báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Diễn đàn                                                             

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 


Cải Cách Ruộng Đất


Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

***

Lữ Giang

70 năm nh́n lại:

Mục tiêu và thủ đoạn của

cuộc Cải cách Ruộng đất tại miền Bắc

Năm 1954, sau khi lên nắm chính quyền ở miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, nhà cầm quyền CSVN đă thực hiện ngay cuộc Cải cách Ruộng đất kéo đài đến năm 1956, gây kinh hoàng cho toàn miền Bắc. Trong 70 năm qua, đă có hàng trăm sách hoặc bài viết nói về biến cố này, và các tài liệu liên quan đến biến cố đó cũng đă được tiết lộ khá nhiều. Nhưng điều quan trọng là phải xác định một cách chính xác MỤC TIÊU của nhà cầm quyền cộng sản khi thực hiện chiến dịch Cải cách Ruộng đất và CÁC THỦ ĐOẠN TINH VI và DĂ MAN đă được xử dụng để đạt mục tiêu đó.

Đây là một biến cố quan trọng mở đầu cho việc thực hiện chủ nghĩa xă hội tại Việt Nam, nên chúng tôi đă cố gắng sưu tra tài và nh́n lại biến cố này sau 70 năm với hy vọng góp phần vào việc làm sáng tỏ một giai đoạn đen tối trong lịch sử của đất nước.

                                        ooOoo

Cuộc cải cách ruộng đất từ 1946 đến 1957, nhất là trong các năm 1954, 1955 và 1956, do nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam thực hiện đă đưa miền Bằc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra vào những ngày đen tối chưa từng thấy trong lịch sử của đất nước. Trong bài “Tṛ chuyện với một nhân chứng sống của Cải cách Ruộng đất” được đăng trên trang nhà của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) ngày 22.9.2014, phóng viên Trà My đă viết:

“Với sự hướng dẫn, giúp đỡ của cộng sản Trung Quốc và Liên Xô, chiến dịch Cải cách Ruộng đất của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa dưới sự lănh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đảng Lao động Việt Nam tức đảng Cộng sản hiện nay với mục tiêu xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt địa chủ và các thành phần bị xem là ‘bóc lột, phản quốc’, để chia lại ruộng đất cho dân cày, lập nền chuyên chính vô sản, nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xă hội.

Chiến dịch đấu tố thảm sát tàn bạo này đă gây ra bầu không khí nồi da xáo thịt kinh hoàng khi đồng bào - đồng loại truy quét, thảm sát, tận diệt lẫn nhau; khi những người cùng huyết thống trong gia đ́nh đấu tố, vu cáo, ám hại nhau giẫm đạp luân thường đạo lư.

Sự khủng khiếp ấy đă được bộc lộ rơ nét qua mấy vần thơ của Tố Hữu:

«Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,

Cho Đảng bền lâu cùng rập bước tơ ḷng,

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sit-ta-lin bất diệt!»

Trong phần dưới đây chúng tôi xin ghi lại những nét chính của cuộc cải cách ruộng đất này để đọc giả có một cái nh́n tổng quát về các diễn biến của biến cố đó, các thủ đoạn mà nhà cầm quyền cộng sản đă áp dụng và những hậu quả của nó.

I.- T̀NH TRẠNG RUỘNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM NĂM 1953

Theo tài liệu thống kê của nhà cầm quyền CSVN, t́nh trạng sở hữu về điền thổ trên toàn lănh thổ Việt Nam trong năm 1953 như sau:

Địa chủ:      23,0% dân số, chiếm  18% ruộng đất,

Phú nông:     1,6% dân số, chiếm 4,7% ruộng đất,

Trung nông: 36,5% dân số, chiếm 39% ruộng đất,

Bần nông:    43,0% dân số, chiếm 25,4% ruộng đất,

Cố nông:      13,0% dân số, chiếm 6,3% ruộng đất,

Các thành phần khác: 6% dân số, chiếm 1% ruộng đất,

Ruộng công và bán công: chiếm 4,3%

Ruộng nhà chung: chiếm 1,3%.

Cũng theo tài liệu thống kê của nhà cầm quyền CSVN, số ruộng đất được đem phân chia cho nông dân từ 1945 – 1953 như sau:

Tại miền Bắc: 26.000 hecta của Pháp, 156.600 hecta của địa chủ, 3.200 hecta của nhà chung và 289.000 hecta đất công và bán công. Tính tổng cộng, số ruộng đất đă đem chia cho nông dân chiếm 58,8%

Tại Nam Bộ: tính đến năm 1953, số ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ phản động được đem chia cho nông dân là 460.000 hecta.

[Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm và Lê Mậu Hăn, “Đại cương lịch sử Việt Nam toàn tập”, Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 2001, tr. 921 – 924].

II.- CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Trong Bản Tuyên ngôn (Manifesto) của Đảng Cộng sản Quốc tế 1948 (Phần IV), Karl Marx đă coi “cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc”. Khi Pháp vẫn c̣n xâm chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh đă kư và ban hành Sắc Luật số 78/SL ngày 14.7.1949 về Giảm Tô (tức giảm số thóc gạo mà nông dân phải trả cho người chủ đất), và Sắc Luật số 42/SL ngày 1.7.1951 về chính sách nông nghiệp của chính quyền kháng chiến, ấn định toàn bộ chính sách thuế khóa, gồm cả thuế công thương nghiệp, thuế sát sinh, thuế lâm thổ sản, thuế xuất nhập cảng…

Vơ Nguyên Giáp kể lại rằng vào tháng 4/1950, Hồ Chí Minh về Việt Bắc làm việc với Ban Thường Vụ Trung Ương:

Bác nói với chúng tôi:

“Liên Xô phê b́nh ta chậm làm cách mạng thổ địa. Đồng chí Stalin trỏ hai chiếc ghế rồi hỏi ḿnh: “Ghế này là ghế của nông dân, ghế này là ghế của địa chủ, người cách mạng Việt Nam ngồi ghế nào?”. Tới đây chúng ta phải làm cách mạng ruộng đất. Trung Quốc hứa sẽ giúp ta kinh nghiệm về phát động quần chúng tiến hành cải cách ruộng đất ”.

[Vơ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong ṿng vây. HN, Nxb Quân đội nhân dân, 1995 ; tr. 412].

Ngày 31.10.1952, Hồ Chí Minh đă gửi cho Stalin một văn thư với nội dung như sau:

“Đồng chí Stalin thân mến: Xin gửi ngài chương tŕnh cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam. Chương tŕnh hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Thiếu Kỳ (Lưu Shao Shi) và Vương Giá Tường (Văn Sha San). Xin đồng chí xem xét và cho chỉ thị về vấn đề này.

“Gửi lời chào cộng sản.”

[http://www.rusarchives.ru/evants/exhibitions/vietnam1/22.shtml]

Tại Hội nghị Đảng Lao động Việt Nam toàn quốc lần thứ nhất vào tháng 11/1953, Trường Chinh, Tổng Bí Thư Đảng Lao Động Việt Nam, đă đọc một bản báo cáo nói về chính sách cải cách ruộng đất của Đảng trong đó có những đoạn như sau:

"Cải cách ruộng đất chính là để làm cho kháng chiến mau chóng thắng lợi. Nhân dân làm cách mạng, nhân dân kháng chiến và kiến quốc. Đại đa số nhân dân là nông dân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, phải tiêu diệt đế quốc xâm lược và giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến. Cải cách ruộng đất là một phương pháp chủ yếu đẩy mạnh kinh tế quốc dân phát triển...”

Bản báo cáo cho biết: địa chủ chưa đầy 5% nhân số cùng bọn đế quốc chiếm trên dưới 70% ruộng đất ở Việt Nam, c̣n nông dân gần 90% nhân số mà chỉ có trên dưới 30% ruộng đất. Không đầy 5% địa chủ bóc lột gần 90% nông dân bằng tô cao, lăi nặng,v.v.

[Báo Nhân Dân ngày 1.11.1954].

III.- BAN HÀNH LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT

Ngày 1.3.1953, Ủy Ban Trường Vụ Quốc Hội ban hành nghị quyết về công tác phát động quần chúng thực hiện chính sách ruộng đất.

Ngày 12.4.1953 Chủ Tịch Nước ban hành Sắc Lệnh số 150/SLthành lập Toà Án Nhân Dân Đặc Biệt “ở những nơi phát động quần chúng để đảm bảo việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ ǵn trật tự xă hội, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy kháng chiến đến thắng lợi.”

Điều 2 của Sắc Lệnh quy định rằng nhiệm vụ của Toà Án Nhân Dân Đặc Biệt là “Trừng trị những kẻ phản cách mạng, những cường hào gian ác, những kẻ chống lại hoặc phá hoại chính sách ruộng đất.”

Điều 4 của Sắc Lệnh quy định rằng thành phần Toà Án Nhân Dân Đặc Biệt gồm một Chánh án và từ 6 đến 10 thẩm phán, đa số trung bần cố nông, bần cố nông nhiều hơn trung nông.

Điều 12 của Sắc Lệnh quy định: “Án tù dưới 5 năm do Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh duyệt và do Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh kư vào bản án. Án từ 5 năm tù trở lên chung thân và án tử h́nh th́ do Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu duyệt và do Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu kư vào bản án.”

Cũng trong ngày 12.4.1954, Chủ Tịch Nước ban hành Sắc Lệnh số 151/SL quy định việc “trừng trị những địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất.”

Ngày 4.12.1953, Quốc Hội thông qua Luật cải cách ruộng đất. Ngày 19.12.1953, Hồ Chính Minh đă ban hành Sắc Lệnh số 197/SL công bố Luật Cải Cách Ruộng Đất gồm 5 Chương và 38 Điều. Điều 1 của Sắc Lệnh này cho biết mục tiêu của cuộc cải cách như sau: “Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiém hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ.”

Cũng theo điều 1, việc “thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất” nói trên là để thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển; cải thiện đời sống của nông dân, bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, lực lượng của kháng chiến, và đầy mạnh kháng chiến hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, phát triển công cuộc kiến quốc.”

IV.- THI HÀNH CHÍNH SÁCH

Ngày 15.3.1954, Ban Cải cách Ruộng đất Trung ương được thành lập do Phạm Văn Đồng (Phó Thủ tướng) làm Chủ nhiệm; Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Lao động), Nghiêm Xuân Yêm (Bộ trưởng Canh nông) và  Hồ Viết Thắng ((Thứ trưởng Canh nông, Trưởng ban Liên lạc Nông dân Toàn quốc) làm Phó Chủ nhiệm.

Dựa theo mô h́nh "thổ địa cải cách" của Trung Quốc (1946 – 1949), cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc đă được thực hiện bằng các chiến dịch đấu tranh giai cấp dưới sự chỉ đạo của Trường Chinh, Tổng Bí Thư Đảng, với sự cố vấn của các cán bộ Trung Quốc. Hồ Viết Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng phụ trách điều hành.

1.- Thành lập Đoàn và ĐộI Cải cách Ruộng đất

Các Đoàn Cải cách Ruộng đất được thành lập tại mỗi tỉnh, dưới cấp đoàn có các Đội Cải cách Ruộng đất cho từng xă. Thành phần trong các đoàn và đội được tuyển chọn là các cán bộ cốt cán, các đảng viên trung kiên đă chiến đấu trong bộ đội. Về sau, đa số đội viên toàn là những người trẻ tuổi, cuồng tín, được dồi sọ tư tưởng đấu tranh giai cấp rất kỹ càng nên có sự căm thù địa chủ và cường hào ác bá rất cao, v́ thế chính sách cải cách ruộng đất ngày càng trở nên khốc liệt.

Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là 48.818 người. Sau khi huấn luyện, các đội cải cách được đưa về làng xă và thực hiện chính sách "3 Cùng" là “cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm” với các bần cố nông trong làng xă, rồi kết nạp họ thành "rễ" và thành "cành" của đội, sau đó triển khai chiến dịch từng bước.

2.- Phân loại các thành phần

Các gia đ́nh trong mỗi xă được phân ra thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông (sở hữu hai căn nhà hay có từ 2 con lợn trở lên có thể bị coi là phú nông); (c) trung nông cứng (sở hữu 1 con ḅ, 1 con lợn, 1 đàn gà); (d) trung nông vừa (sở hữu 1 con lợn, 1 đàn gà); (e)trung nông yếu (sở hữu 1 đàn gà hay không có ǵ cả); (f) bần nông và (g) cố nông.

Khẩu hiệu hành động là “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ.” Khẩu hiệu này lấy từ Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ ra đời đầu tháng 4-1931. Trong chỉ thị này có câu “Trí phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, “Đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy những bọn trí phú địa hào. Nếu đồng chí nào muốn làm cách mạng, tự nguyện đứng về phía giai cấp vô sản mà phấn đấu cũng không cho đứng trong Đảng.”

[http://btxvnt.org.vn/cms/?m=16&act=view&id=124]

Chỉ tiêu các thành phần bị đấu tố được ấn định là 5%. Như vậy một xă có 100 gia đ́nh th́ phải có ít nhất 5 gia đ́nh bị quy là địa chủ và phải bị đưa ra đấu tố. Trong 5 gia đ́nh này phải quy cho 2 gia đ́nh là cường hào ác bá để tuyên án tử h́nh. Rất nhiều cán bộ của đảng có ruộng đất cũng bị đưa ra đếu tố. Nếu đội không thực hiện đủ chỉ tiêu, sẽ bị phê b́nh là thiếu ư thức đấu tranh giai cấp và thi hành công tác kém cỏi.

3.- Các cuộc đấu tố địa chủ

Các bần nông và cố nông được học các lớp tố khổ, trước tiên là nhận dạng các tội ác của địa chủ, nhớ ra các tội ác của từng địa chủ đă bóc lột họ... Sau đó các du kích và các cán bộ cốt cán cải cách ruộng đất đi t́m bắt các địa chủ và Việt gian trong các làng xă. Họ c̣n vác súng vào thành phố lùng bắt địa chủ và con cái địa chủ, dù những người này đang là cán bộ, công nhân hay viên chức nhà nước.

[“Làm người là khó”, Chương 5, Hồi kư Đoàn Duy Thành, cựu Phó Thủ tướng, viết xong ngày 25.8.2004].

Các buổi đấu tố thường được tổ chức vào ban đêm. Số lượng người tham gia đấu tố được huy động từ vài trăm đến cả ngàn người, và thời gian đấu tố từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông được tập dượt trước đă bước ra kể tội địa chủ đă bóc lột họ như thế nào. Sau khi bị đấu tố, các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ ṭa án nhân dân xét xử. Gia đ́nh và thân nhân người bị đấu tố th́ bị cô lập, bị bỏ đói và chịu nhiều sự phân biệt đối xử cũng như nhục h́nh. Trần Huy Liệu, người phụ trách kiểm tra trong đoàn chỉ đạo công tác ruộng đất tại Việt Bắc năm 1953, sau khi dự một buổi đấu tố ở thí điểm Thái Nguyên đă cho biết:

“Đến lượt địa chủ vào. Hai tay bị trói quặt ra sau, nhưng vẫn phải ḅ từ ngoài vào, đeo bên ḿnh những gói quần áo. Ngoài tiếng hô đả đảo, những người ngồi gần lối y vào cũng với tay ra đánh tát tơi bời. Không đợi để quỳ lên bục, một người đă túm lấy tóc mà “tố”. Trận vũ băo bắt đầu…”.

[Trần Chiến, “Trần Huy Liệu - Cơi người”. HN: Nxb Kim Đồng, 2009 ; chương 20]

4.- Xử án các địa chủ.

Tại các huyện, một ṭa án nhân dân đặc biệt được lập ra và đi về các xă để xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, nếu bị kết án tử h́nh, đội tự vệ xă sẽ thi hành án trước công chúng. Những người không bị xử bắn th́ bị cô lập trong các làng xă, một số bị thiệt mạng v́ bị bỏ đói.

Nguyễn Văn Thân, kỹ sư thuộc Bộ Thủy Lợi miền Bắc, đă từng tham gia nhiều vụ cải cách ruộng đất, kể lại chuyện đấu tố ông Nguyễn Văn Đô ở ngoại thành Hà Nội như sau: Ông là Bí thư huyện ủy tại Ô Cầu Giấy, rất có công với kháng chiến nhưng lại bị kết tội là cường hào ác bá và có chân trong tổ chức Quốc Dân Đảng. Chủ tịch đoàn nói rằng ông lợi dụng chức vụ của Đảng để hoạt dộng cho Quốc Dân Đảng. Vụ đấu tố này kéo dài từ 5 giờ sáng đến 1 giờ chiều mới xong. Trong những người đấu tố, có một cụ già tố cáo ông cướp ruộng đất của ông ta, c̣n cô con gái của ông lại tố cô đă bị ông Đô cưỡng hiếp tất cả 177 lần… Khi được cho phép trả lời, ông Đô phản bác rằng ông không phải là Quốc Dân Đảng, ông chỉ làm việc cho Bác và cho kháng chiến. Với cô con gái tố bị ông hăm hiếp, ông nói: “Thưa bà, bà c̣n quên đấy, tôi đă hiếp cả mẹ bà để đẻ ra bà nữa.” Câu nói này đă khiến dân chúng cười ồ làm phiên ṭa mất trang nghiêm, nên Chủ tịch đoàn phải hô “đả đảo tên Đô ngoan cố” và không cho ông nói nữa, rồi tuyên án tử h́nh ông và cho xử tử ngay tại chỗ.

[Thanh Niên Việt nam, August 25, 2012].

(C̣n tiếp)

 

 

PHIM TÀI LIỆU: "SỰ THẬT VỀ HỒ CHÍ MINH"

(11 Tập)

 

 
tậ p1/11

 

tập 2/11

 
tập 3/11

 
tập 4/11

 

tậpp 5/11

 

tập 6/11

 
tập 7/11

 
tập 8/11

 

tập 9/11

 

tập 10/11

 

tập 11/11