báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                             

 

(Mời click vào đây => Video tren youtube của Trần Mai Cô


POWERFUL: VIETNAMESE Trump Supporter EXPLOSIVE Interview 8/14/19

 
BÀI B̀NH LUẬN CỰC HAY BẠN NÊN XEM: DONALD TRUMP - ĐỊNH MỆNH TRỞ THÀNH TỔNG THỐNG MỸ

***

 What do you want- [Lyrics Video official] Noy T...
click vào đây xem video


Video Clip  LS Nguyễn Văn Đài phản  bác một số quan điểm của Ls Hoàng Duy Hùng trong buổi hội luận trên BBC ngày 7 tháng 5 năm 2020 & Ngô Kỷ Nói Về Hoàng Duy Hùng
(có vài chi tiết liên quan đến HD Genève 1954)-

****

Trần Gia Phụng

HIỆP ĐỊNH GENÈVE (20-7-1954)

(Phần 2)

                                                                                   

 

 

IV.-   BẢN TUYÊN BỐ CUỐI CÙNG KHÔNG CHỮ KƯ

 

Sau khi Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam được kư kết, các phái đoàn họp tiếp ngày 21-7-1954 và “thông qua” bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”.  Đây chỉ là lời tuyên bố (Déclaration) của bảy phái đoàn, có tính cách dự kiến tương lai Việt Nam, và đặc biệt không có phái đoàn nào kư tên vào bản tuyên bố nầy, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ kư

 

Khi chủ tịch phiên họp là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, th́ 7 phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, CHNDTH, VNDCCH, Lào và Cambodge (Cambodia) trả lời miệng rằng “đồng ư”.(10) Phái đoàn Hoa Kỳ và phái đoàn QGVN không đồng ư, và tự đưa ra tuyên bố riêng của ḿnh. 

 

Bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” gồm 13 điều, trong đó quan trọng nhất là điều 7.  Điều nầy ghi rằng:

 

"Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lănh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín.  Để cho việc lập lại ḥa b́nh tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ư nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đă nói trong Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự.  Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó." (Bản dịch của Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường) (11a)    

 

Điều 7 của bản Tuyên bố được xem là dự kiến về một giải pháp chính trị trong tương lai, theo đó một cuộc tổng tuyển cử sẽ có thể được tổ chức để thống nhất đất nước, mà sau nầy Bắc Việt dựa vào điều nầy để đ̣i hỏi Nam Việt tổ chức tổng tuyển cử trên toàn quốc. 

 

Bắc Việt thường nói và viết rằng việc tổ chức tổng tuyển cử giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam là theo quyết định của Hiệp định Genève.  Thật ra Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đ́nh chỉ chiến sự (đ́nh chiến) mà không đưa ra một giải pháp chính trị nào.  Giải pháp chính trị về một cuộc tổng tuyển cử giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam dự tính tổ chức vào năm 1956 nằm trong điều 7 của bàn “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”

 

Trong bản tuyên bố riêng của phái đoàn QGVN, bác sĩ Trần Văn Đỗ, trưởng phái đoàn, giải thích v́ sao phái đoàn QGVN không kư kết hiệp định Genève.  Sau khi phản đối việc chia cắt đất nước và việc đại diện quân đội Pháp tự ư kư kết hiệp định mà không đếm xỉa ǵ đến quyền lợi của quân đội Quốc Gia và nhân dân Việt Nam, bản tuyên bố của phái đoàn QGVN viết:

 

V́ thế cho nên chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách kư kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt.  Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho ḿnh quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập, và Tự do cho xứ sở.”(11b)

 

V́ phái đoàn QGVN không kư vào bản Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam (hiệp định Genève) và nhất là không tham dự vào bản “Tuyên bố cuối cùng”, nên chính phủ QGVN tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy. 

 

Về phiá Hoa Kỳ, trưởng phái đoàn là Bedell Smith cũng đưa ra bản tuyên ngôn ngày 21-7-1954 theo đó, tuy không kư vào hiệp định, nhưng Hoa Kỳ cam đoan không đe doạ hay dùng vơ lực để sửa đổi hiệp định; Hoa Kỳ sẽ nghiêm xét bất cứ một hành vi tái gây hấn vi phạm thoả hiệp trên, đe doạ ḥa b́nh và an ninh thế giới; Hoa Kỳ tôn trọng việc thực hiện thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do đặt dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc.  Ông Bedell Smith kết luận:

 

Chúng tôi chia sẻ niềm hy vọng rằng các thỏa hiệp nầy sẽ cho phép Cao Miên, Lào và Việt Nam nắm giữ điạ vị của họ, trong độc lập hoàn toàn và chủ quyền đầy đủ, giữa cộng đồng yêu chuộng hoà b́nh của các quốc gia, và sẽ khiến cho các dân tộc ở các vùng đó có thể tự định đoạt lấy tương lai của ḿnh.”(11c)

 

V.-   VIỆC THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GENÈVE

 

Hội nghị Genève kết thúc với ba văn kiện chính thức (ngày 20-7-1954) và một bản tuyên bố chung (ngày 21-7-1954) là: 1) Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam.  2) Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Lào.  3) Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Cambodge (Cambodia). 4) Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương. 

 

Ngoài bốn văn kiện trên, c̣n có hai văn kiện do hai phái đoàn đưa ra là: 1) Tuyên ngôn của phái đoàn QGVN. 2) Tuyên ngôn của phái đoàn Hoa Kỳ.

 

Cần chú ư hai điểm:  Thứ nhất, Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam tức Hiệp định đ́nh chiến Genève chỉ có tính cách thuần túy quân sự, nói về việc rút quân, tập trung quân, thời hạn chuyển quân... mà hoàn toàn không đề cập đến giải pháp chính trị. 

 

Thứ hai, không có phái đoàn nào kư tên vào bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.  Một điều rất lạ lùng là sự việc bất thường nầy, một văn kiện quốc tế mà không có chữ kư, lại ít được chú ư và ít được sách báo viết đến.(12)

 

Điều 7 của bản tuyên bố nầy mở đầu bằng câu "Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam...” (La Conférence déclare qu’en ce qui concerne le Vietnam…), nghĩa là về vấn đề Việt Nam, Hội nghị nghĩ rằng, đưa ra ư kiến rằng, hay dự kiến rằng … một cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7-1956…, c̣n làm theo hay không làm theo, nghĩa là thi hành hay không thi hành, là tùy các bên liên hệ.  Hội nghị không cam kết và cũng không yêu cầu các bên liên hệ cam kết là sẽ thi hành tổng tuyển cử, v́ bằng chứng rơ ràng nhất là Hội nghị không yêu cầu bên nào kư vào bản tuyên bố nầy, để cam kết hay để giữ lời cam kết.  Những hiệp định với đầy đủ chữ kư mà c̣n bị vi phạm trắng trợn, huống ǵ là những bản tuyên bố không chữ kư.

 

Hơn nữa, đây là một bản tuyên bố chứ không phải là một bản hiệp ước.  Môt bản tuyên bố lại không có chữ kư của bất cứ phái đoàn nước nào, kể các các chính phủ liên hệ đến cuộc chiến ở Đông Dương, có được xem là một văn kiện có giá trị pháp lư để thi hành hay không?

 

V́ những lư do căn bản nầy, bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”, trong đó đặc biệt điều 7 của bản tuyên bố nầy về dự kiến một cuộc tổng tuyển cử trong năm 1956, không có tính cách pháp lư để bắt buộc bất cứ nước nào thi hành.  Nói cho cùng, có thể nói rằng bản tuyên bố nầy khá mơ hồ và không đưa ra một giải pháp chính trị cụ thể cho tương lai Đông Dương sau khi hai bên đ́nh chiến.

 

Tinh thần của bản tuyên bố Genève ngày 21-7-1954 khiến người ta liên tưởng đến “Tối hậu thư Potsdam” mà các nước Anh, Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (Tưởng Giới Thạch) gởi cho Nhật Bản ngày 26-7-1945.  Tối hậu thư Potsdam buộc Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện và quy định rằng ở Đông Dương quân đội Trung Hoa sẽ giải giới quân đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16, và quân đội Anh sẽ giải giới quân đội Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16 (ngang qua Tam Kỳ).  Tuy nhiên tối hậu thư nầy không đề cập đến việc ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho Đông Dương.

 

Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chánh và chính trị tại Đông Dương sau năm 1945 một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, v́ nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, cũng sẽ sụp đổ, th́ ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương?  Đây là thâm ư của Anh và Hoa Kỳ, cố t́nh bỏ ngỏ khoảng trống chính trị để tạo điều kiện cho Pháp trở lại Đông Dương. 

 

Nay bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” cũng đi vào vết xe cũ, không đưa ra một giải pháp chính trị cụ thể cho tương lai Đông Dương, ngoài một bản tuyên bố không có người kư.  Từ đó, các bên liên hệ đến bản tuyên bố có thể tùy tiện giải thích bản tuyên bố một cách khác nhau, tùy theo chủ trương chính sách của mỗi bên, và nhất là tùy theo “lư của kẻ mạnh”.

 

Ngay trong Hội nghị Liễu Châu từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, cả CHNDTH lẫn VNDCCH đă thỏa thuận tạm ḥa để tiếp tục chiến tranh.  Cũng trong hội nghị Liễu Châu, những nhà lănh đạo VNDCCH đă tŕnh bày kế hoạch hậu chiến, trường kỳ mai phục, gài người cùng chôn giấu vũ khí tại miền Nam để chờ đợi thời cơ nổi dậy.  Như thế có nghĩa là kế hoạch tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Genève đă được phía cộng sản dự tính trước khi kư kết hiệp định. 

 

Cho đến nay, chưa có một giải thích cụ thể nào cho biết tại sao bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương”, lại không không có chữ kư của phái đoàn các nước?  Phải chăng sau nhiều tháng hội họp, các phái đoàn quá mệt mỏi với những tranh căi triền miên, nên chỉ hỏi ư kiến bằng miệng cho chóng thông qua?  Hay phải chăng có một âm mưu muốn tính chuyện về sau, nên chỉ hỏi bằng miệng để bỏ ngỏ vấn đề, nhằm dọn đường cho những tính toán chính trị kế tiếp sau hiệp định Genève?  Và ai là người đă chủ xướng biện pháp chính trị lập lững nầy?  Nước nào chủ xướng th́ chưa biết, nhưng chính phủ QGVN rất yếu thế, ngay từ đầu lại bác bỏ việc chia cắt đất nước, phản đối hiệp định Genève, nên chắc chắn QGVN không phải là nước chủ xướng.

 

Ngày 22-7-1954, thủ tướng chính phủ QGVN là Ngô Đ́nh Diệm ra tuyên cáo phản đối việc chia hai nước Việt Nam.  Tuy nhiên cuối cùng chính phủ QGVN vẫn chấp nhận thi hành hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17.  Như thế, từ năm 1954, tại Bắc và Nam Việt Nam, có hai chính phủ riêng biệt, theo hai chính thể riêng biệt, tức có hai nước Việt Nam riêng biệt. 

 

Thi hành hiệp định đ́nh chiến Genève, việc ngưng bắn chính thức có hiệu lực ngày 27-7-1954 tại Bắc Việt, ngày 1-8-1954 tại Trung Việt, và ngày 11-8-1954 tại Nam Việt.  Vấn đề cấp thời của hai chính phủ là tập trung và di chuyển quân đội, công chức, cán bộ của ḿnh và cả dân chúng, về khu vực cai trị của ḿnh.  Điều 2 của Hiệp định Genève (20-7-1954) cho phép thực hiện việc di chuyển các lực lượng của hai bên về vùng tập hợp ở hai bên giới tuyến tạm thời trong thời gian 300 ngày.

 

Ngày 9-10-1954 là hạn chót cho những người muốn di cư vào Nam di tản khỏi Hà Nội.  Hôm sau, ngày 10-10-1954, quân đội VM vào tiếp thu Hà Nội.  Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Hà Nội của VM là Vương Thừa Vũ tức Nguyễn Văn Đồi, người đă chỉ huy cuộc tấn công Hà Nội ngày 19-12-1946 và trở thành tư lệnh sư đoàn đầu tiên của VM là sư đoàn 308.  Hải Pḥng, điểm tập trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy vào miền Nam, do VM tiếp thu ngày 13-5-1954.  Ba ngày sau, toán lính Pháp cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà (vịnh Hạ Long, vùng Hải Pḥng) ngày 16-5-1955. (Nếu tính từ ngày ngưng bắn có hiệu lực ở Bắc Việt (27-7-1954) cho đến ngày 16-5-1955 là 9 tháng 20 ngày.)

 

Số người từ miền Nam tập kết ra Bắc không được thống kê đầy đủ.  Theo sự  tŕnh bày của Vơ Nguyên Giáp tại Hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ ngày 3-7-1954 giữa Hồ Chí Minh và Châu Ân Lai, trước khi chiến tranh kết thúc, VM dự tính bước đầu rút khoảng 60,000, trong đó 50,000 người là bộ đội và 10,000 người làm công tác chính trị, nhất là những người “đỏ” quá, không thể ở lại.  Ngoài ra, VM dự tính sẽ lưu lại miền Nam từ 5,000 đến 10,000 người để chờ thời cơ, và vũ khí nào cất giấu được th́ cất giấu sau khi quân đội rút đi.(13)  Theo một tài liệu khác cũng của cộng sản, số người tập kết ra Bắc khoảng 175,000 người và 15,0000 học sinh.(14)  Số lưọng nầy có thể đă được phóng đại và không thể kiểm chứng được.

 

Số người từ miền Bắc di cư vào miền Nam lên đến khoảng gần 900,000 người.(15)   Trong số nầy, nhân viên chính quyền (tức công chức) và quân nhân chiếm một phần ít, c̣n đại đa số là dân chúng.  Đây là đợt tỵ nạn cộng sản lớn lao đầu tiên trong lịch sử hiện đại, cũng là đợt di dân nội địa lớn lao nhất trong lịch sử nước ta. 

 

Vài điểm đáng chú ư về cuộc di cư vĩ đại của dân chúng miền Bắc vào miền Nam như sau: 

 

Thứ nhất, số người ra đi đông đảo như trên rời đất Bắc có lợi cho đảng Lao Động, v́ những thành phần chống cộng, đối lập, bất đồng chính kiến, những nhân vật theo các đảng phái Quốc gia, đều rút về miền Nam, nên không c̣n, hay ít c̣n người ở lại đối kháng với chế độ mới ở ngoài Bắc. 

 

Thứ hai, người Việt Nam vốn rất ràng buộc với quê cha đất tổ, mà gần một triệu người đành phải bỏ xứ ra đi.  Trong chiến tranh, bộ máy tuyên truyền của Việt Minh luôn luôn ca tụng chế độ cộng sản và chê bai chính thể QGVN.  Nay cuộc di cư vĩ đại có thể xem là cuộc trưng cầu dân ư cho thấy số người miền Bắc chọn lựa vào miền Nam đông hơn số người miền Nam tập kết ra Bắc, chứng tỏ ḷng dân như thế nào đối với chế độ của đảng Lao Động (tức là đảng CSVN)? 

 

Thứ ba, sự chọn lựa nầy củng cố niềm tin nơi chính phủ QGVN, giúp chính phủ QGVN vững tâm hành động, và làm tăng giá trị của chính thể QGVN đối với thế giới. 

 

Thứ tư, ngoài những cán bộ cộng sản được cài lại ở miền nam, sống lẫn lút trà trộn trong dân chúng,(16) chắc chắn đảng Lao Động không bỏ qua cơ hội cho đảng viên cốt cán len lơi vào đoàn người di cư vào miền Nam để làm t́nh báo, như trường hợp Vũ Ngọc Nhạ,(17) hay Vũ Bằng...(18)

 

Đúng một năm sau hiệp định Genève, để kiếm cớ gây chiến, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (VNDCCH), tức Bắc Việt gởi thư ngày 19-7-1955 cho thủ tướng Quốc Gia Việt Nam (QGVN) tức Nam Việt là Ngô Đ́nh Diệm, yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, để bàn về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo quy định của hiệp định Genève.

 

Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă bác bỏ đề nghị của thủ tướng Phạm Văn Đồng, dựa vào lư do rằng chính phủ QGVN không kư vào hiệp định Genève và nhất là v́  không có bằng chứng nào cho thấy VNDCCH đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi Quốc tế Cộng sản. 

 

Chính thể QGVN đổi thành Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) vào ngày 26-10-1955.  Tuy chính phủ VNCH nhiều lần từ chối, Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958 để tuyên truyền với quốc tế.  Lần cuối, Ngô Đ́nh Diệm, lúc đó là tổng thống VNCH, bác bỏ đề nghị trên vào ngày 26-4-1958.

 

Do vào sự bác bỏ của của chính phủ Nam Việt, Bắc Việt tố cáo chính phủ Nam Việt không tôn trọng hiệp định Genève.  Trong khi đó, hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đ́nh chiến và đă được các phe liên hệ tức là chính phủ VM và chính phủ QGVN thi hành xong ngay từ 1954, chia hai nước Việt Nam thành Bắc Việt và Nam Việt duới sự giám sát của Uỷ hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến, gồm đại diện các nước Canada (Gia Nă Đại), Poland (Ba Lan), India (Ấn Độ).  C̣n bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” không có chữ kư, th́ chẳng có giá trị pháp lư để thi hành.  Tuy nhiên, kẻ gây hấn th́ luôn luôn có lư do để gây hấn.

 

KẾT LUẬN

 

Sau trận Điện Biên Phủ (7-5-1954), khi Pháp quyết định rời bỏ hẳn Việt Nam, các cường quốc trên thế giới, Quốc tế Cộng Sản cũng như Quốc tế Tư bản, lại một lần nữa can thiệp, và áp đặt một giải pháp chính trị theo quyền lợi của họ, buộc các phe phái ở Việt Nam phải thi hành. 

 

Để bỏ chạy an toàn, Pháp thỏa măn những đ̣i hỏi về phía khối cộng sản, thỏa hiệp với cộng sản chia hai nước Việt Nam và ấn định lịch tổng tuyển cử năm 1956, mà không cần đếm xỉa đến ư nguyện của chính phủ QGVN.  Pháp quyết kư hiệp định Genève (20-7-1954), để vĩnh viễn rút quân ra khỏi ba nước Đông Dương, không c̣n liên hệ ǵ đến Việt Nam.  Như thế, Pháp dựa vào tư cách nào để ấn định lịch tổng tuyển cử vào năm 1956 về tương lai chính trị nước Việt Nam?  Lịch tổng tuyển cử nầy lại không được các phái đoàn tham dự kư kết để bảo đảm thi hành.  Kinh nghiệm lịch sử cho thấy cộng sản luôn luôn kư kết hiệp ước để làm kế hoăn binh và không bao giờ tôn trọng hiệp ước đă kư kết, huống ǵ là những văn bản không có chữ kư như bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại ḥa b́nh ở Đông Dương” ngày 21-7-1954.

 

Cần chú điểm chót: Khi Mao Trạch Đông chiếm lục địa Trung Quốc, các cường quốc Tây phương không công nhận CHNDTQ và không cho CHNDTQ thay thế Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hiệp Quốc.  Nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được các cường quốc mời họp Hội nghị Genève.  Nghĩa là Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương nhờ chiến tranh Việt Nam, nhờ xương máu của dân tộc Việt Nam.  (Việc nầy tái diễn trong chiến tranh 1960-1975, v́ do cuộc chiến nầy, Nixon qua Bắc Kinh dàn xếp với Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai.  Sau đó, Hoa Kỳ mở cửa cho Trung Quốc cộng sản vào LHQ.) 

 

Chính phủ QGVN non trẻ, bị động theo chính sách của Pháp, là chuyện đành phải chấp nhận.  VNDCCH (VM), dầu đă lợi dụng và sử dụng xương máu người Việt để chiến đấu, và tự cho rằng đă chiến thắng đế quốc Pháp, cũng không thể cưỡng chống lại những ư đồ của Liên Xô và CHNDTQ. 

 

Nói cách khác, người Việt ở cả hai phía nói chung, hoàn toàn không thể tự quyết định tương lai của chính ḿnh, mà phải bị động trước những áp đặt của ngoại bang, dù đó là ngoại bang tư bản hay ngoại bang cộng sản.  Bất cứ một ngoại bang nào đến với Việt Nam cũng đều v́ quyền lợi riêng tư của họ, chứ chẳng phải v́ yêu thương hay giúp đỡ nước Việt Nam.  Chẳng bao giờ có t́nh nghĩa xă hội chủ nghĩa hay t́nh nghĩa tư bản chủ nghĩa.  Chỉ có “quyền lợi chủ nghĩa” giữa các nước mà thôi.

 

Đất nước bị chia hai, dân tộc bị chia hai, nhưng Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định “đ́nh chiến”, tức mới chỉ ngừng tay đánh nhau, chứ chưa phải là hiệp ước ḥa b́nh.  Sau chín năm chiến tranh triền miên (1946-1954), dân chúng Việt Nam rất khao khát ḥa b́nh, nhưng giấc mơ ḥa b́nh vẫn c̣n ngoài tầm tay của người Việt.  Ḷng dân muốn ḥa b́nh, nhưng những kẻ chủ trương độc tài luôn luôn muốn tóm thâu quyền lực, luôn luôn muốn xâm lấn để toàn trị.  Và như thế, vận nước chưa hết nổi trôi, người Việt sẽ vẫn c̣n tiếp tục thống khổ...(Trích Việt sử đại cương tập 5.)

 

TRẦN GIA PHỤNG

 

CHÚ THÍCH

 

     10.  Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nam Á 2002, tr. 2642. Trong sách Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, sđd. tr. 54, đăng bài dịch của bản “Tuyên bố” nầy, nhưng phía dưới không có tên người kư.  Tài liệu Pentagon Papers cũng không có tên ai kư dưới bản tuyên bố.

     11.  Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, sđd. tr. 53 (11a), tr. 56 (11b), tr. 58 (11c).  Nguyên văn tiếng Pháp điều 7 như sau:  “La Conférence déclare qu’en ce qui concerne le Vietnam, le règlement des problèmes politiques, mis en oeuvre sur la base du respect des principes de l’indépendance, de l’unité et de l’intégrité territoriales, devra permettre au peuple vietnamien de jouir des libertés fondamentales, garanties par des institutions démocratiques formées à la suite d’élections générales libres au scrutin secret. Afin que le rétablissement de la paix ait fait des progrès suffisants et que soient réunies toutes les conditions nécessaires pour permettre la libre expression de la volonté nationale, les élections générales auront lieu en juillet 1956, sous le contrôle d’une commission internationale composée de représentants des Etats membres de la Commission internationale pour la surveillance et le contrôle visée à l’accord sur la cessation des hostilités. Des consultations auront lieu à ce sujet entre les autorités représentatives compétentes des deux zones à partir du 20 juillet 1955. (http://www.ena.lu/conference_geneve_20_21_juillet_1954-010703174.html). Có thể xem thêm bản tiếng dịch Anh: Gravel (ed.), Pentagon Papers, Vol. 1, pp. 279-282.

    12.  Ngày nay, vào Google.com, t́m “Déclaration finale de Genève en 1954”, th́ có ghi rơ câu nầy ngay từ tiểu mục của các bài viết: “Une déclaration finale en treize points, non signée par les participants.. “ [Môt bản tuyên bố cuối cùng gồm 13 điểm, không chữ kư của những người tham dự..]

    13.  Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngơa hội nghị [Chu Ân lai và Hội nghị Genève], Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xă, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề Vai tṛ của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27, “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. (diendan@diendan.org) (trích ngày 1-2-2009.)  Xem thêm Thế Kỷ 21, số tháng 8-2007, tr. 29.  Ông Nguyễn Văn Trấn, trong sách Viết cho Mẹ & Quốc hội, Nxb. Văn Nghệ, California, 1995, có đề cập đến vấn đề người miền Nam tập kết ra Bắc, nhưng cũng không cho biết cụ thể số lượng người tập kết là bao nhiêu?

    14.  Đặng Phong chủ biên, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II 1955-1975, Hà Nội: Nxb. Khoa Học Xă Hội, 2005, tr. 45.

     15.  Theo Đoàn Thêm, đến ngày 30-10-1955 là ngày chính thức chấm dứt cuộc di cư, số lượng người di cư tỵ nạn là 887,890 người. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 195.)  Thực tế ở ngoài c̣n cao hơn nhiều.

    16.  Điển h́nh là Lê Duẫn, bí thư Xứ uỷ Nam bộ, ở lại miền Nam đến 1957 mới ra Bắc. (Về sau, người ta mới biết điều nầy.)  (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập I-C: 1955-1963, Houston, Nxb. Văn Hóa, 2000, tr. 17.)

     17.  Vũ Ngọc Nhạ: Khi di cư vào Nam năm 1954, Vũ Ngọc Nhạ làm giám thị tại một trường học do linh mục Hoàng Quỳnh phụ trách.  Nhờ linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu, Vũ Ngọc Nhạ dần dần được đưa vào làm việc ở phủ tổng thống dưới thời Đệ nhất Cộng Ḥa.  Vũ Ngọc Nhạ bị nghi ngờ, bị bắt một thời gian, nhưng không có bằng chứng cụ thể nên được thả ra.  Qua thời Đệ nhị Cộng Ḥa, Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục hoạt động, và bị bắt trở lại vào ngày 28-7-1969 v́ tội làm gián điệp trong cụm t́nh báo chiến lược A 22 của cộng sản.

    18.  Vũ Bằng (1914-1984), tên thật là Vũ Đăng Bằng, c̣n có những bút danh khác là Tiêu Liêu, Lê Tâm, Vũ Tường Khanh, Hoàng Thị Trâm, nguyên quán tỉnh Hải Dương, là một nhà báo khá nổi tiếng ở Hà Nội trước năm1954 và Sài G̣n sau 1954.  Đặc biệt, theo tiết lộ của báo chí Hà Nội (báo Nhân Dân ngày 9-3-2000, báo An Ninh Thế Giới số 172, ngày 13-4-2000), Vũ Bằng hoạt động cho Cục t́nh báo chiến lược quân sự của cộng sản từ năm 1952.  Năm 1954, Vũ Bằng di cư vào Sài G̣n tiếp tục hoạt động với tư cách là cơ sở khai thác tin tức phục vụ t́nh báo cho đến 30-4-1975.  Tác phẩm để lại: Lọ văn (1936), Một ḿnh trong đêm tối (1937), Truyện hai người (1940), Tội ác và hối hận (1940), Để cho chàng khỏi khổ (1941), Cai (1948), Ăn tết thủy tiên (1956), Khảo về tiểu thuyết (1960), Bốn mươi năm nói láo (1969), Món lạ miền Nam (1970), Cái lồng đèn (1971), Nhà văn lắm chuyện (1971), Những cây cười tiền chiến (1971), Nói có sách (1972), Thương nhớ mười hai (1972), và một số sách dịch.

 

***

Trần Gia Phụng: Hiệp Định Genève (20-7-1954) (Phần 1)-Hiệp định đ́nh chỉ chiến sự ở Việt Nam chỉ là một hiệp định có tính cách thuần tuư quân sự.  Cũng giống như hiệp ước đ́nh chiến Panmunjon (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953, hiệp định đ́nh chiến Genève không phải là một ḥa ước, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam

 

 

 

 

 


Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

 

Nguyên Thạch