báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                             

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 Giới thiệu cuốn DVD HỒN TỬ SĨ do nhóm Vietnam Film Club thực hiện

 

Bài diễn thuyết của TRUMP khiến cả nước Mỹ và thế giới bừng tỉnh

https://youtu.be/rWWxUC27aCw

 

Cựu sĩ quan VNCH Bằng Phong Đặng Văn Âu biểu t́nh ủng hộ TT Trump

https://youtu.be/y3lUGJ8r2Ys

**

mời xem:

 Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Thay Ngôi Đổi Chủ. "Tuyển Tập Các Biên Khảo Lịch Sử Chính Trị Việt Nam Trong Thời Kỳ Cận Đại & Hiện Đại"

Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Việt Nam Ngày Mai


 

  Phạm Đ́nh Hưng

 LÁI THIÊU: ĐẤT LÀNH, CHIM ĐẬU

                                                                                             

Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) đă đưa tôi từ An Phú Xă ra Lái Thiêu, một thị trấn nổi tiếng với ḷ chén (ḷ gốm) và măng cục, sầu riêng. Lái Thiêu đă trở thành  chánh quán của tôi và đă để lại trong tâm khảm tôi nhiều kỷ niệm êm đềm của thời niên thiếu và thời trung niên.

Giă từ nơi chôn nhao cắt rún

Ngay sau khi ổn định nơi ăn chốn ở và công việc làm (dạy học) trong mùa hè năm 1946, Ba tôi nhắn về Bà Ngoại tôi đang c̣n lưu cư tại An Phú Xă t́m cách đưa Anh Hai và Anh Ba của tôi qua Dĩ An để đi xe lửa xuống Sài G̣n tiếp tục học hành tại trường Trung học Pétrus Kư, đồng thời dẫn anh Tư và tôi ra Lái Thiêu đoàn tụ với Ba tôi. An Phú Xă chỉ cách Lái Thiêu 5 cây số (kí lô mét) nhưng thuộc vùng kiểm soát của Việt Minh (cộng sản) v́ quân Pháp đă rút khỏi xă nầy. Trong hoàn cảnh ra đi khỏi An Phú Xă một cách âm thầm và vội vă, tôi chỉ c̣n kịp ngoái lại nh́n một lần cuối cùng ngôi nhà ngói âm dương của Ngoại tôi, nơi tôi đă sanh ra và lớn lên trong tuổi hoa niên, và các cảnh vật thân yêu xung quanh nhà. Với tâm trạng buồn man mác, tôi đă rơi lệ giă từ nơi chôn nhao cắt rôn của tôi.

Hai mươi bảy năm sau, năm 1973, tôi đă trở lại để xây dựng lại quê tôi trên điêu tàn đổ nát. Khói lửa chiền tranh đă quét sạch tất cả nhà cửa, công sở, trường học, đ́nh chùa, chợ búa. Tất cả kiến trúc và vườn tược đều đă bị san bằng thành b́nh địa. Rừng chồi bao phủ khắp nơi. Tôi đă không t́m được dấu vết ngôi nhà thân yêu của Ngoại tôi. An Phú xă quê tôi đă biến thành một vùng đất không người ở (No man’s land) trong cuộc Chiến tranh Đông Dương (Indochina War) và Chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).

Trên đường vượt thoát khỏi vùng kiểm soát của Việt Minh, tôi đă nh́n thấy nhiều xác người nằm rải rác trên hương lộ nối liền An Phú Xă và Lái Thiêu. Các nạn nhân nầy đă bị Việt Minh giết chết sau khi quân Pháp rút khỏi An Phú Xă v́ bị kết tội đă hợp tác với giặc Pháp. Bao nhiêu năm tháng đă trôi qua, tóc xanh đă bạc màu, tôi vẫn không quên được các h́nh ảnh ghê rợn nầy.

Trải qua nhiều giờ căng thẳng và lo sợ khi đi bộ tren các con đường ṃn xuyên rừng, Bà Ngoại, Anh Tư và tôi đă tới thị trấn Lái Thiêu an toàn và rất vui mừng được gặp lại Ba tôi. Sau những ngày tháng gian nan của năm 1946, cuối cùng gia đ́nh chúng tôi đă được đoàn tụ và thở không khí tự do trong vùng kiểm soát của quân đội Pháp. 

Lái Thiêu: Quê hương thứ hai của tôi

Tôi ra Lái Thiêu một tuần lễ trước ngày tựu trường (tháng 9 năm 1946). Ba tôi gắp rút làm thủ tục cho Anh Tư và tôi nhập học tại trường tiểu học xă Tân Thới: Anh Tư học lớp Nhứt (Cours Supérieur), tôi học lớp Nh́ (Cours Moyen) do thầy giáo Nguyễn văn Xước dạy. Ngày đầu tiên đi học tại Lái Thiêu, tôi rất thích thú nghe thầy giáo Xước giảng bài La rentrée des classes (Ngày tựu trường) bằng tiếng Pháp.

Thầy giáo Xước rất thích tôi v́ tôi dám chấp nhận các câu đố khó của thầy. Một hôm, thầy giáo Xước ra một bài toán rất khó và các học tṛ phải giải xong bài toán trong thời gian 10 phút. Các bạn học của tôi lần lượt đem tŕnh bài làm, tất cả đều bị thầy Xước cho điểm 0. Khi tôi đem tŕnh bài giải trước thời gian hạn định, thầy Xước cho tôi điểm 21/20 v́ chỉ có một ḿnh tôi có đáp số đúng mà thôi. Thầy Xước đă nhận định với Ba tôi rằng tôi sẽ thành công trong việc học.

Thầy giáo Xước rất thương tôi và tôi cũng rất kính mến thầy. Nhưng sau ngày 19 tháng 12 năm 1946, tôi không thấy thầy giáo Xước trở lại lớp học của tôi nữa. Đồng thời, thầy giáo Vinh, người đồng nghiệp cư ngụ bên cạnh nhà Ba tôi cũng biến dạng. Khi tôi hỏi Ba tôi về sự vắng mặt kỳ lạ của hai thầy giáo nầy, Người mới nói nhỏ với tôi: Hai thầy giáo Xước và Vinh đă bỏ gia đ́nh đi kháng chiến chống Pháp theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh. Lời kêu gọi của “Cụ Hồ” đă được rất đông học sinh, sinh viên và trí thức miền Nam đáp ứng do ḷng yêu nước nhiệt thành của họ chớ không phải v́ t́nh yêu chủ nghĩa xă hội. Trong số trí thức yêu nước đă rời bỏ gia đ́nh đi theo kháng chiến chống Pháp có ông Đốc phủ Nguyễn văn Chương, Phó Đô trưởng Sài G̣n-Chợ Lớn, và hai anh tôi. Thay v́ tiếp tục học trung học tại Sài G̣n, Anh Hai và Anh Ba tôi đă bỏ học, trở về An Phú Xă sống và phục vụ kháng chiến trong vùng kiểm soát của Việt Minh cộng sản. Quyết định nầy của hai anh tôi đă đi ngược lại ước vọng của Ba tôi và khiến cho Người rất buồn phiền.

Sau khi thầy giáo Xước đi vào chiến khu của Việt Minh tại miền Đông Nam Phần, thầy giáo Trần Bửu Vị từ Sài G̣n đến thay thế dạy lớp Nh́ một thời gian ngắn. Thầy Trần Bửu Vị là anh của Trần Bửu Kiếm, một nhân vật trọng yếu của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đă tham gia ḥa đàm Paris vào đầu thập niên 1970 trong phái đoàn của Chánh phủ Lâm thời Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Thủ tướng. Sau nầy, khi làm Thẩm phán tại Ṭa Sơ thẩm Sài G̣n (1964), tôi đă có dịp gặp lại thầy Trần Bửu Vị lúc thầy đang làm Thanh Tra bộ Giáo Dục. Trong thời gian làm Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đơn vị B́nh Dương (1967), tôi cũng đă đến thăm viếng thầy Nguyễn văn Xước tại nhà của thầy ở Búng. Khi gặp lại người học tṛ cũ, thầy Xước rất mừng và lặp lại rằng năm 1946, thầy đă thấy trước tôi có khả năng tiến xa trên đường học vấn và sẽ thành đạt trong xă hội miền Nam Việt Nam.

Cô giáo Cao thị Ba đă thay thế thầy Trần Bửu Vị dạy lớp Nh́ đến mùa hè năm 1947. Năm ấy, bộ Giáo Dục Chánh phủ Nam Kỳ Tự Trị của Thủ tướng Nguyễn văn Thinh đặc cách cho học sinh lớp Nh́ dự thi bằng Tiểu học (Certificat d’Études Primaires Complémentaires) cùng học sinh lớp Nhứt. Cô giáo Cao thị Ba đă khuyến khích tất cả học sinh lớp Nh́ của cô nạp đơn dự thi bằng Tiểu học nhưng cô đánh giá chỉ có ba (3) học sinh lớp Nh́ của cô có nhiều hi vọng thi đậu văn bằng nầy: Tô Dương Hiệp, Nguyễn văn Bê Phạm Đ́nh Hưng.

Trung tâm thi bằng Tiểu học đặt tại tỉnh lỵ Phú Cường, tỉnh Thủ Dầu Một. Chương tŕnh thi gồm có: một bài chánh tả (dictée), một bài luận văn (rédaction) và một bài toán (probleme). Tất cả bài thi đều phải sử dụng tiếng Pháp. Đúng như như sự đánh giá của cô giáo Cao thị Ba, hai anh Tô Dương Hiệp, Nguyễn văn Bê và tôi đều thi đậu bằng Tiểu học năm 1947 cùng một lượt với anh Phạm Đ́nh Trí, anh Tư của tôi. V́ thủ tục hành chánh chậm trể, hai anh em tôi cùng với hai anh Tô Dương Hiệp và Nguyễn văn Bê đă không được tham dự ngay trong mùa hè 1947 kỳ thi tuyển (concours) học sinh vào năm thứ nhứt ban Cao đẳng Tiểu học (Études Primaires Supérieures) của trường Trung học công lập Pétrus Kư tại Sài G̣n. Qua mùa hè năm sau (1948), năm (5) người học tṛ trường Tiểu học Tân Thới đă trúng tuyển vào trường trung học Pétrus Kư, trường trung học (lycée) duy nhứt ở miền Nam Việt Nam dạy đến Tú tài phần thứ hai (Baccalauréat, deuxieme partie) theo chương tŕnh Pháp: Phạm Đ́nh Trí, Phạm Đ́nh Hưng, Tô Dương Hiệp, Nguyễn văn Bê Phan Tiền Vạng. V́ gia cảnh khó khăn, anh Nguyễn văn Bê đă sớm từ giă mái trường Trung học Pétrus Kư.

Cuối niên học 1947-1948, trường Tiểu học Tân Thới có tổ chức lễ phát phần thưởng cho học sinh xuất sắc của trường. Hai phần thưởng thứ Nhứt (Prix d’Honneur) và thứ Nh́ (Prix d’Excellence) đă được cấp phát cho hai anh em tôi. Sự tưởng thưởng nầy đă làm cho Ba tôi và cô giáo Cao thị Ba vô cùng hănh diện và vui ḷng. Cô giáo Cao thị Ba là chị bà con của tôi và chị ruột của Tiến sĩ Cao thi Lễ, giáo sư trường Đại học Georgetown, Washington D.C, Hoa Kỳ.

Tôi đă sống và học tiểu học tại Lái Thiêu từ năm 1946 đến năm 1948 th́ xuống Sài G̣n học trung học. Trong thời gian ngắn nầy, tôi đă có một số kỷ niệm vui buồn c̣n khắc ghi trong kư ức của tôi:

Trong số bạn học ở trường Tiểu học Tân Thới, tôi chơi thân nhứt với anh Tô Dương Hiệp, sanh quán ở xă Uyên Hưng, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Ḥa (theo địa giới thời Pháp thuộc và Việt Nam Cộng Ḥa). Hiền lành, ít nói và thông minh, anh Tô Dương Hiệp là con nhà văn B́nh Nguyên Lộc, tên thật là Tô văn Tuấn. Trước năm 1945, ông Tô văn Tuấn là Thơ kư Ngân Khố (Sécrétaire du Trésor) chánh ngạch. Sau “Cách mạng mùa Thu”, ông Tô văn Tuấn là một trí thức “trùm chăn”: không theo Việt Minh cộng sản mà cũng chẳng hợp tác với Pháp. Thân phụ của anh Tô Dương Hiệp chọn nghề viết văn để phục vụ quốc gia và dân tộc Việt Nam và đă trở thành một nhà văn rất nổi tiếng của miền Nam. Nhà văn B́nh Nguyên Lộc đă viết quyển tiểu thuyết đầu tay, quyển Nhốt Gió, tại Lái Thiêu. Trong các tác phẩm đă xuất bản, nhà văn B́nh Nguyên Lộc thường lấy tên tôi đặt cho một số nhân vật trong các tiểu thuyết của ông. Tôi thường đến nhà tṛ chuyện với nhà văn B́nh Nguyên Lộc tại Lái Thiêu cũng như tại Sài G̣n và được biết tác phẩm đắc ư nhứt của nhà văn B́nh Nguyên Lộc là quyển “Nguồn Gốc Mă Lai Của Người Việt Nam”. Ông Tô văn Tuấn lấy bút danh B́nh Nguyên Lộc để nói lên địa danh của tỉnh ông đă ra đời (Đồng Nai): B́nh Nguyên=Đồng, Lộc=Nai. Nhà văn B́nh Nguyên Lộc là người tỉnh Biên Ḥa, đồng hương với Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy và ông Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Việt Nam Cộng Ḥa Trần văn Linh

Trầm tỉnh, dịu dàng và thông thái, nhà văn B́nh Nguyên Lộc là một trí thức có lập trường yêu nước sáng suốt và vững chắc. V́ không thể thuyết phục hoặc cưỡng ép nhà văn B́nh Nguyên Lộc bỏ nhà và vợ con đi vào mật khu, Việt Minh đă đốt nhà của ông tại Lái Thiêu trong ngày Tết Nguyên đán năm 1947.

Tôi rất kính trọng nhà văn B́nh Nguyên Lộc và ông cũng rất thương tôi. Khi mới đến định cư tại miền Nam California đầu năm 1986, tôi chưa có dịp đi lên Sacramento thăm “Thầy và cô Tám” (theo lối gọi của tôi đối với ông bà Tô văn Tuấn), vợ con anh Tô Dương Hiệp và các em Tô Ḥa Dương, Tô Loan Anh, Tô Mỹ Hạnh và Tô Vĩnh Phúc th́ ông bà Tô văn Tuấn đă lần lượt đi về cơi thiên đàng. Khi nhà văn B́nh Nguyên Lộc c̣n sống ở Việt Nam, tôi đă gặp ông lần sau cùng tại nhà của anh Tô Dương Hiệp ở Biên Ḥa lúc anh đang lâm trọng bịnh. Vài ngày sau đó, vợ chồng tôi cùng ông Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Trần văn Linh và rất đông thân hữu của hai gia đ́nh ông bà Tô văn Tuấn và Tô Dương Hiệp đă đến Dưỡng Trí Viện Biên Ḥa tiễn đưa Bác sĩ Tô Dương Hiệp, Giám Đốc Dưỡng Trí Viện, đến nơi an nghỉ cuối cùng. Tôi đă khóc vĩnh biệt anh Tô Dương Hiệp, một người bạn thân nhứt của đời tôi.

 

Nói tóm lại, đối với tôi, Lái Thiêu là một mănh đất lành có hấp lực thu hút nhiều đàn chim bay đến từ các miền xa xôi như Trung Hoa để sinh sôi nảy nở. Các đàn chim lạ nầy đă mang đến nghề thủ công làm ḷ chén. Sông nước Lái Thiêu đă phát triển buôn bán và lưu thông hàng hóa tới Sài G̣n và các tỉnh miền Tây. Rất gần Lái Thiêu, năm 1946, có một con chim nhỏ đă bay từ An Phú Xă đến đậu trên cây dầu cao lớn trước trường Tiểu học Tân Thới, gần bồn nước (chateau d’eau) xây từ thời Pháp thuộc  để nghe các thầy và cô giáo dạy học. Hai năm sau, con chim nhỏ nầy bay xuống Sài G̣n, đậu trên mái các trường trung và đại học lắng nghe các bậc thầy ở các cấp cao giảng bài. Lớn lên về cơ thể lẫn trí tuệ, con chim hiếu học nầy đă bay đến đậu trên các dinh thự đầu năo của Ḥn Ngọc Viễn Đông với hi vọng sẽ đem lại vui tươi và hạnh phúc cho quần chúng. Nhưng nó hoàn toàn vỡ mộng ngày 30-4-1975 sau cuộc chiến nồi da xáo thịt do một gián điệp Tàu chỉ đạo.                                                                                   

                                                                               Phạm Đ́nh Hưng

                                                                        Little Saigon, ngày 28-4-2017 

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

 

Nguyên Thạch