báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

       [Bài Viết - Article]                                                                           

xin giới thiệu một số bài của Vĩnh Tường qua youtube cho quí vị có thời gian nghe tiện hơn thời gian đọc


130419 | Khi Đảng Dân Chủ "hết nhân tài" thời mạc vận đă đến

 
VŨ LINH - 04/07/2019 - DIỄN ĐÀN TRÁI CHIỀU   ĐIỀU TRA NỮA?

Vũ Linh

BÀI 69: CÁC TỔNG THỐNG MỸ VÀ VIỆT NAM (Phần I)

 

 Tháng Tư Đen đương nhiên là một tháng u buồn, ảm đạm, chúng ta ngồi thương cho số phận đất nước. Nhưng đó là thái độ tiêu cực vô bổ. Điều cần làm là tỉnh táo nh́n lại lịch sử để biết cho rơ chuyện ǵ đă xẩy ra, chia sẻ với con cháu như những bài học biết đâu sẽ giúp chúng sau này.

Diễn Đàn Trái Chiều sẽ viết hai bài về các tổng thống Mỹ có liên quan đến vấn đề VN, xét lại vai tṛ và trách nhiệm của họ đưa đến số phận đen tối của đất nước ta. Hai bài này sẽ xét quan hệ Mỹ-Việt qua 2 giai đoạn: với Quốc Gia VN và với VNCH, cho tới năm 1975.

       Cuộc chiến VN cần phải có cả vạn trang sách để t́m hiểu và thảo luận.

Trong khuôn khổ diễn đàn này, chỉ có thể tóm lược một cách đơn sơ nhất trong vài ngàn chữ thôi. Với những vị quen thuộc với Việt sử, bài này không có ǵ mới lạ, DĐTC chỉ là nhắc lại vài điểm chính cho những bạn trẻ ở Mỹ học lịch sử chiến tranh VN qua sách sử cấp tiến Mỹ, cũng như cho giới trẻ ở VN từ hồi nào đến giờ chỉ biết lịch sử cận đại VN qua cái diễn giải một chiều lố bịch của VC, kiểu súng lục bắn rớt B-52!

Bài này cũng không bàn về vai tṛ và trách nhiệm của người Việt, chính quyền cũng như dân chúng.

Trước khi đi xa hơn, có vài điều phải coi như tiền đề để thảo luận.

1.   Quyền hạn của tổng thống Mỹ cực lớn, nhất là trong chính sách quốc pḥng và đối ngoại, do đó chính sách của Mỹ đối với VN tùy thuộc gần như hoàn toàn vào cá nhân các tổng thống, có thể thay đổi hoàn toàn từ ông này đến ông khác. Tuy nhiên, quyền hạn của họ cũng bị giới hạn bởi quốc hội và nhất là dư luận quần chúng và nhu cầu bầu bán cho cá nhân họ cũng như cho đảng của họ. Tất cả những giả thuyết về thế lực ngầm quốc tế nào đó, theo ư kiến cá nhân, chỉ là chuyện vớ vẩn, không có căn bản và không đáng tin, tuy ai muốn tin vẫn có quyền tin.

2.   Tất cả các tổng thống Mỹ đều lấy quyết định dựa trên mục tiêu tối hậu là quyền lợi của nước Mỹ và dân Mỹ, tuy ‘quyền lợi’ có thể khác nhau từ vị tổng thống này đến vị khác. Điểm mấu chốt cho chúng ta là xin đừng bao giờ nghĩ họ phải hành động v́ quyền lợi của nước VN và dân VN. Đừng bao giờ trách cứ họ đă phản bội hay bán đứng VN, cũng như đừng bao giờ thắc mắc họ đă đặc biệt thương hay ghét dân Việt.

3.   Tất cả các tổng thống Mỹ đều là con người, không ai là thần thánh hay ác qủy, tuyệt đối tốt hay xấu, tuyệt đối hoàn hảo hay rác rến. Họ cũng bị chi phối bởi những hỷ nộ ái ố, tự ái, thể diện, tham vọng, thói hư tật xấu, hay ngược lại bởi tính vị tha, nhân đạo cá nhân. Họ cũng đă phạm những sai lầm, sơ xuất như bất cứ người nào khác.

TỔNG THỐNG MỸ VÀ QUỐC GIA VIỆT NAM

Quốc Gia Việt Nam trên nguyên tắc ‘ra đời’ khi thực dân Pháp chính thức trao trả độc lập năm 1949 dưới sự lănh đạo của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, khi đó không chính thức gọi là vua hay hoàng đế. Chính thức cáo chung tại miền bắc năm 1954 khi Việt Minh (VM) tiếp thu Bắc Việt, và miền nam năm 1955 khi Bảo Đại bị truất phế và VNCH ra đời. Đây là thời đại của các tổng thống Truman và Eisenhower.

1.     TT Truman. Dân Chủ 1945-1953

TT Harry Truman kế nhiệm TT Roosevelt qua đời v́ bệnh tháng 4/1945.

TT Roosevelt là người chống việc thực dân đô hộ các thuộc địa. Ông chủ trương ép các đồng minh Âu Châu phải trao trả độc lập cho các thuộc địa sau khi triệt hạ được trục phát-xít Đức-Ư-Nhật. Trong vấn đề Đông Dương, ông đề nghị ba nước Việt-Miên-Lào phải được đặt dưới một chế độ đặc biệt, gọi là ‘trusteeship’ dưới quyền cai quản của một ‘ủy ban quốc tế’ gồm có Pháp, Tàu, Nga, và đại diện ba nước, trong một thời gian chuyển tiếp có thể kéo dài vài chục năm từ thuộc địa qua độc lập trọn vẹn. Coi như thời gian ba nước thuộc địa cần có để ‘tập tự trị’.

TT Truman chấp chánh trong giai đoạn mới, khi Thế Chiến Thứ Hai sắp chấm dứt tuy vẫn c̣n đánh lớn tại Á Châu. Nhưng ông lại phải trực diện với một vấn đề gai góc hơn, đó là sự lớn mạnh của tân đế quốc đỏ Liên Xô. Vừa giải quyết xong cuộc chiến với Nhật, th́ ông đă phải đối phó với sự lớn mạnh của Hồng Quân của Mao, đưa đến đại thắng của Tàu cộng năm 1949 với sự giúp đỡ tối đa của Liên Xô. Ngay sau đó th́ bàn tay lông lá của Liên Xô ḅ qua bán đảo Triều Tiên, dựng lên và nuôi lớn bắc Triều Tiên với tham vọng thôn tính luôn nam Triều Tiên, đưa đến cuộc chiến nam-bắc Triều Tiên.

Trước mối đe dọa của CS quốc tế, TT Truman lo sợ mất Âu Châu, nên chú tâm củng cố việc pḥng thủ Âu Châu, một mặt viện trợ kinh tế tối đa để tái thiết Tây Âu qua chương tŕnh mang tên tướng Marshall, mặt khác t́m cách thành lập một liên minh quân sự chống Liên Xô, sau này ra đời với cái tên Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, NATO.

Trong khối Tây Âu, nhân vật với cái tôi vĩ đại nhất lịch sử nhân loại, cái tôi cá nhân cũng như cái tôi quốc gia, chính là De Gaulle của Pháp. Tướng De Gaulle khi đó chưa là tổng thống, nhưng v́ là người lănh đạo chính quyền lưu vong Pháp dưới thời Hitler chiếm nước Pháp, ông có tiếng nói rất lớn. Điều kiện của De Gaulle để Pháp tham gia một liên minh quân sự chống Nga tại Âu Châu là Pháp phải được giữ Đông Dương, dù cho ba nước Đông Dương sẽ được độc lập trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế vẫn phải lệ thuộc Pháp trong cái khối gọi là Liên Hiệp Pháp, và cả ông vua của 3 nước đều là bù nh́n b́nh phong. Tướng De Gaulle nhất quyết không nhả các thuộc địa Đông Dương cũng như Phi Châu.

Mặt khác, TT Truman hiển nhiên cũng nh́n thấy nguy cơ làn sóng đỏ Trung Cộng tràn xuống VN và Đông Nam Á, nên cũng thấy cần Pháp trở lại Đông Dương để chặn.

V́ cần Pháp, TT Truman bỏ kế hoạch trusteeship của TT Roosevelt, gián tiếp chấp nhận và giúp Pháp trở lại chiếm vị thế tại Đông Dương. Đây có lẽ là quyết định có hệ quả quan trọng nhất cho số phận đất nước ta. Nếu như De Gaulle không yêu sách và nếu như TT Truman thi hành sách lược của TT Roosevelt, th́ lịch sử đă đi về một hướng khác, có lẽ sẽ không có hai cuộc chiến tranh VN kéo dài 30 năm.

Quân đội Pháp dưới quyền tướng Leclerc rầm rộ trở lại Đông Dương với sự hậu thuẫn của Mỹ và tiếp sức của quân đội Anh có trách nhiệm giải giới quân Nhật trong Nam, và quân đội của Tầu khi đó dưới quyền Tưởng Giới Thạch lo giải giới quân Nhật tại miền Bắc. Tướng Leclerc trục xuất VM ra khỏi Hà Nội và tất cả các tỉnh lớn.

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất ra đời tháng Chạp 1946. Chính quyền ‘độc lập’ của Quốc Gia VN với Bảo Đại mất chính nghiă. VM lớn mạnh trong rừng núi Bắc Việt.

Cuộc chiến ra đời trong tinh thần ái quốc chống thực dân Pháp mau mắn chuyển hướng thành cuộc chiến quốc cộng vài năm sau, khi Trung Cộng công khai giúp đỡ VM và VM bắt đầu thi hành các chính sách cộng sản như cải cách điền địa theo mô thức Tàu cộng trong những vùng chiếm được, trong khi Mỹ công khai giúp Pháp và chính quyền Bảo Đại từng bước t́m độc lập thật sự, nhưng từng bước quá nhỏ và quá chậm. Người Việt ái quốc bị kẹt trong thế phải lựa chọn: một là đi theo cộng sản VM chống Pháp đến cùng, hai là chấp nhận Bảo Đại như một bước tiến đến độc lập hoàn toàn không lệ thuộc thực dân cũng chẳng bị nhuộm đỏ. Rất nhiều người yêu nước thật sự, đi theo VM nhưng sau ít lâu, không chấp nhận CS, ‘về thành’ như các ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu và Phạm Duy. Nhiều người khác đi theo Việt Quốc hay Việt Cách, cho đến khi các tổ chức này bị VM tiêu diệt, đành phải về với Bảo Đại.

Cuối trào Truman cũng là giai đoạn cam go nhất khi VM với viện trợ quân sự ào ạt của Mao sau khi đă chiếm được cả lục địa Tầu, đă đủ lớn mạnh để tung ra những trận đánh biển người, nướng lính theo sách lược của Mao trong khi Pháp thẳng tay diệt dưới quyền tướng De Lattre de Tassigny. Cuộc chiến leo thang, thanh niên Việt cả hai bên chết hàng vạn, nhưng vẫn bất phân tháng bại.

Kết luận đơn giản nhất, TT Truman có ‘tội’ v́ đă giúp Pháp trở lại VN, đẻ ra cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất. Cũng phải nói ngay nếu TT Truman không giúp Pháp trở lại, th́ cả nước VN đă bị cộng sản hóa ngay sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8/45 khi VM chiếm chính quyền trong khoảng trống sau khi Nhật đầu hàng. Các đảng phái quốc gia khi đó đơn độc, hiển nhiên không đủ khả năng chống đỡ VM với TC và Liên Xô đứng sau lưng.

2.     TT Eisenhower. Cộng Ḥa 1953 -1960

Cựu tư lệnh lực lượng đồng minh đánh tan Hitler, tướng Dwight Eisenhower đắc cử tổng thống Mỹ, nhậm chức đầu năm 1953.

Ông tiếp nhận một t́nh trạng dở dở ương ương tại Đông Dương. Ông giúp Pháp một cách bất đắc dĩ v́ là đồng minh chính trị nhưng trong thâm tâm không ưa Pháp và muốn giúp VN được độc lập thật sự và mau chóng.

Bất ngờ, ông bị đặt trước chuyện đă rồi khi Pháp quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đóng chốt tại con đường tử huyệt của VM qua Lào, để câu VM đến đánh, ngơ hầu Pháp có cơ hội dùng hỏa lực mạnh hơn để tiêu diệt hết. VM chấp nhận thách đố, mang quân đến bao vây ĐBP với ư định ngược, tiêu diệt quân Pháp một lần cho trọn.

Pháp đă đánh giá VM sai lầm hoàn toàn, bị đe dọa tiêu diệt thật. Cầu cứu TT Eisenhower mang bom nguyên tử chiến lược –nhỏ- tiêu diệt hầu như toàn bộ lực lượng VM đang tập trung quanh ĐBP. TT Eisenhower tham khảo với Anh Quốc, lo ngại việc tham gia quá lớn của Mỹ sẽ mang tai tiếng cho Mỹ, sẽ bị gắn liền với việc bảo vệ thực dân Pháp duy tŕ thuộc địa. Ông quyết định chỉ tham gia mạnh nếu có một liên minh quốc tế trong đó có Anh, Úc, Tân Tây Lan và vài quốc gia Á Châu như Phi Luật Tân, Thái, Mă Lai. Liên minh không thành v́ Anh Quốc lo ngại sẽ xẩy ra đại chiến thế giới thứ ba hay ít nhất đại chiến Á Châu và TC sẽ đánh Ấn Độ, Mă Lai, Tân Gia Ba, là những tử huyệt của Anh. Anh khi đó đă trả độc lập lại cho Ấn Độ và Mă Lai, nên cũng không thấy lư do ǵ phải giúp Pháp duy tŕ thuộc địa Đông Dương.

Không có sự tham gia của Anh, TT Eisenhower từ chối can thiệp mạnh hơn, tuy có tăng cường phi vụ thả bom chung quanh ĐBP cho có, nhưng không đủ để cứu Pháp.

TT Eisenhower có thể đă tính đường khác. Chấp nhận cho Pháp thua để Mỹ vào thay thế đánh VM mà không bị mang tiếng là đồng minh của thực dân, đưa cuộc chiến đi thêm một bước nữa vào cuộc chiến tư bản - cộng sản quốc tế, không c̣n mang cái áo chiến tranh dành độc lập của một thuộc địa nữa.

Pháp thất trận ĐBP, qua Ḥa Ước Geneve, tháo chạy, trao một nửa nước cho VM, phần miền nam c̣n lại, bán cái qua cho Mỹ.

TT Eisenhower mang con bài của ḿnh về nước, thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm chấp chánh với hậu thuẫn mạnh mẽ của cả TT Eisenhower lẫn đảng đối lập DC qua các thượng nghị sĩ Mike Mansfield và John Kennedy, cũng như yểm trợ tích cực của khối công giáo của Hồng Y Francis Spellman.

Thủ tướng Diệm quan niệm VN cần phải lột xác, xóa bỏ tận gốc mọi dấu vết của chế độ thuộc địa mới có hy vọng thành công trong cuộc chiến sống c̣n chống CS. Bắt đầu bằng cách truất phế quốc trưởng bù nh́n Bảo Đại chỉ lo ăn chơi tại Hồng Kông và Nice, trục xuất tất cả quan chức Pháp, xóa bỏ mọi dấu vết của chế độ thuộc địa, và tiêu diệt tận gốc tất cả băng đảng, giáo phái tay sai của Pháp như B́nh Xuyên, và cả các quan lại trong các đảng gọi là ‘quốc gia’. Ông mau mắn chứng minh cho dân Việt và cả thế giới thấy ông là người yêu nước chân chính, có khả năng và được hậu thuẫn mạnh của những người Việt quốc gia không chấp nhận Pháp nhưng cũng chống CS.

TT Eisenhower và cả đảng DC tích cực hậu thuẫn thủ tướng rồi tổng thống Diệm, từ kinh tế đến quân sự và cả chính trị, xă hội. Đưa đến thời cực thịnh của miền Nam, dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. VN trở thành mô thức phát triển mẫu mực cho một nước chậm tiến mới thoát khỏi đô hộ, vừa phải ổn định chính trị, vừa phải lo định cư một triệu người bắc di cư, vừa lo chống đỡ đe dọa CS xâm lăng. Một gương sáng mà thủ tướng Lư Quang Diệu của Tân Gia Ba khi đó c̣n phải ước mơ.

Nh́n chung, TT Eisenhower là người có ‘tội’ là đă bỏ qua cơ hội tiêu diệt VM tại ĐBP, nhưng sau đó lại là người có công lớn đă củng cố miền Nam dưới Đệ Nhất Cộng Ḥa.

TỔNG THỐNG MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG H̉A

Quốc Gia Việt Nam cáo chung năm 1955 khi thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm truất phế Bảo Đại, thành lập chế độ Cộng Ḥa, chấp chánh như tổng thống đầu tiên của VN. VNCH tồn tại 20 năm, tới 1975 khi CSVN chiếm trọn miền Nam.

3.     TT Kennedy. Dân Chủ 1961 – 1963

(Đoạn này trích dẫn từ bài #18: TT Kennedy Và VN đă đăng trên DĐTC tháng 4/2018:

https://diendantraichieu.blogspot.com/2018/04/tt-kennedy-va-viet-nam.html#more)

Năm 1960, TNS John Kennedy đắc cử tổng thống. Ông tin tưởng một thể chế trung lập Lào với sự chấp nhận của Liên Xô sẽ bảo đảm Lào thành trái độn ngăn cản con đường ‘nam tiến’ của CSBV. TT Kennedy vận động Nga để rồi cuối cùng đẻ ra được hiệp định trung lập hóa Lào năm 1962. Một thể chế trung lập quái đản, trao vào tay Pathet Lào, con đẻ của CSBV, một nửa đông-nam của lănh thổ Lào, giáp giới với CSBV, VNCH, và Căm Pu Chia, tức là để nguyên hành lang này cho CSBV chuyển quân vào Nam VN qua cái sau này gọi là ‘đường ṃn HCM’.

Đây là sai lầm chiến lược vĩ đại mang theo hậu quả cực kỳ tai hại cho miền Nam VN của tân tổng thống trẻ không bao nhiêu kinh nghiệm. TT Eisenhower đă đúng hoàn toàn khi tiên đoán CSBV sẽ không bao giờ tôn trọng trung lập của Lào bất kể thái độ của Liên Xô, và sẽ chiếm Căm Pu Chia và VNCH qua ngă Lào không sớm th́ muộn.

Nhiệm kỳ của TT Kennedy cũng trùng hợp với sự ra đời chính thức và lớn mạnh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN như công cụ của CSBV.

Năm 1963 là cái mốc đổi đời của VNCH. Cuộc chiến leo thang mạnh khi CSBV bắt đầu chuyển quân ào ạt vào miền Nam trong khi TT Diệm gặp khó khăn chính trị lớn khi biến cố Phật giáo miền Trung nổ ra, rồi sau đó bị lật đổ.Năm này cũng là năm truyền thông Mỹ đổ bộ vào miền Nam và tin tức chiến sự VN cũng như những khó khăn chính trị của TT Diệm bắt đầu tràn ngập mặt báo và TV Mỹ. Hàng đoàn kư giả Mỹ thay v́ chỉ làm nhiệm vụ thông tin trung thực th́ đều đă biến thành chuyên gia sách động cho việc Mỹ chấm dứt can thiệp vào cuộc chiến, triệt để bôi bác miền Nam, tiếp tay cho bộ máy tuyên truyền của CSVN trong dư luận Mỹ.

Năm 63 cũng là năm TT Kennedy rất sợ tin xấu v́ ông chuẩn bị tái tranh cử trong năm 64. TT Kennedy nh́n thấy rơ hai lựa chọn của ông: một là phủi tay, chấm dứt mọi can thiệp, và hai là can thiệp mạnh hơn. Nhất chín nh́ bù, không có giải pháp lằng nhằng ở giữa.

Giải pháp rút lui ngay khó làm được v́ Mỹ vẫn c̣n bị chi phối bởi thuyết domino, lo sợ sẽ mất hết cả Đông Nam Á nếu bỏ Nam VN, chưa kể TT Kennedy vẫn bị ám ảnh bởi h́nh ảnh một tổng thống yếu đuối bị Khrushchev coi thường, thất bại hai lần ở Cuba (trong vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo, và vụ tháo gỡ hỏa tiễn nguyên tử của Liên Xô tại Cuba), cũng như viễn tượng phải tranh cử chống ông diều hâu Nixon trong kỳ bầu cử tới. Ngược lại, can thiệp mạnh chỉ có thể thực hiện được nếu loại bỏ được anh em ông Diệm-Nhu v́ TT Diệm không chấp nhận can thiệp sâu hơn của Mỹ.

Ở đây không phải chỉ là việc TT Diệm bác bỏ ư kiến đổ bộ lính Mỹ vào VN, mà c̣n là việc ông chống lại ư định của Mỹ muốn gia tăng kiểm soát cuộc chiến quân sự cũng như kiểm soát chính trị và kinh tế. Người Mỹ muốn nắm quyền quyết định quân sự, nắm luôn hầu bao viện trợ quân sự và kinh tế, đồng thời ép TT Diệm thi hành những cải tổ chính trị theo ư của họ. Những yêu sách quá lớn mà TT Diệm cương quyết không nhượng bộ.

Về phiá VNCH th́ một số tướng lănh đă rục rịch tính chuyện lật đổ TT Diệm v́ họ cho rằng ông này đă thất bại, mất hậu thuẫn dân, khiến VC ngày càng lớn mạnh, đe dọa sự tồn vong của cả miền Nam. Nhưng các tướng cũng chỉ có thể đảo chánh nếu nhận được bảo đảm Mỹ sẽ không can thiệp cản trở đảo chánh, hay nếu đảo chánh thành công, sẽ tiếp tục hậu thuẫn cuộc chiến chống CSBV. Chứ nếu đảo chánh xong, Mỹ rút đi không yểm trợ cho cuộc chiến th́ nguy nặng v́ VNCH sẽ không thể nào đương đầu được với CSBV vẫn nhận được viện trợ quân sự hùng hậu từ khối Liên Xô và TC.

Sau nhiều lưỡng lự và tranh luận nội bộ, chính quyền Kennedy lựa con đường can thiệp mạnh, chuyển qua giai đoạn tích cực áp lực các tướng lật đổ TT Diệm.

Cuộc đảo chánh năm 63, bất kể nguyên nhân và diễn biến, là một biến cố ‘đổi đời’, làm suy yếu nền tảng chính trị và quân sự của chính quyền VNCH, nhất là các tướng cả 3 năm sau vẫn bận  rộn ‘chỉnh lư’ nhau, thay đổi các tư lệnh quân sự và chỉ huy địa phương như chong chóng.

Nh́n vào những sự kiện lịch sử trên, ta thấy rơ ta thua không phải năm 75, mà đă thua từ năm 63 với những khó khăn chính trị bị TTDC Mỹ khai thác tiếp tay cho VC, và khi TT Diệm bị lật đổ, hay xa hơn, thua từ năm 62 khi TT Kennedy phạm sai lầm chiến lược vĩ đại, kư hiệp ước ngớ ngẩn ‘trung lập hóa’ Lào.

TT Diệm trong 6 năm đầu là một vĩ nhân có công lớn khi đă thành công xây dựng nên một VNCH tương đối thịnh vượng và hùng mạnh từ đống tro tàn do thực dân Pháp để lại, nhưng ông cũng đă phạm nhiều sai lầm lớn trong năm sau đó, khi gặp khó khăn chính trị nội bộ. Càng gặp khó khăn, TT Diệm càng tự cô lập, càng dựa vào gia đ́nh, và càng trở nên độc đoán, đưa đến việc mất ḷng dân rất nhiều, cuối cùng đi đến đảo chánh. Việc dân miền Nam nói chung khi đó bất măn chế độ, ào ạt biểu t́nh chống TT Diệm trong vụ Phật giáo để rồi vui mừng xuống đường hoan hô Cách Mạng 1/11/1963 là những dữ kiện lịch sử, không thể phủ nhận, viết lại được.

Nếu TT Eisenhower có công lớn giúp TT Diệm gây dựng nên một VNCH tương đối thịnh vượng và hùng mạnh, th́ TT Kennedy chính là người đă lấy 2 quyết định cực tai hại là mở hành lang ‘đường ṃn HCM’ bên Lào cho CSBV xâm nhập và giúp lật đổ TT Diệm mở toang cửa cho TT Johnson can dự mạnh, khiến cuộc chiến của miền Nam mất hết chính nghiă, cuối cùng đưa đến việc mất cả miền Nam VN vào tay CSBV. Hơn tất cả các tổng thống khác, TT Kennedy đă là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc mất miền Nam VN vào tay CSBV.

(C̣n tiếp kỳ sau với vai tṛ quan trọng hơn của các TT Johnson, Nixon và Ford)

 at April20.2019

     Vũ Linh

 

"
Toàn văn lời tuyên chiến với Chủ nghĩa Cộng sản của Donald Trump - Thuyết minh tiếng Việt

 
Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

 

Thẩm Phán Phạm Đ́nh Hưng: Việt Nam Ngày Mai

 

***


VÙNG LÊN DẪU PHẢI HY SINH


(Bài thơ này xin được là sự cảm thông, là niềm chia sẻ và cũng là tiếng kêu tha thiết, đau thương gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam. Mong những người đảng viên yêu nước, những người chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Cộng Sản, những người công an có trái tim tiến bộ đă thức tỉnh và đă đau ḷng v́ thực chất dă man lừa mị của Đảng CSVN, xin mau can đảm và oanh liệt đứng lên làm cuộc cách mạng, viết lại trang sử  thật sự hào hùng v́ thời điểm đă đến để cứu dân, cứu nước trước khi qúa muộn.)
 
 
Công an Việt cộng giết người
Nghi Sơn, Mai Động lại nơi Cồn Dầu ( 1)
Lỗi dân chẳng thấm vào đâu
Công an, lệnh đảng hiểm sâu th́ đầy
Luật rừng Đảng nắm trong tay
Đă ḷng dă thú lại say máu người
Cuối cùng, chỉ khổ dân thôi
Thấp cổ bé miệng, kêu trời, trời cao !
Cơn đau chưa ngớt lệ trào
Hờn oan ngập mộ, máu đào c̣n tươi
Sao thêm cơ khổ, hỡi trời
Công an giết nữa, giết người Bắc Giang ! (2)
Lái xe thiếu mũ an toàn
Mà công an lại giết oan mạng người !
Anh nh́n em chết, hồn tơi
Mẹ nh́n con chết, nát đời theo con 
Công an thỏa dạ, cười gịn
Mừng nhau thành tích vuông tṛn, kém ai
Tin buồn, Tỉnh để ngoài tai
Rượu nồng, thịt béo cho dài cuộc vui 
Mặc dân oan khổ dập vùi
Mặc công an cứ giết người tàn hung
Ngai vàng Đảng vẫn ...anh hùng
Trên ngôi cao Đảng xé tung sơn hà
Đảng đem máu thịt Ông Cha
Tây Nguyên, Quan - Giốc, Hoàng Sa dâng Tàu !
Dân, ai xót nước, ḷng đau
Đảng kêu phản động nhốt mau vô tù !
Hay là vẽ tội, đảng vu
Đem dân giết kiểu oán thù, dă man !!!
 *
V́ Hồ mà nước Việt Nam
Người dân chết với hờn oan ngập trời ! ...
Ba miền dân tộc ta ơi
Vùng lên lấy lại cuộc đời ... Vùng lên !!!
Nếu ta khuất phục bạo quyền
Là cho phép đảng ngang nhiên giết ḿnh !

Vùng lên, dẫu phải hy sinh
Mà lưu hậu thế công tŕnh ngàn thu !!!

-Ngô Minh Hằng (thơ)

**
 1 - 
a- Ngày 3 tháng 7 năm 2010 anh Nguyễn Năm, giáo dân thuộc ban tang lễ giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng khi được công an thả ra, về đến nhà th́ chết, khi tẩm liệm thân nhân phát hiện miệng và tai nạn nhân c̣n trào máu tươi ra chứng tỏ đă bị đánh đập chấn thương sọ năo. Ông Năm là một trong số những người bị công an thành phố Đà Nẵng điều tra liên quan đến sự chống đối của người dân trong đám ma của một bà cụ hồi đầu tháng 5.

b-  Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, trú tại tổ 5 phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội, khi được công an quận Hai Bà Trưng “mời” lên làm việc vào chiều ngày 21 tháng 1, 2010, đến rạng sáng ngày 22 tháng 1 đă bị tử vong trên đường tới BV Thanh Nhàn với rất nhiều dấu vết trên thân thể chứng tỏ đă bị nhục h́nh.

c - Ngày 25 tháng 5 năm 2010 công an ở Nghi Sơn, khi đàn áp dân biểu t́nh chống cưỡng chế đất đai đền bù bất công, đă bắn chết một học sinh 12 tuổi. Một nạn nhân khác bị bắn trúng đầu đă chết ở bệnh viện ngày 30 tháng 5, 2010.
 
Ngoài ra, ngày 8 tháng 6 năm 2010, người ta phát hiện xác một người dân nằm ở ven quốc lộ 6A huyện Chương Mỹ, Hà Nô.i. Cuộc điều tra cho thấy anh Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi, đă bị một nhóm công an đánh gẫy xương sườn, vỡ nội tạng mà chết.

2 - Khoảng 18 giờ ngày 23/7 anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê xă Hồng Thái, huyện Việt Yên đi xe máy biển kiểm soát 98M9-3894 chở chị Phạm Thị Ngoăn, 20 tuổi, quê xă Mỹ Hà, huyện Lạng Giang (cùng tỉnh Bắc Giang ) v́ có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên. Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên bắt giữ v́ không đội mũ bảo hiểm. Công an đă đưa phương tiện và người vi phạm vào trụ sở để lập biên bản xử lư.  Đến 2 giờ 30 ngày 24/7, công an bàn giao tử thi cho gia đ́nh anh Khương mai táng. Thi thê? anh Nguyễn Văn Khương có nhiều dấu vết chứng to? bi. công an đánh chết và loan tin anh chết do xư? dụng ma túy.

  -Ngô Minh Hằng (thơ)