báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Diễn đàn                                                             

 

Nhạc Xuân Trước Năm 1975 - Tuyển chọn nhạc xuân xưa hay nhất

https://youtu.be/LR6MgdkDZdo

***

Trần Doăn Nho: Tạp ghi tháng hai: Muốn quên, nhưng không thể quên!

Thứ Bảy, 10 tháng 2, 2018

 

Nguyễn Quư Đức: Năm mươi năm sau nh́n lại… 

Đó là tựa đề một bài viết của Nguyễn Quư Đức đăng trên tạp chí Smithsonian (Washington DC) số tháng 1&2/2018, nguyên văn, “Revisiting Vietnam 50 Years After the Tet Offensive” (Nh́n lại Việt Nam 50 năm sau Cuộc Tổng Tấn Công Tết).[1] Qua bài viết, Đức kể lại câu chuyện gia đ́nh trong bối cảnh của một cuộc vi phạm thỏa ước ngừng bắn trắng trợn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đưa đến một vụ thảm sát lớn nhất trong lịch sử dân tộc: thảm sát Mậu Thân.

Nguyễn Quư Đức là con của một công chức cao cấp của VNCH. Tết năm 1968, gia đ́nh anh từ Đà Nẳng ra Huế ăn Tết. Lúc đó, anh mới chỉ là cậu bé 9 tuổi. Cậu bé Đức chứng kiến cảnh bộ đội vào nhà khách nơi gia đ́nh ở, bắt cha cậu. “Tôi leo lên giường và cố nh́n ra ngoài. Đám lính bộ đội đă bắt những người đàn ông sắp thành hàng và trói khuỷu tay họ sau lưng. Một lúc sau, họ dẫn giải những người đàn ông đi. Tôi nh́n thấy cha tôi trong đó.” Sau khi Cộng quân rút lui, gia đ́nh Đức trở lại Đà Nẵng, sống một cơn khủng khoảng nặng nề: không cách ǵ t́m ra tông tích của người cha, cũng không biết ông sống chết ra sao. Khi nghe tin khai quật những băi chôn tập thể, mẹ Đức về Huế mong t́m xác chồng, nhưng bà quá “khiếp hăi khi nh́n thấy những thây ma thối rữa và đầy thương tật,” nên không trở lại nữa. Cậu bé Đức “lớn lên không hẳn như một đứa trẻ mồ côi: Trong khi những gia đ́nh khác đă chôn cất người thân của họ, lập bàn thờ và đă phần nào khép lại nỗi buồn, th́ gia đ́nh tôi vẫn sống trong nỗi đau thầm không giấu giếm này (open secret).”

Măi đến 5 năm sau khi hiệp định Paris được kư kết và hai bên trao trả tù binh, gia đ́nh anh mới biết tin là cha c̣n sống nhưng bị đày ải ở một trại tù nào rất xa ở vùng biên giới Trung Quốc. Ông được thả về năm 1980 và được cho phép qua Hoa Kỳ định cư. Gặp lại nhau sau 16 năm xa cách, hai cha con nói chuyện với nhau về quá khứ, nhưng “không bao giờ nói về năm 1968” v́ điều đó quá nặng nề. Ông đọc sách, xem phim và cho in một tập thơ mà ông đă làm khi bị giam cầm, với một nhóm từ được dùng như lời đề tựa: “Tôi đau khổ, vậy tôi hiện hữu” (I suffer, therefore I am). Sáu năm khi ông mất vào năm 2000, Nguyễn Quư Đức, có lẽ để ḥa giải với chính ḿnh, nên về kinh doanh tại Hà Nội, nơi mà những kẻ bắt cha anh đă chỉ huy cuộc chiến. Dù đau đớn, nhưng câu chuyện gia đ́nh anh có lẽ là một câu chuyện may mắn nhất, “có hậu” nhất của một gia đ́nh có nạn nhân bị Cộng Sản bắt năm 1968.

Nh́n lại thời kỳ đó, Nguyễn Quư Đức cho rằng cuộc chiến tranh vừa qua là chiến tranh Mỹ và Chiến Tranh Lạnh đă góp phần lớn tạo nên nó. Nhưng, “cuộc Tổng Tấn Công Tết  và 1968 là cuộc chiến của chúng ta: Người Việt chúng ta đă giết lẫn nhau.”Ấy thế mà ở Việt Nam hiện nay, biến cố 1968 được mô tả như một chiến công anh hùng, và bộ máy tuyên truyền nhà nước cứ vài năm một lần vẫn cứ tiếp tục tăng tốc ca ngợi nó. “Nhưng về cuộc tàn sát hàng ngàn người dân Huế th́ sao? Không một lời,” theo anh. Huế bây giờ rất nhiều khách du lịch. Họ viếng thăm lăng tẩm, hoàng thành, đền đài miếu mạo. “Hướng dẫn viên du lịch nói với họ về quá khứ, nhưng họ làm như không biết những lỗ đạn chọc thủng những bức tường thành bên trong Hoàng Thành và ở khắp nơi. Không có du khách nào được dẫn đi xem những khu mộ tàn sát tập thể y như họ được dẫn đi thăm những “cánh đồng chết”nổi tiếng của Khmer Đỏ ở Cam Bốt.” Đă 50 năm rồi, trong khi cuộc thảm sát Mậu Thân không thể thoát khỏi kư ức của anh và của người dân Huế, th́ vẫn bị nhà nước Cộng Sản che giấu, mà anh gọi là một “sự im lặng toàn quốc về biến cố 1968” (The national silence about 1968) và tự hỏi chẳng biết bao giờ sự im lặng đó mới được giở bỏ.

Mấy năm trước đây, theo Nguyễn QuưĐức, một nhóm phóng viên truyền h́nh Pháp-Đức đến nhà anh ở Hà Nội để phỏng vấn về t́nh h́nh hậu chiến ở Việt Nam, đi kèm có một viên chức của bộ ngoại giao Việt Nam. Khi câu chuyện đề cập đến những vấn đề liên quan đến vụ Tổng Tấn Công Tết, th́ viên chức đó ngắt lời, cấm không được bàn về đề tài này, thậm chí không được nhắc đến, nếu không bà ta sẽ không cho phép cuộc phỏng vấn được tiếp tục. Anh tức giận nhưng cố gắng thương lượng với bà. Cuối cùng, anh cũng được trao đổi đôi điều với nhóm truyền h́nh. Nhưng cuộc phỏng vấn ấy không hề được chiếu ở bất cứ đâu ở Việt Nam. Hoàn toàn im lặng.

Nguyễn Quư Đức không im lặng. Anh viết. Thay v́ viết để “vinh danh một phiên bản lịch sử do những người c̣n sống, những người chiến thắng viết,” như bà nhân viên bộ ngoại giao muốn, anh viết lên là để “vinh danh những người đă chết và tưởng niệm họ,” như lời khuyên của một nhà văn quen, Bảo Ninh.

Năm mươi năm nh́n lại, làm sao quên: 

Lắng nghe: trong cḥm lá, tiếng gió 

 

Quanh đây c̣n tiếng oan hồn nỉ non, 

Quanh đây c̣n tiếng oan hồn nỉ non.

 

Em học cách cầu nguyện 

 

với những hạt tràng thơm. Anh vẫn sống 

với mùi hương nhang 

đốt trong một ngàn tang lễ 

hè năm đó ở Huế.

 

(Ngôn từ/thơ Nguyễn Quư Đức)[2]

Lá cờ 

Nguyễn Quư Đức ở phía nam sông Hương. Tôi ở phía bắc sông Hương, trong Thành Nội. Tôi rủi hơn Nguyễn Quư Đức, và cũng may hơn anh v́ bị/ và được ở trong… khu chiến trường. Sáng mồng 2 Tết, sau một đêm kinh hoàng v́ nghe tiếng súng nổ vang rền khắp nơi và tiếng hô xung phong từ cửa thành (cửa Hữu), tôi thức dậy, vô cùng hoang mang. Mở cửa bước ra ngoài, đứng ở góc vườn trước nhà, nh́n về hướng đông, tôi thực sự kinh hoàng. Khuất sau mấy đọt tre, trên ngọn Kỳ Đài vươn cao trong bầu trời thấp xám, là lá cờ! Không phải là lá cờ thân quen vẫn nh́n thấy hàng ngày mà là một lá cờ lạ, lạ hoắc: cờ Mặt Trận Giải Phóng.

Thôi rồi, Việt Cộng đă chiếm Huế!

Lá cờ không tung bay theo gió mà vướng víu quanh cột cờ, rủ xuống, thảm hại. Như cờ tang. V́ trời không có gió? V́ vướng víu cái ǵ? Không rơ. Suốt hai mươi sáu ngày trên ngọn Kỳ Đài, lá cờ vẫn như thế, ủ rũ. Bầu trời mênh mông, nặng, tủi hờn. Mùa xuân thảng thốt, vỡ. Lá cờ làm cho cái không khí vốn đă ảm đạm, lại c̣n tan tác, ảm đạm thêm. 

Tôi bước đikhông thấy phố, không thấy nhàchỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏđất nước khó khăn này sao không thấm được vào thơ 

Lời thơ của Trần Dần mô tả cảnh quan đâu đó ở miền Bắc (hay chỉ là cách nói h́nh tượng của nhà thơ), đột nhiên trở thành hiện thực một cách lạ lùng: cờ đỏ ở Huế!

Huế không phố, không nhà. Không nắng, không trăng, không hoa, không mứt bánh, không hột dưa, không tổ tiên, ông bà, không truyền thống. Không ǵ cả. Không có tiếng cười, đă hẳn - mà tiếng khóc cũng không. Chỉ có tiếng súng nổ và một sự lặng lẽ đến rợn người. Huế rơi vào trạng thái âm bản. Người người đi đi, đứng đứng như  những bóng ma. Chợt gặp nhau, ai cũng tưởng ai đang từ cơi chết trở về. Mây, một khối màu ch́ đông cứng trên bầu trời xám đặc.  Lạnh. Mưa, thỉnh thoảng, nhỏ, hăi sợ. Cỏ cây rưng rưng. Uất, nghẹn. Ngoài tiếng súng, thành phố mất đi tiếng động cuộc đời. Mọi thứ thin thít im, tự thu ḿnh vào bên trong, khe khẽ, rón rén, ngập ngừng. Không ai giúp ǵ được ai. Ḿnh cũng chẳng giúp ǵ được chính ḿnh. Sợ. Nỗi sợ c̣n ghê gớm hơn cả cái chết.

May và rủi 

Khu vực tôi ở nằm phía tây nam Thành Nội, chỉ có bộ đội chính quy, toàn là dân Bắc, lo canh gác, đào hầm đào hố sẵn sàng chiến đấu. Anh cả tôi, cảnh sát, tôi và hai người lính tiểu khu thuộc một đơn vị gác cửa thành bị Cộng quân đánh bật khuya mồng Một, trốn trong nhà, thấp thỏm đứng, ngồi, ḷng như lửa đốt. Cái lạ là, đám lính bộ đội chỉ ở bên ngoài, không ai vào nhà dân. Hôm sau, thấy êm êm, hai người lính xin hai bộ áo quần dân sự, luồn lách qua các vườn cây, trốn đi. Anh tôi và tôi cũng không dám ở trong nhà. Đêm, đi ngủ nhà khác, ngày, tạt về nhà ăn vội ăn vàng rồi lại đi, loanh quanh nơi mấy nhà bà con, nghe ngóng. Không khí lạnh ngắt. Đường vắng tanh. Thỉnh thoảng, có vài bộ đội gánh thương binh đi ngang. Đến mồng Bốn, đạn pháo hai bên vang rền đây đó, khi ngày, lúc đêm, khi nhiều lúc ít. Không có hầm, cả nhà chui đại xuống giường, phản ẩn nấp, vừa niệm Phật vừa run. Hết tiếng nổ, chui ra. Đợi yên, lẻn qua nhà bên, hỏi han. Nghe chị Dách nhà phía bên kia đường bị miểng đạn văng khi đi tiểu, chết. Nghe xóm sau, nhiều người trong một gia đ́nh mới đến ngụ cư bị thương v́ pháo rơi ngay cửa hầm. Nghe dưới khu cống Vĩnh Lợi cũng có người chết. Nghe phía sau hồ Xă Tắc có người bị thương. Cứ thế…, ngày nào cũng nghe tin xấu. Nhưng nhà ai nấy lo, sụt sùi, lặng lẽ, câm nín.

Rủi, nhưng sau này mới biết là may. Đang là chiến trường tranh chấp, nên không có du kích địa phương, không có bóng dáng của các thành phần sinh viên học sinh nhảy núi trở về. Chưa có chuyện lùng sục, mời đi làm việc hay tŕnh diện để rồi…vĩnh viễn nằm trong những hố chôn tập thể.

Một tuần sau, buổi sáng, bỗng nghe tiếng loa từ khu Quân Cụ, cách nhà chừng ba, bốn cây số, vang lên. Th́ ra, quân đội VNCH c̣n giữ được đồn Mang Cá, khu Tịnh Tâm, phi trường Thành Nội, khu Tây Linh, khu chợ Cầu Kho, tất cả khoảng một phần tư khu vực nội thành. Thế là, cả nhà vội vàng dắt díu nhau băng từ vườn nhà này qua vườn nhà khác, đạn pháo, mặc, súng nổ, mặc. Nấp, chun, lủi, bước, chạy hướng về phía có tiếng loa. Vừa đến khu hồ Tịnh Tâm, thấy bóng những người lính VNCH canh gác chỗ này chỗ nọ, vẫy tay giục chúng tôi đi tiếp, mừng, thấy ḿnh sống lại. Gia đ́nh tôi ở tạm trong nhà một người quen. Dân ở các vùng khác trong Thành Nội cũng t́m cách thoát về đây. Cư dân Cầu Kho, Mang Cá hào phóng tiếp nhận hết, lạ cũng như quen. Nhà nào cũng đầy người. Chia xẻ nhau cái ăn, cái mặc, không ai tiếc ai cái ǵ.

Vài ngày sau, trong lúc lang thang giữa một con đường hẻm gần hồ Tịnh Tâm, tôi t́nh cờ gặp người bạn học thân từ cửa Đông Ba vừa chạy lên. Anh bạn đứng sửng nh́n tôi, hỏi:

- Mày c̣n đó à? Có phải mày là T. không?

- Ừ, tau đây chứ c̣n ai. Đúng mày là U. phải không?

- Tau đây. Vậy mà tau tưởng mày là ma hiện về.  Ở vùng tau, tụi nó về, đi kiếm mày quá trời. Thằng S. ép tau phải chỉ nhà mày cho được. Kẹt quá, tau t́m đường tẩu.

Hai đứa ôm nhau, im lặng tận hưởng niềm vui của những người sống sót.

Suốt thời gian chiến sự, trong lúc các trận đánh ác liệt diễn ra cách đó không bao xa (ở Đại Nội, cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba, khu Tây Lộc, khu Tri Vụ), ở đây chợ vẫn mở, quán cà phê vẫn mở, mua mua bán bán. Khi có bất cứ đơn vị quân đội VNCH hay quân đội Mỹ từ trong đồn Mang Cá tiến ra đi hành quân giải tỏa, là dân lại ùa ra, chào đón, hỏi han, cổ vơ. Dẫu vậy, t́nh h́nh vẫn rất căng thẳng. Việt Cộng pháo kích thường xuyên, thỉnh thoảng rơi vào nhà dân, khiến nhiều người chết thảm. Anh Thọ, bạn tôi, mất một lần cả mẹ và em gái khi đạn pháo 22 ly của Cộng Sản rơi ngay ngôi nhà tạm trú, giết hơn chục người; anh Tuệ, cũng bạn tôi, mất người vợ trẻ mới cưới hơn năm vừa có con đầu ḷng, v́ trúng đạn khi chị đang đi bộ trên một con đường hẻm. Không biết làm ǵ hơn, thân nhân đành bó chiếu chôn cất người thân bên vệ đường và dọc theo bờ hồ Tịnh Tâm.

Khu Mang Cá và chợ Cầu Kho bỗng nhiên h́nh thành một Huế khác, bấp bênh, căng thẳng,hy vọng và chờ đợi.

Cho đến cuối tháng Giêng.                       

Về nhà           

Vừa mới nghe đài phát thanh loan tin Việt Cộng rút đi, trong lúc ai cũng đang chờ lệnh, tôi nóng ruột, vội vàng cùng bà chị trở về thăm nhà. Đường c̣n vắng tanh. Khi đến đường Lê Huân, cách nhà chừng hai cây số, thấy có xác bộ đội. Từ đó trở lên phía thành, nhất là trên các con đường quanh quanh phường Tri Vụ, Thuận Cát, khu Cầu Đất, khu cống Vĩnh Lợi, vùng Tây Lộc, khu phi trường, vân vân, nơi diễn ra những trận đánh vô cùng ác liệt, xác bộ đội nằm rải rác khắp nơi, chỗ một, hai xác, chỗ th́ mười, mười mấy xác nằm vắt lên nhau. Có đến hàng trăm. Nhiều xác đă trương ph́nh. Mùi hôi bốc lên nghẹt thở. Hai chị em nhắm mắt, bịt mũi mà đi. Ngay trước cửa ngơ nhà tôi, 3, 4 xác bộ đội nằm vắt vẻo bên hàng ch́a tàu. May mà trong vườn cũng như trong nhà, không thấy có xác nào. Những đứa con miền Bắc nằm lại trên những con đường xa lạ xứ Huế, trông khuôn mặt ai cũng c̣n rất trẻ.

Vào lúc cuối đời, Chế Lan Viên, nhà thơ suốt đời trung kiên với đảng Cộng Sản, viết: 

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, c̣n sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?

Tôi.

Tôi - người viết những câu thơ cổ vơ…

Ca tụng người không tiếc mạng ḿnh trong mọi cuộc xung phong 

 

Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về sau mười năm 

Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ 

Quán treo huân chương đầy, mọi cỡ 

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ! 

Ai chịu trách nhiệm vậy? 

Lại chính là tôi! 

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời 

Tôi ú ớ 

Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong 

Mà tôi xấu hổ 

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay 

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ 

Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười (Ai? Tôi)[3]

 

Chế Lan Viên chỉ nói về bi kịch bộ đội, không hề biết đến bi kịch Huế! Nhưng dù sao, so với những người nhảy núi trở về Huế t́m cách chối là ḿnh không hề cầm súng bắn giết một ai, chỉ đọc tuyên ngôn và làm công tác dân vận, Chế Lan Viên cũng c̣n “nhất điểm lương tâm”, nhận phần trách nhiệm về ḿnh. Thảm sát Mậu Thân phải xuất phát từ một Chính Sách và chính sách được thi hành bởi một “Guồng Máy”. Ai ở trong guồng máy th́ phải quay đều quay đều, gánh lấy trách nhiệm, dù có cầm súng giết người hay không, không thể phủi tay đổ lỗi cho người khác.[4]

Hầu hết khu vực tôi, nhà cửa, vườn tược tan hoang. Căn nhà tôi bị phá hủy hoàn toàn, vết đạn lỗ chỗ khắp nơi. Cây cối trong vườn bị bom đạn cày xới tơi tả. Hai cây nhăn cổ thụ trái rất ngon vốn là một nguồn lợi mà mẹ tôi dùng để nuôi tôi đi học, trốc gốc, cành nhánh găy đổ bịt hết lối đi. Hầm hố khắp nơi trong vuờn, kể cả một cái hầm dài đào dọc theo và xuyên dưới thềm nhà.

Vừa bước vào thềm, đang ngậm ngùi nh́n đống gạch vụn, chợt một tiếng hô lớn vang lên,“Đứng lại, giơ tay lên.” Tôi rụng rời tay chân, đứng sững, run rẩy đưa hai tay lên trời. Từ sau bức tường nhà đổ nát, hai lính Thủy Quân Lục Chiến xuất hiện. Hoàn hồn, thế mà cứ tưởng là Việt Cộng! Họ chĩa súng vào hai chị em, mặt mày căng thẳng. Một người tiến lại, “Đứng yên, không được nhúc nhích.” Anh ta sờ nắn khắp người tôi, rồi bảo, “Xắn quần lên, cởi dép ra.” Tôi làm theo. Anh ta xem kỹ ống chân và bàn chân tôi. Sau đó, hỏi, giọng hơi có chút thân thiện:

Ở đâu đến, vào đây làm ǵ?

Dạ, đây là nhà tôi. Chúng tôi lánh nạn ở Mang Cá, nghe tin Việt Cộng rút đi, nên vội về xem nhà cửa ra sao.

Chắc không?

Dạ chắc.

Trước làm ǵ?

Sinh viên.

Lại sinh viên, sinh viên! C̣n đây là ai?

Dạ, chị ruột.

Giấy tờ đâu, đưa xem.

Chúng tôi đưa giấy căn cước. Xem xong, người lính bảo:

Được, tôi tin cậu. Chân này không phải là chân đi dép râu. May cho cậu đấy, lớ xớ gặp người khác là đi đời. Đây vẫn c̣n là vùng chiến trường, chưa được phép vào, biết chưa? Bọn du kích và bọn sinh viên học sinh nằm vùng vẫn c̣n lẩn quất đâu đây, phải thanh toán trước khi cho đồng bào về nhà.

Hú hồn! Hai chị em chỉ biết lí nhí cám ơn rồi vội vàng rời nhà, ḷng vẫn chưa nguôi kinh khiếp.

Quân Cộng Sản rút đi rồi, để lại một Huế ngổn ngang, tang thương, rách nát. Thành quách tan hoang, người người ngơ ngác. Người gặp người mà vẫn tưởng như đang c̣n ở trong giấc mơ. Dắt díu nhau từ chỗ tạm trú về nhà cũ, biết là c̣n sống, biết là ḿnh may mắn, nhưng cơi ḷng ai cũng vỡ nát, vụn vằn, đờ đẫn. Những câu hỏi ném vào nhau, thổn thức. Ai c̣n? Ai mất? Chồng đâu? Con đâu? Chị đâu? Em đâu? Bạn đâu? Thầy đâu? Học tṛ đâu? Chao ôi, Huế đă làm ǵ nên tội mà ra nông nỗi này!

Năm mươi năm rồi! Bây giờ Huế đă khác, tất nhiên. Vết tích cuộc chiến năm xưa cũng như cái chết tức tưởi của hàng ngàn người tưởng như đă biến mất sau lớp bụi thời gian và nỗ lực không ngừng nghỉ của nhà cầm quyền Cộng Sản nhằm xóa nḥa nó. Không! Hàng năm, cứ đến Tết, trong lúc bộ máy tuyên truyền nhà nước vẫn, nói như Nguyễn Quư Đức, “tiếp tục tăng tốc ca ngợi chiến công,” th́ có hàng ngàn gia đ́nh vẫn âm thầm cúng kiến và đau xót nhớ đến cái chết thảm của cha, của anh, của con, của em ḿnh. Không bao giờ nguôi. Không ǵ làm nguôi. Không ai làm nguôi. Di luỵ Mậu Thân măi măi c̣n đó. Là oan trái Huế. Cũng là oan trái Việt Nam. Oan trái cần được giải oan. Đó là lẽ Đất Trời. Ngày nào oan chưa được giải th́ mọi chính sách, mọi thủ đoạn tuyên truyền, mọi chạy tội, mọi đổ lỗi, dù trên b́nh diện cá nhân hay nhà nước, đều chỉ là nước đổ lá môn, nếu không muốn nói là làm cho oan trái càng thêm oan trái.[5]

TDN 

v

  
 

h