[Bài Viết - Article]
                                                                          

QUỐC HẬN 30-4-1975

VIẾT VỀ NGƯỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH

                                                                                  MƯỜNG GIANG

 

            Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đă có 250.000 người gục ngă trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh v́ một phần cơ thể đă gửi lại sa trường. Tuy nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không c̣n nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, th́ lư tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hănh diện chung của quân-dân Miền Nam.

            Lịch sử của một quốc gia là những ǵ trung thực , mà người dân của nước đó đă ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đă không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Đă vậy, Hoa Kỳ c̣n ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, v́ lư tưởng riêng của họ.

             Thế chiến 2 kết thúc, Ṭa Án quốc tế Nuremburg chỉ kết tội những Đầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Đức-Ư-Nhật.. Năm 1920, Lănh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ư bắt và tử h́nh. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ư tại Bắc Phi  là người đă ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ư lúc đó.

            Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lănh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đă oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lănh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đă tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đă được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lư và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc ngh́n thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đă chết cho lư tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

            Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đă phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, t́m đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen B́nh Định Nông Thôn, Cán Bộ Xă Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc  muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.

Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘ thuyền nhân tị nạn ‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống kư sinh vào xă hội.. cũng lợi dụng “ danh nghĩa người lính “ để được tị nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đ̣n “ nếu theo Ngụy “, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đă thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

            Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đă không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ c̣n bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng th́ cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lănh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về th́ bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

            Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một ḿnh một cơi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió th́ phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đă đưa toàn bộ đảng cọng sản VN ch́m trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

            Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài G̣n,v́ không thể chịu nổi hành động dă man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. V́ quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đă rút súng Rouleau ngắn ṇng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Asams, nên đă chụp được tấm h́nh này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

            Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới tị nạn tại Hoa Kỳ, đă bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đă kiện cáo, đ̣i Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, v́ tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

            Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm h́nh năm xưa Eddic Adams, đă viết một bài báo xin lỗi tướng Loan v́ sự ray rứt hối hận của ḿnh, trong đó có đoạn “ Ông đă làm công việc cuủ ông, c̣n tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddic lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một ṿng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so,so,so.. sorry “.Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người tị nan “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.

            Đau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đă tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Đoàn 1 BB, Lữ Đoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Đoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đă đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Đại Úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi kư “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “  là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ&Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nh́n cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp h́nh, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đă thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).

            Riêng làng báo Sài G̣n cũng vậy, v́ không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “ chôm chĩa tin từ báo Mỹ “  rồi “ Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng  “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm ǵ có kho tàng như t́nh báo đă báo cáo láo”.  Tóm lại theo họ th́ QLVNCH v́ sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy . Có đọc những tin tức của báo chí Sài G̣n lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đă đổ suốt cuộc chiến, để bảo vệ cho  “ đám  này “,  thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẽ đă nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

            Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, th́ đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đă biết được sự thật cùng ư nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra c̣n có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đ́nh người dân  qua cuộc đổi đời, cũng đă trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đă công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào ḿnh.

            Trong lúc đất nước đang lâm nguy v́ giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xă hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ v́ chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, th́ tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận ḿnh là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân th́, mập mạnh nhưng lại t́m cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lư do để được hoăn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu v́ sợ chết mà trốn đi lính, th́ cũng c̣n có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước ḿnh đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lư tưởng đă thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xă hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xă thân bảo vệ mạng sống thừa thải kư sinh của ḿnh.

            Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lư tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ư nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, th́ đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lănh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

            Chính bọn trí thức thiên tả này đă lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng kư sinh của chúng.

            Cuối cùng, VNCH đă sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt QG đă tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đă làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải c̣ng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do  không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.

            Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lănh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “  để đánh lừa thế giới, về sự dă man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đă qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần ṃn v́ sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống th́ thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, c̣n những người bị biệt giam th́ đói khát v́ phần ăn phát rất ít. Nói chung là không c̣n bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Đói quá nên người tù phải ăn tất cả những ǵ có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :

 ‘ Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,

đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa

bạn bè đến đây càng lúc càng thưa

thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác

thằng chống lại th́ xác thân tan nát

thằng bệnh đau thân xác cũng không c̣n

đem xác người đi phá núi dời non

đem mạng sống để gở ḿn tháo đạn

thay trời dẫn nước vào sông đă cạn

thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang

buổi sáng gượng vui nh́n lúa trổ bông

nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh

tôi đă sống qua những ngày đói lạnh

tôi đă nhét đầy tài liệu buồn nôn

kiểm điểm ngh́n câu cho tốt tốt hơn

để theo đảng biến người thành khỉ vượn .

(thơ mường giang). ’ ’

            Lính sống bị trả thù đă đành, cho tới những người lính đă chết , CSQT cũng không tha, th́ nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm.Tất cả năm tháng dù nay đă đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn c̣n nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích ngh́n đời không phai mờ : Đó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đă có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn vơ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Đông Nam Á thời đó gồm các Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Bộ Binh Thủ Đức, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Đại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!

            Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối t́nh xưa :

            ‘..xin v́ chàng, xếp bào cỡi giáp

            xin v́ chàng giũ lớp phong sương

            v́ chàng tay chuốc chén vàng

            v́ chàng điểm phấn đeo hương năo nùng.. ’ ’

            ( Chinh Phụ Ngâm ố Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm)

            Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, v́ suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận th́ chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

            Thử hỏi giữa cơi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đă có không biết bao nhiêu người ,đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đă VỊ QUỐC VONG THÂN ?

            Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già c̣n sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đă và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

           

            ‘..tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí

            sa trường dung ruổi đă phơi thây

            đoàn quân hùng liệt nay về đất

            hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy

 

            chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi

            mà khóc quê hương khuất bến bờ

            nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa

            mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô ‘

           (thơ mường giang)

            Xin nghiêng ḿnh trước đồng đội đồng bào đă hy sinh v́ đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quư Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đă và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà.

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 4-2013

 Mường Giang

 

@@@ 

Mường Giang: Ba mươi tám năm về trước, Ngày 30-4-1975, Hoa Kỳ chạy khỏi VNCH.-...

Mường Giang:Từ Sài G̣n bị mất tên (1/5/1975 – 4/2013), nh́n lại Miền Nam VN sau 38 năm bị Hà Nội đô hộ.

Mường Giang: Muôn đời dân tộc Việt vẫn nhớ ơn Quốc Tổ Hùng Vương- ‘Bia đá chẳng ṃn ṭa miếu cũ,  Văn Lang muôn thuở tỏ Hùng Vương‘
 

T́m đọc:

Trần Gia Phụng: Sách Chiến tranh Việt Nam 1960-1975



 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



Sách giá 25 Mỹ kim, đă có bán ở các hiệu sách.  Thêm chi tiết, xin liên lạc với tác giả qua e-mail: trangiaphung2011@yahoo.com.

T́m đọc:

thơ mường giang

1 - THÁNG TƯ LẠI VỀ

Mỗi năm cứ đến ngày thương hận
ta lại bâng khuâng chuyện trở về
ngoài biển vật vờ đôi cánh nhạn
trong tim lầm lũi bước đam mê


ba mươi tám năm đời lưu xứ
đập vỡ gương soi vẫn hắt hiu
tầm tả vực hồn mưa cổ độ
tay ôm ảo ảnh bóng mây chiều


đă biết ngày về đâu có hẹn
nhưng sao thương quá cảnh quê nhà
hè này Phan Thiết phượng c̣n thắm
trong hóc vông già, ve vẫn ca?


biển lưới cá đầy như buổi trước
tiếng ḥ giả gạo có c̣n không?
nhớ ôi là nhớ ngôi trường nhỏ
lưu bút ngày xanh, tuổi chớm hồng


c̣n nữa mộ phần đồng đội cũ
tháng tư chết thảm giữa binh đao
chắc nay cũng đă tan thành bụi
trước nổi tang dâu huyết lệ trào

 
mẹ đợi con về ṃn mơi gục
vợ chờ cũng hóa đá thiên thu
bao lần hẹn hứa rồi quên hẹn
mấy chục năm qua vẫn tháng tư

 

3 - GIỜ ĐÂY SÔNG NÚI

VẪN ĐAU THƯƠNG

tháng tư năm đó ta c̣n nhớ
Phan Thiết ch́m trong lửa bạo tàn
mười chín giặc về gieo khổ hận
đạn tăng nghiền nát vạn con tim


tháng tư hè tới ve rền hát
hoa vẫn vô tư nhuộm đất trời
xác phượng nằm bên thây lính trận
máu đào ḥa lẫn cánh hoa tươi


tháng tư bỏ mẹ ta ra biển
mười tám ngày nao chẳng xóa mờ
trên khắp nẻo đường quê lửa đạn
tay người biền mẫu vẫy con thơ


tháng tư mất nước sầu ly xứ
ta viết thơ say giữa cuộc say
với bạn với t́nh pha máu lệ
với đời thương hận úa sông mây

 
tháng tư biển lộng màu xanh gió
tiếng nhạn làm ta khóc nhớ nhà
mùi muối thấm vào da chát mặn
khiến càng héo hắt bước quê xa


tháng tư trong quán bên đường vắng
chờ bạn ḿnh ta uống rượu suông
soi mặt vào ly thêm thấy lạ
sau bao nhieu năm hận miên trường


tháng tư đă tới buồn hơn trước
bạn bỏ ta đi tận cuối trời
đứa chết nghèo buồn nơi xóm biển
thằng phơi xác lạnh với đơn côi


tháng tư mất nước sao quên được
đồng đội năm nao xác ngập đường
nơi bến, trên tàu, trong xóm nhỏ
những ngày tù ngục sống thê lương


bao chục năm sầu trăng cổ mộ
ḿnh hẹn nhau trong cơi tuyệt mù
quê cũ em lên cầu ngóng gió
bên này ta đợi chắc thiên thu


tháng ba giặc chiếm Ban Mê Thuộc
Phan Thiết tháng tư xác ngập đường
cả nước tháng năm thành địa ngục
giờ đây sông núi vận đau thương