báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

       [Bài Viết - Article]                                                                           


Tội ác mổ cướp nội tạng tại Trung Quốc bị phơi bày trước diễn đàn TED 

***

 
Dương Đại Hải 06-1-2019 | CẢ HOA KỲ NGĂ NGŨ VỀ SỰ THẬT CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ & HILARY CLINTON

***

Trực Ngôn

Lại chuyện ngôn ngữ: ‘Giải mă’ hay ‘Giải thích/Giải độc’? 

Những lúc về sau này, chúng tôi đọc thấy nhiều tựa đề các bài b́nh luận phân tích thời sự thường bắt đầu bằng hai chữ ‘giải mă’. Trên nhiều trang web hay các diễn đàn, thấy có các bài: “Giải mă Mỹ rút quân khỏi Syria” hay “Giải mă việc Đại Tướng James Mattis từ chức”, “MC Quyền Linh giải mă các hiện tượng”, “Giải mă giấc mơ thấy quan tài” vân vân.

Lạ quá, việc Mỹ rút quân và việc ông Mattis từ chức nghe trên các đài truyền h́nh hay đọc hà rầm trên các báo; có ǵ bí mật phải che đậy bằng các mă số, kư hiệu mà cần các tác giả phải ‘giải mă’?

Chúng tôi không phải là nhà ngôn ngữ học để có thể ngồi đọc hết và phân tích những từ ngữ trong các bài viết. Nhưng “đừng im tiếng, mà phải lên tiếng…”. Bất kỳ người nào cũng muốn đọc các bài viết dễ hiểu, chữ nghĩa dùng đúng cách, câu văn gọn gàng tṛn ư. Có phải bất cứ người Việt Nam nào mong muốn bảo vệ sự trong sáng của tiếng mẹ đẻ của ḿnh?

Từ khi Cộng Sản chiếm hết cả nước, họ đă đem từ miền Bắc vào Nam rất nhiều chữ viết, lời nói tuy cũng là ngôn ngữ Việt, nhưng nghe rất chói tai, khó hiểu. Lư do là những kẻ ngu dốt mà lại sính dùng chữ, họ đă cắt xén, ráp nối, thay chữ, đổi nghĩa rất nhiều từ ngữ mà chúng ta đă dùng một cách đứng đắn tại miền Nam trước 1975. Ngày nay, phương tiện internet đă giúp cho nhiều người tham gia vào việc truyền thông. Nhà văn, nhà báo, nhà thơ nổi lên như nấm dại sau cơn mưa. Tuy nhiên số người viết đúng văn phạm, chính tả lại rất hiếm hoi. Và lại, không thiếu những người ưa dùng chữ đao to búa lớn mà ư nghĩa th́ không đi sát với những ǵ họ muốn diễn đạt. Lại có những ‘nhà văn’ hà tiện các dấu chấm, phẩy… Cả một đoạn văn dài nửa trang giấy không thèm cho một cái dấu để tách biệt các câu, các mệnh đề. Ai đọc th́ rán chịu khó mà hiểu lấy.

Chúng tôi hoạt động trong ngành truyền thông gần 50 năm qua, từ trong nước ra đến hải ngoại; lúc nào cũng tâm niệm phải cố gắng viết cho chính xác vừa ngữ vựng vừa văn phạm. Nhất là Việt ngữ, thứ ngôn ngữ đă thấm sâu vào từng tế bào, từng giọt máu của ḿnh; thứ ngôn ngữ mà tổ tiên truyền lại, được bảo lưu là làm phong phú thêm bởi bao nhiêu thế hệ. Ngôn ngữ có thể theo thời mà biến đổi. Có khi sai nhưng được nhiều người dùng và lâu ngày, mỉa mai thay, nó trở thành đúng!

Cho nên, chúng ta cần chặn cái sai càng sớm càng tốt.

Từ lâu, mỗi lần nhận được từ thân hữu chuyển đến các bài viết; chúng tôi rất trân trọng. Nhưng chúng tôi cũng lại rất khó tính khi t́m thấy trong bài những câu, những chữ mà tác giả đă vô ư thức sử dụng theo kiểu viết sai trái của Việt Cộng. Có khi chỉ đọc thoáng cái tựa đề là thẳng tay bấm nút delete mà không buồn ghé mắt xem vài hàng nội dung ra sao.

 

V́ sao chữ giải mă trong các bài trên không đúng? Lẽ nào các tác giả có đủ khả năng viết những bài b́nh luận mà lại không hiểu đúng nghĩa của hai chữ này? Hay là v́ họ quá thờ ơ, nghe quen tai sau khi đọc nhiều bài ‘giải mă’ và đă áp dụng một cách vô ư thức vào bài của ḿnh? Tôi đoán có thể tác giả muốn nói đến việc ‘giải độc’ những bản tin do người viết tin bóp méo v́ mục tiêu chính trị của người đưa tin. Đúng thế, có nhiều tin làm cho người đọc hiểu sai lạc bản chất vấn đề, nên coi tin đó là đầu độc, phải ‘giải độc’.

Vậy, xin phép trước hết, t́m hiểu ư nghĩa của hai chữ ‘giải mă’.

Chúng tôi tin rằng rất nhiều quư vị từng nghe quen các chữ ‘mă số’, ‘mật mă’. Nguyên từ ‘mă’ là chữ Hán , theo Từ điển Thiều Chửu, có nghĩa “một thứ chữ riêng để biên số cho tiện”  http://vietnamtudien.org/thieuchuu/

Từ điển Hán Việt của ông Đào Duy Anh, do nhà xuất bản Minh Tâm ấn hành năm 1951 tại Paris, trang 538 định nghĩa là “dấu để ghi số

Từ điển của Hội Khai Trí Tín Đức trang 330 cũng có định nghĩa tương tự là “thứ chữ số của người Tàu dùng để biên sổ”.

C̣n chữ ‘giải’ đơn giản là mở ra.

Như thế, ‘mă’ trước hết, là những kư hiệu dùng thay cho các chữ. Giải mă là t́m cách mở cái ‘kư hiệu’ ra để đọc các chữ.

Giữa thế kỷ thứ 19 (năm 1836), ông Samuel F.B. Morse đă có sáng kiến soạn ra các kư hiệu bằng dấu hiệu ‘tích, tè’ tức là các dấu chấm (dot .) và dấu ngang (dash -). Mục đích là để chuyển đi những tin tức qua viễn thông bằng các phương tiện mà không thể chuyển các chữ được. Qua ḍng điện hay qua ánh đèn pin th́ khi bấm nhanh là dấu ‘tích’, giữ lâu gấp ba lần th́ đó là dấu ‘tè’. Nếu dùng cờ hiệu, th́ đưa 1 tay lên là ‘tích’, dang cả hai tay là ‘tè’. Giữa hai chữ cái (letters) là một khoảng im lặng ngắn bằng dấu ‘tích’; giữa hai chữ (words) th́ khoảng cách dài bằng ba dấu ‘tè’.  Quư vị nhớ chữ SOS là tín hiệu cấp cứu. Nó được truyền đi bằng ba ‘tích’ (ngưng), ba ‘tè’ (ngưng) rồi ba ‘tích’. (… --- …)

Kư hiệu Morse này trở thành vô cùng thông dụng trong hàng hải. Nhưng nó không mang tính chất bảo mật.

Trong quân đội hay t́nh báo, với mục đích chỉ cho phe bạn nhận hiểu bản tin của ḿnh mà kẻ địch không thể đọc hiểu, trước khi chuyển đi, người ta ‘mă hoá’ (encode, encoding) bản văn bằng cách thay các chữ cái hay con số bằng những chữ khác hay dăy số khác.  Những người phe bạn sẽ có một cái khoá (key) để lần ṃ theo từng ‘mă tự’ hay ‘mă số’ (code) th́ mới đọc được. Chính việc dùng khóa để dọc bản văn đă được ‘mă hoá’ này, người ta gọi là ‘giải mă’ (decode, decoding)

Thời Thế Chiến 2, quân đội Đức Quốc Xă đă thành công phần lớn là do các h́nh thức mă hoá tinh vi mà quân Anh và Mỹ không thể đọc được các lệnh truyền tin của Đức. Trong một trận hải chiến trên Đại Tây Dương, Hải quân Hoa Kỳ đă bắn ch́m một chiến hạm Đức (dường như là một tiềm thủy đỉnh) và đă tịch thu đuợc một máy giải mă. Máy này được đưa về đại bản doanh ở London để các nhà t́nh báo chiến lược và các nhà toán học siêu việt nghiên cứu. Từ đó, đă t́m ra các khoá để giải mă tất cả những thông tin của phe địch.  

Một cách mă hóa đơn giản là dùng các chữ ‘Alpha’ thay cho chữ A, Bravo thay cho chữ B, Charlie thay chữ C… X-ray thay chữ X, Yankee thay chữ Y, Zulu thay chữ Z; tương đương với ‘Anh dũng, Bắc b́nh, Cải cách… Xung phong, Yên Bái, Zulu’ dùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ngoài ra c̣n cách mă hoá khác như khi báo cáo 5 quân nhân tử trận, họ nói là ‘năm im lặng’, 10 người bị thương th́ gọi là ‘muời kiến cắn’; Pháo binh th́ gọi là phổi ḅ, xe tăng th́ gọi là con cua. Những cách này cũng không có tính cách bảo mật nữa v́ quá đơn giản. Về sau, dường như bắt đầu từ khoảng năm 1970, các đơn vị được phát một tập Khoá Đối Chứng dày gồm nhiều trang. Mỗi trang gồm những cột dọc với nhiều hàng chữ cái hay con số gọi là ‘khoá’, và chỉ dùng cho một ngày được ấn định. Qua hôm sau, phải xé bỏ, hủy trang đó đi. Nếu tập này rơi vào tay địch, sẽ có lệnh cấp tốc cho ngưng sử dụng và tập mới được phát ngay. Chỉ có đơn vị trưởng và những người hiệu thính viên mới được biết đến tập sách này mà chúng tôi biết với tên gọi là ‘Khoá Đối Chứng’ (KDC).

Trong ngành computer, người ta dùng các loại ngôn ngữ riêng bằng dăy 8 con số gồm 0 và 1 gọi là binary code. Đó là khi chuyển đi chữ hay số, các chữ hay số đánh trên bàn phím sẽ trở thành các tín hiệu điện đóng hoặc mở (1 hoặc 0). Khi truyền đến máy người nhận, nó sẽ được chuyển lại thành các ḍng chữ hay số để đọc. Ngay cả h́nh ảnh, âm thanh cũng được ‘mă hoá’ bằng binary code trước khi được ḍng điện chuyển qua những cái gọi là ‘processors” trong máy computer.

Như thế, khi viết lên tựa để “Giải mă Mỹ rút quân khỏi Syria” hay “Giải mă việc Đại Tướng James Mattis từ chức”, chắc các tác giả có ư muốn nói về sự ‘giải thích’, ‘phân tích’…về các diễn biến trên mà không hề có chút nào ư nghĩa ‘giải mă’.

 

Ngoài chữ ‘giải mă’, chúng tôi c̣n thấy nhiều vị dùng chữ ‘huyền thoại’ cũng rất bừa băi. H́nh như các tác giả nghĩ rằng ‘huyền thoại’ có nghĩa như ‘siêu việt’, ‘phi thường’ Quả đúng như thế đấy. Nhiều tác giả viết về vài vị tướng tài, vài biến cố quan trọng, vài trận đánh anh hùng, cũng ghép thành ‘Vị tướng huyền thoại’, rồi ‘Huyền thoại B́nh Long’, ‘Tiểu đoàn X đánh một trận huyền thoại’…

Chúng tôi đă bàn đến hai chữ ‘huyền thoại’ trong vài bài viết về ngôn từ Việt Nam (bài “Mặt Trận Ngôn Từ” trong tác phẩm Quê Mẹ Mùa Xuân Chưa Về, trang 311). Xin ân cần nhắc lại một lần nữa và mong các tác giả sẽ tránh dùng sai hai chữ này.

Huyền thoại là ǵ?

Huyền là mầu nhiệm, huyền hoặc, huyền bí, viễn vông, không có thật, là chuyện truyền kỳ, thần thoại. Ví dụ các truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ trăm trứng, truyện Phù Đồng từ đứa bé vươn vai thành một dũng sĩ mạnh khoẻ, nhảy lên ngựa sắt, nhổ cây tre làm vũ khí…, truyện Sơn Tinh Thủy Tinh… Truyện cổ Hy lạp th́ có Ilyad, Odyssey kể về các dũng sĩ Achilles, Hercules…

Những câu chuyện trên hoàn toàn là viễn vông, không có sử sách thời đó ghi chép mà chỉ do truyền tụng lại.

C̣n các Tướng Đỗ Cao Trí, Tướng Ngô Quang Trưởng là người có thật, khả năng, tài trí, can đảm là có thật, công trận là có thật. Trận An Lộc long trời lỡ đất với sự dũng cảm chiến đấu, hy sinh vô bờ của quân sĩ ta là có thật, xảy ra vào một nơi có thật, vào một thời gian có thật. Báo chí đă ghi lại những tin có thật về họ và các biến cố đó. Những người trên chúng ta thấy được, sờ được th́ không thể gán cho là huyền hoặc, chỉ xảy ra trong hoang tưởng.

Chúng ta có cả hơn một tá những chữ rất thông dụng để ca tụng, miêu tả những anh hùng, những chiến công, những biến cố. Tại sao lại không dùng chúng mà lại dùng một chữ hoàn toàn không đúng và nếu xét sâu xa hơn, th́ lại có tính cách mỉa mai chăng?

Cũng có thể, người viết muốn ca tụng các nhân vật, các biến cố quá phi thường, vượt ra khỏi sự tưởng tượng của con người. Vậy th́ nên viết rằng “Tướng Hưng là một chiến sĩ dũng cảm như trong huyền thoại. Trận An Lộc là một trận chiến cầm cự phi thường như trong huyền thoại.

Thêm một điều nữa.

Có vị thắc mắc chữ ’hoành tráng’ có phải của Việt Cộng không v́ thấy bên Việt Nam sính dung chữ này cho hầu hết các trường hợp. Từ điển Đào Duy Anh có định nghĩa là “quy mô to lớn, rộng răi”, chỉ về tầm vóc của không gian. V́ thế, chỉ nên dùng cho những công tŕnh, kiến trúc, cảnh quang; mà không nên dùng cho cảnh sắc, lễ hội, tiệc tùng. Đối với ba trường hợp sau, có thể dùng các tĩnh từ huy hoàng, tráng lệ, linh đ́nh, huy hoàng, long trọng, trọng thể, tùy theo danh từ trước nó.

 Chúng tôi xin đề nghị các tác giả nên có sẵn trong tủ sách hay trong hard drive của máy tính vài ba cuốn từ điển Việt Nam thời Việt Nam Cộng Hoà trở về trước; và nên bỏ chút th́ giờ ra tra cứu một khi gặp những chữ mà ḿnh không chắc hiểu đúng ư nghĩa của nó.

Khai bút đầu năm 2019. 

 

Trực Ngôn

 

  

 


Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Việt Nam Ngày Mai

***


VÙNG LÊN DẪU PHẢI HY SINH

(Bài thơ này xin được là sự cảm thông, là niềm chia sẻ và cũng là tiếng kêu tha thiết, đau thương gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam. Mong những người đảng viên yêu nước, những người chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Cộng Sản, những người công an có trái tim tiến bộ đă thức tỉnh và đă đau ḷng v́ thực chất dă man lừa mị của Đảng CSVN, xin mau can đảm và oanh liệt đứng lên làm cuộc cách mạng, viết lại trang sử  thật sự hào hùng v́ thời điểm đă đến để cứu dân, cứu nước trước khi qúa muộn.)
 
 
Công an Việt cộng giết người
Nghi Sơn, Mai Động lại nơi Cồn Dầu ( 1)
Lỗi dân chẳng thấm vào đâu
Công an, lệnh đảng hiểm sâu th́ đầy
Luật rừng Đảng nắm trong tay
Đă ḷng dă thú lại say máu người
Cuối cùng, chỉ khổ dân thôi
Thấp cổ bé miệng, kêu trời, trời cao !
Cơn đau chưa ngớt lệ trào
Hờn oan ngập mộ, máu đào c̣n tươi
Sao thêm cơ khổ, hỡi trời
Công an giết nữa, giết người Bắc Giang ! (2)
Lái xe thiếu mũ an toàn
Mà công an lại giết oan mạng người !
Anh nh́n em chết, hồn tơi
Mẹ nh́n con chết, nát đời theo con 
Công an thỏa dạ, cười gịn
Mừng nhau thành tích vuông tṛn, kém ai
Tin buồn, Tỉnh để ngoài tai
Rượu nồng, thịt béo cho dài cuộc vui 
Mặc dân oan khổ dập vùi
Mặc công an cứ giết người tàn hung
Ngai vàng Đảng vẫn ...anh hùng
Trên ngôi cao Đảng xé tung sơn hà
Đảng đem máu thịt Ông Cha
Tây Nguyên, Quan - Giốc, Hoàng Sa dâng Tàu !
Dân, ai xót nước, ḷng đau
Đảng kêu phản động nhốt mau vô tù !
Hay là vẽ tội, đảng vu
Đem dân giết kiểu oán thù, dă man !!!
 *
V́ Hồ mà nước Việt Nam
Người dân chết với hờn oan ngập trời ! ...
Ba miền dân tộc ta ơi
Vùng lên lấy lại cuộc đời ... Vùng lên !!!
Nếu ta khuất phục bạo quyền
Là cho phép đảng ngang nhiên giết ḿnh !

Vùng lên, dẫu phải hy sinh
Mà lưu hậu thế công tŕnh ngàn thu !!!

-Ngô Minh Hằng (thơ)

**