báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

       [Bài Viết - Article]                                                                           

  
NỖI BUỒN THÁNG TƯ: THƠ NGÔ MINH HẰNG, DIỄN NGÂM HOÀNG OANH, VƯƠNG THỤC THỰC HIỆN
https://youtu.be/bsxmWimn6-Y

 ***

Mường Giang

 

Tháng Tư Buồn, Lại Nhớ Những Ngày

“ Đói Bệnh “ Tại Vùng Kinh Tế Mới Đức Linh

 

 

Tháng tư năm nay ở Xóm Cồn Hạ Uy Di trời nổi chứng nên hay mưa gió bất thường. Dù vậy, tôi lại thích dầm ḿnh đi trong mưa mỗi ngày, từ nhà tới nơi làm việc, để đưọc sống lại một quảng đời tủi cực của hơn 40 năm về trước (1978-2018) tại vùng kinh tế mới Đức Linh thuộc tỉnh B́nh Tuy cũ. Đây cũng là mồ chôn tập thể của mấy chục ngàn đồng bào vô tội tỉnh Thuận Hải (B́nh Thuận, Ninh Thuận, B́nh Tuy), mà đa số thuộc gia đ́nh quân, cán, chính VNCH và thành phần trung lưu, bị VC đày ải lên chốn rừng thiêng nước độc, để trả thù và cướp sạch tài sản của họ..sau ngày 30-4-1975.

 

Là một nhân chứng cũng là một tội đồ phi lư của chế độ mới trong những mănh đời bất hạnh  trên, tôi ghi lại đây một cách trung thực mà không cần phải “ mao tôn cương “ bất cứ một điều ǵ, v́ qua 43 năm cuộc đổi đời của VN, nay th́ ai cũng biết tận gốc, về cái  nỗi đau tận cùng của dân tộc và đất nước VN. Nhớ để vừa  cám ơn muộn màng người vợ hiền nay đă khuất cũng như chân thành thương nhớ những đồng bào, đồng đội đă vùi thây ở nơi rừng núi muôn trùng v́ sự đọa dày  và đói bệnh.

 

         Một bài thơ cũ làm cách đây hơn mấy chục năm hay đúng hơn nó là một bức tranh “ mây chó “  mà tôi đă vẽ nguệch ngoặc bằng chính máu và nước mắt của ḿnh.. để nhớ hoài những ngày sống vất vưỡng đói bệnh trong thiên đường xă nghĩa nơi vùnh KTM Đức Linh :

 

“..đi trong mưa cho cơi ḷng buốt giá

để nhớ những ngày sống giữa quê hương,

tháng tư Đức Linh gió mưa tầm tă

sông La Ngà cuốn trôi hết ruộng vườn

 

sáng sáng co ro trong manh áo rách

cùng lũ trâu già b́ bơm ra đi

mặc gió mưa gào giữa rừng lau lách

buồn rầu, đói lạnh lệ mắt tràn mi

 

trưa trưa thu ḿnh dưới lùm sim dại

ngồi nuốt cơm độn khóc ruộng vở bờ

ngồi chờ nước rút để cày trở lại

ngồi tủi cho đời bất hạnh xác xơ

 

chiều chiều bơ phờ giữa gian pḥng hội

nửa thức nửa mơ v́ quá nhọc nhằn

h́nh như họ nói đến chuyện lụt lội

h́nh như họ cần thêm máu của dân

 

đêm đêm bạn với bóng đèn leo lét

nằm nghe con rên tưởng chúng mớ gào

th́ ra chúng đói nên không ngủ đưọc

tháng tư ngồi nhớ ..càng thêm thương đau.

 

 

Làm sao quên đưọc những ngày thanh b́nh hạnh phúc tuy ngắn ngũi tại VNCH ?.Tháng Tư đầu mùa Hạ ở Phan Thiết, thời tiết thường hay thay đổi, nên có những cơn mưa dầm kéo dài suốt ngày đêem  thật buồn. Phường phố đâu đâu cũng ngụp lặn dưới màn mưa nên càng tiêu điều. Mấy hàng phượng vỹ ven đường, hoa vừa mới khoe hồng đă sớm tả tơi theo cơn lốc, chỉ c̣n trơ lại ít cụm lá hoang, co rúm ngả nghiêng. Ve sầu rên khóc trong hốc vong đồng, sóng vổ ỳ ầm xoáy mạn hai bờ song Cà Ty. Giữa lúc đó, chợt có tiếng hát, vọng từ chiếc loa khuếch thanh trên đỉnh lầu nước giữa vườn hoa lớn, nức nở ngậm ngùi qua ca khúc “ đêm buồn tỉnh lẽ “ của Tú Nhi, khiến cho ai nghe cũng buồn đứt ruột..

 

Nhưng tất cả rồi cũng qua khi trời dứt cơn chướng. Mọi sinh hoạt của Phan Thiết quê tôi  trở lại b́nh thường. Người người rộn rịp, vui vẻ v́ tháng Bảy sắp tới là thời điểm tốt nhất trong năm của người dân biển. Mùa cá nục, cá chim đă kết thúc sau sáu tháng vất vả vật lộn trên sóng nước. Ngư phủ giờ đây hạnh phúc với túi tiền rủng rỉnh được chia, tha hồ mua sắm.

 

Thật vậy, kể từ ngày Việt Nam Cộng Ḥa có chương tŕnh cải tiến nông ngư nghiệp, dân làm biển được vay tiền trả góp ngắn hay dài hạn, lăi suất thật nhẹ để đóng tàu, thuyền, mua thủy động cơ và ngư cụ, mà khỏi phải vay mượn của “đầu nậu “ với tiền lời cắt cổ như thời Pháp thuộc. .

 

Nhờ cuộc “ cách mạng dân sinh “ này, mà đời sống của ngư dân được thay đổi. Những túp lều tranh vách lá xiêu vẹo tồi tàn được thay thế bằng những căn nhà tôle vách gạch tuy cổ điển nhưng khang trang ấm cúng. Thuyền bè chạy bằng buồm cổ lỗ bị phế thải. Ngh́n trăm tàu đánh cá nhỏ, lớn đóng theo kiểu Thái Lan, gắn máy kéo Nhật, sơn phết ḷe loẹt, san sát xuôi ngược trên sông, biển. Thanh thiếu niên nam nữ miền biển đă có cơ hội cắp sách đến trường và  biết hưởng thụ vật chất theo thành thị. Khu phố 6, 7, 8, 9 của phường Đức Thắng,Lạc Đạo dọc bến Ngư Ông, là một trong nhiều xóm làng kiểu mẫu, sau cơn đại hỏa hoạn năm 1956, nói lên sự thành công mỹ măn của ngư dân thời VNCH.

 

Ven thị xă, đồng ruộng bát ngát đang ngút ngàn trổ hạt, hương lúa mới thoang thoảng bốc thơm trong gió. Đó đây trai gái vui vẻ gặt hái. Lúa đầy kho, khoai sắn la liệt nằm phơi khắp sân mọi nhà. Thêm vào nguồn hoa lợi,  có đàn heo con ủn ỉn bấu níu vú mẹ trong chuồng, là những món tiền đáng kể. Như ngư dân, nông gia cũng được hưởng chương tŕnh trợ vốn trả góp của Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Ty Nông Nghiệp, Ty Khuyến Nông.. để mua lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nái giống. Riêng xi măng xây chuồng và thực phẩm dành cho gia súc, được cấp không. Sau ba tháng chăn nuôi, chỉ hoàn lại chính phủ ba con heo con mà thôi, nái được giữ lại. Quỷ phát triển của ngân hàng Á Châu bán máy cày, máy gặt trả góp, trâu ḅ nay bớt nhọc nhằn phần nào. Mái ngói đỏ chen chúc mọc, nhà nhà vang tiếng nhạc lời ca, phát ra từ chiếc máy thu thanh xinh xắn. Đời sống êm đềm hạnh phúc nơi thôn dă, với những mối t́nh chân mộc mạc.

 

Hoa quả chen chúc trên đất, gỗ quư bất tận chốn rừng hoang, cá tôm hải sản đầy sông biển với khí hậu quá điều ḥa thích hợp. Phan Thiết - B́nh Thuận quê tôi,  đúng là miền đất hứa lư tưởng đời đời của mọi người, nếu không có cuộc chiến tranh dơ bẩn tương tàn do CSBV khởi xướng, qua cái gọi là MTGPMN vào cuối tháng 12-1960..

 

Từ đó máu người dân bất hạnh triền miên chảy suốt non sông, cơ hồ tưới xanh luống mạ. Mộ chí hoang vu lũ lượt chớm mọc khắp nơi, “ sang hồ, xừ sang, hồ sang xế..” tiếng đàn nhị hồ đưa đám năo nuột như bất tận. Miền đất hạnh phúc “ biển bạc, rừng tiền “ biến thành “ băi chiến trường thê thiết “. Sự sống và nỗi chết không phân biệt ranh giới với thời gian, thấy đó chết đó v́ ḿn bẫy, bom đạn, pháo kích, ám sát và đói bệnh.

 

 Được sống sót trong đêm ră ngũ 18-4-1975 để đối mặt nhận diện bọn Việt Gian nằm vùng hay a dua theo kẻ thắng trận, cờ lọng, đèn đóm, phủ phục hai bên vệ đường Trần Hưng Đạo, từ ngă ba Nguyễn Hoàng vào tới bên này đầu cầu mói, đón mừng xe tang đại pháo Nga Tàu vào thành phố. Có thấy cảnh xử giảo, có nghe tiếng rên xiết của hàng loạt nạn nhân quằn quại dưới trận đ̣n thù trong đêm tiếp thu và nhiều đêm liên tiếp, mới biết sự đổi đời của Tháng Tư Đen rất có ư nghĩa, nhất là đối với những người có cơ hội c̣n sống tới ngày nay..

 

Cũng từ đó, nụ cười hạnh phúc ngày nào của người Phan Thiết quê tôi đă tắt hẳn trên môi giới ngư dân, khi tàu thuyền đánh cá vào hợp doanh, chủ nhân là đảng. Song song nhà phố, nhà lều sản xuất nước mắm,cơ sở công thương nghiệp, rạp hát, bệnh viện tư, ruộng vườn, nông cơ, nông cụ cả trâu ḅ.. hoặc vào hợp tác, hoặc là tài sản xă nghĩa. Dân làm “ chủ không “, nhà nước, cán bộ đảng quản lư. Người Phan Thiết giờ phờ đi với gạo, dầu, phân bón, thuốc men, thức ăn và quần áo. Tay trắng hoàn tay trắng v́ sản lượng chi tiêu quái ác.

 

Như cả nước, năm 1977 người Phan Thiết hoàn toàn sạch hết ngoài cái nhà trống bó buộc phải giữ để lây lất sống, giữa lúc cướp giựt bốc cao, Thuận Hải (B́nh Thuận, Ninh Thuận, B́nh Tuy) được đảng ưu ái chọn làm thí điểm 101 ‘KINH TẾ MỚI’.

 

Phan Thiết hoang vắng như băi tha ma, đường phố khắp nơi thay tên chất ngất. Những anh hùng liệt nữ dày công đối với xă tắc sơn hà như Nguyễn Hoàng, Lương ngọc Quyến, Huyền Trân Công Chúa, Trần quư Cáp.. được thay bằng những tên “Trương Tam, Lư Tứ” lạ hoắc, không biết đâu mà ṃ lư lịch, v́ trong ḍng sử Việt không hề nói tới. Các phố chính trước năm 1975 như Lê văn Duyệt, Nguyễn văn Thành, Gia Long, Đồng Khánh.. chỉ c̣n là cái bóng mờ với hằng loạt căn nhà bị niêm phong khép kín. Một vài tiệm buôn của người Hoa c̣n bị kẹt lại, chưa vượt biên hay đi nước ngoài bán công khai, co rúm sau cánh cửa sắt thu hẹp, buôn bán vặt vănh chờ thời như chổi, dép râu, cờ đảng, ảnh ‘bác’.

 

 Vườn hoa hoang phế  Nghĩa trang QLVNCH cạnh QYV Đoàn mạnh Hoạch, tượng Phật Bà Quan Âm lộ thiên trên triền đồi Lầu ông Hoàng bị san bằng, đập bỏ. Chợ lớn trên đường Gia Long vẫn xám đen màu khói từ đêm binh biến 2-4-1975. Cầu sắt trên sông Cà Ty găy nhịp nào ai ngó tới, dù vàng ngọc, tiền bạc và tài sản của Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa để lại đă không cánh mà bay mất. Các nhà lều sản xuất nước mắm danh tiếng nhất nh́ của Việt Nam từ thời tiền chiến tại Đức Thắng, B́nh Hưng, Lạc Đạo sập tiệm v́ ngày lại ngày, hàng hàng lớp lớp các xe vận tải, Molotova, GMC giải phóng đưa về Bắc, cho tới nước bổi cũng không chừa. Người người dửng dưng như kẻ lạ xa, mặc lũ khỉ đột cầm quyền trị nước.

 

Nhớ lại chương tŕnh “ tị nạn cộỳng sản “ của Bộ Xă Hội và chính sách “ an cư Việt kiều Kampuchia hồi hương “ năm 1970 của bác sĩ Quốc Vụ Khanh Phan quang Đán, thời Việt Nam Cộng Ḥa mà ngao ngán cho quốc sách “ kinh tế mới “ của Việt Cộng tại Đức Linh.

 

Đúc Linh là tên ghép của hai quận Tánh Linh và Hoài Đức, tỉnh B́nh Tuy thời Việt Nam Cộng Ḥa. Vào năm 1961, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm v́ có t́nh cảm liên quan mật thiết với B́nh Thuận khi Ông giữ chức Tri phủ Ḥa Đa và Tuần Vũ tỉnh. Ngoài ra c̣n có t́nh bạn sâu nặng với nhà giáo lăo thành Hoàng Tỷ, nên Ông đă cấp một ngân khoản lớn đểạ cho đồng bào nghèo tại các quận B́nh Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngăi vào khẩn hoang lập ấp tại vùng hoang sơn trù phú của huyện Tuy Định, sau này là quận Tánh Linh. Vùng đất mới được tách thành một quận mới, đó là Hoài Đức, quận lỵ đóng tại Vỏ Đắc.

 

Đây là vùng đất đỏ cao độ hoang vu của tỉnh Đồng Nai Thượng xưa, được tách ra từ tỉnh B́nh Thuận, nằm trong sơn hệ Di Linh - Lâm Đồng, phần cuối cùng của rặng Trường Sơn, thuộc cao nguyên nam Trung Phần. Toàn vùng lúc đó chỉ là núi rừng hiểm trở, lắm ác thú như cọp, voi, heo rừng, mảng xà, rắn độc. Khắp nơi muỗi ṃng, đỉa vắt sền sệt như bánh canh, đâu có thua ǵ vùng U Minh, Đồng Tháp. Giang sơn của người thượng Roglai và Chàm, khí hậu ẩm thấp, phong thổ độc địa. Sông La Ngà lắm ghềnh thác, thường gây lũ lụt bất thường v́ lưu lượng nước lên xuống không đều, ảnh hưởng của triền núi nơi sông chảy qua. Do trên mực độ dân số trong vùng rất thưa thớt, ngoại trừ Vơ Đắc, Lạc Tánh.. là nơi các Trung Đoàn thuộc SĐ18BB thường tạm đóng trong lúc hành quân.

 

Ngay khi có lệnh đi kinh tế mới,một số c̣n tiền, chạy vội cái giấy về đất cũ nơi các thôn xóm ven đô như Phú Lâm, Phú Hội, Lại An, Phú Long.. Số khác may mắn hơn được xuất ngoại chính thức bằng tàu của Đảng đậu trước Trường Nữ tiểu học năm 1977, sau khi đóng hết vàng, đô la và hiến nhà cửa cho cán bộ. Chiếc tàu này sau đó đến được trại tị nạn Pulau Bidong của Mă Lai Á, mang số 67, hầu hết là người Việt gốc Hoa giàu có của B́nh Thuận. Những người không có tên đi kinh tế mới, th́ phải đi nghĩa vụ lao động tại Đức Linh, không phân biệt nam nữ, số tuổi hạn định 17-50, đó là chưa kể tới các nghĩa vụ thanh niên xung phong và nghĩa vụ quân sự, điều kiện ắt có để làm dân thường trú Phan Thiết có sổ gia đ́nh, hộ khẩu và tem phiếu mua nhu yếu phẩm chỉ có bán tại cửa hàng quốc doanh.

 

Nhớ làm sao cho hết để viết cho đủ cái đêm “ kinh hoàng” trước giờ người Phan Thiết bị đuổi lên rừng kinh tế mới Đức Linh ? Khắp nơi vang lừng tiếng khóc, người người ủ rũ tựa hồn ma. Chống đối dữ dội lệnh trên, cũng vẫn là những người bị đảng tuyên truyền dụ dỗ buổi trước.. V́ họ là thành phần vô sản chuyên chính và có công với đảng, nên các cán bộ khu, phường đều lánh né, mặc sức cho họ tru tréo, trong lúc sắp đi xa.

 

Riêng với thành phần bị đảng gọi là “ ngụy quân, ngụy quyền, tư sản mại bản..” th́ biết phận ḿnh , nên chỉ lo vặt vănh bóp chắt những thứ c̣n lại sau cuộc phong trần, bán để có tiền mua đinh, lá, dây lạt và thức ăn khô dự trữ, để bắt đầu làm một cuộc hành tŕnh mới như cha ông ta đă làm từ 300 năm trước, có điều lúc đó tiền nhân ra đi trong phấn khởi đầy lạc thú và hy vọng, c̣n giờ con cháu lên đường bởi cùm gông và bạo lực.

 

Để gọi là ưu ái với dân, đảng cấp tem phiếu mua thuốc phải trả tiền và như thế, lớp lớp người nối đuôi nhau trước nhà thuốc tây quốc doanh duy nhất, trước là “ nhà thuốc Phạm tư Tề “, để mua vài thứ thưốc nội chế bằng vơ cây đường bột. Riêng kư ninh nivaquine và những loại thuốc chống sốt rét nước độc, phai mua  tại chợ đen lên giá vùn vụt, theo “ cách mạng “ từ rừng vào tiếp thu Phan Thành>

 

Phút cuối bị súng đạn đuổi xô, phải xa rời nơi chôn nhao cắt rún, sao mà buồn thê thăm. Mười ba năm sống đời quân ngủ, tôi đă đi cùng khắp mọi nẻo đường đất nước, từ biển lên rừng, chốn đồng quê cho tới thành thị, vẫn được trở về, dù về trong nỗi đau phải mất mát một phần thịt da của mẹ.

 

Nay th́ hết thật rồi, nhà xưa thành hoang phế, tương lai nát hơn tương, thân nhân, bằng hữu.. kẻ chết kẻ c̣n bị tù đầy, c̣n ta tuổi xanh chịu đời vất vưởng, bất lực. Chỉ c̣n biết lau nước mắt, cắn nát môi và uất nghẹn căm hờn, lần chót nh́n lại mảnh tường đổ của mái ấm vừa bị hạ, nếp sống cũ bị xóa mờ, chấp nhận làm kẻ lưu vong trên chính quê hương ḿnh.

 

Một đêm không ngủ, một đêm náo loạn tập thể, kẻ ở người đi gạt lệ an ủi quyến luyến. Các gia đ́nh “ ưu việt “ thuở trước tru tréo đảng và nhà nước không tiếc lời. Trưởng khu, chủ tịch, bí thư kể cả công an khu vực trốn mất suốt đêm, v́ sợ bọn điên cùng đường trả thù. Cảnh tử biệt sinh ly sao mà buồn lắm thế.

 

ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC :

 

Năm giờ sáng ngày 17-7-1977, trong lúc nạn nhân chưa được chợp mắt sau một đêm thức trắng, th́ máy nói, từ đỉnh cao của lầu nước, mở hết tốc độ âm thanh, tru tréo, ra ră thúc hối đồng bào sẵn sàng lên đường. Đoàn thanh niên nam nữ 30-4 theo lệnh hối hả, khuân vác đồ đạc của các nạn nhân ra xe. Phường khóm, tổ khu phố lũ lượt kéo tới chúc mừng, có cả phóng viên, nhà báo, quả là một chuyện ngược ngạo ĺ lợm, kinh thiên động địa, chưa từng thấy trong lịch sử con người.

 

         Đúng 7 giờ sáng, tất cả xe cộ của chín phường trong thị xă, sau khi hốt đủ người, tập trung tại vườn hoa nhỏ đầu đường Gia Long. Năm Lư, Trung Tá Việt Cộng, chủ tịch ủy ban Kinh Tế Mới Đức Linh, một người phát xít nhưng được hầu hết dân chúng bị đi Kinh Tế Mới rất ái mộ v́ ông hiền từ, chân thật, c̣n có nhân tính con người, trong xă hội hết t́nh người, đă đọc diễn văn, cắt băng khánh thành rồi ban lệnh khởi hành. Ngay từ đó, hàng trăm tên du kích, công an hầm hầm áp tăi 10.000 người Phan Thiết và 2500 nạn nhân KTM miền Trung trốn trại, lên Kinh Tế Mới Đức Linh để xây dựng cuộc đời mới trong thiên đàng xă nghĩa.

 

Đoàn xe dài lê thê, hàng nối hàng, chạy ṿng quanh vườn hoa nhỏ trước nhà sách Vui Vui, ngược chiều phố Gia Long, Đồng Khánh, Trần quư Cáp với tốc độ chậm, để các nạn nhân được nh́n lại nơi chốn thân yêu lần chót, sau đó nhấn hết ga, mặc kệ đồng bào đang bị chèn ép sau thùng xe vận tải, khiến cho người, đồ đạc, gia súc chen chúc ngồi đứng, dở khóc, dở cười.

 

Phan Thiết - Đức Linh cách xa 178 km, trừ đoạn đường 58 km trên quốc lộ 1 tráng nhựa tốt, số c̣n lại từ căn cứ 6 đến Vơ Đắc, gọi là Tỉnh lộ 1, chỉ là đường đất đá gồ ghề, nhiều chỗ cầu bị gẫy chưa được sửa chữa, phải chạy ṿng dưới ḷng suối sâu vô cùng nguy hiểm. Rừng lá tuy được khai quang, nhưng nhiều nơi xe vẫn chui luồn dưới những tàn cây mịt mù sương khói, không nh́n thấy mặt trời. Khắp nơi vượn khỉ nhảy nhót trong lùm cây, đa đa gù vang đây đó. Một vài chú sóc tinh nghịch, khi biến, lúc hiện trước đầu xe như trêu chọc người phố thị. B́nh Tuy đang mùa nắng cháy, hơi núi bốc nóng như thiêu, cộng với bụi đường đất đỏ, khiến cho ai cũng ră rượi, mệt nhừ v́ khát nước, nhồi xốc, chen lấn và tủi phận.

 

Đường bộ băng ngang thiết lộ tại ga Suối Kiết, muôn năm nằm ngủ quên dưới chân núi Ông mịt mù mây phủ. Từ đây đường bắt đầu lên dốc xuống đồi, nhiều quăng cây cối mọc be ra tới ngoài che kín lối đi. 12 giờ trưa cùng ngày, xe mới tới phố huyện Lạc Tánh, cũng là cửa ngơ vào thiên đàng Kinh Tế Mới Đức Linh.

 

Có tất cả 8 khu vực, 1 nằm bên nam sông là Vỏ Su, kế cầu Lăng Quăng, nối tiếp với Kinh Tế Mới Duy Cần dành cho đồng bào các quận 8, 9, 10 Sài G̣n và Trại cải tạo dân quân Huy Khiêm. Các khu vực khác đều ở bên bắc sông La Ngà, gồm có Đồng Kho, Tà Pao, Bắc Ruộng 1, 2, Nghị Đức, Mê Pu và Sùng Nhơn. Sự sắp xếp tùy theo đoàn xe tới sớm hay chậm, không cần biết khu, phường hay liên hệ gia đ́nh, khiến cho nhiều hộ, cha mẹ ở nam, con cái tại bắc, nhưng đă đến đường cùng, đành cắn răng, bấm bụng, gạt nước mắt mà sống qua ngày.

 

ối về đất chết đầy ghê rợn, cồn mây heo hút chắn lối đi, thêm trận mưa rừng đầu mùa, khiến mọi người càng đứt ruột. Xe đă vào truôn, đây là Đồng Kho tre mây nối ṿng tay lớn che mát đường đi, lố nhố khắp nơi từng dăy nhà sàn của bộ lạc Roglai xơ xác ră rời với cát bụi thời gian. Rồi th́ bờ bụi, lau lách như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn ngoèo đầy ổ gà, ổ voi, len lỏi hai bên vách núi cao ngất, dẫn tới thung lũng Đoàn Kết, ủ rủ cheo leo dưới chân rặng núi Ông, đang chực chờ đón người Kinh Tế Mới.

 

Nhiều xe lại bị tách rời, lại những bàn tay khẳng khiu đau khổ đưa vội, vẫy vẫy chào chào, hẹn ngày tái ngộ. Rồi Tà Pao, vùng đất úng thủy, mệt mỏi ngủ lỳ giữa tiếng thác ghềnh gào thét. Chiếc cầu sắt vừa mới được bắc ngang sông La Ngà, c̣n thơm mùi sơn đỏ, từ xe nh́n xuống thăm thẵm vực sâu, kẻ ở người đi ngàn trăm lưu luyến. Rừng núi cũng hân hoan đón người lạc bước nhưng dân địa phương, đa số là Quảng Ngăi thù ghét ra mặt, ḷng dạ sâu hiểm hơn rắn rết, một ngụy hai ngụy, xin nước uống cũng không cho, làm ai nấy thêm năo nùng cho thân phận con người bại trận, mất nước.

 

Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn, Madogui, đèo Chuối trên quốc lộ 20, những địa danh một thời in ṃn gót giầy của người lính trận Trung Đoàn 43, SĐ18BB, nay thành chỗ giam giữ nô lệ Phan Thiết. Ngày nóng, đêm lạnh, gió núi, sương rừng se sắt buốt lịm thịt da. Sơn cốc bị đá xanh, mây xám, bụi đỏ miên viễn mịt mờ. Rừng già, rừng xanh chằng chịt, từ đây chúng tôi thành sơn nhân, dă thú, ngày ngày ngắm mây trắng la đà ngâm câu ‘Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại’ của Hàn Dũ khi bị đầy, cho bớt nhớ nhà..

 

Bắc Ruộng 2, hay Tà Lễ 2 sau là thôn 3, xă Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, lừng danh nhất trong 9 địa điểm giam cầm người Phan Thiết. Đây là một làng chiến đấu cũ của Việt Cộng trước năm 1975, vùng oanh kích tự do nên quanh quẩn khắp nơi c̣n in dấu nhiều nền đất xám, b́m cỏ rậm rịp, đụn mối cao ngất, hầm chông hố bom c̣n nguyên vẹn chưa được lấp bằng. Thêm vào đó rừng sát đường nên ban đêm văng vẳng tiếng cọp gầm, voi rống, cú vạc tru tréo cầm canh, thay thế tiếng chó gà báo thức. Pháp trường cây xoài quéo, nơi ngă ba vào Nghị Đức như c̣n ẩn hiện các hồn ma oan khiên Việt Nam Cộng Ḥa bị Việt Cộng kết tội Việt gian, đem xử giảo rồi quăng xác xuống suối cho thú dữ ăn. Máu người ḥa với nước mưa làm cho con lạch lúc nào cũng đỏ thắm không bao giờ cạn và đổi màu.

 

Nhiều dăy lều Kinh Tế Mới được các nghĩa vụ lao động dựng vội vă cho đạt chỉ tiêu, dọc theo hai bên đường cho tới b́a rừng. Không biết phải dùng cái danh từ ǵ để gọi nó cho hợp lư, v́ láng cũng chẳng phải là láng mà nhà lại càng kỳ cục v́ chỉ có mái lá lợp thưa thớt nên các tia nắng mặt trời ban ngày hay ánh trăng đêm tha hồ nằm bên trong thưởng thức. Thảm nhất là hàng cột con ốm yếu, khẳng khiu như kiếp cơ hàn của người dân Việt trong xă nghĩa, chỉ chực găy mỗi khi gió rừng nổi giận.

 

Chỉ có cái nền nhà là được khai quang, c̣n bên ngoài cỏ lau xanh ngắt. Đồ đạc, người ngợm bị vứt bên đường, ỳ ạch khuân vác vào địa điểm vừa bốc thăm nhà, đă muốn ngất ngư chết xỉu. Tội nghiệp và thảm thê vô cùng là các gia đ́nh quân công cán cảnh Việt Nam Cộng Ḥa có chồng đang c̣n bị giam cầm trong tù ngục, chỉ có một góa phụ và mấy đấng trẻ nít, làm sao đúng tiêu chuẩn lao động sản xuất đây ?. Vậy mà cũng bị hốt lên rừng để xây dựng kinh tế mới.

 

Mọi sự rồi cũng phải qua, dù thích hay không muốn. Lấy sức người sỏi đá cũng thành cơm, th́ sá ǵ phần ruộng dành cho người Phan Thiết. Kinh Tế Mới lúc đó vẫn c̣n đắm ch́m dưới biển lau sậy, tận hồ Lạc, dưới chân núi Bảo Đại mù mịt hơi sương. Ngày tháng vùn vụt lướt nhanh, người người phờ phạc v́ lao tác và thiếu dinh dưỡng. Dầm mưa đội nắng, suốt ngày ngâm ḿnh trong bùn, śnh, nước đục, cuốc, đắp, phát quang.. quanh đi quẩn lại, từ 5 giờ sáng thức giấc theo tiếng kẻng gọi hồn cho tới tối mù mịt mới ṃ về nhà, cũng bấy nhiêu thôi. T́nh cờ soi gương, thấy ḿnh như đổi khác, ta đă thành sơn nhân, thành tên ma đói chập chờn vất vưởng trong cơi đời trầm thống năo nùng.

 

Thương sao là thương mấy bà, mấy cô em học sinh trung tiểu học năm nào, ngây thơ, bé bỏng, phải xếp bút nghiên theo cha mẹ đi lao động. Mệnh phụ, tiểu thơ, thanh tân, đài các, mắt phượng da ngà, chỉ sau một thời gian ngắn dầu dăi phong trần, tất cả biến thành cô gái lọ lem, quần áo rách rưới, da dẻ xám xịt gầy g̣, khấp khểnh vác cây cuốc xă hội chủ nghĩa cao hơn đầu người, tức tủi thương cho phận hồng nhan đa truân, giữa buổi đất trời nổi cơn gió bụi, khóc thét khi đỉa vắt bám vào chân, đùi, nước mắt ràn rụa như không bao giờ vơi trên các khuôn mặt đẹp của một thời hoa bướm, nay chỉ c̣n hốc hác, héo ṃn.

Đàn ông, thanh niên, thương gia, trí thức, dân lao động, làm biển.. cũng đâu có sung sướng ǵ. Tất cả lết lê quằn quại trong địa nguc trần gian. Thần chết cũng đánh hơi bạo lực, bắt đầu đến với người Kinh Tế Mới. Thôi th́ đủ thứ, từ chuyện phong thổ u uất ẩm thấp, nước uống thức ăn thiếu vệ sinh và chất bổ dưỡng, muỗi rừng ào ạt tấn công người gây bệnh thổ tả và các loại sốt chết bất đắc kỳ tử. Ngoài bệnh tật, c̣n chết v́ đốn cây, chặt tre vô ư, đi ruộng không coi chừng bị rắn độc cắn cũng chết, đói quá ăn rau nấm bậy bạ trúng độc cũng chết, ḿn chông hố bom lựu đạn ngày xưa để lại, thỉnh thoảng nổ bậy, ai bất hạnh trờ tới đúng lúc cũng chết.

 

Tang tóc, lầm than, khổ đau và nhục nhả vây kín người Phan Thiết bị hốt đi Kinh Tế Mới trong giai đoạn này. Hỡi ơi những năm tháng đời quân ngũ, ta đă chôn người thật nhiều, chôn xác bạn trên chiến trường vội vă, chôn xác thù giữa trận địa hoang liêu. Rồi qua nhiều ḷ cải tạo, nay đến miền kinh tế mới, lại tiếp tục lo việc chung thân cho bao nhiêu người, nào đồng đội, đồng bào, thân nhân, bằng hữu, tất cả chỉ có hai bàn tay, vài thanh tre, một cái hố thẳm, gói ghém một đời người bất hạnh trót sinh nhằm thế kỷ, ngủ yên trong manh chiếu rách hay chiếc mền tả tơi, bụng rỗng xương sống xương sườn đếm đủ.

 

Tất cả chỉ là cát bụi, “ sinh kư tử qui “, thế gian là cơi không không miên trường. Chôn người đâu có ǵ khó? nhưng đứng nh́n xác chết lạnh tanh, với cảnh thống khổ biệt ly giữa biển nước mắt, nghe lời nỉ non kể lể của quyến thuộc người xấu số, để làm như một kẻ dửng dưng không hề có t́nh người như người Việt Cộng là một điều cười ra nước mắt:

 

‘..sao thấy cay xè trên chót môi

rờ tay mới biết lệ ḿnh rơi,

đời người, sinh tử là qui, kư

th́ có ǵ đâu phải ră rời?’

 

 

         Đêm nay ngồi đọc  những lời thơ thảm tuyệt của bạn già c̣n kẹt trên vùng Kinh tế mới Đức Linh gữi tới..lại càng  buồn hơn trong Tháng Tư !

 

‘” thư bạn gửi từ vùng kinh tế mới

đến tay ta hơn sáu chục ngày dài

giọng đùa cợt như thuở chớm đôi mươi

nhưng bút mực làm sao che nước mắt

 

Đọc thơ bạn giữa đất trời cô độc

đêm nay buồn thổn thức với quê hương

thảm thương ơi bao bè bạn đoạn trường

giờ vẫn trả nợ trai thời tao loạn..”

 

  

Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 4-2018

Mường Giang

 

 

 


Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

 

Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Việt Nam Ngày Mai

 

***


VÙNG LÊN DẪU PHẢI HY SINH


(Bài thơ này xin được là sự cảm thông, là niềm chia sẻ và cũng là tiếng kêu tha thiết, đau thương gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam. Mong những người đảng viên yêu nước, những người chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Cộng Sản, những người công an có trái tim tiến bộ đă thức tỉnh và đă đau ḷng v́ thực chất dă man lừa mị của Đảng CSVN, xin mau can đảm và oanh liệt đứng lên làm cuộc cách mạng, viết lại trang sử  thật sự hào hùng v́ thời điểm đă đến để cứu dân, cứu nước trước khi qúa muộn.)
 
 
Công an Việt cộng giết người
Nghi Sơn, Mai Động lại nơi Cồn Dầu ( 1)
Lỗi dân chẳng thấm vào đâu
Công an, lệnh đảng hiểm sâu th́ đầy
Luật rừng Đảng nắm trong tay
Đă ḷng dă thú lại say máu người
Cuối cùng, chỉ khổ dân thôi
Thấp cổ bé miệng, kêu trời, trời cao !
Cơn đau chưa ngớt lệ trào
Hờn oan ngập mộ, máu đào c̣n tươi
Sao thêm cơ khổ, hỡi trời
Công an giết nữa, giết người Bắc Giang ! (2)
Lái xe thiếu mũ an toàn
Mà công an lại giết oan mạng người !
Anh nh́n em chết, hồn tơi
Mẹ nh́n con chết, nát đời theo con 
Công an thỏa dạ, cười gịn
Mừng nhau thành tích vuông tṛn, kém ai
Tin buồn, Tỉnh để ngoài tai
Rượu nồng, thịt béo cho dài cuộc vui 
Mặc dân oan khổ dập vùi
Mặc công an cứ giết người tàn hung
Ngai vàng Đảng vẫn ...anh hùng
Trên ngôi cao Đảng xé tung sơn hà
Đảng đem máu thịt Ông Cha
Tây Nguyên, Quan - Giốc, Hoàng Sa dâng Tàu !
Dân, ai xót nước, ḷng đau
Đảng kêu phản động nhốt mau vô tù !
Hay là vẽ tội, đảng vu
Đem dân giết kiểu oán thù, dă man !!!
 *
V́ Hồ mà nước Việt Nam
Người dân chết với hờn oan ngập trời ! ...
Ba miền dân tộc ta ơi
Vùng lên lấy lại cuộc đời ... Vùng lên !!!
Nếu ta khuất phục bạo quyền
Là cho phép đảng ngang nhiên giết ḿnh !

Vùng lên, dẫu phải hy sinh
Mà lưu hậu thế công tŕnh ngàn thu !!!

-Ngô Minh Hằng (thơ)

**
 1 - 
a- Ngày 3 tháng 7 năm 2010 anh Nguyễn Năm, giáo dân thuộc ban tang lễ giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng khi được công an thả ra, về đến nhà th́ chết, khi tẩm liệm thân nhân phát hiện miệng và tai nạn nhân c̣n trào máu tươi ra chứng tỏ đă bị đánh đập chấn thương sọ năo. Ông Năm là một trong số những người bị công an thành phố Đà Nẵng điều tra liên quan đến sự chống đối của người dân trong đám ma của một bà cụ hồi đầu tháng 5.

b-  Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, trú tại tổ 5 phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội, khi được công an quận Hai Bà Trưng “mời” lên làm việc vào chiều ngày 21 tháng 1, 2010, đến rạng sáng ngày 22 tháng 1 đă bị tử vong trên đường tới BV Thanh Nhàn với rất nhiều dấu vết trên thân thể chứng tỏ đă bị nhục h́nh.

c - Ngày 25 tháng 5 năm 2010 công an ở Nghi Sơn, khi đàn áp dân biểu t́nh chống cưỡng chế đất đai đền bù bất công, đă bắn chết một học sinh 12 tuổi. Một nạn nhân khác bị bắn trúng đầu đă chết ở bệnh viện ngày 30 tháng 5, 2010.
 
Ngoài ra, ngày 8 tháng 6 năm 2010, người ta phát hiện xác một người dân nằm ở ven quốc lộ 6A huyện Chương Mỹ, Hà Nô.i. Cuộc điều tra cho thấy anh Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi, đă bị một nhóm công an đánh gẫy xương sườn, vỡ nội tạng mà chết.

2 - Khoảng 18 giờ ngày 23/7 anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê xă Hồng Thái, huyện Việt Yên đi xe máy biển kiểm soát 98M9-3894 chở chị Phạm Thị Ngoăn, 20 tuổi, quê xă Mỹ Hà, huyện Lạng Giang (cùng tỉnh Bắc Giang ) v́ có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên. Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên bắt giữ v́ không đội mũ bảo hiểm. Công an đă đưa phương tiện và người vi phạm vào trụ sở để lập biên bản xử lư.  Đến 2 giờ 30 ngày 24/7, công an bàn giao tử thi cho gia đ́nh anh Khương mai táng. Thi thê? anh Nguyễn Văn Khương có nhiều dấu vết chứng to? bi. công an đánh chết và loan tin anh chết do xư? dụng ma túy.

  -Ngô Minh Hằng (thơ)