[Bài Viết - Article]
                                                                          

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhimtrang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim được!!!

 


Cuộc Chiến Mậu Thân 1968
Các Tranh Luận Trong Nội Bộ Đảng CSVN Về 1968
 
Cải Cách Ruộng Đất

 ***

 

 

Diễn biến đưa tới biến cố 30 tháng 4

Lữ Giang

Tổng Thống John F. Kennedy: “Thay đổi là luật của cuộc sống. Và những kẻ chỉ nh́n vào quá khứ chắc chắn sẽ mất tương lai

oOo

Năm nay, kỷ niệm 40 năm mất Miền Nam, cộng đồng người Việt hải ngoại đă tổ chức rấm rộ các lễ tưởng niệm và thực hiện các cuộc trao đổi về những kinh nghiệm thương đau mà họ đă trải qua trong những ngày đen tối của lịch sử. Gần như người nào cũng nói lên quyết tâm “giải phóng” quê hương, nhưng chưa ai t́m ra được con đường có thể đi tới mục tiêu. Nói một cách tổng quát, tất cả vẫn chỉ là ước vọng.

Triết gia George Santayana (1863 – 1952) đă nhắc nhỡ chúng ta:

Những người không thể nhớ quá khứ bị kết án tái diễn nó. Học từ quá khứ của chúng ta là cách duy nhất có trách nhiệm để chuẩn bị cho chính chúng ta về tương lai, nhất là khi quá khứ đó là chứng tích của thất bại đáng ghi nhớ.”

V́ thế, hôm nay chúng tôi xin tóm lược lại dưới đây những diễn biến đưa tới biến cố 30 tháng 4 để giúp những người hô hào đấu tranh “giải phóng” quê hương xem lại ḿnh có đi vào vết xe cũ hay không và t́m một hướng đi có hiệu quả hơn.

1.- QUYẾT ĐỊNH BỎ MIỀN NAM VIỆT NAM

Vào tháng 8 năm 2004, nhân kỷ niệm 30 năm ngày Tổng Thống Nixon từ chức, Miller Center of Public Affairs thuộc Đại Học Virgina đă cho công bố băng ghi âm các cuộc nói chuyện giữa Nixon và Kissinger, trong đó có đề cập đến số phận của miền Nam Việt Nam và cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ cuối năm 1972. Tổng thống Nixon đi đến kết luận rằng Hoa Kỳ ủng hộ việc “Nam Việt Nam có thể không bao giờ c̣n tồn tại dù bất cứ cách nào.” (South Vietnam probably can never even survive anyway). Nhưng ông hỏi cố vấn an ninh Henry Kissinger:

Henry, chúng ta cũng phải nhận thức rằng thắng trong một cuộc bầu cử là hết sức quan trọng. Nó hết sức quan trọng trong năm nay, nhưng chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao đứng vững (a viable foreign policy) nếu một năm kể từ bây giờ hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam? Đó thật là vấn đề.”

Kissinger trả lời:

Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ, Bắc Việt thôn tính Nam Việt Nam, chúng ta có thể có một chính sách ngoại giao đứng vững nếu coi điều đó như thể là kết quả của sự bất tài của người Nam Việt Nam” (if it's the result of South Vietnamese incompetence.)

2.- KISSINGER ĐI BẮC KINH GIAO MIỀN NAM CHO TRUNG QUỐC

Hôm 26.5.2006, Văn Khố An Ninh Quốc Gia (National Security Archive) của Hoa Kỳ đă cho phổ biến 2.100 bản văn (memoranda) dài 28.000 trang mang tên “The Kissinger Transcripts: A Verbatim Record of U.S. Diplomacy, 1969-1977”. Trong đống hồ sơ này có 6 tài liệu liên quan đến Việt Nam, đó là các tài liệu số 1, 2, 3, 10, 11 và 12. V́ tài liệu quá dài, chúng tôi chỉ trích dẫn một đoạn ghi lại cuộc đàm thoại mặt đối mặt giữa Kissinger và Chu Ân Lai ngày 20.6.1972 tại Bắc Kinh trong tài liệu số 10 (dài 37 trang), trong đó có đoạn Kissinger nói với Thủ Tướng Chu Ân Lai như sau:

Hôm nay tôi ngồi ở đây chứng tỏ cái căn bản dựa trên đó Hoa Kỳ đưa quân vào Đông Dương không  c̣n giá trị nữa. Chúng tôi thừa hưởng một chính sách và bây giờ chúng tôi phải thanh lư thế nào để không ảnh hưởng đến vị thế của chúng tôi trên thế giới và sự ổn định trong nước. Chúng tôi thật tâm muốn chấm dứt cuộc chiến này. Và ông thủ tướng biết từ năm 1967 tôi đă mở đầu cuộc thương thuyết với Hà Nội. Và trước đây tôi đă nói với ông thủ tướng rằng chúng tôi quan niệm nước Việt Nam Dân chủ Cộng Ḥa là một thực tế mạnh nhất tại bán đảo Đông Dương. Chúng tôi không có lợi ǵ làm tan vỡ hay đánh bại thực thể đó. Sau khi chúng tôi rút quân xong, chúng tôi ở xa 12.000 dặm trong khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chỉ cách Sài g̣n 300 dặm. Tôi không hiểu tại sao Hà Nội không thấy được sự việc đó.”

Kissinger nói tiếp:

Trước đây tôi đă nói với ông thủ tướng rằng chúng tôi không muốn duy tŕ một căn cứ quân sự nào tại Đông Dưong hoặc theo đuổi chính sách của vị ngoại trưởng không chịu bắt tay ông thủ tướng. Thời đại đó qua rồi. Và tôi tin rằng tương lai quan hệ giữa Hoa Kỳ và Bắc Kinh quan trọng đối với Á châu hơn là những ǵ có thể xẩy ra tại Phnom penh, Hà Nội hay Sài g̣n.”

3.- ÉP VNCH KƯ HIỆP ĐỊNH PARIS.

Một cuộc ḥa đàm để chấm dứt chiến tranh Việt Nam đă được tổ chức tại Paris từ năm 1968. Sau một thời gian dài tranh luận gay cấn, một bản dự thảo hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam đă được Washington và Hà Nội đồng ư. Ngày 18.10.1972 Kissinger đă bay đến Saigon làm áp lực Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải đồng ư nội dung bản dự thảo nầy, với hy vọng sẽ mang ra Hà Nội ngày 24.10.1972 để Thủ Tướng Phạm Văn Đồng kư tắt vào. Nhưng Kissinger đă thất bại. Chỉ trong một thời gian ngắn, phía VNVH đă phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều chỉnh. Kissinger chỉ đồng ư điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số c̣n lại phải để nguyên. Cuộc đối thoại trở nên gay cấn về hai điểm then chốt là việc chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam Việt Nam và việc thành lập một Hội Đồng Ḥa Giải Ḥa Hợp giống như một chính phủ liên hiệp. VNCH coi đây là một cách bán đứng miền Nam Việt Nam cho Hà Nội nên cương quyết chống lại.

Thất bại với VNCH, Kissinger đưa ra một bản dự thảo mới, yêu cầu Hà Hội tái thảo luận, nhưng Hà Nội từ chối. Tổng Thống Nixon liền gởi cho Hà Nội một thông điệp nói rằng nếu Hà Nội không chấp nhận thảo luận một cách nghiêm chỉnh th́ sau 72 tiếng đồng hồ nữa Hoa Kỳ sẽ ném bom trở lại từ vĩ tuyến 20 trở lên. Ngày 18.2.1972, khi thời hạn này chấm dứt, hàng loạt B.52 đă bay đến ném bom xuống các căn cứ quân sự ở Hăi Pḥng và Hà Nội. Đây là những khu vực chưa hề là mục tiêu đánh phá từ trước đến nay.

Cùng lúc đó, Tướng Haig được cử đến Saigon với sứ mạng vừa hứa hẹn vừa đe dọa. Trong thông điệp trao cho Tổng Thống Thiệu ngày 14.11.1972, Tổng Thống Nixon có cam kết: “Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của Hiệp Định nầy th́ tôi cương quyết sẽ có hành động trả đủa mau lẹ và ác liệt.” Nhưng Tướng Haig cũng không quên lặp lại lời đe dọa của Washington rằng nếu Tổng Thống Thiệu không chấp nhận bản dự thảo hiệp định mới, Hoa Kỳ sẽ cắt hết việt trợ và kư một hiệp định riêng với Bắc Việt.

Sau 12 ngày bị dội bom nặng nề, Hà Nội chấp nhận thảo luận lại thỏa hiệp cũ với Kissinger vào ngày 30.12.1972. Hà Nội đồng ư sửa đổi lại một số điều khoản trong dự thảo hiệp định, nhất là không c̣n coi Hội Đồng Ḥa Giải Ḥa Hợp như là một thứ chính phủ liên hiệp từ trung ương đến địa phương nữa, nhưng nhất quyết không chấp nhận điều khoản buộc quân Bắc Việt phải rút lui. Hoa Kỳ quay lại làm áp lực với Việt Nam Cộng Ḥa.

Tổng Thống Thiệu thừa biết Bắc Việt cố giữ lại điều khoản không rút quân để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở lại, nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm khi Mỹ muốn đem quân vào, Tổng Thống Thiệu đă ra lệnh cho kư kết bản Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973, sau khi Washington tăng thêm một số quân dụng được tiếp tế khẩn cấp qua chương tŕnh Enhance và Enhance Plus.

4.- HÀ NỘI LẬP KẾ HOẠCH ĐÁNH CHIẾM MIỀN NAM

Sau khi kư Hiệp Định Paris, Hà Nội lập ngay kế hoạch đánh chiếm Miến Nam. Theo kế hoạch này, muốn chiếm miền Nam một cách nhanh chóng phải đánh thẳng vào Sài G̣n, đầu năo của miền Nam, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” xuất bản năm 1976, Tướng Văn Tiến Dũng đă viết:

Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công tŕnh xây dựng con đường chiến lược Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm 1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn trương nối liền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là công tŕnh lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cũ và mới, làm trong suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000 kilô mét...

Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000 kilô mét ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, vượt cả sông, suối sâu, núi cao, có ngọn hơn 1000 mét, đủ sức tiếp dầu cho hàng chục ngàn xe các loại vào, ra trên đường...”

Khi sửa chữa lại con đường 14 do người Pháp làm, thường được Hà Nội gọi là đường Đông Trường Sơn, có hai cái chốt phải nhổ mới có thể khai thông được, đó là THƯỜNG ĐỨC ở phía tây Đà Nẵng và ĐỨC LẬP, ở phía tây Ban Mê Thuột. Trong cuốn “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” Tướng Trần Văn Trà cho biết vào tháng 10 năm 1974, ông và Phạm Hùng ra Bắc họp, Bộ Chính Trị đă ra lệnh tại Nam Tây Nguyên phải mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt. Năm 1976 sẽ bắt đầu đánh lớn.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và bộ tham mưu của ông không hề hay biết ǵ đến chiến lược này nên không có kế hoạch bảo vệ Thường Đức và Đức Lập để ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng quân.

5.- MỸ ĐÁNH LỪA TỔNG THỐNG THIỆU

Trong cuốn “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có kể lại rằng ông có được đọc trong “Pḥng T́nh H́nh” của Dinh Độc Lâp một tập báo cáo của Tướng John Murray do Bộ Tổng Tham Mưu tŕnh lên, trong đó ghi những điểm mà ông nhớ được như sau:

- Nếu mức độ quân viện là 1,4 tỷ th́ có thể giữ được tất cả những khu đông dân cư của cả bốn Vùng Chiến Thuật.

- Nếu là 1,1 tỷ th́ Quân Khu I phải bỏ;

- Nếu là 900 triệu th́ khó ḷng giữ được QK I và II, hoặc khó đương đầu với cuộc tấn công của Bắc Việt…

Tướng John E. Murray là người lănh đạo Cơ Quan Tùy Viên Quân Sự (Defense Attaché Office –DAO) của Mỹ tại Việt Nam từ tháng 1/1973 đến tháng 8/1974 và Tướng Homer D. Smith là người sau cùng. Thông thường, các báo cáo của DAO không hề được tiết lộ cho chính phủ VNCH biết, tại sao nó lại lọt vào Bộ Tổng Tham Mưu? Phải chăng Hoa Kỳ muốn dụ Tổng Thống Thiệu bỏ Quân Khu I và Quân Khu II?  Theo nội dung ông Nguyễn Tiến Hưng nhớ được, chúng ta thấy đây chỉ là một bản phân tích t́nh h́nh chứ không phải là một giải pháp hay một kế hoạch hành động được đề nghị. Nhưng Tổng Thống Thiệu lại dựa vào đó để quyết định số phận của Miền Nam!

Khi số viện trợ rút xuống c̣n 700 triệu, ông quyết định chỉ giữ phần đất từ Tuy Hoà trở vào và giao cho Trung Tướng Đặng Văn Quang và Chuẩn Tướng Ted Serong (một tướng chống du kích người Úc) lập kế hoạch h́nh thành một pḥng tuyến mới từ Tuy Hoà đến Tây Ninh và gọi đó là chiến lược “DẦU BÉ ĐÍT TO hay “Từng chiến lược cho từng mức viện trợ” và “tái phối trí”, đó là bỏ Vùng I và Vùng II, rút quân về lập pḥng tuyến ở Tuy Ḥa.

Cuối năm 1974, kế hoạch này đă được tiết lộ tại Sài G̣n. Tôi nhớ một số nhà chính trị đă họp tại văn pḥng Luật sư Mai Văn Lễ ở đường Pasteur để bàn về tin đồn này. Tất cả đều đi đến kết luận rằng kế hoạch đó nếu có sẽ là một kế hoạch bất khả thi v́ hai lư do: Lư do thứ nhất, Tuy Ḥa không phải là địa thế có thể làm pḥng tuyến, nhất là sau khi bỏ Cao Nguyên. Lư do thứ hai, việc rút quân không thể thực hiện được, trừ khi có một hiệp định phân chia lại lănh thổ và rút quân như Hiệp Định Genève năm 1954. Không ngờ chuyện đó lại có thật! Ông Thiệu v́ yếu kém cả về chính trị lẫn quân sự, đă theo đuổi một kế hoạch không tưởng, làm mất Miền Nam chỉ trong 40 ngày.

Ngày 7.8.1974 Thường Đức bị mất.

Ngày 6.1.1975 Phước Long thất thủ.

Ngày 9.3.1975 Cộng quân chiếm Đức Lập và ngày 10.3.1975 chiếm Ba Mê Thuột.

Sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, ngày 14.3.1975 Tổng Thống Thiệu cùng với các tướng Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang và Cao Văn Viên đến Cam Ranh họp với Tướng Phạm Văn Phú và ra lệnh rút khỏi Kontum và Pleiku. Ông Thiệu nói rằng “phải rút nhanh để tập trung quân phản kích lấy lại Ban Mê  Thuột theo đường 21, lấy Khánh Dương làm bàn đạp.” Con đường để rút là Liên Tỉnh Lộ 7B nối liền Pleiku và Phú Yên v́ không c̣n con đường nào khác. Đây là một con đường đă bị bỏ từ lâu.

Để bảo đảm bí mật tuyệt đối, Tổng Thống Thiệu ra lệnh không làm văn bản, chỉ truyền khẩu lệnh, cấm không tiết lộ cho Mỹ biết. Cũng không được tiết lộ cho địa phương quân và các tiểu khu, tức là bỏ các đơn vị này. Đây là một cuộc rút quân bi thảm nhất trong chiến tranh Việt Nam. Cuộc rút quân bắt đầu từ ngày 15.3.1975 đến ngày 20 th́ tan ră.

Theo tài liệu của Hà Nội, trong cuộc rút quân khỏi Cao Nguyên, họ đă loại khỏi ṿng chiến 28.514 sĩ quan và binh sĩ QLVNCH, trong số đó có 4.502 chết hoặc bị thương, 16.822 bị bắt làm tù binh, trong đó có 779 sĩ quan. Họ đă thả ra 7.190 người.

Tài liệu của VNCH ước lượng trong khoảng 160.000 người chạy theo đoàn xe di tản, chỉ có khoảng 60.000 tới được Tuy Ḥa. Số c̣n lại chết trong rừng hay phải quay trở lại Pleiku. Sáu Liên Đoàn Biệt Động Quân với khoảng 7.000 quân, chỉ có 900 về đến Nha Trang và đóng trong thành phố.

Ngày 19.3.1975 thành phố Quảng Trị bị thất thủ.

Ngày 25.3.1975 Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng rút khỏi thành phố Huế. Đoàn quân di tản bị đánh chận ở đèo Hải Vân, cửa Tư Hiền và cửa Thuận An nên tan ră.

Ngày 29.3.1975 thành phố Đà Nẵng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, bị tấn công và thất thủ. Rối loạn xảy ra. Tướng Ngô Quang Trưởng phải bơi ra khơi để được một tàu Hăi Quân vớt.

Ngày 31.3.1975, thành phố Quy Nhơn và Nha Trang rơi vào tay Cộng Quân.

Ngày 1.4.1975, thành phố Tuy Ḥa thuộc tỉnh Phú Yên bi thất thủ.

Ngày 15.4.1975 pḥng tuyến Phan Rang được thiết lập do Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi chỉ huy. Nhưng ngày 15 Cộng quân đă chiếm Phan Rang, Tướng Vĩnh Nghi bị bắt.

Đêm 20 rạng ngày 21.4.1975, Sư Đoàn 18 bảo vệ Xuân Lộc được lệnh rút về bảo vệ Sài G̣n.

6.- TỔNG THỐNG THIỆU TỪ CHỨC

Trong cuốn “Decent Interval”, Frank Snepp, trưởng nhóm phân tích viên của CIA ở Saigon lúc đó, đă kể chuyện Đại Sứ Martin đến thuyết phục Tổng Thống Thiệu từ chức, đại khái như sau:

Để thúc đẩy Tổng Thống Thiệu ra đi, Đại Sứ Martin đă đến gặp ông ta và nói rằng ông muốn nói chuyện với tư cách cá nhân chứ không phải thay mặt Tổng Thống hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và cũng không phải với tư cách Đại Sứ Hoa Kỳ. Ông nói rằng t́nh h́nh quân sự cực kỳ xấu và dân chúng đổ cho ông ta. Những người cùng phe với ông ta hay phe đối nghịch với ông ta đều nói ông bất lực trong việc đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Các tướng lănh của ông ta, mặc dầu quyết tâm chiến đấu, đều cho rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa nếu không có một cuộc đàm phán với phía bên kia. Các tướng sẽ yêu cầu ông ra đi nếu ông không chịu từ chức lúc này. Cuộc nói chuyện kéo dài một tiếng rưởi.

Cho đến giờ phút này Tổng Thống Thiệu vẫn chưa nhận ra được Miền Nam sắp mất, ông c̣n hỏi Đại Sứ Martin: “Nếu tôi từ chức, viện trợ Mỹ có đến không?” Đại Sứ Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng có thể có”.

Khi Đại Sứ Mattin từ biệt, ông Thiệu nói ông ta sẽ làm điều mà ông ta nghĩ là có lợi nhất cho đất nước.” (He would do what he though was the best for the country).

Ngày 21.4.1975, Tổng Thống Thiệu xuất hiện trên hệ thống truyền thanh và truyền h́nh trong nước tuyên bố từ chức sau khi chửi Mỹ phản bội và trao chức Tổng Thống lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương.

7.- ĐÁNH LỪA ÔNG HƯƠNG VÀ TƯỚNG MINH.

Thúc đẩy được ông Thiệu từ chức rồi, các viên chức Hoa Kỳ gặp khó khăn khác là thuyết phục ông Trần Văn Hương trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh để tuyên bố đầu hàng. Frank Snepp mô tả t́nh trạng ông Hương lúc đó như sau: “Tổng Thống mới Trần Văn Hương, 71 tuổi, bị  liệt, gần như mù, thề đứng vững cho đến khi “quân đội bị tiêu diệt hay là nước mất”! (tr. 396).

Ông Hương không hiểu ǵ về t́nh h́nh, tưởng cờ đă đến tay nên nhất định đ̣i phất. Ông đă bí mật đến gặp Tướng Dương Văn Minh và yêu cầu Tướng Minh làm Thủ Tướng, nhưng Tướng Minh từ chối. Người Mỹ lại phải ra tay.

Frank Snepp cho biết sáng 20.4.1975, Đại Sứ Mattin đă đi gặp Đại Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Ông nói với Đại Sứ Merillon rằng ông được phái bộ CIA cho biết t́nh h́nh không c̣n cứu văn được. Nếu Hà Nội quyết định đánh nhanh, không giữ nổi một tháng, dù có bảo vệ tốt. Mặc dầu Hà Nội muốn chiếm Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn thấy Sài G̣n đổ nát, nhưng không nên loại trừ khả năng thứ hai nếu không đi đến thương lượng. Đại Sứ Mérillon đă giúp rất tận t́nh trong vấn đề này.

Đại Sứ Merillon đă cho cả ông Hương lẫn Tướng Minh biết rằng t́nh h́nh không c̣n cứu văn được và phải nói chuyện với “phía bên kia” để t́m một giải pháp, nhưng bên kia chỉ nói chuyện với Dương Văn Minh nên phải trao quyền cho Tướng Minh. Người Pháp hứa sẽ đứng ra làm trung gian cho cuộc thương thuyết này. Cuối cùng ông Hương cũng đồng ư trao quyền cho Tướng Minh với điều kiện phải có sự quyết định của Quốc Hội.

Trong khi đó, Frank Snepp cho biết Tướng Timmes đă đi gặp Tướng Minh và hỏi quan điểm của ông ta về tương lai, Tướng Minh cười và trả lời: “Vẫn c̣n cơ hội cho các cuộc thương thuyết…” (There was still a chance for negotiations, tr. 458). Frank Snepp nói rằng không ai tin đến giờ phút đó Việt Cộng c̣n chấp nhận đàm phán. Chúng ta biết Tướng Thiệu và ông Hương không bao giờ chịu tuyên bố đầu hàng nên Mỹ phải t́m cách đưa Tướng Minh ra làm hàng Tướng!

Ngày 26.4.1975 lưỡng viện Quốc Hội đă họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sĩ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tổng Giám Đốc CSQG, tŕnh bày về t́nh h́nh, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, v́ cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường dưới sự chỉ đạo của CIA đă hoạt động rất ráo riết nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đă biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151.

8.- TƯỚNG MINH NHẬN CHỨC

Chiều 28.4.1975, vào lúc 17 giờ 50, Tướng Dương Văn Minh đă nhận chức Tổng Thống. Lễ bàn giao được diễn ra tại Pḥng Khánh Tiết của Dinh Độc Lập lúc 17 giờ, có trực tiếp truyền thanh. Tướng Minh cử Luật sư Vũ Văn Mẫu thuộc “thành phần thứ ba” làm Thủ Tướng. Đáng lẽ ra chính phủ Vũ Văn Mẫu làm lễ ra mắt trong ngày 29.4.1975, nhưng Bác Sĩ Hồ Văn Minh coi bói và cho biết ngày 30.4.1975 ra mắt chính phủ mới tốt, nên cả Tướng Minh lẫn Luật sư Mẫu đồng ư như vậy!

Sau đó, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân, vào Dinh Hoa Lan gặp Tướng Minh cho biết t́nh h́nh và hỏi Tướng Minh có định ra đi không. Tướng Minh cho con gái là Dương Mai, con rễ là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài và hai cháu ngoại lên tàu di tản với Đô Đốc Cang, c̣n ông và bà Minh ở lại.

Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, đă ra đi vào chiều 28.4.1975 với Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ, Trưởng Pḥng 3. Sáng 29.4.1975, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận, và Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô cũng ra đi.

Được tin này, Tướng Dương Văn Minh yêu cầu Trung Tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng, nhưng Trung Tướng Lộc đề nghị giao chức này cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Tướng Minh từ chối với lư do Tướng Trưởng bỏ chạy khỏi Vùng I đang gây hoang mang. Cuối cùng Tướng Lộc nhận. Tướng Minh liền tạm thời chỉnh đốn lại Bộ Tổng Tham Mưu như sau: Trung Tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng; Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng đặc trách hành quân; Đại Tá Hồ Ngọc Nhân, Quyền Tham Mưu Trưởng Liên Quân; Thiếu Tướng Lâm Văn Phát Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, v.v.

Trong khi đó, vào lúc 11 giờ 30, ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh Sài G̣n đọc công hàm của Tổng Thống Dương Văm Minh yêu cầu các nhân viên Cơ Quan Tùy Viên Quân Sự (DAO) thuộc Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n rút khỏi Việt Nam trong ṿng 24 tiếng đồng hồ kể từ ngày 29.4.1975. Nguyên văn công hàm đó như sau:

Thưa ông Đại Sứ,

“Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại Sứ vui ḷng ra chỉ thị cho các nhân viên của Cơ Quan Tùy Viên Quốc Pḥng DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29.4.1975 để vấn đề Hoà B́nh Việt Nam sớm được giải quyết.”

Đại Sứ Martin liền thông báo cho Tổng Thống Minh rằng ông “đă chỉ thị như ngài yêu cầu”. Ông yêu cầu Tổng Thống Minh ra lệnh cho quân đội VNCH dành mọi sự dễ dàng cho việc di chuyển các nhân viên DAO. Sau này người ta mới biết Tổng Thống Minh đă gởi công hàm nói trên theo lời yêu cầu của Đại Sứ Martin, c̣n Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng lời yêu cầu như vậy là để cho Mỹ có cái “danh chính ngôn thuận” ra đi.

9.- ĐÊM ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG TẠI DINH ĐỘC LẬP

Đêm 29.4.1975, Tướng Minh vào ngũ trong Dinh Độc Lập để tránh pháo kích. Ông Vũ Ánh, Chánh Sự Vụ Sở Thời Sự Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, lúc đó đang ở đài phát thanh Sài G̣n, cho biết khoảng 4 giờ sáng, Tổng Thống Minh đă gọi ông và hỏi có tin tức ǵ mới liên quan đến Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ trên những bản tin viễn ấn hay không. Ông Ánh trả lời rằng ngoại trừ một bản tin rất ngắn của hăng thông tấn UPI cho biết mọi liên lạc giữa Ṭa Đại Sứ Mỹ và chính phủ Vũ Văn Mẫu bị cắt đứt, không có tin tức nào khác.

Dân biểu Lư Quư Chung, người luôn đi cạnh Tướng Minh, cho biết sau khi nhận chức, Tướng Minh đă cho đi t́m Đại Sứ Pháp Merillon để hỏi xem việc liên lạc với “phía bên kia” nhưng thế nào, nhưng Đại Sứ Merillon đă biến mất.

Lúc đó, Tướng Minh chỉ c̣n hy vọng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Tướng Nguyễn Hữu Có kể lại, lúc 4 giờ 35 sáng ngày 30.4.1975, Tướng Minh đă gọi cho Thích Trí Quang th́ Thích Trí Quang trả lời:

Thưa Tổng Thống, cũng như Tổng Thống là tôi vẫn chờ đến giờ nầy và theo tôi nghĩ có lẽ với t́nh thề hiện tại, trong sứ mạng của tôi, người đứng trung gian bắc nhịp cầu của thế cờ chính trị, có thể nói là chấm dứt. Với trọng trách là Tổng Thống, hơn nữa là một Đại Tướng, tôi nghĩ công việc phải nhờ vào tài quân sự của Đại Tướng, chứ giải pháp chính trị của tôi coi như chấm dứt, và từ giờ phút này nếu có chuyện ǵ xẩy đến th́ mọi trách nhiệm đều do Tổng Thống, à quên Đại Tướng quyết định với giải pháp quân sự, mà trong lănh vực này Đại Tướng rất rành và giỏi hơn tôi. Xin chào Tổng Thống...”

Tướng Minh chỉ trả lời gọn một câu Thầy giết tôi rồi!” và cúp máy điện thoại.

10.- THAY V̀ RA MẮT CHÍNH PHỦ LẠI TUYÊN BỐ ĐẦU HÀNG

Lúc 8 giờ 30 ngày 30.4.1975, Tướng Minh đến Phủ Thủ Tướng ở số 7 đường Thống Nhất để họp với  chính phủ Vũ Văn Mẫu và xem xét t́nh h́nh.

Giáo Sư Bùi Tường Huân, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Pḥng của chính phủ Vũ Văn Mẫu, đă kể với tôi rằng sáng 30.4.1975, khi tân Nội Các họp tại Dinh Thủ Tướng để chuẩn bị đến Dinh Độc Lập làm lễ ra mắt th́ Tướng Dương Văn Minh có bảo ông và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Pḥng, liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu xem t́nh h́nh quân sự như thế nào. Tướng Có gọi điện thoại đến Văn Pḥng Tổng Tham Mưu Trưởng nhưng không ai trả lời. Một lúc sau, có một người nhấc điện thoại lên. Tướng Có hỏi anh ta là ai. Anh ta trả lời anh là một Trung Sĩ làm việc trong Bộ Tổng Tham Mưu, đi ngang nghe điện thoại reo dữ quá, anh đến nhắc lên xem có chuyện ǵ không, v́ trong Văn Pḥng Tổng Tham Mưu không c̣n ai cả. Tướng Có nhờ anh ta ra xem xung quanh có sĩ quan nào cao cấp c̣n đứng đó không. Anh ta đi một ṿng th́ thấy có cựu Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Anh liền báo tin cho Tướng Có biết. Dương Văn Minh nghe được, liền bảo gọi cựu Chuẫn Tướng Hạnh đến nói chuyện với ông. Khi nói chuyện với Tướng Hạnh, Dương Văn Minh mới biết Tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng đă đi lúc 5 giờ 30 sáng rồi. Tướng Lâm Văn Phát, Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô cũng đă biến mất. Tướng Hạnh cho biết không c̣n liên lạc được với đơn vị nào cả.

Khoảng 9 giờ 30, khi Tướng Hạnh báo cáo t́nh h́nh không c̣n ǵ để hy vọng nữa, Dương Văn Minh bàn với nội các rồi quyết định đầu hàng. Ông yêu cầu đài phát thanh Sài G̣n cử người sang số 7 đường Thống Nhất để thu thanh một lời hiệu triệu rất quan trọng. Ông Vũ Ánh đă cử phóng viên Lê Phú Bổn và kỹ thuật viên Hồ Ổn đi làm công tác này.

Lời kêu gọi do Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu soạn thảo, nhưng khi Tướng Minh đọc, v́ quá xúc động, bị vấp nhiều chỗ phải thu đi thu lại đến 3 lần. Lúc 10 giờ 15, cuốn băng này đă được phát trên đài phát thanh Sài G̣n, nguyên văn như sau:

Đường lối chủ trương của chúng tôi là ḥa giải và ḥa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự ḥa giải của người Việt Nam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam. V́ lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng ḥa hăy b́nh tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”.

Tướng Minh cũng bảo Tướng Hạnh lấy tư cách Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng đọc nhật lệnh ra lệnh cho tất cả các đơn vị c̣n lại buông súng. Nhật lệnh của Tướng Hạnh như sau:

Tổng Thống đă quyết định bàn giao chính quyền. Yêu cầu các đơn vị buông súng, trực tiếp tiếp xúc với lực lượng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời đối diện để trao lănh thổ. Cố gắng tránh đổ máu.”

Sau đó Tướng Minh và nội các trở về Dinh Độc Lập để đợi “phía bên kia” vào và bàn giao.

11.- NHỮNG DIỄN BIẾN SAU CÙNG

Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng T-54 đầu tiên của Cộng quân tiến trên đại lộ Thống Nhứt đi về phía Dinh Độc Lập, ủi sập một cánh cổng đă mở, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên ṇng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi pḥng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.

Khi mọi người chưa kịp làm ǵ tiếp th́ Trung Tá Bùi Tùng, Chính Ủy Lữ Đoàn Xe Tăng 203 tới. Ông Minh thấy ông Tùng người to cao th́ lễ phép chào và nói: “Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào lâu rồi để bàn giao chính quyền”. Trung Tá Tùng nói: “Các ông là người bại trận. Các ông không c̣n ǵ để bàn giao mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện”.

Ông Tùng buộc Tổng Thống Dương Văn Minh và Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh Sài G̣n tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Bản tuyên bố đầu hàng do Chính Trị Viên Bùi Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30:

Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài G̣n, kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng ḥa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài G̣n từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam

Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu phát biểu tiếp theo:

Trong tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ Tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hăy vui vẻ chào mừng ngày ḥa b́nh của dân tộc, và trở lại sinh hoạt b́nh thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.

Rồi đến lời của Chính ủy Bùi Tùng:

Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài G̣n đă được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài G̣n.”

Sau đó, bộ đội đưa Tướng Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu về lại Dinh Độc Lập. Tối 2.5.1975, Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam tổ chức buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập. Tính lại, Dương Văn Minh đă làm Tổng Thống chỉ trong 36 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 tuyên bố đầu hàng!

12.- CUỘC CHIẾN VẪN C̉N…

Ngày 23.4.1975, trong bài diễn văn đọc tại Đại Học Tulane ở New Orleans, Luisiana, Tổng Thống Gerald R. Ford tuyên bố: Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam đă chấm dứt” (The Vietnam War to be over for the United States). Thính giả vỗ tay hoan nghênh.

Trong cuộc họp báo ngay sau đó, ông lại nói: “Đối với tôi xem ra nó đă chấm dứt, chúng ta phải nh́n về phía trước (It seems to me that it's over, we ought to look ahead).

Nhưng đối với người Việt đấu tranh, cuộc chiến tranh đó vẫn c̣n và cũng như trước 30.4.1975, đa số vẫn bám vào Hoa Kỳ với sự tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ giúp họ loại bỏ chế độ cộng sản và xây dựng tự do dân chủ trên quê hương.

Tuy nhiên, những ḍng lịch sử đă được chúng tôi tóm lược trên cho thấy trước 30.4.1974, VNCH có chính phủ, có lănh thổ, có quân đội trên 1.200.000 người được trang bị đầy đủ và huấn luyện kỹ càng, có quyết tâm loại bỏ chế độ cộng sản, thế nhưng v́ quyền lợi của nước Mỹ, Hoa Kỳ đă đem Miền Nam bán cho Trung Quốc và dùng những thủ đoạn rất tinh vi để làm Miền Nam biến mất đúng thời hạn rồi nói mất Miền Nam là do sự bất tài (incompetence) của các nhà lănh đạo Miền Nam.

Ngày nay, số người Việt tỵ nạn trên thế giới được ước lượng khoảng 3,7 triệu, trong đó có khoảng 1.642.000 người đang ở Hoa Kỳ. Đây là một cơ cấu đấu tranh chính trị không có lănh đạo, không có tổ chức, không có chiến lược và chiến thuật…, nhưng ai cũng có thể tự xưng là lănh tụ và sẵn sàng chụp nón cối lên bất cứ ai có dấu hiệu tranh giành vị thế hay quyền lợi của họ, hay có những chính kiến bất đồng với họ. Vơ khí đấu tranh chính vẫn là tuyên ngôn, tuyên cáo hay thỉnh nguyện thư, và nhiều khi c̣n dùng cả nón cối để “chống cộng”!

Một khó khăn quan trọng khác là sự khác biệt về chủ trương và đường lối giữa Hoa Kỳ và người Việt đấu tranh: Trong khi đa số người Việt hải ngoại quyết tâm duy tŕ chủ trương BỐN KHÔNG, th́ Hoa Kỳ lại chủ trương BỐN CÓ. Hôm 25.7.2013, Tổng Thống Obama và Chủ Tịch Trương Tấn Sang đă tuyên bố xác lập quan hệ đối tác toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Nhiều dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ muốn biến CHXHCNVN thành một tiền đồn ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống Đông Nam Á gióng như đă biến VNCH ngày xưa. Liệu rồi người Việt đấu tranh ở hải ngoại c̣n có thể nhờ Hoa Kỳ lật đổ chế độc cộng sản VN hay không, hay lại sẽ bị biến thành công cụ cho từng giai đoạn?

Thủ tướng Anh W. Churchil  (1940-1945) đă nói:

"Kẻ bi quan nh́n thấy những khó khăn trong từng cơ hội, c̣n người lạc quan lại nh́n thấy những cơ hội trong mỗi khó khăn."

Trong Hệ Từ Hạ truyện, Khổng Tử có viết: "Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu", có nghĩa là cùng cực th́ sẽ biến hóa, biến hóa th́ sẽ thông, khi đă thông th́ sẽ lâu bền. Nhưng các nhà nghiên cứu về di dân của Hoa Kỳ cho biết thế hệ di dân thứ nhất ít có khả năng thay đổi khi đến Mỹ. Đa số vẫn c̣n suy nghĩ và hành động như khi c̣n ở trên quê hương của họ. Nói cách khác, họ rất khó BIẾN. Các chính khách Mỹ thường vuốt đuôi họ để kiếm phiếu chứ không quan tâm đến mục tiêu của họ. Thế hệ thứ hai trở đi sẽ đi vào ḍng chính và gần như không c̣n quan tâm đến nơi họ phát xuất.

Mặc dầu vậy, để kết thúc bài này, chúng tôi xin mượn lời sau đây của Tổng Thống John F. Kennedy để nhắc nhở người Việt đấu tranh: “Thay đổi là luật của cuộc sống. Và những kẻ chỉ nh́n vào quá khứ chắc chắn sẽ mất tương lai (Change is the law of life. And those who look only to the past are certain to miss the future).

Ngày 28.4.2015

Lữ Giang

 

                                 

                                                                                                                               

 

***


VÙNG LÊN DẪU PHẢI HY SINH


(Bài thơ này xin được là sự cảm thông, là niềm chia sẻ và cũng là tiếng kêu tha thiết, đau thương gởi về quê hương và đồng bào Việt Nam. Mong những người đảng viên yêu nước, những người chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Cộng Sản, những người công an có trái tim tiến bộ đă thức tỉnh và đă đau ḷng v́ thực chất dă man lừa mị của Đảng CSVN, xin mau can đảm và oanh liệt đứng lên làm cuộc cách mạng, viết lại trang sử  thật sự hào hùng v́ thời điểm đă đến để cứu dân, cứu nước trước khi qúa muộn.)
 
 
Công an Việt cộng giết người
Nghi Sơn, Mai Động lại nơi Cồn Dầu ( 1)
Lỗi dân chẳng thấm vào đâu
Công an, lệnh đảng hiểm sâu th́ đầy
Luật rừng Đảng nắm trong tay
Đă ḷng dă thú lại say máu người
Cuối cùng, chỉ khổ dân thôi
Thấp cổ bé miệng, kêu trời, trời cao !
Cơn đau chưa ngớt lệ trào
Hờn oan ngập mộ, máu đào c̣n tươi
Sao thêm cơ khổ, hỡi trời
Công an giết nữa, giết người Bắc Giang ! (2)
Lái xe thiếu mũ an toàn
Mà công an lại giết oan mạng người !
Anh nh́n em chết, hồn tơi
Mẹ nh́n con chết, nát đời theo con 
Công an thỏa dạ, cười gịn
Mừng nhau thành tích vuông tṛn, kém ai
Tin buồn, Tỉnh để ngoài tai
Rượu nồng, thịt béo cho dài cuộc vui 
Mặc dân oan khổ dập vùi
Mặc công an cứ giết người tàn hung
Ngai vàng Đảng vẫn ...anh hùng
Trên ngôi cao Đảng xé tung sơn hà
Đảng đem máu thịt Ông Cha
Tây Nguyên, Quan - Giốc, Hoàng Sa dâng Tàu !
Dân, ai xót nước, ḷng đau
Đảng kêu phản động nhốt mau vô tù !
Hay là vẽ tội, đảng vu
Đem dân giết kiểu oán thù, dă man !!!
 *
V́ Hồ mà nước Việt Nam
Người dân chết với hờn oan ngập trời ! ...
Ba miền dân tộc ta ơi
Vùng lên lấy lại cuộc đời ... Vùng lên !!!
Nếu ta khuất phục bạo quyền
Là cho phép đảng ngang nhiên giết ḿnh !

Vùng lên, dẫu phải hy sinh
Mà lưu hậu thế công tŕnh ngàn thu !!!

-Ngô Minh Hằng (thơ)

**
 1 - 
a- Ngày 3 tháng 7 năm 2010 anh Nguyễn Năm, giáo dân thuộc ban tang lễ giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng khi được công an thả ra, về đến nhà th́ chết, khi tẩm liệm thân nhân phát hiện miệng và tai nạn nhân c̣n trào máu tươi ra chứng tỏ đă bị đánh đập chấn thương sọ năo. Ông Năm là một trong số những người bị công an thành phố Đà Nẵng điều tra liên quan đến sự chống đối của người dân trong đám ma của một bà cụ hồi đầu tháng 5.

b-  Nguyễn Quốc Bảo, 33 tuổi, trú tại tổ 5 phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội, khi được công an quận Hai Bà Trưng “mời” lên làm việc vào chiều ngày 21 tháng 1, 2010, đến rạng sáng ngày 22 tháng 1 đă bị tử vong trên đường tới BV Thanh Nhàn với rất nhiều dấu vết trên thân thể chứng tỏ đă bị nhục h́nh.

c - Ngày 25 tháng 5 năm 2010 công an ở Nghi Sơn, khi đàn áp dân biểu t́nh chống cưỡng chế đất đai đền bù bất công, đă bắn chết một học sinh 12 tuổi. Một nạn nhân khác bị bắn trúng đầu đă chết ở bệnh viện ngày 30 tháng 5, 2010.
 
Ngoài ra, ngày 8 tháng 6 năm 2010, người ta phát hiện xác một người dân nằm ở ven quốc lộ 6A huyện Chương Mỹ, Hà Nô.i. Cuộc điều tra cho thấy anh Nguyễn Phú Trung, 41 tuổi, đă bị một nhóm công an đánh gẫy xương sườn, vỡ nội tạng mà chết.

2 - Khoảng 18 giờ ngày 23/7 anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê xă Hồng Thái, huyện Việt Yên đi xe máy biển kiểm soát 98M9-3894 chở chị Phạm Thị Ngoăn, 20 tuổi, quê xă Mỹ Hà, huyện Lạng Giang (cùng tỉnh Bắc Giang ) v́ có lỗi vi phạm an toàn giao thông trên đường 398 thuộc địa phận thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên. Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên bắt giữ v́ không đội mũ bảo hiểm. Công an đă đưa phương tiện và người vi phạm vào trụ sở để lập biên bản xử lư.  Đến 2 giờ 30 ngày 24/7, công an bàn giao tử thi cho gia đ́nh anh Khương mai táng. Thi thê? anh Nguyễn Văn Khương có nhiều dấu vết chứng to? bi. công an đánh chết và loan tin anh chết do xư? dụng ma túy.

  -Ngô Minh Hằng (thơ)