phá ra là ở Kampuchea, mọi việc mua bán đều tính bằng đô la Mỹ, và vật giá đắt đỏ hơn ở VN rất nhiều. Đôi khi c̣n đắt hơn cả ở Mỹ. Phẩm chất th́ kém mà giá tiền lại cao, chẳng hạn như về mặt ăn uống. Ngoài việc giúp tiền cho các trại mồ côi, tôi c̣n muốn mua các trái banh nhựa cho các em để các em có thêm phương cách sinh hoạt chung. Không ngờ là những trái banh nhựa lại quá đắt, một trái banh nhỏ xấu xí giá 4USD c̣n trái lớn giá 10USD, trong khi gạo th́ 10USD/kg. Sau khi t́m hiểu vấn đề, tôi được biết là Kampuchea không sản xuất mà chỉ nhập cảng hàng hóa nhựa từ Việt Nam. Những quả cầu lông cũng do Việt Nam sản xuất. Mua sỉ giá 1USD một cái trong khi ở VN th́ chỉ có 2000VND. Tôi chợt nhớ là ở Việt Nam, mọi mặt hàng đa số do Trung Quốc sản xuất! Người ta ngồi chồng lên nhau một cách thật thứ tự: Trung Quốc ngồi lên Việt Nam, và Việt Nam th́ lấn người Miên.
       Tôi rời khỏi Kampuchea mà ḷng thật không ổn. Người dân của hai nước láng giềng này có rất nhiều nét tương tự với nhau. Từ chén chè đậu trắng nước dừa cho đến mùi hơi của đất trong mưa rào. Nhưng họ lại không muốn hiểu nhau và không cảm thông nhau. Tôi hoàn toàn không t́m được hương vị khuynh diệp nơi xứ sở của kỳ quan Angkor Wat, nhưng cảm thấy người tôi thêm được một sức sống mới vô h́nh. Tôi sẽ phải làm một việc ǵ đó.
     Hà Nội
       Từ cơn nóng hơn 30 độ C của Siem Reap, tôi bay vào vùng đất rét 7 độ C của Hà Nội. 26 Tết thủ đô những hàng hoa muôn màu sắc. Đỏ hồng vàng rực trời trong những cơn gió buốt xương. Hoa đào và cây cam quát (quất) ngập đường, đèn cờ rợp lối, điểm thêm sức sống cho bầu trời xám tái của miền Bắc. Xe cộ quá nhiều kẹt cứng trên đường trong những cơn mưa lạnh căm, đám đông chen chúc tranh nhau mua hàng ngoài phố, nhưng sự hỗn độn của cái xă hội thiếu trật tự kia không làm mất đi không khí của ngày đón Xuân. Hàng hóa từ Trung Quốc tràn về ngự trị đất Hà Nội, kể cả những vật trang trí cho ngày Tết Mậu Tí. Khách viếng thăm không thể phủ nhận được cái nhộn nhịp tưng bừng của một thành phố háo hức đón xuân, mặc dù thời tiết c̣n đang khắc nghiệt. 
       Tôi nhập bọn với các anh bạn họa sĩ của tôi để lên rừng hái hoa. Họ là thế. Lúc nào cũng phải khác người, không thích chạy theo đám đông. Tuy hoa đào đầy rẫy khắp chợ hoa, các anh lại muốn đi t́m hoa mận. Thời buổi này mọi người chạy xe Honda với những model mới nhất như SH300 ǵ ǵ đó, th́ các anh họa sĩ của tôi lại chạy những chiếc Vespa cũ kỹ của thời 70. Mấy năm qua tôi vẫn thường về thăm và trao đổi nghệ thuật với họ. Tôi đă gia nhập những chuyến đi xa với những mục đích thật vu vơ chẳng hạn như lên miền cao Hà Giang t́m rượu ngô của Cô Thu Bột. Hoặc những cuộc hành tŕnh sưu tầm gốm cổ nhà Mạc, hay đi kiếm xác chiếc xe Landrover măi tận đảo Ngọc Vừng hoang dă cuối Vịnh Hạ Long. Thú vị nhất là chuyến đi về làng gốm cổ truyền Phù Lăng, nơi mà cả ngàn năm nay vẫn duy tŕ cách nấu gốm bằng củi, mặc dầu xung quanh làng không một bóng cây ngọn gió. Tôi nhớ măi lời nói của một anh họa sĩ khi chúng tôi đứng ngắm nghía một số mẫu gốm tân thời trang trí theo tính cách lập thể (cubism): “đây là cái tát vào nghệ thuật!” Họ có những nhận xét rất khắt khe và cực đoan trong lănh vực nghệ thuật, chẳng hạn như đến nay họ vẫn không chịu nghe dĩa nhạc CD mà chỉ nghe dĩa nhựa (vinyl records) hoặc băng nhựa (audio tapes). Một anh cho rằng những dĩa này có những lỗi do thời gian và bụi bặm tạo ra, nhưng do đó đă mang theo lịch sử và thời gian của nhạc. Có lẽ v́ những sự cực đoan đó, tôi hết sức yêu mến họ.
       Chúng tôi đánh xe lên Ḥa B́nh, đất đỏ, núi xanh ŕ cao sững như trong tranh cổ Trung Quốc. Xe chúng tôi đi sâu vào các miền đất của người Dao, cứ thế mà đi măi đi măi, hết bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu lần dừng lại ngẩn ngơ ngắm sương mù rơi xuống các nhà tranh bên đường. Hoa mận vẫn biệt tăm. Th́ ra năm nay hoa mận nở sớm và đă rụng hết khi cái rét tràn về. Chúng tôi tay trắng quay về Hà Nội, đến Lê Thạch Quán gần bờ Hồ Gươm, nơi tụ tập thường xuyên của giới văn nghệ, th́ trời đă tối. Riêng tôi cảm thấy một cái ǵ đó thật hả hê và thỏa măn, mặc dù không hái được một nhánh hoa mận nào, và mặc dù cây khuynh diệp vẫn vắng bóng. Có lẽ là do những mẩu chuyện vụn trên đường, nhất là những chuyện của trước ngày “đổi mới”. 
       Anh “Tâm Mải Chơi” chắc hẳn phải hắt hơi v́ chúng tôi nói rất nhiều về anh hôm ấy. Anh là một họa sĩ mê chơi hơn mê tranh. Có lần anh dặn vợ ở nhà để anh đi ăn sáng với bạn, rút cuộc là 3 ngày sau anh mới quay về nhà. C̣n khi vào Sài G̣n triển lăm, anh thuê 2 chiếc xích lô, một chiếc chở anh và chiếc kia chở tranh. Đi giữa đường gặp người quen vẫy vào quán uống cà phê, anh liền nhảy xuống xe và quên mất xe tranh. Ngày khai mạc cuộc triển lăm của anh, anh đến tay không và cười trừ với mọi người. Tệ hơn nữa là có lần anh Tâm bắt gặp một anh bạn của ḿnh hớn hở dẫn cô t́nh nhân mới quen vào một căn nhà nhỏ trên lầu cao để tỏ t́nh. Chủ nhà này lúc ấy vắng nhà đi Tam Đảo. Anh Tâm Mải Chơi bèn lén lút khóa cửa nhốt họ lại. Chỉ định đùa nghịch đôi t́nh nhân kia một lúc cho vui nhưng rồi anh bỏ đi nhậu với bạn bè và quên béng mất mọi chuyện. Ba ngày sau anh mới nhớ ra và chạy đến mở cửa cho cặp t́nh nhân nọ th́ hai người này đă bơ phờ rũ rượi. Chuyện kể lại là từ đó hai người t́nh nhân kia không bao giờ nh́n mặt nhau nữa. 
       Rồi lại đến chuyện lạc núi. Mấy anh họa sĩ th́ thường đi lên miền cao để t́m “cảm hứng sáng tác”. Đêm về sương mù dày đặc các anh không sao t́m ra được đường xuống núi. Cuối cùng các anh ghé vào một căn nhà bên đường để xin trọ qua đêm. Đó là căn nhà tranh của 2 bố con người thiểu số. Ông bố bằng ḷng cho 3 anh họa sĩ ở trọ và quay dặn ḍ cô con gái bằng tiếng bản xứ, cô gái này người độ khoảng trong ngoài 18 tuổi có làn da trắng mịn. Cô nghe bố dặn rồi lui vào nhà trong. Các anh họa sĩ ngồi bên ngoài uống trà trên nền đất. Họ đợi măi vẫn không thấy cô gái trở lại và cũng không được chỉ dẫn chỗ ngủ ở nơi nào. Cơn lạnh miền núi tràn ngập gian nhà nhỏ, cằm của các anh bắt đầu run lên th́ cô gái kia lại đột ngột xuất hiện. Ông bố lúc đó mới quay lại nói với các anh bạn tôi rằng: “con tôi đă nằm sưởi ấm chăn giường cho các anh rồi đó, xin mời các anh vào nghỉ.” Đêm đó các anh bạn tôi ngủ rất ngon!
       Và c̣n bao nhiêu câu chuyện thú vị khác nữa đă làm tôi lưu luyến họ. Chuyện họ kể không có ǵ thâm thúy lắm nhưng khi người kể có duyên th́ chuyện ǵ cũng hấp dẫn. 
       Tôi luôn luôn t́m ra những nguồn sinh lực mới khi gặp lại những người bạn này, nhưng dù mến họ cách mấy tôi cũng không muốn nương lại Hà Nội ăn tết năm nay v́ cái rét quá tàn khốc. Ở khách sạn, nước không đủ nóng để tắm và máy sưởi không đủ ấm nên tôi không sao chạy trốn được cái lạnh. V́ không khí mang nhiều hơi nước nên cơn lạnh dường như lúc nào cũng bám vào da và ngấm vào tận xương tủy. Các người dân miền núi phải bỏ nhà dắt trâu ḅ xuống núi để tránh tuyết, dẫu rằng họ phải ngủ ngoài đường chợ. Nếu trâu ḅ chết là họ mất hết gia sản. Có những người phải đem hết chăn mền của họ đắp cho súc vật để rồi bị lâm bệnh v́ cơn lạnh. Có người chở con đi trên xe gắn máy ngồi đằng trước, khi xuống xe mới biết con đă chết cứng tự lúc nào. 
       Nha Trang.                                                                                              Tôi đầu hàng cái lạnh nên phải chạy vào Dốc Lết gần Nha Trang t́m hơi nóng. May cho tôi vùng cát trắng biển xanh này quá thơ mộng nên tôi có chỗ dừng chân để thảo vội bài tường thuật này gửi về bạn đọc. Dốc Lết cũng thật hoang dă, nhưng sau vài bữa lang thang, cuối cùng tôi cũng t́m được bóng mát của cây khuynh diệp đợi mong. Tôi ṿ măi lá khuynh diệp để tay thêm xanh nhưng không hiểu sao bàn tay tôi vẫn trắng và mùi hương chỉ thoang thoảng. Thế nghĩa là sao? Tay tôi đă khác xưa và mùi khuynh diệp đă thay đổi?
       Tôi lần ṃ đến một ngôi chợ hải sản ven biển. Vừa ngồi xuống chiếc ghế bố thuê 5000 đồng, vài người bán hàng đă lại vây quanh tôi mời mua mực và tôm tích ăn tại chỗ. Tôi hiếu kỳ nên bằng ḷng mua nửa kí tôm tích và nửa kí mực. Con tôm này chắc có họ hàng với con rết nên có rất nhiều chân. Chị bán hàng là một phụ nữ nh́n già dặn hơn tôi nhưng khi hỏi ra th́ chị c̣n nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Tuy da chị bị nám nắng biển muối, chị không dấu được cái vẻ đẹp duyên dáng rất Việt Nam. Nghe lời chị, tôi ngồi ăn rất “dă chiến”, ăn trong gió cát không có khăn lau tay hay bát muối chanh mà tất cả chỉ nằm vẹn trong hai bao ny lông. Không sao. Tôi xin nửa chai rượu đế để pḥng hờ không bị đau bụng và sẵn sàng chiến đấu với mực và tôm. Chị bán hàng nhất định không để tôi bóc tôm lấy. Tôi hỏi tại sao th́ chị bảo rằng nếu bóc không quen th́ thịt tôm sẽ nát v́ tôm này mang nhiều trứng. Thế là chị ngồi dưới cát bóc từng con tôm cho tôi ăn. Và nhất định không ăn chung với tôi rồi cũng không chịu ngồi trên ghế sợ tôi tốn tiền. Trong gió cát mờ mắt, tôi thấy tôm thật đậm đà. 
       Tôi bắt chuyện vu vơ và hỏi về chồng con của chị. Nghe giọng chị hạnh phúc tôi phán một câu chung chung: “cuộc sống của các chị đây coi ra th́ vất vả về thể xác một chút nhưng tinh thần thật thoải mái, không căng thẳng như chúng tôi bên đó.” Chị đỡ lời tôi ngay: “Căng thẳng lắm chị! Không đơn giản như chị tưởng. Chị có khi nào lo sợ chồng chị đi làm mà không bao giờ về nữa không?” Tôi lắc đầu.
       “Chồng em đi đánh cá, mỗi đêm là em mỗi phập phồng. Khi băo lớn mà chồng em chưa về th́ em cảm thấy ḿnh già đi mấy tuổi. Đă mấy lần thuyền bị lật mà chồng em may sao vẫn chưa mất mạng.” Tôi nh́n ra những chiếc thuyền thúng tṛn nhỏ đang lao chao trên biển trong nắng chói chang, rồi quay qua đỡ con tôm từ tay chị và ăn một cách rất thận trọng. Đây là do công sức của nhiều người tôi mới có được bữa ăn đó. Tuy mùi khuynh diệp nơi đây không nồng đủ, tôi rời Dốc Lết cảm thấy ḷng măn nguyện. 
     Huế.                                                                                                           Đă đến ngày tôi phải bay ngược ra Huế để thăm các con tôi, 40 đứa trẻ của Hội Friends of Huế Foundation (www.friendsofhue.org). Huế thân thương vẫn đang c̣n say sưa trong hương vị Tết, nhưng không may cơn lạnh miền Bắc đă xâm lấn đất Thần kinh. Tôi đến thăm Trung tâm trong khí trời lạnh giá. Tuy nhiên, đêm hôm đó chúng tôi cảm thấy thật ấm v́ hơn 50 người vừa trẻ con vừa người lớn (tôi và các bảo mẫu) ngồi xung quanh căn pḥng học nhỏ hàn huyên tâm sự. Ánh mắt các em sáng rỡ trong niềm vui, nụ cười nở ṛn tan trong sự hân hoan. Có ai biết được quá khứ của mỗi em khó khăn sóng gió như thế nào? Nơi đây, các em đă có đại gia đ́nh sống trong t́nh thương và sự bảo bọc của nhiều người, được như thế này một phần lớn là nhờ công đức của các nhà hảo tâm bên Mỹ.
       Đêm khuya tôi đi quan sát nơi các em ngủ mới giật ḿnh khi thấy các em co rúm trong một chiếc chăn mỏng. Tôi giận run lên và chất vấn các bảo mẫu là tại sao lại để đến t́nh trạng như thế. Một chị bảo mẫu rươm rướm nước mắt trả lời: “thưa cô, em cũng định thưa với cô để mua thêm chăn cho các em nhưng bận ri chăn mắc quá cô nờ. Và các thức ăn gạo nước c̣n mắc hơn. Hội đă mấy lần tăng chi phí cho mỗi em nhưng chúng em đ̣i hoài th́ sợ Hội hiểu lầm. Món chi rứa cũng lên quá cao, cô ń.” Tôi cũng thấy chuyện này trong lúc ở ngoài Hà Nội nhưng không nghĩ nó ảnh hưởng Huế nhiều như vậy. Theo báo chí th́ vật giá leo thang đến 14% nhưng lương bổng cho công nhân vẫn vậy. (Ngày tôi gửi bài này đến ṭa soạn th́ vật giá đă lên đến 17%.)
       Tôi vẫn không chấp nhận để các em nằm trong cơn lạnh này, nhất là các pḥng đều không có máy sưởi. Tôi yêu cầu các chị là bằng mọi giá ngày mai các em phải có thêm chăn. Tôi hỏi: “nhưng đắt là đắt bao nhiêu, thưa chị?” 
       “Phải chăn Trung Quốc th́ mới ấm, mà một cái th́ khoảng 170 ngàn chị Jenny à.” 
       “Tại sao chúng ta từ trước đến giờ không chuẩn bị chăn ấm này cho các cháu để giờ phải ra cảnh này?” 
       “Thưa chị, v́ xưa nay có bao giờ lạnh như chừ đâu. Lần cuối là khoảng 40 năm trước.”
 
       Đêm hôm ấy tôi mới nếm mùi. Khi về khách sạn, tôi bật máy sưởi lên 30 độ C và ngồi trùm chăn để chờ người được ấm lại. Ngồi măi, càng ngồi càng lạnh. Tôi gọi tiếp tân cho người lên xem tại sao máy sưởi không ấm.
       "Thưa chị, máy của khách sạn chúng em chỉ có một chiều thôi chị ạ.” Tôi mới hiểu ra là máy này chỉ là máy lạnh mà không có máy sưởi. Đă lạnh tôi c̣n bật thêm máy lạnh! Đêm ấy tôi mặc quần jeans, 2 đôi vớ và 5 cái áo để đi ngủ. 
       Ngày hôm sau, người bảo mẫu hớt hải vào pḥng làm việc của tôi và báo cho tôi biết là giá chăn đă tăng lên 230,000 đồng một cái. Tôi đồng ư cho chị mua với giá này. Đến chiều chị lại lấp ló trước cửa pḥng họp của chúng tôi. Tôi mời chị vào và chị rụt rè nói là không t́m đủ số lượng chăn ấm.
       Chị cho biết thông tin ở ngoài chợ là chăn bắt đầu không c̣n để bán. Các cửa tiệm đă thông báo cho Hà Nội để chở thêm chăn vào. Ngay hôm đó, xe chuyển hàng đang đi giữa đường vào Huế th́ bị điều trở lại Hà Nội v́ nhu cầu ngoài Bắc cao hơn. Khách mua hàng từ Trung Quốc phải qua Việt Nam để mua lại chăn chính họ nhập qua, bây giờ mua lại giá một gấp hai. Cuối cùng chúng tôi chỉ mua được 20 cái chăn và các em phải ngủ chung giường để đủ ấm. Sáng hôm sau các em gặp tôi cám ơn rối rít. “Chăn ấm quá cô ń.” 
       Đương đầu với cái lạnh và bao nhiêu chuyện phức tạp của công việc Hội FHF, tôi không nhớ đến chuyện đi t́m cây khuynh diệp. 
       Lo xong mọi chuyện cho Trung tâm, tôi lại cùng một số t́nh nguyện viên đi thăm các vùng lân cận nơi bị băo lụt của năm 2007 tàn phá. Biết bao nhiêu nơi cần sự giúp đỡ của hội FHF, hội không thể nào giúp cho xuể. Một nơi đă gây lại ấn tượng cho tôi là xă Quan Ḥa. Nơi này là một trong các vùng thấp nhất của Tỉnh Thừa Thiên Huế. Đường vào xă chỉ như con đê hẹp rộng độ 2 mét ngang. Xung quanh là ruộng lúa nước xanh thắm. Nhưng khi lụt đến th́ các xă ở khu vực này ch́m trong biển nước mênh mông. Bao nhiêu xă hợp lại cũng không có được một ngôi nhà hai tầng để chạy khi nước lên. Trong thời gian bị lụt của năm 2007 vừa qua th́ các xă này bị cách biệt hẳn với các xă lớn bên ngoài. Cả tuần lễ sau mới có thuyền vào để cứu người già và trẻ em. Người dân nơi đây van xin chúng tôi xây thêm tầng 2 cho ngôi trường làng để họ có nơi chạy lụt trong mùa nước dâng. Chúng tôi đến khảo sát ngôi trường mới cảm thấy thật xúc động. Ngôi trường chỉ là một căn nhà cũ lụp xụp 3 gian nền đất, nơi tập trung 76 trẻ em đi học hàng ngày. Hai người chủ nhà bên cạnh ngôi trường thấy chúng tôi đến liền chạy ra. Họ nói rằng nếu chúng tôi cần thêm đất để xây cầu thang cho trường th́ họ xin dâng v́ sự cần thiết quá cao. Họ mong cho con cháu trong làng có thêm chỗ học, đồng thời có tầng lầu cao để dùng làm nơi chạy lụt. Dân làng đă thu góp lại được 100 triệu đồng và mong hội chúng tôi giúp cho phần c̣n lại của cuộc xây cất. Tôi rất muốn nhận lời nhưng không dám v́ vẫn cần phải thông qua Ban Chấp Hành FHF.
       Khi xe chúng tôi chuẩn bị ra về th́ có người chạy theo và hỏi xem chúng tôi có thể giúp ǵ được cho một gia đ́nh có 2 người vừa bị chết. Tôi hỏi cặn kẽ hơn th́ được biết rằng nạn nhân là một đôi vợ chồng trẻ làm nghề đánh cá tôm ở xă này. Để gia tăng thu nhập họ sử dụng b́nh điện xe hơi cho dây chạy vào trong nước để điện giật chết những con vật sống dưới nước quanh đó. Kết quả là bao nhiêu cá to tôm nhỏ rùa già lươn non trứng mỏng rắn rít ǵ ở vùng nước lân cận đều bị giết chết. Họ chỉ cần nhẹ nhàng lấy lưới vớt lên và đem bán. Lần này, không may v́ bất cẩn, người chồng đă để hở tay và bị điện giật. Vợ thấy vậy chạy lại cứu chồng và cũng bị mất mạng theo. Sanh nghề tử nghiệp. Một anh t́nh nguyện viên nhún vai nói: “Chị thấy người ḿnh có hai tếch không? Ḿnh chẳng thèm câu từng con một, ḿnh phải giết cả sông mới được.” Đây là phương cách “đánh cá” đang rất thịnh hành ở các nơi mặc dù có sự cấm đoán khắt khe của chính quyền. Hai vợ chồng xấu số này mất đi để lại 6 đứa con thơ. Mọi người đề nghị là chúng tôi nên nhận các em vào Trung tâm để nuôi. Tôi liền cho nhân viên FHF điều tra thêm vấn đề này. Nhưng điều làm tôi băn khoăn là người dân bất chấp hậu quả t́m kế sinh nhai bằng những phương thức nguy hiểm và bất hợp pháp để rồi phải trả những cái giá thật đắt. V́ miếng ăn, nhiều người đă không màng làm thiệt hại môi trường và nguy hại đến tính mạng. Ḷng buồn buồn tôi tạm biệt xă Quan Ḥa để đi lên xă Thụy Biều, vùng ngày xưa có giam nhiều tù binh, để thăm những gia đ́nh nghèo mượn tiền vốn của Hội FHF để trồng rừng cao su. Những đồi cao su xanh mạnh mẽ nhưng mùi hương khuynh diệp lúc đó như đă bay rất xa tôi.
       Rời Thụy Biều, chúng tôi đến một làng nhỏ ở xă Phú An. Làng này chỉ có 47 gia đ́nh, tổng cộng dân số khoàng 350 người. Làng nhỏ, nhu cầu ít, người dân sống mộc mạc và đơn giản. Họ không xin chúng tôi giúp đỡ ǵ cả. Nhưng trời đất xui khiến cho chúng tôi gặp một đám tang đang trên đường ra băi tha ma. Đường đưa người quá cố về nơi yên nghỉ đ̣i hỏi người ta phải đi qua một chiếc cầu xi măng rất hẹp bắc ngang con kênh nông đầy bùn ngăn trở Phú An với bên ngoài. Rất tiếc là chiếc cầu cũ đă ḷi sườn sắt lại quá hẹp không đủ chỗ cho hai hàng người khiêng quan tài đi qua. Muốn dùng thuyền cũng không được v́ kênh cạn không đủ nước. Thế là người phải khiêng ḥm xuống kênh, lội bùn nặng nề từng bước tiến, vất vả chông chênh măi mới qua được bên kia bờ kênh. Từ bao năm nay người chết ở vùng này đă phải gian truân như thế mới đến được nơi an nghỉ. Chúng tôi trong hội FHF nh́n nhau và biết là ḿnh phải làm ǵ. Tuy không t́m ra hương vị khuynh diệp tại đất Thần kinh, tôi đă quên hết đi căn bệnh của ḿnh và cảm thấy ngày sao quá ngắn.
       Trên đường về, tôi thấy bóng tôi như một trong những người khiêng quan tài. Xác nặng hai vai, chân nặng bùn, chậm răi tiến về phía trước.
       "Tôi làm nghề cạp đất!” Anh bạn học chung trung học với tôi ngày xưa tuyên bố một câu b́nh dị. Tôi chăm chú nh́n mắt anh thắc mắc. Anh giải thích chậm răi về công việc lấy đất nơi cao đổ xuống vùng bùn lầy nước đọng—một phương cách bán đất hai lần. Đất, nói chung, không c̣n chỉ là chuyện nặng hồn sỏi đá. Mà là câu chuyện của một cơn sốt thời đại. Điển h́nh là đất ở miền Nam.
     Sài G̣n.
       Sau bao nhiêu ngày vất vả với khí hậu hai miền Trung Bắc, tôi cảm thấy rất nhẹ nhơm khi đón nhận bầu không khí rất mát và dễ chịu của sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng cái dễ chịu đó dần dần bị mất đi trong khung cảnh chen lấn của những ḍng người và xe sôi sục trên những con đường từ sân bay về trung tâm thành phố. 
       Tôi vào Sài G̣n để tư vấn cho một công ty Mỹ về việc lập hợp đồng với một số công ty nước ngoài hiện đang làm việc tại Việt Nam. Thế là kế hoạch đi t́m khuynh diệp của tôi bị lệch đi một chút. V́ ỷ y, phái đoàn chúng tôi đă không lo đặt pḥng trước, nên vừa đặt chân xuống phi trường là đă phải đương đầu với việc đi t́m khách sạn có đủ 5 pḥng ngủ. Chúng tôi bắt đầu với những khách sạn 4 sao trên đường Nguyễn Huệ, từ Rex đến Majestic. Họ chỉ có 1 hoặc 2 pḥng trống chứ không đủ 5 pḥng. Chúng tôi liền quay qua khách sạn 3 sao như Bông Sen trên đường Đồng Khởi nhưng cũng vô dụng. Tất cả đều bị “sold out”. Xe phái đoàn cứ loanh quanh những con phố, hết khách sạn này đến khách sạn khác, và sau 7 nơi dừng chân, chúng tôi may mắn t́m đến một khách sạn nhỏ trên đường Thủ Khoa Huân sau chợ Bến Thành. Giá pḥng là $63 Mỹ kim cho một căn pḥng hẹp, không có ǵ sang trọng, mà cách đây hơn một năm tôi chỉ phải trả khoảng $25 Mỹ kim. Khi chúng tôi trả pḥng, một người trong nhóm chúng tôi nói với cô tiếp tân là anh ta cần quay lại vào đầu tháng 3, và được cô tiếp tân cho biết là giá pḥng sẽ tăng lên $70 đô một người. Sự lên giá xảy ra ngay trước mắt chỉ trong ṿng có mấy ngày. Hỏi ra mới biết cái xứ của nước dừa rau má này đang lên cơn sốt đất đai và giá cả!
       Dù có mua bán hay không, chuyện giá cả đất đai lên cơn sốt nghe ra đến phải rùng ḿnh. Cả nước Việt đang oằn oại trong t́nh trạng này. Riêng ở Sài G̣n, câu tục ngữ “bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” đă trở thành hiện thực. Giá của cả đất lẫn vàng thi nhau vượt kỷ lục và qua một thời gian, chuyện định giá đất theo giá vàng (một phương cách quen thuộc mà xưa nay người Việt vẫn thường dùng) đă trở thành vô nghĩa. Đối với chuyện mua đi bán lại đất hoặc nhà cửa, nếu tính theo đồng đô la th́ người ta có lời, lời nhiều lắm, nhưng nếu tính theo vàng th́ người bán sẽ bị lỗ. Lỗ nặng.
       Trong những câu chuyện họp mặt, chủ đề đất đai thường hay được đề cập đến. Đất đai giờ đây là chuyện gây lo âu và đồng thời cũng gây hào hứng v́ đă làm giàu cho nhiều người. Tôi phải vuốt trán khi nghe một cuộc mua bán vừa xảy ra tại Quận Nhất với giá bán 315 triệu VND (20.000 ngàn Mỹ kim) một mét vuông! Ông thân chủ người Mỹ hỏi tôi: “Như vậy là đất ở trung tâm thành phố này c̣n đắt hơn cả đất của Tokyo ư?” Tuy tôi không giám khẳng định như thế nhưng cứ theo cái đà này, cái ǵ cũng có thể xảy ra. Anh bạn chuyên môn trong nghề đất cho tôi biết là đất trên đồi c̣n được giá hơn v́ đất trên cao có một giá trị mới khác hơn xưa rất nhiều. Tôi hỏi thêm th́ anh cho biết là ngoài nghề mua bán đất, anh c̣n có nghề “cạp đất”.
       Anh bảo tôi rằng ngày xưa anh học phổ thông bị điểm yếu, bà anh thường chê rằng “sau này mày chỉ đi cạp đất mà sống.” Anh hiện đă làm theo lời bà. Anh mua đất trên đồi rồi bốc đất lên để bán cho những công tŕnh xây dựng vùng bùn lầy hoặc các khu vực ven bờ sông cần làm thành ngăn ngừa đất lở. Sau khi sang bằng mặt đất và gỡ được một nửa số vốn, anh lại bán miếng đất đó đi. Kết cục anh lấy lại tổng số vốn cộng thêm một món tiền lời, coi như là mua một lời hai. Dĩ nhiên tất cả không đơn giản như vậy, cạp đất cũng đ̣i hỏi phải thông thạo nghề và nắm vững thông tin chính xác, chẳng hạn như phải t́m hiểu kế hoạch đầu tư của các thương gia nước ngoài và dự án khai thác giải tỏa của chính quyền địa phương như thế nào, từ đó người buôn đất mới biết nên đầu tư ở đâu th́ mới nắm được phần thắng trong tay.
       Cơn nóng sốt đất đai này có lẽ cũng ảnh hưởng ít nhiều đến sự sôi sục kinh tế tại Việt Nam. Chuyện đầu tư của các nước ngoài vào miền Nam thật sự là một hiện tượng đáng kể. Mới từ đầu năm đến giờ mà Việt Nam đă được hứa con số đầu tư trên 15 tỷ Mỹ kim từ các nước ngoài, đứng đầu là Canada và sau đó là Singapore. Có lẽ v́ cơ hội làm ăn được gia tăng quá nhanh, dân chúng đổ dồn về các thành phố nên dân số tại Sài G̣n chắc hẳn đă tăng gấp đôi so với một năm trước đây. Đi đâu và bất cứ lúc nào cũng bị kẹt xe, không phải chỉ trong giờ cao điểm. Người và người ngập đầy phố chợ. Ai ai cũng dồn về Sài G̣n hoặc về các vùng có nhiều nhà máy lớn.
       Nói đến các nhà máy lớn là tôi cảm thấy có ǵ đó sờ sợ. Trên đường từ thành phố đi ra các tỉnh như B́nh Dương, Long An, v.v., tôi đă chứng kiến các hăng xưởng mới mọc lên thật quy mô và rầm rộ. Điểm đặc biệt là đa số các xưởng này không mang những cái tên được đặt bằng tiếng Việt.
       Điều này làm tôi liên tưởng đến các khu vực tô giới quốc tế ở thành phố Thượng Hải thuở xưa lúc triều đ́nh Măn Thanh phải nhượng đất lại cho các cường quốc Tây phương và Nhật Bản. H́nh như hiện tượng đó đang xảy ra trên miền Nam Việt Nam. Mỗi một khu vực cận Sài G̣n là nơi chiếm đóng của một số công ty lớn thuộc về một nước ngoài. Đi về phía B́nh Dương, bạn chỉ thấy toàn những công ty Đài Loan, cây số này nối cây số khác. Qua một khu vực khác th́ thấy toàn những công ty của Hàn Quốc. Rố đến những khu vực của Trung Quốc. Và những hăng xưởng nước ngoài cứ thế mà nối tiếp nhau. Trên đường đi Long An, nếu đi đúng vào giờ “tan xưởng” của các công ty sản xuất giày dép (trong đó có cả công ty Nike), người ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy hàng ngàn công nhân tràn ra như biển người làm kẹt cứng đường. Đúng ra điều này phải làm cho tôi phấn khởi, v́ nếu có nhiều công ty đầu tư, th́ người dân sẽ có nhiều cơ hội được công ăn việc làm, nhưng sao tôi cứ cảm tưởng như có cái ǵ không ổn.
       Tôi được dịp theo thân chủ tôi vào thăm các hăng xưởng sản xuất ny lông. Khi nh́n thấy cảnh tượng và điều kiện làm việc của các công nhân, phản ứng đầu tiên của tôi là t́m máy chụp h́nh.
       “Không! Xin chị đừng chụp.”
       Người hướng dẫn viên chặn tay tôi lại, không cho tôi chụp h́nh. Thật cả là một tiếc nuối, v́ tôi muốn bạn đọc nh́n thấy tận mắt những guồng máy bóc lột công sức lao động của người dân ở đây quy mô đến cỡ nào. Mỗi ṭa nhà tôi bước vào là mỗi sự ngạc nhiên, trước tiên là hơi nóng từ các máy móc ùa ập vào người tôi như muốn hâm chín da thịt, kế tiếp là tiếng sầm sập của máy nghe ù cả đôi tai. Tôi đưa tay bịt lấy lỗ tai và bàng hoàng nh́n xung quanh để nhận xét t́nh h́nh. Ái chà, nó là cả một câu chuyện. Từ đầu bên này của ṭa nhà, tôi không nh́n được đến đầu bên kia, nó là những ṭa nhà khổng lồ sâu thăm thẳm. Những cuộn ny-lông to lớn sừng sộ từ trên cao tuôn chảy xuống, những máy kéo nhựa nghe như rên rỉ thay nhau ḥa âm với những máy đập śnh sịch chung quanh. Trong khung cảnh uy hiếp này là những công nhân nam nữ ốm tong teo, đứng thành hàng luôn tay làm những động tác giống như là đuổi theo các máy móc kia. Trong nhóm người này tôi nhận ra có những đôi mắt c̣n quá trẻ, quá non nớt. Bên cạnh các đôi mắt đó tôi thấy xuất hiện những nhăn hiệu quen thuộc như Albertson's, Gamestop, Pizza Hut, 99 Cents, KFC, Safeway, v.v.
       Hết khu vực này đến khu vực khác, tôi không thể ước lượng được có bao nhiêu những con người lam lũ kia đang làm việc trong hoàn cảnh đó. Họ làm việc trong cơn nóng ác nghiệt, trong sự ồn ào đe dọa của máy móc, không mũ bảo hiểm, không găng tay, không có ǵ để bảo vệ lỗ tai. Tôi không thể tưởng tượng được họ có thể làm việc như thế ngày này qua ngày khác. Thấy khó chịu, tôi muốn hỏi người quản lư công ty, nhưng không sao cất tiếng được v́ tiếng máy quá ồn. Tôi chỉ có thể lên tiếng được mỗi khi đi ra hành lang để băng qua một khu xưởng khác. Tôi hỏi tại sao xưởng không có những trang bị an toàn cho công nhân. Người quản lư Đài Loan trả lời:
       “Lúc ban đầu chúng tôi cũng có cho họ mũ và găng tay, nhưng những người này ngoan cố lắm, họ không chịu sử dụng, nên chúng tôi dẹp đi, không dùng đến nữa.”
       Tôi không thể tin vào những lời nói kia v́ tôi đă biết khá nhiều về hoàn cảnh làm việc của các công nhân Việt Nam tại Đài Loan. Tôi đă nh́n thấy h́nh ảnh của những người bị cụt tay, cụt chân hoặc nằm chết trên giường bệnh tại nhà thương. Rồi đến h́nh ảnh những người cha, người mẹ với những khuôn mặt nhăn nheo thảm hại qua xứ người để nhận xác con về. Những người con này chết v́ tai nạn lao động, và v́ chết trước cha mẹ nên quan tài quấn khăn tang như nhắc nhở rằng họ đă không sống đủ để báo hiếu cho cha mẹ--để cho cha mẹ đă già c̣n phải ôm lấy đống nợ khổng lồ v́ trước đó đă phải bôn ba vay mượn để có thể gửi con đi ra nước ngoài làm công!
       Chuyện ở Đài Loan có lẽ cũng như chuyện của bao nhiêu người Việt đi làm mướn ở các nước khác như Mă Lai, Nam Dương, Cao Ly, Trung Quốc, Congo, hay Dubai. Gần một triệu con người bỏ sông Hương, sông Hồng và sông Cửu Long để đến đất người kiếm ăn, không hề biết rằng cứ một người thành công là có mười người phải chịu cảnh đọa đầy. Phụ nữ bị hăm hiếp là chuyện thường không mấy đáng sợ, nhưng làm sao bạn đọc có thể h́nh dung được có những phụ nữ bi giam cầm trong pḥng tối không được mặc quần áo, hết ngày này qua ngày khác?
       “Nếu lúc cần, chúng vào pḥng hành xác, chúng dùng cây gậy hoặc nắm đấm để làm tṛ chơi với cơ thể tôi.” Một nạn nhân với khuôn mặt đờ đẫn thuật lại. “Bao nhiêu ngày không có quần áo, tôi phải ngồi nép vào góc tường co đầu gối lên để có thể che chở cho thân ḿnh.” Rồi nước mắt chị từ từ tuôn ra: “Tôi lúc đó cảm thấy ḿnh như một con thú vật. Không c̣n là người nữa chị à.” Liên tưởng tới những câu chuyện tôi gom góp được từ các nạn nhân lao động ở nước ngoài, tôi cố tự nhủ rằng có lẽ môi trường làm việc ở Việt Nam không đến nỗi tệ như thế? Trong trường hợp bất đắc dĩ th́ những nhân công làm việc tại quê nhà c̣n có thể nghỉ việc ở các công xưởng này để đi bán vé số hoặc đạp xích lô.
       Nam Dương.                                                                                  Sang ngày hôm sau, tôi theo thân chủ cùng một số người nữa đi qua Nam Dương để tham quan một công ty chuyên sản xuất loại một thùng giấy đặc biệt. Tôi hí hửng nghĩ rằng có thể ḿnh sẽ t́m ra đường khuynh diệp trong những ngày ở quần đảo này. Ngoài sự ăn hối lộ trắng trợn tại phi trường, thủ đô Jakarta (dạo trước gọi là Djakarta) đón chào tôi với những hàng cây xanh thắm nh́n no con mắt. Nhưng sống ở thành phố cây xanh này cũng có lắm điều không thoải mái, mà điều khó chịu nhất là sự khám xét rất chặt chẽ khi ḿnh đi vào các nơi công cộng.
       Đêm hôm đó, chúng tôi được chủ xưởng máy nổi tiếng kia mời đi ăn cơm Nhật. Một bữa ăn gần bốn tiếng đồng hồ, kéo dài từ 8 giờ tối đến gần 12 giờ khuya. Trong đời tôi có lẽ sẽ không bao giờ quên được buổi ăn sách vở này. Sau khi được xét duyệt kỹ càng, người tiếp tân dẫn chúng tôi vào một pḥng riêng. Vừa ngồi xuống, một người đàn ông trung niên xuất hiện từ sau một bức màn lửng. Ông ta gập người chào rồi tự giới thiệu là một đầu bếp người Nhật nổi tiếng trong vùng, hôm đó được vinh dự phục vụ chúng tôi. Ông đến từng người để bắt tay và trao danh thiếp một cách rất trịnh trọng.
       Chỉ cần nghi thức rửa tay bằng nước nóng thơm mùi hoa lài rồi uống rượu khai vị trước khi ăn cũng đă kéo dài hơn bốn mươi phút. Thế rồi món đầu tiên xuất hiện. Mỗi người một chiếc ly, cao như ly uống trà làm bằng đá có nắp đậy. Tôi thận trọng mở nắp ly. Một làn khói nhẹ bay lên thơm mùi trứng. Người đầu bếp lại xuất hiện giải thích đây là canh trứng hấp. Tôi lấy muỗng sắn nhẹ từng miếng mỏng, cảm tưởng như ăn chè đậu hũ hay bánh flan. Qua món thứ hai, chúng tôi mỗi người được dọn cho một chiếc thớt gỗ có chân trên đó có hoa rau trưng bày rất mỹ thuật gây chú ư cho một điểm tṛn ở góc thớt: điểm tṛn đó là cá thu tươi (sashimi). Tôi không thể nào diễn tả bằng lời hương vị của những miếng cá sống này. Ngọt, mềm, tan trong miệng. Quá lạ và quá ngon. Vị giác ăn cá sống này tôi chưa hề được cảm nhận. Nếu đây mới thật là cá tươi, th́ từ trước đến giờ tôi ăn cái ǵ? Món thứ ba, rồi đến món thứ tư, tất cả đều rất cầu kỳ thịnh soạn và mỗi khi món ăn dọn ra, người đầu bếp lại trân trọng mời và giải thích nguồn gốc cho chúng tôi nghe. Khi món thứ năm được dọn ra, ông chủ xưởng máy Nam Dương lên giọng:
       “Tôi chắc hẳn quư vị chưa hề ăn món này. Đố quư vị nó là món ǵ?” Ông chủ xưởng là một người cao lớn vạm vỡ nh́n có uy lực, nói chuyện như một vị tướng ra lệnh cho mọi người. Trong sự lễ phép của ông có lẫn lộn một chút kiêu ngạo khác thường. Mỗi lần cụng ly, ông đều tuyên bố: “Không nơi nào tốt bằng Nam Dương.” Ông cho rằng Nam Dương thật hùng tráng và đang có đường hướng đi lên, và công ty ông là biểu hiển của sự thành công của Nam Dương. Tôi mỉm cười kín đáo. Rồi chăm chăm nh́n cái khay sứ trước mặt với những miếng ǵ đó thon dài như râu bạch tuộc nằm châu ḿnh vào rong biển cuộn thành những ṿng xoáy, trông rất cầu kỳ nhưng lại mộc mạc. Không ai đoán được nó là món ǵ. Tôi khẽ gắp một miếng bỏ vào miệng. Gịn như sụn, dai dẻo như cháy cơm nếp , ngọt bùi như khô mực, rất lạ vị và cũng rất quen thuộc. Trong mỗi miếng có bao nhiêu cảm giác khác nhau. Mọi người ai cũng đoán già đoán non, nhưng cuối cùng phải đầu hàng. Ông chủ xưởng nh́n mọi người một hồi rồi cất lên từng tiếng từng tiếng một:
       “Kính thưa quư khách, quư ông bà vừa thưởng thức đuôi của một con cá đuối già tuổi đời. Quư khách đă được gia tăng tuổi thọ rồi đó. Cá đuối này đă hy sinh để đem lại sự trường tồn cho việc hợp tác lâu dài của các công ty chúng ta!”
Trong lúc mọi người trầm trồ cụng ly, tôi thấy hiện ra một h́nh ảnh kinh hoàng của thuở xa xưa nay chợt trở về trong trí nhớ. Đó là h́nh ảnh đứa bé hàng xóm đứng hứng những lằn roi đuôi cá đuối quất lên tấm lưng để trần nhỏ bé đang rướm máu. Lúc đó tôi mới mười tuổi cũng bằng tuổi đứa bé kia. Tôi áp mặt vào tường để tránh phải nh́n cậu bé oằn oại trong cơn đau, khóc không thành tiếng. Ôm lấy tường, tôi cầu trời cho mưa to, thật to, để tôi không c̣n nghe tiếng roi cá đuối vun vút trên lưng cậu bé.
Trong khoảnh khắc đó, tôi biết ngay là hợp đồng trên 10 triệu Mỹ kim của thân chủ tôi đă không thi hành được. Khách sạn sang trọng mà chúng tôi được đài thọ cũng như buổi tiệc này và chai rượu Louis XIII vừa được gọi ra là để che lấp khả năng không sản xuất được hàng như đă từng hứa hẹn. Sau một tháng cố gắng, thân chủ tôi đă phải công nhận sự tiên đoán này của tôi là chính xác.
       Đến món thứ 13 của đêm đó là tôi đă giơ khăn trắng lên đầu hàng. Tôi biết rơ là người chủ xưởng đăi chúng tôi buổi tiệc đó là để mua chuộc thân chủ của tôi, để thân chủ của tôi xiêu ḷng gia hạn thêm thời gian cho họ thi hành hợp đồng. Đối với tôi, họ là cái thùng giấy rỗng tuếch. Thật là một bữa ăn tội lỗi, khi tôi liên tưởng đến các em bé lem luốc ngồi bên vệ đường ngấu nghiến những miếng bánh bao. Người đầu bếp khoe với chúng tôi trái “dưa mật”. Một trái dưa không khác ǵ dưa tôi thấy ngoài chợ, giá độ khoảng 5 Mỹ Kim. Vậy mà trái “dưa mật” này trị giá 350 Mỹ kim v́ phải trồng trong mồ hôi kỳ ảo của các cô thiếu nữ c̣n trinh! Tôi lắc đầu không ăn. Phải chăng người ta thừa giấy vẽ voi?
       Qua những diễn tiến phức tạp khi làm việc tại Nam Dương, tuy biết câu trả lời, tôi vẫn chất vấn các ông người Trung Hoa và Đài Loan là tại sao họ lại di chuyển công ty sang làm việc ở Việt Nam. Trên đường đi về Sài G̣n, mấy ông Trung Hoa giải thích cho tôi qua cô thông dịch viên:
       “Cô không biết là làm việc bên Trung Hoa khó đến thế nào? Luật chống ô nhiễm môi trường đ̣i hỏi quá nhiều ở chúng tôi. Nếu làm theo chính sách nhà nước th́ lại mất hợp đồng với khách hàng bên Mỹ. Cô cứ hỏi thân chủ cô th́ rơ, họ kỳ kèo từng xu thành ra giá phải thật là cạnh tranh. Thêm vào đó, các bao hàng có quai nhập vào từ Trung Quốc bị chính phủ Mỹ đánh thuế rất cao (high tariff). Nhưng hàng đi từ Việt Nam qua th́ không sao. Và chỉ có ở Việt Nam chúng tôi mới không phải lo về vấn đề phá hoại môi trường.” Thân chủ tôi nh́n tôi gật gù. 
“Thế c̣n các anh ở Đài Loan th́ sao? Lư do ǵ thúc đẩy các anh sang đất An Nam?” Anh người Đài Loan cười hả hê:

       “Ở đâu có tiền, th́ ở đó có chúng tôi.” Anh ôn tồn giải thích là v́ Việt Nam bằng ḷng mua máy của họ. Máy của họ rẻ hơn máy của Đức nhiều. Chỉ trong ṿng mấy tháng họ đă nhập bao đầu máy qua B́nh Dương với giá trị trên 25 triệu Mỹ Kim.
“Vậy máy của các anh khác với máy của Đức như thế nào?”
“Thật ra th́ cũng không khác là mấy. Chúng tôi mua máy của Đức về, mướn nhân công rẻ cho tháo gỡ ra, thay đổi h́nh dạng, bỏ vào một số bộ phận rẻ tiền, đơn giản hóa máy đi. Biến nó trở thành máy của chúng tôi. Dĩ nhiên chúng tôi cũng nói với cả Đức lẫn khách hàng là cơ bản máy này là máy Đức.”

Nghe rất xuông tai nhưng tôi chắc hẳn chuyện không đơn giản như vậy. 
       Trên máy bay nh́n ra mây, tôi chợt quyết định phải kết thúc chuyến đi này bằng cách ghé qua Hàm Tân vài ngày. Tôi không thể trở lại Mỹ khi ḷng vẫn chưa thanh thản. Tôi bỗng thấy thương cho số phận người dân nghèo Việt Nam. Những người này đầu tư làm giàu trên cái mạng quá rẻ của người dân tôi.
Nghèo là một cái tội, mà nghèo từ lúc c̣n thơ th́ cái tội c̣n nặng hơn, h́nh phạt cũng nặng hơn. Ôi những cơn đau đuôi cá đuối!
     Đoạn Kết
       Tôi đến Mỏm Đá Chim trong cơn hối hả, như đang chạy trốn một điều ǵ. Từ Indonesia về, tôi cố gắng hoàn tất một số công việc đă dự định trước nhưng rồi cũng không đuợc như ư muốn. Ḷng bồn chồn, tôi cắn môi bấm điện thoại gọi Hoài, cô bạn khố chuối của tôi. Ngay hôm sau hai đứa tôi lên đường đến vùng đất đỏ xen cát trắng của Hàm Tân.
       Dinh Thầy Thím. Khi nói đến đất Hàm Tân B́nh Thuận, ai ai cũng nhắc đến ngôi đền thờ Thầy Thím. Sau đêm đầu tiên dan díu với trăng và sóng biển, tôi lười biếng đợi đến lúc nắng xếch trưa hôm sau mới cùng Hoài t́m đến viếng Dinh. Khi vừa đến cổng vào sân Dinh, tôi bỗng thấy ḷng hiếu kỳ nổi dậy khi đọc chữ “Thím” trên cổng và phát giác ra ḿnh không nhớ chữ ấy khi đánh vần có cần chữ “ê” hay không. Tôi cười thầm chính ḿnh và mỉm cười cảm nhận sự duyên dáng rất miền Nam trong cách phát âm chữ “Dinh”, chữ “Thím”.
       “Cô ơi mua mấy kư gạo cúng Thầy Thím đi cô! Dinh không có lấy tiền cúng dường đâu Cô. Cô mua gạo dùm cháu đi Cô!”
       “Cô mua chim thả phóng sinh đi Cô!”
       “Cô mua giọt dầu cúng Dinh đi Cô!....” Những người bán hàng trước cổng Dinh phá vỡ sự quan sát thư thả của tôi và giục tôi phải mau mau vào Dinh để khỏi bị họ kêu réo. Có một người chạy vội vă qua mặt tôi, trên vai khệ nệ bưng một con heo quay. Tôi rời đám bán hàng và nhanh chân bước theo anh ta. Khói nhang bay cay mắt, sân Dinh gạch đỏ trải dài nắng chói. Tiếng ŕ rào khấn vái. Trong chánh điện người quỳ nhấp nhỏm. Và con heo quay đă được đặt lên bàn thờ.
       Tôi miên man nh́n đám đông và những đĩa hoa quả xôi thịt đầy ắp nằm khuất trong khói nhang mà quên rằng Hoài đă biến mất tự hồi nào. Măi tôi mới thấy nàng ta tất tả chạy vào hai tay ôm trầu cau, nhang, dầu và gạo. “Ê, sao bồ nghĩ ḿnh có nên mua chim thả phóng sinh không zậy?” Tôi lắc đầu nh́n Hoài: “Sao Hoài lẩm cẩm quá. Thời buổi này mà c̣n tin vào chuyện phóng sinh sao?” Tôi đưa tay đỡ bịch gạo cho Hoài và tiếp tục trách cô ấy là không hiểu rơ vấn đề trong việc “phóng sinh”. Hoài cười nài nỉ: “để ḿnh lấy chút phước đó mà.”
“Hoài ơi, nếu không v́ tham vọng của mấy người muốn lấy phước th́ những chú chim vô tội kia đâu có bị tù tội trong những cái lồng khốn khổ đó. Hoài nghĩ xem, v́ những người suy nghĩ như Hoài mà khiến cho những kẻ buôn bán kia t́m đủ cách để giam bắt loài chim.”
“Ừa, bồ nói cũng phải, mấy tháng trước Hoài thả phóng sinh chim mà đến hôm nay vẫn c̣n bị ám ảnh.” 
Tôi nh́n bạn tôi thắc mắc.
“Hoài dốt lắm bạn biết không? Hôm đó Hoài đi chùa bên Thủ Thiêm. Hoài cũng mua một lồng chim nhưng không để ư mấy con chim ra sao. Khấn vái xong, Hoài đến cạnh bờ hồ và thả chúng ra. Không ngờ, mấy con chim vừa bay ra khỏi lồng là rớt tơm ngay xuống hồ…dăy dụa một hồi rồi chết ch́m. Nh́n chúng chết, mà Hoài chẳng làm ǵ được. Có biết bơi đâu mà xuống hồ.” Bạn tôi nói một cách thiểu năo như một đứa trẻ lạc đường. “Hoài đâu có biết là họ bỏ đói mấy con chim lâu quá như vậy đâu. Vừa thả ra là chúng té xuống, không bay được. Nếu biết trước, Hoài thả chúng trên đất th́ chắc chúng không đến nỗi. Hoài buồn hết mấy ngày đó.” Tôi đă chạy trốn Sài G̣n ra đây để được thảnh thơi nên cố t́nh tránh ánh mắt của Hoài và tránh câu chuyện trùng ruột của cô ấy. Thảo nào nàng ta mải mê ngoài cổng Dinh, chắc định mua chim để phóng sinh. Tôi chuyển câu chuyện : “Sao ḿnh không thấy h́nh của Thầy Thím, Hoài hả?”
“Bồ lăng xẹt, Thầy Thím đă thành thánh rồi, không cần h́nh nữa.”
 Câu nói ngây thơ của Hoài làm tôi vui trở lại. Hoài bằng tuổi tôi, một chồng hai con, đứng đầu một công ty doanh nghiệp, nhưng đối với tôi, cô ấy vẫn trẻ con hết sức. Có lẽ Hoài chỉ cư xử như vậy với tôi, v́ mỗi lần gặp tôi, Hoài dường như được sống lại những ngày xưa đi học về, đạp xe dưới mưa, bụng đói meo và đầu óc hết sức là ngô nghê.
Đứng trước bàn thờ Thầy Thím, tôi cùng đám đông chắp tay trước ngực và liên tưởng đến những lời nói của cô bé nhân viên ở Mỏm Đá Chim. “Thầy Thím là hai vợ chồng bị đày tù oan về đây. Sau khi được thả ra, Thầy Thím xả ḿnh cứu độ dân chài. Người ở đây xa gần ai cũng mang ơn của Thầy Thím. Nhưng khi hai vị này qua đời, người ta t́m không ra xác của hai vị. Người chài cho rằng hai vị đă thành thánh và từ đó thiết lập đền thờ.” Cô bé nói giọng pha chút nét đậm đà tiếng miền Trung. Đang giải thích về Thầy Thím, cô bé vội vă cắt đứt câu chuyện để đi tiếp khách mới vào tiệm ăn của khách sạn. V́ cô phải chạy lo cho nhiều bàn, nên tôi không được dịp hỏi thêm chi tiết. Lâu lâu tôi lại chặn cô lại: “Tại sao Thầy Thím lại bị tù hả em?” Rất nhiều câu hỏi của tôi tương tự như thế không có câu trả lời. “Em không biết nữa, em chỉ biết rằng Thầy Thím đă hiến dâng đời ḿnh cho dân nghèo. Giỏi lắm và tận tụy lắm.” Tôi nh́n lên bàn thờ ḷng ấm lại:
Các vị anh hùng dân tộc giờ ở mô? Tại sao các vị không ra tay cứu đỡ những kẻ đang quá sức lầm than. Đầu óc tôi nghĩ đến những chuyện vừa xảy ra ở Sài g̣n. Con cảm thấy bất lực, con không sao giúp được người, nếu vậy th́ cho con cảm nhận để làm ǵ? Tôi không để tâm cầu khẩn mà lại trách người quá cố một cách vu vơ. Tôi quay qua hỏi một người trung niên vừa khấn niệm xong.
“Anh ơi, người ta đến đây để cầu chi đó anh?” Người đàn ông nh́n tôi hồi lâu rồi nhanh lời giải thích: “Nếu ai đi biển th́ phải đến đây. Cầu xin Thầy Thím đi theo ḿnh và che chở cho ḿnh tránh bị lật thuyền”. Chuyện sống chết, hai cơi âm dương gắn liền với đời sống người dân đây liên tục triền miên như thế. Trời nắng trong vắt, cảnh sắc hiền ḥa, nhưng trong cái b́nh yên đó vất vưởng những đe dọa của cuộc sống. Tôi chạy đi đâu cũng không thoát. Sau khi tôi ngỏ lời cầu xin Thầy Thím tiếp tục phù hộ cho muôn người, tôi kéo Hoài đi về. Ra đến đầu cổng, tôi lại bị đám bán hàng bu lại. Những lồng chim lại được dâng lên trước mắt tôi. Nhưng lần này tôi không quay đi được mà dán mắt ḿnh vào những đôi mắt chim bé tṛn. Nhớ lời của Hoài, tôi ngần ngại không nỡ bước đi khi nghĩ rằng những chú bé chim kia đang bị giam cầm trong đói khát. Bụng tôi đầy ắp những bất măn sẵn mang về tục phóng sinh, nhưng ḷng tôi lại không muốn nh́n thấy các con vật bị hành hạ. Không biết làm sao, tôi lên tiếng trách người bán hàng: “Tôi nghĩ các chị bắt chim giam cầm như vậy là mang tội lắm.” Chị bán hàng lắc đầu ngay:
“Chị ơi, sống để làm phước là cuộc sống của những người có của. C̣n em nghèo th́ em đành mang tội để mua gạo cho con em ăn. Không bắt được hay không bán được mấy con chim này là ngày mai con em đói.”
 Tôi như một người mù quáng đưa tay mua hết hai lồng chim của chị ấy. Hoài mừng rỡ như thấy mẹ về chợ, loay hoay đốt nhang khấn vái ǵ đó. Thế rồi hai chị bán chim khác đến gây với chị này “Tui mời chỉ trước mà! Tại sao lại giựt khách của người ta.” Tôi giơ tay can các chị và trả giá mua hết tất cả các lồng chim. Hoài đắc chí. Biết rằng ḿnh một lần nữa bị mắc bẫy nhưng những hành động của tôi lúc đó căn bản không c̣n suy tính nữa.
Tôi lưu lại Mỏm Đá Chim thêm một ngày nữa rồi lên đường trở lại Sài G̣n. “Tại sao lại đặt tên này cho khách sạn vậy em?”Trước khi giă từ, tôi không quên hỏi với theo. “Ở đây đất lành chim đậu chị ạ. Chim tứ phương kéo về đây….” Để rồi bị bắt, để rồi được thả. Tôi lẩm bẩm lên xe. Tôi từ giă những hàng thùy dương nghiêng ngả và dường như không c̣n cảm thấy cái nóng gay gắt nhiệt đới nữa. Đường về thành phố chói chang với những bảng hiệu “Cơm Phở” lác đác đây đó bên đường.
“Bác tài ơi, xin dừng xe lại!”
 Tôi nhảy ngay xuống xe khi xe vừa tấp vào lề đường. Hàng khuynh diệp phất phơ trước gió dưới bầu trời xanh ngắt như kêu gọi tên tôi. Hoài và người tài xế chắc hẳn nghĩ tôi không được b́nh thường. Tôi mon men măi và khó khăn lắm mới xuống dốc vệ đường để đến gần mấy cây khuynh diệp. Vội vàng tôi tước hết lá này đến lá khác, ṿ vẫm rồi hít hà. Gíó lộng. Hương khuynh diệp man mác, dễ chịu nhưng không hồi sinh. Hoài cũng cố gắng leo xuống rồi hỏi tôi đủ điều. Làm sao tôi giải thích cho cô ấy hiểu được. Tôi hít vào đầy gió và ngắt một cành non trước khi trở lại xe. Tôi ép cành này vào cuốn sách đang đọc dở. Những bảng hiệu “Cơm Phở B́nh Dân” lại chạy ngược qua xe tôi. Đâu đó vấn vương nỗi niềm trống vắng. Chạy đi đâu đi nữa rồi tôi cũng phải quay về với thực tại. Sài G̣n mấy hôm trước đă làm tôi quá buồn, tôi đă phải rời nó ra Hàm Tân thế rồi cũng phải quay về với nó. Đúng là “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”.
Mấy ngày trước đây, tôi dự định khi đi Indonesia về sẽ ghé qua thăm Viện Ung Thư Bướu cạnh nhà thương Nguyễn Văn Học cũ, rồi nhà thương dưỡng lăo và viện trẻ em khuyết tật ở Thị Nghè. Nghĩ sao tôi lại đến trại khuyết tật trước. 
Các pḥng của trung tâm hôm đó tối om và các em nằm lây lất trên sàn nhà. Tôi ngồi đâu là bị muỗi cắn đến đó. Vậy mà các em nằm ngoắt ngoẻo, vất vưởng nơi đây hết năm này qua năm khác. Trong mười mấy năm nay tôi đă ghé qua đây mấy lần, nhưng lần đầu tiên năm 1990 là lần tôi chứng kiến cảnh tượng đau buồn thê thảm nhất. Các em bé lúc đó bị cột vào thành nôi để giữ cho các em khỏi leo ra ngoài. Mỗi lần tôi ngừng đến nôi nào là lại có một em nhón người từ trong nôi vươn ra để ôm lấy tôi—một người hoàn toàn xa lạ mà các em chưa hề thấy. Ở đây, nếu các em được cho ăn ngày hai bữa và được thay tă là tốt lắm rồi. Th́ giờ đâu mà các cô bảo mẫu ôm ấp ve vuốt các em? Nên khi thấy hơi người đi qua là các em vồ lấy một cách thèm khát. Giờ đây môi trường sống của các em đă có phần hơn trước, không mấy em bị trói cột, nhưng sao tôi vẫn thấy ḷng héo hắt. Tôi ôm lấy một em đầu ghẻ lở có khuôn mặt tươi sáng nhưng hai chân bị teo lại không đi được. Em cười rạng rỡ thích thú nhưng tôi không sao ngồi lâu được v́ muỗi đă thịt hết đôi chân trần của tôi. Ngay lúc đó Soeur giám đốc trung tâm mời tôi lên văn pḥng nói chuyện. Sau một lúc hàn huyên về chương tŕnh và hướng đi của trung tâm, Soeur nhờ tôi giúp một việc:
“Thưa Sơ, Sơ cần ǵ xin Sơ cứ nhắn nhủ, nếu em không làm được em sẽ đi nhờ người khác giúp.” Tôi ân cần và hết ḷng.
“Ồ nếu chị nói vậy th́ tốt quá!” Ngay lúc đó Soeur vẫy tay ra lệnh ai đó. Trong chớp mắt hai đứa bé khập khễnh đi từng bước vào pḥng. Ôi, thôi chết tôi rồi!
“Hai em này đang hết sức cần xe lăn chị ạ. Các em đi học tội nghiệp và vất vả lắm. Chị thấy hai chân gỗ này không? Nếu các em đi lâu th́ thịt ở đầu chân cụt bị sưng lên.”Trước mặt tôi là một em trai và một em gái độ khoảng từ mười đến mười ba tuổi, đang vịn vào bàn để không phải dựa vào chiếc chân gỗ trọc cũ mèm. 
Tôi nghẹn lời không nói được một câu v́ sực nhớ ra là cách đây ba năm về trước ḿnh đă ngồi đây và đă nói chuyện về hai em này, cũng câu chuyện chân gỗ, câu chuyện xe lăn, những lời hứa hẹn tôi trao cho Soeur. Ôi, thế mà tôi đă quên các em. Ba năm trước khi quay lại Mỹ tôi có đi xin xe lăn để rồi cuối cùng xin không được, tôi lại lao đầu lo cho những trại mồ côi khác, những trẻ em bị chất độc da cam, và tôi dần dần quên đi hai em này. 
 “Dạ, Sơ để đó em lo. Em sẽ kiếm xe lăn cho các em.”
 Tôi lí nhí nói trong miệng mà thấy hổ thẹn vô cùng. Soeur gật gù cám ơn mà không hề biết rằng tôi chính là người hứa “lèo” của ba năm trước. Tôi phân vân nhưng không dám thú nhận lỗi của ḿnh trước mặt các em. Tôi không muốn các em phải thất vọng khi nh́n tôi. Mọi người đă không nhận ra tôi. 
Tôi bước ra khỏi trung tâm mà ḷng thắt lại. Ba năm trời các em phải chịu đựng v́ tôi. Tôi từ đó bỏ quyết định đi thăm viện dưỡng lăo cũng như viện ung thư bướu. Để rồi đi Hàm Tân như để chạy trốn lầm lỗi của ḿnh. Trăng Hàm Tân đă khoan hồng cho tôi nhưng h́nh như Thầy Thím c̣n trách tôi. Nghĩ đến đây, tôi rút cành khuynh diệp để đưa lên mũi. Xin Thầy Thím tha cho con.
Ba ngày sau tôi về đến San Jose với một chương tŕnh công việc đặt ra thật dài, vừa văn pḥng luật, vừa viết văn, vừa chuyện cứu trợ dân nghèo. Bao nhiêu người đang chờ tôi, bao nhiêu dự án cần phải giải quyết. Song, tôi vẫn phải quay lại làm công việc hàng ngày. Trong một buổi họp tôi đang dự ở San Francisco th́ điện thoại reo. Tôi nh́n xuống máy th́ thấy số của mẹ tôi. Tôi vội vàng chạy ra khỏi pḥng họp để nghe điện thoại:
“Con về đi, bé Thi đang nằm bệnh viện, nguy cập lắm!” Tôi bàng hoàng lấy áo choàng rồi chạy ra bến xe điện (BART Station). Thi là con gái đỡ đầu của tôi, cháu sắp gần hai tuổi, mắt xanh, da trắng, tóc quăn nâu óng ánh. Mẹ của bé và tôi cùng lớn lên với nhau từ lúc chín tuổi. Chúng tôi thương nhau và lo cho nhau như chị em ruột. Tôi là người đỡ cho cô ấy sanh và đón Thi chào đời. (Cô ấy cũng là người chăm nom và lo cho con tôi như con ruột. Con tôi gọi cô ấy là “Má”). V́ yêu thơ nên tôi đặt tên cho bé là “Thi”. Xe điện chạy gầm thét. Điện thoại lại reng. 
“Em hả, anh không biết nói sao. Thi chết rồi em à!” Tiếng chồng tôi nói chậm răi trong điện thoại.
“No!” Tôi hét lên. Chồng tôi giải thích thêm sự việc nhưng tôi đă không c̣n nghe rơ mấy. Cái ǵ là bé bị cảm, rồi nhiễm trùng phổi, rồi Kaiser bảo về đi không sao cả, rồi trong tích tắc hôm trước hôm sau, chúng tôi mất bé. Măi sau tôi mới b́nh tĩnh lại và nhờ anh đón tôi ở sân ga. Anh bảo tôi: 
“Anh sẽ đón em nhưng ḿnh phải về đón bà ngoại của Thi để đưa bà lên nhà thương với cháu.” Ôi có cơn đau nào bằng cơn đau này, chắc Bác đang khổ lắm. 
“Bác vẫn chưa biết chuyện em à. Anh nghĩ em cần phải nói cho Bác biết.” Trời ơi, nói thế nào đây. Biết bắt đầu làm sao? 
Mẹ của bạn tôi ra mở cửa. Mắt cụ đỏ hoe: “Em nó không có nhà con à, nó đưa bé Thi đi nhà thương rồi.” Tôi cố gắng cầm nước mắt: “Bác ạ, cháu đến để đưa Bác vào nhà thương thăm bé Thi.” Cụ mắt sáng mừng rỡ, vội vàng đi lấy khăn lấy áo. Khi lên xe xong và sau khi cài dây an toàn hẳn ḥi cho cụ, tôi mới ôm lấy cụ và nói cho cụ biết. Cụ khóc đập người vào ghế. Chúng tôi đi như chạy trong các hành lang của nhà thương. Khi đến được pḥng ICU th́ tim tôi như ngừng đập. Bé Thi của tôi đang nằm đó như một thiên thần đang ngủ say. Lời thơ Nguyễn Bính bỗng đâu vang vang: “…cạn gịng nước mắt c̣n đâu khóc người….” 
Chiều hôm ấy tôi lái xe đưa hai vợ chồng bạn tôi từ nhà thương về. Họ như những người mất hồn không một lời trao nhau. Khi bước vào nhà, tôi như người điên, chạy tứ phía để vơ vét tất cả các đồ chơi của bé Thi đang c̣n nằm ngổn ngang khắp nhà. Tôi càng giấu chúng đi th́ chúng lại càng tạo nên những tiếng động, của máy móc và ca nhạc chợt bật lên bởi ḍng điện chạm. “I love you, you love me….” Mỗi lần như thế th́ bạn tôi lại nấc lên nức nở. Cô ôm lấy tôi: “we lost our daughter!” 
Ngày hôm sau, tôi và bố mẹ của Thi bôn bả đi mua đất để làm mộ cho bé. T́m măi mới chọn được một chỗ có bóng cây tươi mát. 
Ngày chôn Thi, bé nằm trong chiếc áo đầm trắng lỗng lẫy mà tôi và Hoài khổ công lắm mới mua được cách đây khoảng mười ngày trước ở Sài G̣n. Chiếc áo mua để chuẩn bị cho tiệc sinh nhật của Thi, nhưng tôi đâu có ngờ rằng tôi mua áo để chôn bé. 
Trong lúc thầy đang làm lễ để hạ huyệt, tôi buông tay thả bong bóng lên trời cho bé. Nh́n theo bong bóng bay, tôi mới sực nhận ra là tôi và mộ của bé đang nằm dưới bóng cây khuynh diệp! 
Tôi ̣a lên khóc như chưa từng được khóc. Đáng lẽ ra, tôi phải là người ra đi chứ không phải Thi. Tôi xin thêm những ngày sống để làm ǵ, khuynh diệp đang theo tôi hay theo Thi? Khuynh diệp che chở cho ai? Trong tiếng chuông và tiếng khóc, tôi với tay nắm lấy một mớ lá khuynh diệp. Như cái máy, tôi ṿ nát và đưa lá lên mũi. Mùi khuynh diệp nồng hăng đến nỗi làm tôi muốn sặc. Thế là thế. Bây giờ tôi mới nhận thấy khuynh diệp ở đây to và đồ sộ, và mùi hương th́ không một cây ở Đông Nam Á nào mạnh bằng. Như vậy nghĩa là sao? “Đi đâu loanh quanh cho đời…” chạm đời. 
       Khi tôi in hai tập của bài này lên báo th́ một người thân chủ cũ của tôi gọi để xin vào thăm tôi. Anh là người chỉ có một chân khập khễnh đi từng bước từng bước một, hai tay ôm gói nấm linh chi và bao nhiêu thuốc khác. 
       “Trời ơi, những thứ này đắt tiền lắm, Jenny không dám nhận đâu anh ạ.” “Không, luật sư cần phải uống, luật sư cần phải sống.” Anh nói một cách khẳng định như ra lệnh. 
Sau khi Thi nằm xuống, bố mẹ Thi yêu cầu trao tất cả tiền phúng điếu cho hội Friends of Huế Foundation để giúp các trẻ em khác. Mộ của Thi chưa xanh th́ chúng tôi nhận được tin từ miền Trung là có 6 em nhỏ đang cần mổ tim cấp bách. Nếu không th́ các em sẽ không thoát hiểm. Trong đó có một em cũng cùng ngày tháng sinh của Thi. Mỗi một cuộc mổ tim tốn khoảng 1000 Mỹ kim. Mẹ Thi yêu cầu Hội ra tay ngay. Chúng tôi liền lập tức chuyển số tiền phúng điếu khoảng 5000 Mỹ kim cộng thêm 1000 nữa của một gia đ́nh khác cho để cứu sáu em này. Và chúng tôi cũng sẽ lo luôn thủ tục mua xe lăn cho hai em ở Thị Nghè. 
Trên đường khuynh diệp, tôi đă đối diện những cánh chim đói khát găy đường bay, những cặp chân gỗ khập khễnh, những lằn roi cá đuối, những bờ vai nhỏ quắp co trong cơn lạnh, những da thịt bị xâm lăng và hành hạ, những cái chết v́ sinh nhai, những xác thân vô tội bị hành quyết trên thân cây, những bàn tay run rẩy nhận gạo, những nụ cười nhân ái, những ánh mắt đầy t́nh người, những ṿng tṛn nhân quả ... Tôi đă đi suốt một ṿng tṛn. Đă tưởng mất mùi hương có tác động hồi sinh. Để t́m lại được nó ở nơi bất ngờ nhất. Ở điểm bắt đầu. 
       Đường khuynh diệp là thế. Không dài nhưng rất tṛn. Ṿng tṛn tử sinh. Ṿng tṛn tiếp trợ. Đây là ṿng tṛn của những người t́m người để thấy ḿnh, t́m ra rồi lại cho đi, cho đi nhưng vẫn c̣n đó, c̣n đó lại chia cho lẫn nhau, một chút t́nh người, một chút tương lân, một nỗi cảm thông, đơn sơ mà quyết liệt. Tôi đă đi t́m khuynh diệp ở vùng quá khứ. Nhưng khuynh diệp vẫn ở quanh tôi, trong hiện tại. Và trên vùng tương lai. Của tôi. Và của mọi người.
        Jenny Đo (Friends of Hue Foundation)        http://www.friendsofhue.org

 

 

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

 

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

 

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

 

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

  

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc
 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

Nguyên Thạch