báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                             

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 

https://www.youtube.com/watch?v=sj5QAmI3zJE

40 NAM NHIN LAI LINH MUC NGUYEN HUU LE NZ

 

https://www.youtube.com/watch?v=7qMK8ENL2ig

Linh Muc Nguyen Van Khai Nhan Quyen tai VN 090515

***

LGT: Bài viết được trích đăng từ Đặc San Trách Nhiệm Xuân Bính Thân 2016

 ***

Hồ Đắc Huân

Đoạn Trường Hát Ô

 

<<===Gia Đ́nh tác giả Vợ và 3 con ngày khởi hành qua Hoa Kỳ tại Phi trường Tân Sơn Nhất Sàg̣n (H.O9)

Qua hai lần tiếp xúc với các bạn trẻ chính là nguyên nhân giúp tôi soạn viết bài này.

Tháng 10 năm 1991, lúc mới đến định cư tại Orange County, gia đ́nh tôi lần đầu đi khám bệnh tại pḥng mạch bác sĩ. Có hai bệnh nhân nữ ngồi
đợi trước tôi. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng pha lẫn tiếng Việt lơ lớ. Đến phiên một trong hai cô gái vào pḥng khám, cô c̣n lại nh́n tôi cười rồi hỏi:

- Chắc gia đ́nh chú sang Mỹ theo diện H.O.?

- Vâng, chúng tôi qua đây theo chương tŕnh H.O.

- Cô chú thật hạnh phúc v́ qua được đây bằng máy bay. Gia đ́nh cháu sang Mỹ sau 1975, vượt biên nên vô cùng gian khổ. Lúc bấy giờ ở đây ít người Việt Nam lắm. Bây giờ lại khá đông người Việt Nam. Chợ búa từ nước mắm, rau muống, rau răm, loại ǵ cũng có.

Tôi mỉm cười rồi trả lời:

- Cám ơn cô đă chúc mừng. Tôi tiếp:

- Trên đời này không có sự thành công nào mà không có cái giá của nó. Có dịp tôi sẽ viết về đoạn trường H.O. Cô đọc sẽ thấy được sự đánh đổi 5, 7 năm tù đày hoặc lâu hơn trong lao tù khổ sai của Cộng sản để được đi máy bay sang Mỹ. Chắc chắn cô sẽ không chọn cách vào tù Cộng sản như chúng tôi đă không may gánh chịu theo vận nước.

Ba năm sau tôi đi dự một đám cưới. Hai bên sui gia đều qua Mỹ bằng chương tŕnh H.O. Trong bàn tiệc ngồi cạnh tôi có đôi vợ chồng trẻ. Anh chồng quay sang hỏi tôi:

- Chắc chú cũng sang Mỹ diện H.O.? Cháu vượt biên nên không rơ trường hợp nào th́ được sang Mỹ theo diện này.

Tôi trả lời ngắn gọn:

- Tôi sang Mỹ theo chương tŕnh H.O. H.O. là những người từng phục vụ cho chế độ VNCH. Sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam th́ tập trung các thành phần trên vào các trại tù khổ sai. Qua thỏa ước giữa Mỹ và Hà Nội th́ ai bị tù từ 3 năm trở lên sẽ được cùng gia đ́nh định cư sang Mỹ theo chương tŕnh H.O. Muốn kể chi tiết phải viết thành sách dày 500 trang cùng cỡ với cuốn Tập San Biệt ĐộngGia Đ́nh tác giả Vợ và 3 con ngày khởi hành qua Hoa Kỳ tại Phi trường Tân Sơn Nhất Sàg̣n (H.O9)

Qua hai lần tiếp xúc với các bạn trẻ chính là nguyên nhân giúp tôi soạn viết bài này.

Tháng 10 năm 1991, lúc mới đến định cư tại Orange County, gia đ́nh tôi lần đầu đi khám bệnh tại pḥng mạch bác sĩ. Có hai bệnh nhân nữ ngồi đợi trước tôi. Họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng pha lẫn tiếng Việt lơ lớ. Đến phiên một trong hai cô gái vào pḥng khám, cô c̣n lại nh́n tôi cười rồi hỏi:

- Chắc gia đ́nh chú sang Mỹ theo diện H.O.?

- Vâng, chúng tôi qua đây theo chương tŕnh H.O.

- Cô chú thật hạnh phúc v́ qua được đây bằng máy bay. Gia đ́nh cháu sang Mỹ sau 1975, vượt biên nên vô cùng gian khổ. Lúc bấy giờ ở đây ít người Việt Nam lắm. Bây giờ lại khá đông người Việt Nam. Chợ búa từ nước mắm, rau muống, rau răm, loại ǵ cũng có.

Tôi mỉm cười rồi trả lời:

- Cám ơn cô đă chúc mừng. Tôi tiếp:

- Trên đời này không có sự thành công nào mà không có cái giá của nó. Có dịp tôi sẽ viết về đoạn trường H.O. Cô đọc sẽ thấy được sự đánh đổi 5, 7 năm tù đày hoặc lâu hơn trong lao tù khổ sai của Cộng sản để được đi máy bay sang Mỹ. Chắc chắn cô sẽ không chọn cách vào tù Cộng sản như chúng tôi đă không may gánh chịu theo vận nước.

Ba năm sau tôi đi dự một đám cưới. Hai bên sui gia đều qua Mỹ bằng chương tŕnh H.O. Trong bàn tiệc ngồi cạnh tôi có đôi vợ chồng trẻ. Anh chồng quay sang hỏi tôi:

- Chắc chú cũng sang Mỹ diện H.O.? Cháu vượt biên nên không rơ trường hợp nào th́ được sang Mỹ theo diện này.

Tôi trả lời ngắn gọn:

- Tôi sang Mỹ theo chương tŕnh H.O. H.O. là những người từng phục vụ cho chế độ VNCH. Sau khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam th́ tập trung các thành phần trên vào các trại tù khổ sai. Qua thỏa ước giữa Mỹ và Hà Nội th́ ai bị tù từ 3 năm trở lên sẽ được cùng gia đ́nh định cư sang Mỹ theo chương tŕnh H.O. Muốn kể chi tiết phải viết thành sách dày 500 trang cùng cỡ với cuốn Tập San Biệt ĐộngQuân hay Đa Hiệu mới diễn tả hết được.

Hồi tưởng lại qua hai mẩu chuyện trên, từ đó tôi sưu tầm tài liệu để viết nên bài này. Nội dung bài này một phần căn cứ vào các tài liệu lịch sử về chương tŕnh H.O. Phần khác nói lên thân phận của người viết cùng gia đ́nh là thành phần tiêu biểu chung cho khoảng 300 ngàn thành viên và gia đ́nh H.O. khác hiện định cư tại Hoa Kỳ.

ĐỪN TIN CỘNG SẢN NÓI-HĂY NHÌN CỘNG SẢN LÀM

Sau khi Hà Nội dồn mọi nỗ lực tấn công cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống VNCH sau cùng tuyên bố đầu hàng vào trưa ngày 30/4/1975. Chế độ VNCH sụp đổ.

Cộng Sản Bắc Việt với danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra thông báo kêu gọi những cấp chỉ huy trong guồng máy chính phủ VNCH ra tŕnh diện dể học tập đường lối của Đảng và Nhà Nước, mang theo tiền ăn ở trong ṿng một tháng cho những cấp Tướng, Tá. Cấp Úy chừng 10 ngày. Thực tế th́ có người đă bị giam giữ đến 12 năm 3 tháng sau khi ra tŕnh diện chính quyền (xem danh sách 480 Tướng, Tá đính kèm phụ bản).

HAI TỪ "CẢI TA.O" VÀ "H.O"

Hai từ trên đây gắn liền với sự kiện lịch sử với hàng trăm ngàn Quân Cán Chính VNCH trong các trại tù tập trung của Cộng Sản.

Trước hết xin nói về từ "cải tạo". Chữ "cải tạo" có nghĩa là tạo ra cái mới khác tốt hơn cái cũ, đằng này Cộng sản lại đem từ "cải tạo" áp dụng cho việc giam giữ thành phần chế độ cũ. Cộng sản có cái ǵ mới, tốt để cho chúng tôi học tập? Dù phải ở trong trại tù 5, 10 năm hay lâu hơn nữa vẫn không "cải tạo" chúng tôi được ǵ!

C̣n hai chữ H.O. Từ H.O. nay mai sẽ được bổ sung vào từ điển tiếng Việt. Có người viết rằng H.O. là do phía Cộng Sản lập danh sách gia đ́nh tù sang Mỹ từ 1 đến 9, v́ số lẻ nên đằng trước thêm vào số 0. Đến danh sách từ H.O 10 trở đi mới không có số 0.

Trong bài này, qua tài liệu số người của 10 H.O đầu tiên nơi báo Quan Hệ Quốc Tế năm 1991 tại Sài G̣n có đăng H.O. 10 vẫn c̣n chữ O như thường.

Qua bức thư của Đại Tướng John Versey trả lời ông Nguyễn Xuân Huân về hai chữ H.O. là ǵ đăng kèm bài này theo tôi là chính xác nhất.

ĐOẠN TRƯỜNG CỰU TÙ TẬP TRUNG "CẢI TẠO"

Sau khi chiến thắng Quân Lực Miền Nam, Hà Nội đă cho tập trung nhiều trăm ngàn Quân, Cán, Chính VNCH thuộc thành phần chỉ huy từ trung cấp trở lên. Về quân đội và lực lượng cảnh sát Quốc Gia gồm sĩ quan các cấp: Tướng, Tá và Úy (cả nam lẫn nữ). Về Hành Chánh từ cấp Tỉnh Trưởng, Giám Đốc, Tổng Giám Đốc Nha, Thứ Trưởng, Bộ Trưởng và các cấp tương đương. Thành phần dân cử gồm: Nghị Viên, Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, các đảng phái chính trị, thành phần tu sĩ các tôn giáo, thành phần truyền thông báo chí, thành phần văn nghệ sĩ...
Ngoài thành phần trên c̣n một số quân nhân cấp bậc nhỏ, các công chức cấp thấp cũng bị cán bộ địa phương đẩy vào các trại tù tập trung để lao động.
Cộng Sản thiết lập hàng trăm nhà tù từ Nam ra Bắc với mỹ từ là "Trại Cải Tạo".
Sau khi phân loại các thành phần trên rồi chuyển đến các Tổng Trại giam giữ. Ba năm đầu giao cho bộ đội quản lư sử dụng lao động. Gần đủ 3 năm th́ cứu xét và cho về. Một số c̣n lại giao cho ngành Công An tiếp tục giam cầm khổ sai từ năm thứ 4 trở lên. Cho đến năm thứ 5, 7 hoặc năm thứ 10, có một số được xét thả về, số c̣n lại có người ở trong tù đến 13, 15 hoặc hơn 17 năm.
Nói đến bị tù Cộng Sản là nói đến sự cực khổ, khốc liệt từ ăn uống, đói khát, lao động khổ sai, chỗ ngủ hết sức chật chội (chỉ đủ để nằm nghiêng). Bệnh hoạn không có thuốc menchữa trị nên anh em thuộc các trại tù từ Nam ra Bắc tử vong rất nhiều.
 

Ngoài ra c̣n khổ tâm nhất là trong suy nghĩ về tư tưởng hệ giữa người Quốc Gia đối nghịch với Cộng sản. Điều anh em tù lo âu nhất là thỉnh thoảng Cộng sản đem bắn vài bạn tù mà chúng cho là có nợ máu rồi đổ tội những bạn này cướp súng của bộ đội để sát hại họ (trường hợp Trung Tá Vơ Vàng và Trung Tá Ngô Hoàng bị chúng bắn lén tại Trại Kỳ Sơn, Quảng Nam, Đà Nẵng).
Có một số anh em tù v́ bị giam giữ quá lâu lại thêm cực khổ như trên nên nhận thấy trước sau ǵ cũng chết bèn t́m cách trốn trại. Một số thoát được, một số bị bắn chết hoặc bị bắt lại.

CÁC TỔNG TRẠI QUÂN ĐỘI BÀN GIAO

SỐ TÙ C̉N LẠI CHO CỘNG AN ĐỂ TIẾP TỤC GIAM CẦM

Sau 3 năm kể từ tháng 5/1975, các Tổng Trại thuộc Quân Đội bàn giao tất cả quân nhân QLVNCH c̣n giam giữ cho Công An. Khi ở trong các trại tù tại các miền Nam, Trung, Bắc, cứ mỗi ba năm các trại giam phát giấy bút để anh em tù làm đơn xin "tiếp tục ở lại trại thêm mỗi lần là ba năm để được cải tạo thành người tốt".

BÀ KHÚC MINH THƯ LÀ AI?

Tháng 4 năm 1975, Ṭa Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa tại Manila, Phi Luật Tân có một phụ nữ Việt Nam làm việc ở đó, đó là bà Khúc Minh Thơ. Được tin Miền Nam bị thất thủ, bà hoang mang
Bà Khúc Minh Thơ và tác giả t́m cách về Việt Nam ngay v́ chồng và các con đang kẹt tại quê nhà.
Sau 2 năm chờ đợi, nhà cầm quyền Việt Nam không cho bà về. Cuối cùng bà rời Manila ngày 29/1/1977 để đến Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ với bao nỗi sầu muộn v́ chồng con c̣n kẹt bên kia bờ đại dương. Hồi tưởng lại: bà mồ côi mẹ khi bé. Cha bà tái hôn. Bà quư thương mẹ kế như mẹ ruột. Cha bà bị Cộng Sản thủ tiêu mất tích năm 1968 (Mậu Thân). Người mẹ kế cũng bị Cộng Sản giết chết năm 1972. 18 tuổi bà lập gia đ́nh. Sau đósinh được 2 con. Đứa thứ ba chưa chào đời th́ được tin sét đánh chồng bà lọt ổ phục kích hy sinh trên đường đi công tác. Người chồng sau nằm trong tù Cộng Sản liệu có thể thoát khỏi bị thủ tiêu hay không?

ĐỌC THƠ MỖI NGÀY CHẾT ! CHẾT! CHẾT!

CHẾT NHIỀU MỖI NGÀY TRONG CÁC TRẠI TÙ

Từ năm năm 1977, 1978, 1979, 1980..., bà Khúc Minh Thơ nhận được tin tức mỗi ngày
qua hàng chục lá thư từ Việt Nam nội dung kêu cứu bà giúp vận động phía Hoa Kỳ can thiệp Hà Nội để cứu nguy cho anh chị em Quân, Cán, Chính VNCH đang chết nhiều trong các trại tù Cộng Sản, bởi các anh chị phải chịu đói khát, bệnh hoạn, nhiều gian truân, cay đắng tận cùng về thể xác lẫn tinh thần, trong số đó có chồng của bà.
Kể từ năm 1977, ngoài công việc mưu sinh mỗi ngày, bà dành thời gian c̣n lại đọc các lá thư cầu cứu của các gia đ́nh tù chính trị từ Việt Nam nói về nỗi cơ cực, thống khổ của họ. Qua các ḍng chữ, bà có thể h́nh dung ra chính bản thân chồng bà cũng đang phải gánh chịu như thế nào.

TIẾN TR̀NH VẬN ĐỘNG THẢ TÙ CẢI TẠO

Bà Khúc Minh Thơ có cơ duyên được sự hỗ trợ đặc biệt của ông Shep Lowman và vợ là bà Hiệp Lowman. Từ đó Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị Việt Nam khởi đầu do 8 người đứng ra thành lập từ tháng 8 năm 1977. Về tài chánh của Hội do các thành viên đóng góp. Hội không hề nhận tài trợ của bất cứ Hội Đoàn nào, kể cả các cơ quan chính phủ. Hội chỉ nhờ họ hỗ trợ về mặt tinh thần.
Khởi đầu bà Khúc Minh Thơ tới gặp trực tiếp Dân Biểu Mac Cain. Dân Biểu John McCain Mac Cain có người phụ tá trước làm việc tại Việt Nam, nhờ đó giúp ông hiểu rơ nhiều về Việt Nam.
Kế đó bà gặp tiếp Thượng Nghị Sĩ Kennedy. Hai vị này yểm trợ bà để bà được gặp các vị thuộc cơ quan Quốc Hội và Hành Pháp. Đặc biệt Tổng Thống người quan tâm trong việc giải quyết yêu cầu của Edward More “Ted” Kennedy bà.


Shepard Lowman Obituary      John McCain                Edward More “Ted” Kennedy
 

KHAI NGUYÊN CHƯƠNG TR̀NH H.O

<<<===TT Rolnald Wilson Reagan và bà Khúc Minh Thơ

Người viết xin trích nguyên văn đoạn sau đây của tác giả Tiểu Đỉnh trong bài "Nghĩ về hai chữ H.O.". Tiểu Đỉnh là bút hiệu của Đại Tá Hải Quân Nguyễn Bá Trang. Ông bị giam tại trại Nam Hà, được phóng  thích vào tháng 1 năm 1988 cùng khoảng 200 người khác, đa số cấp bậc Đại Tá. Ông từ Hà Nội đi xe lửa về Sài G̣n tối 29 tháng Chạp Tết Đinh Măo, tức 16/2/1988:
"Theo tin tức thu thập được th́ việc khai nguyên của chương tŕnh H.O. nằm trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng Thống Ronald Wilson Reagan, vị Tổng Thống Hoa Kỳ thứ ba sau khi miền Nam sụp đổ. Hai vị trước là Gerald Ford (1974-1977) và Jimmy Carter (1977-1981). Qua đó th́ thấy những người tù miền Nam đă bị bỏ quên trong 12 năm, tính từ 1975 đến giữa nhiệm kỳ thứ hai của Tổng Thống Reagan là 1987. Nếu mọi sự trên đời đếu có nguyên do th́ sự bỏ quên này cũng như sự nhớ lại đều có lư do riêng của nó. Và cả hai dường như nằm trong cơ trời huyền diệu. Nói huyền diệu là v́ hầu hết anh em tù cải tạo miền Nam, sau năm thứ ba tính từ 1975 mà c̣n bị giam trong trại th́ không ai nghĩ rằng ḿnh c̣n có ngày được đoàn tụ gia đ́nh, chưa nói đến việc đi định cư ở một nước thứ ba… Theo nguyên tắc cải tạo được Đảng Cộng Sản đề ra là sẽ bị giam giữ cho đến chết. Thật ra th́ có không ít anh em đă vắn số mà bỏ xác trong ngục tù...

- Cựu Tướng Vessey chỉ là người theo lời tự thuật vào năm 1987 được Tổng Thống Reagan nhờ đi Việt Nam thương lượng với nhà cầm quyền Cộng Sản lúc bấy giờ để họ thả những tù chính trị và cho họ tự do đi Tướng John Vessey Jr định cư nước ngoài. Do đó ông Vessey không phải là người khởi xướng...
- Ông Robert Funseth, cựu Phụ Tá Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, người vào ngày 30/7/1989 đă đặt bút kư bản thỏa ước với Hà Nội để lấy tù cải tạo ra khỏi trại và lần lượt bốc đi
Robert Funseth Mỹ.
Cũng giống như cựu Tướng Vessey Jr., ông Robert Funseth chỉ thủ vai tṛ thừa hành ở giai đoạn cuối..(?).
Như vậy người chủ động trong vụ này hẳn là Tổng Thống Reagan. Nhưng tại sao phải chờ đến những 2 năm khi ông vào Nhà Trắng nhiệm kỳ 2 để làm việc đó? Phải chăng việc này là để chứng minh cho câu ông nói: “Thượng Đế có chương tŕnh cho mỗi chúng ta”.
Để hiểu việc này, thử nh́n lại 14 năm trước, tức 1975:
Từ tháng 4/1975-1986, anh em tù cải tạo bị giữ trong các trại tập trung tại các miền Nam, Trung cũng như Bắc tính chung là 11 năm. Con số 11 có nghĩa những người tù cải tạo đă ba lần được trại giam phát giấy bút làm đơn xin “tiếp tục ở lại trại thêm mỗi lần là 3 năm để được cải tạo thành người tốt”.
Đa số anh em nào tự xét không có thân nhân giữ chức quyền quan trọng trong chế độ Cộng Sản lúc bấy giờ để hy vọng được họ bảo lănh cho ḿnh ra tù th́ tự xem như ḿnh bị “Xumacô”, tức là “rục xương” (trong tù) như cá ṃi hiệu “Xumacô” của xứ Marốc sản xuất và nhập cảng sang Việt Nam trước năm 1975. Trong suy tư và nói năng hàng ngày, có người trong số tù nhân lương tâm này xem ḿnh như đang nằm trong mồ mả nói vọng ra. Ngày được gọi tên ra trại là một thứ ǵ rất chi là hư ảo, kể như không có. Nhưng đó là điều con người nghĩ, không phải điều ông Trời muốn”.

ÁNH  SÁNG LÓE TỪ CUỐI ĐƯỜNG HẦM

<<===Ông Robert Funseth gặp gỡ và nói chuyện với các Cựu Tù Nhân Chính Tr ị Nam California.
Từ Trái sang phải: Mục Sư Nguyễn Xuân Dục, Ông Funseth, Ông Nguyễn Hậu, Cựu Chủ Tịch Khu Hội CTNCTVN Nam California

Anh em tù chính trị chúng tôi vào trại tù tập trung của Cộng Sản xem như đă rơi vào đường hầm tăm tối. Kể từ năm 1980 ai c̣n bị giam trong các trại tù xem như bị giam mút mùa cho đến măn đời. Một số ít anh em vắn số đă bỏ xác trong ngục tù v́ bị giam quá lâu!

Ông Robert Funseth gặp gỡ các anh em Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam mới qua định cư tại Hoa Kỳ

Một ngày đầu năm 1980 (dịp Tết), chúng tôi nhận được tin ngay trong trại tù Tiên Lănh từ anh Trần Quang Trân nghe lén radio qua đài VOA và BBC là chính phủ Mỹ đă tiếp xúc với Hà Nội để thương lượng nhận chúng tôi sang Hoa Kỳ. Tin này loan mỗi lúc rộng ra khiến nhiều anh em tù vô cùng vui mừng và luôn hy vọng v́ "Ánh sáng đă lóe lên từ cuối đường hầm". Việc nghe lén radio của anh Trần Quang Trân về sau bị lộ. Khoảng 100 anh em bị nhốt vào nhà cùm. Cuối 1981 Cộng Sản tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng đă lập Ṭa Án Nhân Dân tại trại Tiên Lănh để xử một số anh em ở tù từ 3 đến 18 năm. Riêng anh Trần Quang Trân bị tử h́nh. Chúng chọn ngày 19/6/1982 đưa anh Trân ra ngoài bờ rào trại Tiên Lănh để bắn nhiều loạt đạn AK. Anh Trần Quang Trân trở thành một trong những anh hùng Việt Nam bất khuất trong các trại tù cải tạo Cộng Sản.

ĐƯỢC THOÁT RA KHỎI TRẠI TÙ NHỎ

Trong thời gian bị giam trong ngục tù Cộng Sản dưới sự "cải tạo" cùa các cán bộ đỉnh cao trí tuệ, Đại Tá Trấn Ngọc Thống có viết lại nhiều chuyện vui trong tù. Câu chuyện dưới đây tại trại Nam Hà, xin góp tiếng cười cho "Đoạn trường H.O":
"Chúc ở tù 60 năm
Đến buổi chiều 30 Tết năm đó, khoảng 4 giờ, trại cho gọi tất cả tù ở các buồng ra ngồi ở sân trại để trại trưởng chúc Tết.
Trại Trưởng Thủy lên nói ba hoa nào là Đảng và Nhà Nước vừa rồi đă khoan hồng thả một số các anh cho về với gia đ́nh để ăn Tết. Nào là Đảng cũng muốn các anh về, Nhà Nước cũng muốn các anh về, nhân dân cũng muốn các anh về, vợ con các anh cũng muốn các anh về. Về hay không là tùy ở các anh thôi. Một số anh em tù ngồi ở dưới th́ thầm:
- Thôi đừng bịp nữa!
Sau đó Trại Trưởng lên tiếng chúc Tết:
- Tôi chúc các anh sang năm mới Quư Hợi tất cả các anh đều được về hết.
Hắn vừa nói xong, tất cả tù cười ồ lên. Có anh nói to:
- Thế 60 năm nữa chúng tôi mới về à? Thế th́ c̣n ǵ là đời chúng tao!
Hắn thấy anh em cười to và ồn ào hẳn lên, hắn tưởng là nói được về là tù vui cười. Nhưng thực ra hắn dốt, hắn không biết năm mới là năm Giáp Tư, chứ không phải là năm Quư Hợi, tức là năm nay (Quư Hợi) đă hết rồi, sáu mươi năm nữa mới đến Quư Hợi.T.N.T"

Tác giả đón Trung úy Lê Đ́nh Thụy qua tại phi trường Los Angeles, Nam Cali ngày 23-4-1993. (Lê Đ́nh Thụy tạ thế trong lúc đang cùng với tác giả bài viết và Đại Tá Trần Ngọc Thống biên soạn cuốn “Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa - Trách Nhiệm)

TIN VUI ĐỔI ĐỜI

 

Sau hơn 7 năm trời với gần 30 cuộc thương thuyết, ông Robert Funseth, Phụ Tá Đặc Biệt Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại diện chính phủ Hoa Kỳ đặt bút kư với ông Vũ Khoan, đại diện Hà Nội bản thỏa ước vào ngày 30/7/1989 cho phép anh chị em cựu Tù Nhân Chính Trị (TNCT) cùng gia đ́nh được ra đi định cư tại Hoa Kỳ. Tin trên được loan truyền phổ biến qua đài VOA và BBC. Nghe tin trên anh chị em cựu TNCT vô cùng vui mừng. Rồi đây lần lượt qua những năm kế anh chị em cựu tù và gia đ́nh sẽ thật sự đổi đời được sang định cư tại Hoa Kỳ là một quốc gia giàu mạnh có một nền dân chủ, tự do thật sự.

NHỮNG TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ ĐƯỢC  RA ĐI THEO CHƯƠNG TR̀NH H.O

Theo tinh thần thỏa ước kư ngày 30/7/1989, những TNCT thuộc các thành phần sau đây có ba năm cải tạo trở lên hoặc dưới ba năm nhưng đă từng du học Mỹ hay nước khác do ngân khoản Mỹ bảo trợ mới được đi Mỹ.
Tất cả Quân, Cán, Chính, kể cả nữ quân nhân phục vụ trong các guồng máy Hànhchánh, Tư pháp, Lập pháp của VNCH, các đảng phái chính trị, tu sĩ các tôn giáo, các thành phần truyền thông, báo chí, các văn nghệ sĩ...
Nếu cha, mẹ, chồng hoặc vợ bị chết trong trại cải tạo th́ vợ, chồng hoặc con đều được đi theo diện H.O. Nếu chết khi đă về nhà th́ c̣n tùy trường hợp.

THÔNG BÁO PHÁT ĐƠN XUẤT CẢNH

Đầu tháng 12/1988, Pḥng Quản Lư người nước ngoài và xuất nhập cảnh công an tỉnh Khánh Ḥa mời anh em cựu TNCT cư ngụ tại Nha Trang đến pḥng nhận đơn và nghe hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ xuất cảnh theo diện H.O.
Hôm ấy chúng tôi chừng 20 người đến nhận đơn, nghe thông qua việc lập hồ sơ.
Tuần sau ngày 8/12/1988 chúng tôi hoàn tất hồ sơ mang nộp pḥng Xuất Nhập Cảnh. Gia đ́nh tôi đủ 6 người lăn tay, chụp h́nh.

BẢI BIỂN  NHA TRANG NƠI TỤ HỢP TNCT TRƯỚC KHI RỜI VN

Cũng giống như khu tụ họp TNCT khu công viên trước Dinh Độc Lập tại thủ đô Sài G̣n, các cựu TNCT ở Nha Trang không biết khởi đầu từ ai đă chọn nơi băi biển Nha Trang (cạnh Bưu Điện) làm nơi trao đổi tin tức xuất cảnh. Hàng ngày sau 10 giờ sáng, anh em họp mặt tại đây để thông báo những tin tức qua thư từ thân nhân ở Mỹ gởi về. Suy ra rồi bàn luận tin tức báo chí trng nước và Mỹ nói về chương tŕnh H.O. Thường anh em tưởng tượng sẽ thấy cuộc sống màu hồng trên đất Mỹ khi anh em và gia đ́nh đến đó. Trong số c̣n nhớ các anh: Phùng Ngọc Bang, Lê Quang Trang, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Lê Hồng Triển, Nguyễn Xuân Phán, Hồ Trọng Đường, Bùi Sơn Hải, Nguyễn Ngọc Phương, Lê Mính, Ngô Văn Sung, Phan Xuân, Lê Đ́nh Thụy, Lê Đ́nh Quư, Sử Hồng Xuân, Phạm Quang Thông, Mai Xuân Sanh, Bùi Thiện Duyệt, Nguyễn Xuân Kim Long, Phan Viết Ngọc, Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Văn Tơ, Nguyễn Mây, Huỳnh Xuân, Ngô Viết Xuân, kẻ viết bài này và một số bạn khác... không nhớ hết. Trong số các anh có tên trên đây có một số anh như: Bang, Duy Năng, Bích, Đường, Hải, Thụy đă măn phần.

GẶP PHẢI PHIỀN TOÁI

Qua đơn xin xuất cảnh, gia đ́nh tôi gồm 6 người, ngoài tôi c̣n vợ và 4 trong 6 người con (2 con đă vượt biển trước đang ở Canada). Nộp đơn xong, thêm người con trai út tên Hồ Đắc Hùng 16 tuổi, nghe lời bạn lại xin mẹ vượt biên tiếp. Khi tôi biết là chuyện đă rồi! Sau 10 ngày cháu đến Palawan Phi Luật Tân an toàn. Chúng tôi mừng quá nhưng lại lo cho hồ sơ xuất cảnh. Tôi liền làm đơn báo phường cư trú về sự vắng mặt của cháu đồng thời gởi đơn qua Pḥng Xuất Cảnh Công An Khánh Ḥa để xin điều chỉnh bớt một người, c̣n lại 5 thay v́ 6 người như đơn xin xuất cảnh trước đây.

HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ XUẤT CẢNH

Sau khi nộp đơn xong, được biết đa số anh em Nha Trang kẻ ra Đà Nẵng, người thẳng Hà Nội để lập hợp đồng mong sự cứu xét được nhanh. Tôi đi Đà Nẵng lập hợp đồng như anh em khác. Hộ chúng tôi gồm 5 người, lệ phí là 600 ngàn đồng lúc đó.

Một buổi sáng cuối tháng 6/1990, người phát thư dừng xe lên tiếng:
- Chú Huân có tin vui. Thư Hà Nội gởi chú.
Xem ngay thấy giấy báo tin tôi liền tặng người phát thư ít tiền, cũng không quên lời cám ơn kèm theo.
Gia đ́nh tôi rất vui khi nhận được giấy báo tin của Cục Quản Lư Xuất Nhập Cảnh Bộ Nội Vụ do ông Nguyễn Phương, Trưởng Pḥng Xuất Nhập Cảnh kư ngày 18/6/1980 đồng ư cho tôi và 4 người trong gia đ́nh được phép xuất cảnh đến nước Mỹ: “Đă cấp 5 hộ chiếu và lên danh sách HO9, số hiệu 313 chuyển Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để sắp xếp tiếp xúc phỏng vấn. Cùng lúc này phía Mỹ đang phỏng vấn danh sách HO4. Xin thông báo để ông yên tâm”.

Được thư mời ngày 30/6/1990, chúng tôi ra Đà Nẵng nhận 5 hộ chiếu. Nhận được hộ chiếu ai nấy trong gia đ́nh có thêm niềm vui v́ nhận thấy con đường sang định cư tại Mỹ mỗi ngày càng gần lại hơn. Ngày được phía Mỹ phỏng vấn không c̣n xa.

Trước ngày phỏng vấn tôi có ghé thăm người bạn tù anh Nguyễn Văn Tố. Sau khi trao đổi tin tức gia đ́nh ông lưu ư tôi liệu trả lời hai điều: cháu nhỏ đă nộp hồ sơ H.O. rồi lại bỏ vượt biển, hai là có con ở Canada để con bảo lănh. Hai điều trên rất khó, ông Tố nhắn tôi liệu mà trả lời.
Khi vào phỏng vấn, gia đ́nh tôi gặp một bà Mỹ già. Xem hồ sơ từ tài liệu qua h́nh ảnh đầy đủ duy có hai việc trên là bắt đầu khó khăn cho tôi. Bà hỏi:
- Ông cho biết lư do người con nhỏ 16 tuổi đă nộp hồ sơ đi Mỹ sao lại vượt biển? Ông không tin tưởng vào chương tŕnh H.O. à?
Tôi đáp:
- Tôi rất lấy làm tiếc. Việc này do người chị của cháu từ Canada sắp xếp cho cháu đi. Gia đ́nh tôi cứ nghĩ là cháu bị mất tích. Rất may 10 ngày sau có tin về là cháu đă đến Palawan Phi Luật Tân b́nh an.
Đến đây bà hỏi tiếp:
- Gia đ́nh ông có con ở Canada, vậy để con ông bảo lănh đi Canada thay v́ đi Mỹ.
- Thưa bà, thật sự các con tôi luôn hy vọng được sang Mỹ song chuyến ghe cháu đi đa số người có thân nhân từ Mỹ lănh, c̣n hai cháu không có nên buộc phải đến Canada. Các cháu hy vọng chúng tôi được sang Mỹ rồi có thể bảo lănh các cháu qua lại Mỹ v́ Mỹ là cường quốc giàu mạnh, b́nh đẳng, mọi người tôn trọng dân chủ, tự do. Tôi cũng có vài người bạn Mỹ nguyên là cố vấn huấn luyện đơn vị tôi trước 1975. Họ luôn ca tụng quốc gia họ và mong có ngày gặp lại tôi trên quê hương họ.
Đến đây bà phỏng vấn viên xếp hồ sơ lại rồi bảo chúng tôi chờ. Bà đi chừng 20 phút sau trở lại và tuyên bố chấp thuận cho chúng tôi được sang Mỹ. Nghe xong gia đ́nh tôi ai nấy đều thở phào nhẹ nhơm, mặt mày rạng rỡ nụ cười. Tôi không quên cám ơn bà nhiều. Đêm đó gia đ́nh tôi vô cùng hạnh phúc không ngủ được.

GIAI ĐOẠN SAU CÙNG TRƯỚDC KHIĐẾN MỸ

Khâu quan trọng nhất trên đường sang Mỹ là đậu phỏng vấn. Có kết quả phỏng vấn rồi là lần lượt tiến hành các công việc sau như: đăng kư chuyến bay, khám bệnh, chích ngừa, lo thủ tục nhà đất, nợ ngân hàng. Những người con quá 18 tuổi phải làm tờ cam kết độc thân. Trước chuyến bay vài ngày phải mang hành lư khám xét, cân đo.

Việc mong đợi rồi cũng đến. Ngày 17/10/1991, gia đ́nh tôi được báo lên chuyến bay sớm hơn dự trù để đi Bangkok (v́ hôm ấy phần lớn những người được thu xếp bay bị bệnh đỏ mắt nên dời lại). Đến Thái Lan ở ít hôm rồi sang Hoa Kỳ vào lúc 10 giờ sáng ngày 22/10/1991. Tại phi trường Los Angeles, tôi có người bạn rất thân, anh Lê Quang Trang (HO3) đến đón. Cùng tháp tùng anh Trang c̣n có Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Dinh giúp ghi lại đoạn phim đầu đời khi gia đ́nh tôi đến Mỹ qua chương tŕnh H.O. Viết đến đây tôi rất buồn v́ anh Dinh đă qua đời cách đây ít năm. Mỗi khi xem lại đoạn phim trên, gia đ́nh tôi luôn nhớ đến anh Dinh, một người bạn thân hiền lành, vui tính.

CUỘC SỐNG MỚI TRÊN ĐẤT MỸ

Về đến nhà anh chị Lê Quang Trang (người bảo trợ). Anh chị đă dành cho chúng tôi hai pḥng ngủ. Tắm rửa xong bắt đầu câu chuyện hàn huyên, dùng cơm gia đ́nh nhận được điện thoại thăm hỏi của hai con. Những ngày kế tiếp anh chị Trang giúp đưa đến cơ quan xă hội để lo thủ tuc xin trợ cấp, thuê nhà. Tuần sau về nơi cư trú mới với đầy đủ tiện nghi. Các con tiếp tục khám bệnh, học anh văn, tập lái xe rồi đi xin việc làm.
Cuộc sống dần dần ổn định, đến nay đă qua hơn 24 năm định cư tại Mỹ.

Cuộc đời binh nghiệp của tôi cầm súng th́ ít, cầm phấn màu và que chỉ bảng th́ nhiều. Qua Mỹ đây, hết cầm hai thứ trên th́ đổi qua cầm viết. V́ không phải là nhà văn, nhà thơ nhưng lại là nhà binh, thôi biết ǵ về nhà binh, có th́ giờ th́ viết lại. Để tài lính đa số chiến hữu đă biết song có ít chiến hữu tuổi trẻ c̣n chưa biết nhiều. Đọc qua các bạn biết thêm phần nào cũng giúp ḿnh vui rồi.

******

PHỤ LỤC

HO LÀ G̀ ?

Trong tương lai, các sách Từ Điển Tiếng Việt sẽ có thêm từ H.O. Để giải nghĩa về chương tŕnh H.O., xin được trích lá thư ngày 19/6/1997 của Đại Tướng John Versey gởi cho ông Nguyễn Xuân Huân, Chủ Tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị ở Minnesota, được đăng trong Đặc San Đồng Đế số đặc biệt tháng 9 năm 2000. Đại Tướng John Versey năm 1987 khi đang hồi hưu được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết t́m cách giải thoát cho những cựu chiến binh Nam Việt Nam đang bị giam cầm trong cái gọi là “tù cải tạo”.

John Versey

Generald USA (RET)

June 19th, 1997

Mr. Nguyen Xuan Huan

President, Association of Former Political Detanees in Minnesota.

1030 University, Avenue, St. Paul, MN 55104

Dear Mr. Huan,

Because I am unable to attend your important meeting on Saturday, June 21, I ask that this letter be read on my behalf to your members and guests.

It is important to honor all those who served the cause of freedom in Vietnam and Indochina. It is also important to recognize and assists those who suffered under Communist rule for their prior service to the Republic of Vietnam. Political detainees under the Communist regime after 1975 had served their country and their people in the honorable and esteemed tradition of patriotism, putting services to country above self during a long and arduous war. The sacrifices of all who served and fought in the Vietnam War, Vietnamese, Americans, and other Allies, made a difference for the important human ideals of the freedom and personal dignity. The world was changed through a collective effort. The spread of Communism in Asia as haltedby the sacrifies in Vietnam, Laos and Cambodia and with the help of other nations of Southeast Asia. All who participated in that effort can be proud of their contributions.

When President Reagan called me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, reeducation camps. I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there were no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed “Humanitarian Operations.” Consequently, the term “HO” has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.

To me, the term “H.O” is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall in within that context of the term are among the true heroes of our time.

My very best wishes to all attending your event.

Sincerely yours,

John Versey

Nguyễn Ngọc Châu lược dịch phần chính lá thư của Tướng Versey:

“Vinh danh những người đă phụng sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và Đông Dương là một điều quan trọng. Việc công nhận và trợ giúp những người đă bị chế độ Cộng Sản ngược đăi v́ đă phục vụ cho Việt Nam Cộng Ḥa cũng không kém phần quan trọng. Những tù nhân chính trị dưới chế độ Cộng Sản sau năm 1975 là những người đă từng phục vụ Quê Hương và đồng bào với truyền thống yêu nước cao cả đáng kính, đă v́ nước quên ḿnh trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt. Ḷng hy sinh của tất cả những ai đă từng phục vụ vàby the sacrifies in Vietnam, Laos and Cambodia and with the help of other nations of Southeast Asia. All who participated in that effort can be proud of their contributions.

When President Reagan called me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasked he assigned me was to seek the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the, so-called, reeducation camps. I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country. Because, at the time of the original negotiations, there were no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed “Humanitarian Operations.” Consequently, the term “HO” has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now resident in the United States.

To me, the term “H.O” is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall in within that context of the term are among the true heroes of our time.

My very best wishes to all attending your event.

Sincerely yours,

John Versey

Nguyễn Ngọc Châu lược dịch phần chính lá thư của Tướng Versey:

Nguyễn Ngọc Châu lược dịch phần chính lá thư của Tướng Versey:

“Vinh danh những người đă phụng sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và Đông Dương là một điều quan trọng. Việc công nhận và trợ giúp những người đă bị chế độ Cộng Sản ngược đăi v́ đă phục vụ cho Việt Nam Cộng Ḥa cũng không kém phần quan trọng. Những tù nhân chính trị dưới chế độ Cộng Sản sau năm 1975 là những người đă từng phục vụ Quê Hương và đồng bào với truyền thống yêu nước cao cả đáng kính, đă v́ nước quên ḿnh trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt. Ḷng hy sinh của tất cả những ai đă từng phục vụ và chiến đấu trong cuộc chiến tranh Việt Nam, người Việt, người Mỹ và những đồng minh khác, đă đem lại một ư nghĩa đặc biệt hơn cho lư tưởng của con người về tự do và nhân vị. Thế giới đă thay đổi nhờ một nỗ lực tập thể. Sự bành trướng của Cộng Sản ở Á Châu đă bị ngăn chặn bởi những sự hy sinh ở Việt Nam, Lào và Cam Bốt cùng với sự hỗ trợ của các nước Đông Nam Á. Tất cả những ai đă tham gia vào nỗ lực đó có thể tự hào về những đóng góp của ḿnh.

Năm 1987 khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm đặc phái viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tôi được Tổng Thống giao phó là phải t́m cách giải thoát những cựu chiến hữu Nam Việt Nam đang bị giam giữ trong cái gọi là “trại cải tạo”. Tôi được quyền bảo đảm với chính phủ Hà Nội rằng Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và tiếp đón những người tù cải tạo cùng gia đ́nh sang Mỹ. Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, v́ chúng tôi không có hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “chiến dịch nhân đạo” (Humanitarian Operations, gọi tắt là H.O.). Do đó, danh từ HO được cộng đồng Việt-Mỹ sử dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị đang sống trên đất Mỹ.

Riêng đối với tôi, danh từ H.O là biểu tượng của ḷng dũng cảm, tinh thần phục vụ và ḷng hy sinh, tất cả những ai thuộc diện H.O đều là những người anh hùng thực sự của thời đại này.

Cầu chúc tốt lành cho mọi người tham dự.

Thân mến.

John Versey”

SỐ NGƯỜI CỦA 10 DANH SÁCH ĐẦU TIÊN

Sau khi chương tŕnh H.O được tuần tự thi hành, tôi thường theo dơi sự diễn tiến qua báo chí sài G̣n lúc bấy giờ.

Khoảng tháng 4/1991, tờ báo Quan Hệ Quốc Tế có đăng số người của 10 danh sách H.O đầu tiên do Tiến Sĩ A Casella, cố vấn đặc biệt củaCao Ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn đă tham gia trả lời. Là tài liệu quư tôi cất giữ từ ngày ấy. Xin trích đăng lại như sau (đặc biệt từ H.O 10 vẫn có chữ O sau chữ H như từ H.O1 – HO9):

“Danh sách H.O 1 đến H.O 10 phía Mỹ đă nhận gồm 8.961 trường hợp với 46.760 người (không phải tất cả những người có tên trong danh sách đều được phía Mỹ chấp nhận. Số người trên mỗi danh sách như sau:

H.O1: 3.126 người H.O6: 5.975 người

H.O2: 3.116 người H.O7: 5.595 người

H.O3: 3.788 người H.O8: 5.799 người

H.O4: 4.459 người H.O9: 5.161 người

H.O5: 4.849 người H.O10: 4.897 người

Đến ngày 6/3/1991 đă có 14.345 người rời Việt Nam. Tất cả đều nằm trong danh sách HO1 đến H.O6. 9.869 người khác trong danh sách H.O1 đến H.O8 đă được chấp nhận và đang đợi ra đi. Trong tháng 3, đa số trường hợp được phỏng vấn là những người trong danh sách H.O7 và H.O8. Mọi người có tên trong danh sách H.O1 - H.O7 đă được đề nghị phỏng vấn (trừ những trường hợp phát hiện không đủ tiêu chuẩn đă được phía Việt Nam và Mỹ thỏa thuận và tất cả những trường hợp đă được phía Mỹ trả lời không được phỏng vấn).

Số người có trong danh sách H.O không được xem xét theo thứ tự. Nghĩa là số hiệu của mỗi người trong danh sách H.O không biểu hiện khi nào họ được phỏng vấn hoặc có thể ra đi.

Bắt đầu từ tháng 4/1991, Mỹ có kế hoạch phỏng vấn 10.800 người mỗi tháng: H.O: 2,200 người, trẻ lai: 3,400 người và O.D.P: 5,200 người.

I.M.O đă có văn pḥng đại diện tại Sài G̣n. Các chuyến bay trực tiếp giữa Việt Nam và Mỹ phải chờ tới khi hai nước b́nh thường hóa quan hệ.” - MTBD

DANH SÁCH 480 TƯỚNG, TÁ, ÚY VÀ CÁC THÀNH PHẦN KHÁC CHẾ ĐỘ VNCH TÙ CẢI TẠO GẦN 13 NĂM  ĐƯỢC PHÓNG THÍCH THÁNG 9 NĂM 1987

Nhân dịp sưu tầm tài liệu để biên soạn cuốn “Lược sử QLVNCH”, Ban Biên Soạn chúng tôi có sưu tầm được bản danh sách trên do con Đại Tá Trần Ngọc Thống t́m được qua báo Xuân Đồng Nai 1987. Đại Tá Thống là một trong 116 vị Đại Tá có tên trong danh sách được phóng thích từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn.

Đây là tài liệu hiếm quư của 28 năm về trước, xin được đăng lại để quư bạn đọc có cái nh́n sâu sắc về đoạn trường H.O.

Năm 1987: Theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, một danh sách tương đối đầy đủ gồm 480 tù nhân chính trị mà đa số là các sĩ quan Quân Lực VNCH đă bị bắt và giam cầm từ tháng 5/1975 đến tháng 9/1987 mới được “phóng thích”. Danh sách này gồm có 15 vị tu sĩ Phật giáo, 6 vị tu sĩ Công giáo, 2 Bộ Trưởng, 9 sĩ quan cấp Tướng, 116 Đại Tá, 81 Trung Tá, 69 Thiếu Tá, 89 Đại Úy, 15 Trung Úy, 15 Thiếu Úy, 52 công chức và 31 người thuộc các thành phần khác.

NQ xin đăng danh sách các tù chính trị được “phóng thích” này để thân nhân, bạn hữu biết được là các người này đă được “phóng thích” từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn rồi!

* Tuyên Úy Phật giáo: Hồ Trí, Huỳnh Bá Hào, Huỳnh Kim B́nh, Huỳnh Nhất Thạch, Lê Quang Đức, Lê Thái B́nh, Lê Thanh Kính, Lê Văn Tường, Lê Xuân Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Khuê, Trần Ngữ, Trần Văn Điền, Trần Văn Tùng.

* Tuyên Úy Công giáo: Đinh Công Trọng, Nguyên Công Dinh, Nguyễn Thành Minh, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Thới, Trần Văn Thông.

* Bộ Trưởng: Ngô Khắc Tịnh, 

* Tướng lănh: Dương Văn Đức, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Chấn Á (1), Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Thanh Sằng, Nguyễn Xuân Trang, Phan Đ́nh Thứ (tự Lam Sơn) , Trần Văn Chơn, Vũ Văn Giai.

* Đại Tá: Bùi Quang Hiền, Bùi Xuân Lăng, Bửu Cát, Cao Thông Minh, Cao Văn Khanh, Cao Văn Phước, Chung Minh Kiến, Đàm Quang Yếu, Đặng Văn Đính, Dương Hiếu Nghĩa, Hồ Tiêu, Hồ Văn Thành, Hoàng Thọ Nhu, Hoàng Văn Luyện, Huỳnh Ấn, Huỳnh Minh Quang, Lại Đức Chuẩn, Lê Hữu Đức, Phạm Văn Phô,  Đại Tá Trần Ngọc Thống t́m được qua báo Xuân Đồng Nai 1987. Đại Tá Thống là một trong 116 vị Đại Tá có tên trong danh sách được phóng thích từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn.

Đây là tài liệm hiếm quư của 28 năm về trước, xin được đăng lại để quư bạn đọc có cái nh́n sâu sắc về đoạn trường H.O.

Năm 1987: Theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, một danh sách tương đối đầy đủ gồm 480 tú nhân chính trị mà đa số là các sĩ quan Quân Lực VNCH đă bị bắt và giam cầm từ tháng 5/1975 đến tháng 9/1987 mới được “phóng thích”. Danh sách này gồm có 15 vị tu sĩ Phật giáo, 6 vị tu sĩ Công giáo, 2 Bộ Trưởng, 9 sĩ quan cấp Tướng, 116 Đại Tá, 81 Trung Tá, 69 Thiếu Tá, 89 Đại Úy, 15 Trung Úy, 15 Thiếu Úy, 52 công chức và 31 người thuộc các thành phần khác.

NQ xin đăng danh sách các tù chính trị được “phóng thích” này để than nhân, bạn hữu biết được là các người này đă được “phóng thích” từ nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn rồi!

* Tuyên Úy Phật giáo: Hồ Trí, Huỳnh Bá Hào, Huỳnh Kim B́nh, Huỳnh Nhất Thạch, Lê Quang Đức, Lê Thái B́nh, Lê Thanh Kính, Lê Văn Tường, Lê Xuân Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Xuân, Phạm Văn Khuê, Trần Ngữ, Trần Văn Điền, Trần Văn Tùng.

* Tuyên Úy Công giáo: Đinh Công Trọng, Nguyên Công Dinh, Nguyễn Thành Minh, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Thới, Trần Văn Thông.

* Bộ Trưởng: Ngô Khắc Tịnh, Ngô Khắc Tỉnh.

* Tướng lănh: Dương Văn Đức, Huỳnh Văn Cao, Nguyễn Chấn Á (1), Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Thanh Sằng, Nguyễn Xuân Trang, Phan Đ́nh Thứ (tự Lam Sơn) , Trần Văn Chơn, Vũ Văn Giai.

* Đại Tá: Bùi Quang Hiền, Bùi Xuân Lăng, Bửu Cát, Cao Thông Minh, Cao Văn Khanh, Cao Văn Phước, Chung Minh Kiến, Đàm Quang Yếu, Đặng Văn Đính, Dương Hiếu Nghĩa, Hồ Tiêu, Hồ Văn Thành, Hoàng Thọ Nhu, Hoàng Văn Luyện, Huỳnh Ấn, Huỳnh Minh Quang, Lại Đức Chuẩn, Lê Hữu Đức, Lê Ngọc Hy, Lê Phú Phúc, Lê Quang B́nh, Lê Tấn Phước, Lê Văn Đệ, Lê Văn Phú, Lê Văn Thiện, Lư Văn Minh, Ngô Lê Tuệ, Nguyễn Ấm, Nguyễn Bá Trước, Nguyễn Đăng Phương, Nguyễn Đức Đệ, Nguyễn Đức Khoái, Nguyễn Duy Bách, Nguyễn Hoành Nghĩa, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Hữu Thôn, Nguyễn Khắc Thiệu, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Kim Bào, Nguyễn Kỳ Nguyện, Nguyễn Minh Khen, Nguyễn Minh Tiên, Nguyễn Như Kiệt, Nguyễn Phú Sanh, Nguyễn Phước Nhung, Nguyễn Quang Chiếu, Nguyễn Quang Sanh, Nguyễn Quang Thông, Nguyễn Quang Tri, Nguyễn Quốc Quỳnh, Nguyễn Sỹ Túc, Nguyễn Tâm Phát, Nguyễn Tất Thinh, Nguyễn Thới Lai, Nguyễn Trí Vạng, Nguyễn Văn Chiên, Nguyễn Văn Ḥa, Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Hưởng, Nguyễn Văn Hữu, Nguyễn Văn Phiên, Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Răng, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Thứn, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Tự, Nguyễn Văn Viên, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Viết Tân, Phạm Bá Hoa, Phạm Đăng Tấn, Phạm Đ́nh Chi, Phạm Duy Thân, Phạm Thành Can, Phạm Thế Vinh, Phạm Văn Thường, Phan Bá Ḥa, Phan Công Minh, Phan Thông Tràng, Phan Văn Minh, Phan Văn Nương, Phan Văn Tài, Phùng Văn Quang, Súi Ṣi Coóng, Tạ Thành Long, Thái Ngọc Nghĩa, Thẩm Nghĩa Bôi, Tôn Thất Hùng, Tôn Thất Khiên, Tôn Văn Đồng, Trần Khắc Kính, Trần Kim Hoa, Trần Mộng Chu, Trần Ngọc Thống, Trần Phước Dũ, Trần Phương Quế, Trần Tín, Trần Văn Đắc, Trần Văn Hào, Trần Văn Hoàng, Trần Văn Kính, Trần Văn Quư, Trần Văn Tự, Trần Văn Vân, Trần Văn Việt, Trần Xuân Đức, Trịnh Hảo Tâm, Trịnh Văn Anh, Trịnh Xuân Nghiêm, Trương Đ́nh Liệu, Vơ Chào (2), Vơ Văn Ba, Vũ Lộ, Vũ Quang Chiêm.

* Trung Tá: Bùi Đức Luyện, Chương A Kiều, Đặng Văn Triêm, Đặng Viết Mậu, Đinh Quốc Thịnh, Đỗ Duy Chương, Đỗ Nam Kỳ, Đoàn Ngọc Quang, Hồ Viết Thanh, Huỳnh Kim Thới, Huỳnh Ngọc Chắc, Khu Đắc Hùng, Kỳ Văn Long, Lầu Vênh Dzếnh, Lê Bá Cường, Lê Huy Vân, Lê Minh Khôn, Lê Như Huế, Lê Phước Mỹ, Lê Quang Tiến, Lê Quốc Hùng, Lê Quư Kỳ, Lê Tấn Bửu, Lê Thành Quư, Lê Văn Điệp, Lư Ta Ri, Lưu Đ́nh Kính, Ngô Đức Lâm, Ngụy Văn Thanh, Nguyễn Công Hoàn, Nguyễn Đăng Ḥa, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Minh Công, Nguyễn Năng Chín, Nguyễn Ngọc Phúc, Nguyễn Nhượng (Tức Huấn), Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Thái Hân, Nguyễn Thanh Hoàng, Nguyễn Văn Hoành, Nguyễn Văn Kỳ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Văn Ngữ, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Văn Vinh, Phạm Hy Mai, Phạm Ngọc Cầu, Phạm Ngọc Linh, Phạm Văn Ḥa, Phạm Văn Khanh, Phan Cảnh Tuân, Phan Văn Phúc, Phùng Văn Đệ, Quách Cẩm Vinh, Tạ Văn Thái, Tô Công Biên, Tôn Thất Hoàng, Tôn Thất Nhiễu, Trần Anh Xuân, Trần Mực, Trần Như Hùng, Trần Quang Điểm, Trần Sỹ Ngọc, Trần Thanh Bền, Trần Thành Tựu, Trần Văn Huệ, Trần Văn Sáu, Trang Văn Ngọ, Trịnh Văn Giục, Trương Văn Chấn, Trương Văn Oanh, Từ Hải Phượng, Ưng Dzu, Vĩnh Thái, Vơ Ngọc Lân, Vơ Quốc Sự, Vơ Tấn Khoa, Vũ Văn Quư.

* Thiếu Tá: Bảo Đồng, Đặng Đức Thành, Đặng Duy Bách, Đặng Minh Tân, Đào Văn Lượng, Diên Danh Hiệp, Đỗ Đ́nh Lâm, Đỗ Văn Danh, Đỗ Xuân Thảo, Dương Đ́nh Phát, Dương Tâm Bảo, Dương Văn Chiến, Hồ Ngọc Quang, Hồ Trí, Hoàng Hữu Đạo, Hoàng Văn Tuy, Huỳnh Nhật Thạch, Huỳnh Văn Hương, Lê Hữu Trí, Lê Quư Trân, Lê Thiện Điền, Lê Văn Châu, Lữ Văn Cung, Nghiêm Ngọc An, Ngô Tùng Châu, Ngô Văn Bá, Ngô Văn Ngọ, Nguyễn Đ́nh Trà, Nguyễn Đức Đào, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Kim Biên, Nguyễn Kim Năm, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Phẩm, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Văn Xuân, Phạm Đăng Khoa, Phạm Hữu Thiện, Phạm Minh Châu, Phạm Văn Dinh, Phạm Văn Huỳnh, Phạm Văn Thịnh, Phạm Văn Tịnh, Phạm Văn Ứng, Phan Kim Môn, Phan Văn Phương , Trần Chấn Sơn, Trần Chu Thếch, Trần Công Thành, Trần Đức Tuấn, Văn Ngọc, Trương Đ́nh Thắng, Vơ Hiền Sỹ, Vũ Mạnh Hùng.

* Thiếu Úy (3): Dương Ngọc Quư, Dương Văn Hồng, Hồ Văn Đức, Huỳnh Chí Tài, Lê Văn Liêm, Mai Văn Nhật, Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Sô, Nguyễn Sĩ Sinh, Nguyễn Văn Huệ, Phạm Thị Bạch Hoa, Trần Tấn Kim, Trần Thanh Tánh, Trần Văn Nối, Vơ Văn Tân.

* Công chức: Châu Kinh Lịch, Đặng Hoàng Hà, Đậu Phi Lục, Đinh Công Trọng, Đỗ Tiến Hóa, Dương Văn Nam, Dương Văn Triển, Hồ Văn Hà, Hoàng Nhất Huy, Huỳnh Cự, Huỳnh Ngọc Thạch, Huỳnh Sĩ Hùng, Huỳnh Văn Trừ, Lâm Minh Lê, Lê An, Lê Tấn Khanh, Lê Thành Lập, Lê Thành Nhơn, Lê Văn Để, Lê Văn Khương, Lê Văn Thừa, Lư Thái Vượng, Mai Thanh Liêm, Ngô Minh Đức, Nguyễn Bá Quát, Nguyễn Khoa Phước, Nguyễn Kim Hùng, Nguyễn Trọng Khánh, Nguyễn Văn Định, Nguyễn Văn Khi, Nguyễn Văn Mân, Phạm Duy Tuệ, Phạm Văn Bông, Phạm Xuân Sang, Phan Đ́nh Doăn, Phương Văn Nhơn, Sử Ngọc Danh, Tôn Thất Đông, Trần Cảnh Chung, Trần Sinh, Trần Thái Nguyên, Trần Thanh Hương, Trần Văn Hôn, Triệu Huỳnh Vơ, Trịnh Văn Thanh, Trương Đ́nh Thành, Trương Thành Thái, Ung Si Tak, Vơ Quốc Thanh, Vơ Văn Thưởng, Vũ Văn Long.

* Nhà báo, thành phần khác: Bùi Văn Đồng, Đặng Quang Khải, Danh Xom, Dương Văn Thiệt, Hà Mạnh Phan, Hà Sơn Hồ, Hoàng Văn Hải, Huỳnh Lương Nhân, Lâm Thành Thông, Lê Hà Vĩnh (Trần Dạ Từ), Lê Thành Phương, Lê Trưởng, Lê Văn Cược, Lê Văn Hoàng, Lê Văn Ngàn, Lê Văn Sở, Lê Văn Tai, Lư Giải Quyền, Ngô Quang Trụ, Ngô Thanh B́nh, Ngô Văn Trường, Nguyễn Tuấn, Nguyễn Văn Lô, Nguyễn Văn Lốt, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Viết Khánh (Sơn Điền), Phạm Cung, Phan Văn Gác, Trần Bửu Ngọc, Trần Văn Tân, Vơ Văn Bùng.

Danh sách 480 sĩ quan chế độ VNCH và thường dân vừa mới được Việt Cộng “phóng thích” đă được bọn chúng thổi phồng lên khắp nơi, coi như là một món quà, một thiện chí đối với Mỹ hầu để ve văn Mỹ và chứng tỏ cho nhân loại thấy rằng chúng cũng c̣n “nhân đạo”! Nhưng hỡi ơi, nhân loại có biết, có hay đâu rằng những người tù này đă bị chúng đày đọa 13 năm qua từ thân xác đến tinh thần, khốn khổ, thiếu thốn mọi bề… th́ sau khi được chúng phóng thích cũng chỉ c̣n là những phế tật, phế nhân!!!

Chú thích:

1. Ông Nguyễn Chấn Á là Trung Tướng hồi hưu của Trung Hoa Quốc Gia (Đài Loan).

2. Ông Vơ Chào là Đại Tá quân đội Cam Bốt, bị Việt Nam bắt tù, đổi ra tên Việt Nam là Vơ Chào.

3. Nhiều Thiếu Úy mới ra trường 3 tháng, bị tù khổ sai 13 năm.

TÀI LIỆU QUƯ LIÊN QUA ĐẾN H.O XIN PHÉP TRÍCH

Trong tài liệu tham khảo có bài "30 năm họp mặt Bộ Tổng Tham Mưu" của nhà văn Quế Sơn Nguyễn Mậu Quư. Nội dung của bài viết có mấy mục liên quan đến những sự kiện lịch sử thuộc chương tŕnh H.O. Nhận thấy tác giả tŕnh bày vô cùng sâu sắc, nay xin phép nhà văn Quế Sơn Nguyễn Mậu Quư cho phép trích lược lại một số mục có liên quan. Xin thành thật cám ơn.

NHỮNG VỊ KHÁCH MÀ GIA Đ̀NH H.O KHÔNG THỂ QUÊN

1. Ông Robert Funseth, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao

Tôi t́m đến thăm chị Khúc Minh Thơ th́ may mắn gặp cả ông bà Funseth cùng ngồi chung bàn với các chị trong Hội Gia Đ́nh Cựu Tù Nhân Chính Trị. Chỉ tiếc là thiếu anh Huỳnh Công Ánh (v́ có người anh ruột bệnh nặng phải vào bệnh viện cấp cứu)nên anh đă vắng mặt, khiến đêm vui hội ngộ đă không trọn vẹn.
Ông Robert Funseth là người đă bỏ ra hơn 7 năm trời bay qua, bay lại Thái B́nh dương, kiên nhẫn với gần 30 cuộc thương thuyết để đưa anh em cựu TNCT thoát khỏi lao tù Cộng Sản đến miền đất tự do.
Không có nhà ngoại giao già dặn kinh nghiệm, điềm đạm, ôn ḥa và mềm mỏng như ông Funseth th́ chương tŕnh H.O. có thể trễ thêm mấy năm, và có lẽ một số không nhỏ anh em chúng ta đă không c̣n cơ hội để ra đi. Cũng chính ông Funseth là người đại diệnchính phủ Hoa Kỳ đặt bút kư với ông Vũ Khoan, đại diện Hà Nội bản thỏa ước ngày 30-7-1989 cho phép anh chị em cựu TNCT được ra đi vào cuối năm 1989. Tuy nhiên v́ thủ tục giấy tờ, măi đến 12 giờ 30 phút trưa thứ Bảy ngày 13/1/1990, 32 cựu TNCT đợt đầu tiên mới đến được phi trường L.A. Tôi c̣n nhớ đợt này có gia đ́nh Y Sĩ Thiếu Tá Trần Như Du và Thiếu Tá Nguyễn Thượng Hiệp, pḥng 7/BTTM.
Hàng trăm đài truyền h́nh, báo chí, truyền thông Việt, Mỹ đă sẵn sàng để đón chào những người con yêu của Tổ Quốc.
Khu hội Cựu TNCT Nam California có Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Ích, cụ Phạm Ngọc Hợp, Bác Sĩ Lê Quang Tuyến, cựu Thẩm Phán Nguyễn Văn Vân, nhà văn Nguyễn Vạn Hùng, các anh Lê Hùng, Bùi Ngọc Long, Nguyễn Đức Vị và kẻ viết bài này. Đặc biệt về phía Hoa Kỳ có dân Biểu Dornan, ông lên phi trường từ lúc 11 giờ chờ đợi được đón chào người mới đến.
Giờ đây ông không c̣n là dân biểu nhưng khi c̣n tại chức ông đă tận t́nh tranh đấu, giúp đỡ cho Cộng Đồng Việt Nam chúng ta trong nhiều lănh vực. Chính ông đă cùng với Thượng Nghị Sĩ John McCain, Thượng Nghị Sĩ John Kennedy, Dân Biểu Peter Peterson (sau này là Đại Sứ tại Việt Nam), Dân Biểu Rohrabacher cùng một số Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu và ông Jim Weeb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ đă yểm trợ cho Tổng Hội Cựu TNCT phối hợp với một số hội đoàn tổ chức lễ Vinh Danh cựu TNCT Việt Nam tại Quốc Hội ngày 28/2/1992.
Ông Huỳnh Công Ánh, Chủ Tịch Tổng Hội Cựu TNCT đă thay mặt anh em đọc bài diễn văn cám ơn chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ đă can thiệp cho cựu Quân, Cán, Chính VNCH được ra khỏi nhà tù Cộng Sản và đến định cư tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Tham dự buổi lễ vinh danh này tại Nam CA có hai cựu TNCT đặc biệt vừa mới đến là nhà văn Nhă Ca và nhà thơ Trần Dạ Từ. Ngày hôm sau Chủ Tịch Tổng Hội Huỳnh Công Ánh được chương tŕnh Good Morning in America mời phỏng vấn cùng với ông Chủ Tịch Đảng Cộng Ḥa ToànQuốc và Thượng Nghị Sĩ John McCain. Ba tuần lễ sau ông Ánh được trường Đại Học Havard mời đọc diễn văn. Vinh dự này không phải riêng dành cho ông Ánh hay Tổng Hội Cựu TNCT mà là niềm hănh diện cho toàn thể anh chị em cựu TNCT Việt Nam chúng ta.
Trước đó vào ngày 28/10/1989, Khu Hội Cựu TNCT Nam CA đă phối hợp với Quốc Hội Tiểu Bang California do Thượng Nghị Sĩ Art Torres đại diện, tổ chức buổi hội thảo chương tŕnh định cư cựu TNCT tại Marriotte hotel. Diễn giả là ông Funseth và thành phần tham dự gồm quư vị lănh đạo các tôn giáo, đại diện các hội đoàn và các cơ quan truyền thông, báo chí.
Trong dịp này Khu Hội Cựu TNCT chúng tôi đă cử Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền, cựu Công Cán Ủy Viên Bộ Thông Tin, cựu TNCT vừa mới đến, đại diện anh em cựu tù lên phát biểu cảm tưởng bằng hai ngôn ngữ Việt, Mỹ.
Đầu năm 1990, về phía chính phủ Hoa Kỳ có hai cuộc họp quan trọng về chương tŕnh định cư Cựu TNCT do Bộ Ngoại Giao và Bộ xă Hội triệu tập vào ngày 16-17/1 và ngày 25-25/2/1990 tại Quality hotel, thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Thành phần tham dự về phía Hoa Kỳ gồm quư vị Giám Đốc Tỵ Nạn các Tiểu Bang, Giám Đốc Cơ Quan Thiện Nguyện. V́ phía Việt Nam có bà Khúc Minh Thơ, Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT; bà Trần Thu, Giám Đốc Định Cư USCC, Orange County; ông Vũ Văn Lộc, đại diện Liên Hội Người Việt San Jose; ông Đỗ Quư Sáng, Trần Kiêm Thêm thuộc Liên Hội Cộng Đồng Los Angeles; ông Nguyễn Văn Nghi, Liên Hội Người Việt San Diego; ông Nguyễn Hà, Hội Người Việt Illinois; ông Nguyễn Ngọc Linh, Hội Người Việt Texas; Tiến Sĩ Lê Xuân Khoa, Giám Đốc Trung Tâm Tác Vụ Đông Dương; Bác Sĩ Trần Minh Tùng, Virginia và kẻ viết bài này, đại diện Tổng Hội và Khu TNCT Nam Cali. Điều khiển chương tŕnh kiêm thuyết tŕnh viên là ông Funseth, đại diện Bộ Ngoại Giao và ông Chris Gerstern, Tổng Giám Đốc Nha Định Cư thuộc Bộ Xă Hội cùng bà Mary Chi Ray, Phó Tổng Giám Đốc.

2. Bà Khúc Minh Thơ, Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT Việt Nam


Bà là người đàn bà Việt Nam duy nhất diện kiến Tổng Thống Reagan để xin chính phủ Hoa Kỳ can thiệp cho tù cải tạo được ra khỏi nhà tù và được tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ.
Trong kỳ Đại Hội Kiện Toàn Tổ Chức Tổng Hội Cựu TNCT vào đầu năm 1989, tôi và cựu Thẩm Phán Nguyễn Văn Vân, Tổng Thư Kư Khu Hội (anh Vân đă từ trần cách đây 5 năm trong lúc đương nhiệm Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Nam CA) đă "tá túc" tại nhà chị Thơ 3 hôm. Có ở nhà chị mới thấy được công việc làm của chị. Mẹ góa con côi, 6 giờ sáng phải dậy lo cho các con ăn uống bữa sáng. 7 giờ lái xe đưa các con đi học rồi đi thẳng tới hăng làm, măi đến 6:30 tối mới về đến nhà. Vừa về đến nhà thay bộ đồ xong là lao vào bếp lo bữa cơm tối cho con. Đến 8 giờ là vào căn pḥng làm việc kế bên pḥng ngủ của các con lo giải quyết cả núi thơ từ, hồ sơ từ Việt Nam, từ các tiểu bang gởi đến để nhờ bà Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT giúp cho thân nhân sớm được ra đi. Không phải vô cớ mà ông Funseth tặng cho bà Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT cây bút mà ông đă dùng để kư vào bản thỏa ước ngày 30/7/1989, một kỷ vật vô giá, chiếc ch́a khóa đă mở cửa thiên đường cho anh chị em cựu TNCS khốn khổ chúng ta. Đó cũng là chứng tích lịch sử của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hơn 200 năm lập quốc, mà đây là lần đầu tiên chính phủ kư một thỏa ước với kẻ cựu thù để mang hàng trăm ngàn tù nhân đă một thời là đồng minh đến định cư tại quốc gia họ.
Cũng trong buổi hội ngộ này, tôi đă được gặp lại những vị khách mà tôi rất kính mến: cựu Đại Sứ Bùi Diễm và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch và Tổng Thư Kư Nghị Hội Toàn Quốc năm nào, mà tôi đă có vài lần tham dự đại hội tại Washington DC và tại Santa Clara, Bắc California.
Vinh danh ông Funseth
Một khung h́nh bằng bạc, lộng tấm ảnh tù cải tạo trong giờ lao động, dưới có hàng chữ bằng Anh ngữ: "Xin tặng ông Robert Funseth, người đă đưa cha tôi đến bờ tự do", dưới ghi là "Một người con gái tù cải tạo kính tặng".
Cô Thanh Ngọc, con gái một H.O. cũng vừa là cháu ngoại một H.O. (ba cô và ông ngoại đều ở tù Cộng Sản) đă đại diện cho gia đ́nh cựu TNCT trao tặng khung h́nh trên cho ông cựu Phụ Tá Đặc Biệt Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Vinh danh bà Khúc Minh Thơ và Viện Bảo Tàng Quân Đội, tiếp nhận cây bút lịch sử
Người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện với 21 năm kiên cường trong ngục tù Cộng Sản đă đại diện cho anh em cựu TNCTCS tặng đóa hoa hồng tươi thắm cho bà Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT để tỏ ḷng biết ơn bà về những đóng góp cho chương tŕnh ra đi của cựu TNCT Việt Nam.
Nhân dịp này bà Chủ Tịch Hội Gia Đ́nh Cựu TNCT cũng trao lại cho cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Quân Đội cây bút lịch sử mà ông Funseth tặng cho Hội trước đây".

CHƯƠNG TR̀NH TU CHÍNH AN McCAIN CHO NHỮNG NGƯỜI CON TRÊN 21 TUỔI

Phần này là tài liệu lịch sử, người viết xin phép trích nguyên văn đoạn phỏng vấn sau do phóng viên Phương Anh đài RFA phỏng vấn bà Khúc Minh Thơ. Cám ơn Bác Sĩ Nguyễn Lộc đă gởi cho tài liệu này trước khi hoàn thành bài viết:

"Thưa quư vị, bản thoả hiệp giữa hai chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ đă được thi hành vào năm 1989, và chỉ dành cho những ai đă phải đi tù “cải tạo” từ 3 năm trở lên mà thôi, thế c̣n thân nhân của họ th́ sao?

Thế là chính phủ Mỹ đă giải quyết một cách rất nhân đạo bằng cách cho phép tất cả vợ hay chồng cùng con cái của người H.O được đi theo, kể cả những người con nào trên 21 tuổi mà chưa lập gia đ́nh. Và thế là hàng trăm ngàn gia đ́nh lần lượt đến định cư tại Hoa Kỳ để xây dựng một cuộc đời mới trên một đất nước tự do. Những tưởng mọi việc êm xuôi như thế, nhưng: Bộ Ngọai Giao với bên INS họ nghĩ là chương tŕnh HO là chương tŕnh nhân đạo cho nên không theo chương tŕnh di dân thành ra họ không kể là con trên 21 tuổi, chưa có gia đ́nh th́ được đi theo cha mẹ.

Sau đó năm 1996 ở Bộ Ngọai Giao và Sở Di Trú họ nói rằng bây giờ họ muốn ngưng, cắt, không cho đi theo, để đi theo diện di dân, nên họ ngưng, họ cắt con của tù nhân mà trên 21 tuổi dù không có vợ chồng, cũng không được đi.

Chúng tôi mới liên lạc với Quốc Hội, nhất là ông McCain, bởi v́ ông McCain là người giúp cho Hội của chúng tôi rất là nhiều, th́ ông rất là thông cảm, bởi v́ ổng là POW bên Việt Nam mà, ổng biết xa gia đ́nh, xa vợ, xa con, thành ra khi chúng tôi tŕnh bày, là ổng ủng hộ liền.

Mặc dù chúng tôi đă qua Bộ Ngoại Giao để nói đủ mọi thứ, để xin tiếp tục đừng có cắt mấy đứa con của tù nhân chính trị trên 21 tuổi nữa, nhưng mà Bộ Ngọai Giao họ nhất định không đồng ư, th́ chúng tôi mới bắy buộc phải đi qua bên Quốc Hội, với ông Thượng Nghị Sĩ McCain, th́ ổng mới làm Tu Chính Án McCain…

Sau đó th́ ḿnh mới bắt đầu viết ra cái Tu Chính Án, rồi ḿnh mới xin con không cùng hộ khẩu… Cái điểm chính là những đứa con nào trên 21 mà từ 1 tháng 4 năm 1995 trở về trước th́ họ được đi.

Sau đó th́ tôi mới nói là sau khi thân nhân, cha mẹ của họ đă được đi rồi th́ họ bắt buộc phải lập gia đ́nh để họ sống, bởi v́ họ đâu có được đi theo gia đ́nh của họ nữa, Tu Chính Án mới cho những người nào khi phỏng vấn vào trước ngày 1 tháng 4 năm 1995 mà không có gia đ́nh, sau này, họ có gia đ́nh th́ chồng vợ và con cái của họ đều được đi hết”.

Gia hạn tu chính án Mc Cain

Với sự vận động của Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị, cùng một số hội đoàn người Việt khác như Nghị Hội Toàn Quốc Hoa Kỳ, Liên Hội Người Việt Hoa Thịnh Đốn, tu chính án McCain được thông qua, và trở thành luật vào năm 1997. Sau đó, được Quốc Hội Mỹ tiếp tục ủng hộ cho đến hết tháng 9 năm 2003. V́ vẫn c̣n một số con “H.O” chưa lập xong thủ tục nên bị kẹt giữa chừng. Bà cho biết:

"Lần đầu tiên th́ 1 năm, sau đó th́ chúng tôi được hai năm, nhưng năm 2003, th́ chúng tôi v́ bận nhiều việc để mà lo cho bên chương tŕnh để xin cái thỏa hiệp cho Chương Tŕnh Định Cư Nhân Đạo, cũng như là tiếp tay với chương tŕnh vận động cho người tị nạn ở bên Phi Luật Tân, cũng như là lo cho những hồ sơ mà bị kẹt, gặp khó khăn, chúng tôi không nghĩ tới vấn đề mà nó hết hạn, sau đó th́ tôi được biết là Tu Chính Án nó đă hết hạn rồi…"

Trong khi bà bận rộn như thế, và tu chính án Mc Cain vừa mới hết hạn th́ dân biểu Tom Davis, tiểu bang Virginia, lập tức đưa ra một tu chính án mới nhằm gia hạn thêm… Tiếc thay, tu chính án này đă không được thông qua v́ thiếu nhiều dân biểu ủng hộ tại Quốc Hội.

Kết quả là từ đầu tháng 10 năm 2003, chương tŕnh các con HO thuộc luật McCain này không được giải quyết nữa. Vẫn không nản ḷng, Hội Gia Đ́nh Tù Nhân Chính Trị dưới sự hướng dẫn của bà, và Nghị Hội Toàn Quốc Hoa Kỳ, phát động một cuộc vận động qui mô trên quốc hội để tu chính án được thông qua…

Cuối cùng, với sự tiếp tay của các hội thiện nguyện khác như USCC ở Los Angles, ông Nam Lộc, Refugee Council và ông Shep Lowman, tu chính án McCain được thông qua. Chúng ta hăy nghe bà tŕnh bày về sự gia hạn của tu chính án này: Tới tháng 9 năm nay…tháng 9 năm 2005 này là hết hạn. Bây giờ chúng tôi đang vận động cho chương tŕnh H.O. Mc Cain, bởi v́ Tu chính án này đến tháng 9 này là hết hạn rồi. Do đó mà chúng tôi đang phải vận động gia hạn cho tới tháng 9 năm 2007”.

THAY LỜI KẾT

“Đoạn trường Hát Ô” được kể lại trên đây tương đối khá dài. Như đă đề cập ở phần đầu, nguyên nhân tôi viết bài này mục đích giúp cho các bạn trẻ, trong đó có cả các con cháu của chúng tôi biết rơ về thế hệ cha ông của các cháu đă cống hiến, hy sinh cuộc đời của ḿnh cho Tổ Quốc Việt Nam mến yêu. Trước 1975 VNCH không thua kém một quốc gia nào trong khu vực. Sài G̣n lúc bấy giờ gọi là ḥn “Đoạn trường Hát Ô” được kể lại trên đây tương đối khá dài. Như đă đề cập ở phần đầu, nguyên nhân tôi viết bài này mục đích giúp cho các bạn trẻ, trong đó có cả các con cháu của chúng tôi biết rơ về thế hệ cha ông của các cháu đă cống hiến, hy sinh cuộc đời của ḿnh cho Tổ Quốc Việt Nam mến yêu. Trước 1975 VNCH không thua kém một quốc gia nào trong khu vực. Sài G̣n lúc bấy giờ gọi là ḥn cùa Đặng Trần Huân. Từ đó bạn đọc sẽ thấu hiểu và vô cùng thương cảm cho anh em cựu TNCT/VNCH.

Thành phố Westminster, tháng Chạp 2015

Hồ Đắc Huân

HO9-313

 

 

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG NAM Á.

T̀M ĐỌC

GIẢI ĐỌC TRỐNG ĐỒNG N̉NG NỌC (ÂM DƯƠNG) ĐÔNG NAM Á (Quyển I và  II)

của NGUYỄN XUÂN QUANG.

.Một tác phẩm tác giả đầu tư gần một nửa đời người. Một tác phẩm viết gần 30 năm mới hoàn tất.
.Một khai phá độc đáo về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn. Từ trước tới nay chưa một học giả nào trong nước cũng như trên thế giới hiểu thấu được ư nghĩa đích thực của trống đồng.
.Sự khai phá về trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn, nhất là sự khám phá ra chữ viết Ṇng Nọc của tác giả sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho  các nhà nghiên cứu các nền văn minh cổ thế giới.
.Trống đồng ṇng nọc, âm dương Đông Sơn diễn giải Vũ Trụ Tạo Sinh, là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, là bộ Dịch ṇng nọc bằng đồng, nền tảng của nền văn minh Đông phương nói riêng và của nhân loại nói chung. Trống đồng âm dương cũng là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt.
.Đọc Giải Đọc Trống Đồng Ṇng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á để t́m thấy bản sắc Việt, để t́m thấy căn cước Việt của ḿnh.

.Bộ sách gồm 4 tập, tập I và II này nói tổng quát về trống đồng âm dương để giúp t́m hiểu và giải đọc trống đồng. Tập III và IV sẽ giải đọc những trống chính yếu quan trọng. Sách có hàng trăm h́nh ảnh do tác giả thu thập ở khắp nơi trên thế giới. Tập I dầy 400 trang giá 70 Mỹ kim kể cả bưu phí. Tập II dầy 468 trang giá 80 Mỹ kim kể cả bưu phí.

Mua qua tác giả, với giá đặc biệt là 75 MK cả hai tập bao luôn bưu phí.

Liên lạc:
tác giả Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang
P.O. Box 18983, Anaheim, CA 92817- 8983, USA.
Tel. & Fax: (714)-897-9413
Email: ngxuanquang@aol.com
.

 

LỐI XƯA XE NGỰA HỒN THU THẢO...  

"Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
  Đến nay thấm thoát mấy tinh sương
  Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
  Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
  Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
 Nước c̣n cau mặt với tang thương
  Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
  Cảnh ấy người đây luống đoạn trường”

             (Bà Huyện Thanh Quan)