báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Diễn đàn                                                             

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 

 
https://youtu.be/CavY3yrIDis

VFC - Thảm Sát Tại Huế


VFC- Trailer - Hồn Tử Sĩ
 Giới thiệu cuốn DVD HỒN TỬ SĨ do nhóm Vietnam Film Club thực hiện

 https://youtu.be/rfTtD7hOUdc

***


 

TS Phạm Cao Dương

Nhân Vụ Các Cô Giáo Tỉnh Hà Tĩnh Bị Ép “Tiếp Khách, Rót Rượu, Hát Karaoke Cho Quan Chức Tỉnh”, Nh́n Lại Những Đặc Tính Truyền Thống Cơ Bản Của Nền Giáo Dục ở Miền Nam Thời Trước Năm 1975

(Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, và tất nhiên là không đầy đủ-TS-PCD)

 

Bồng bồng mẹ bế con sang, 
Đ̣ dọc quan cấm, đ̣ ngang không chèo. 
Muốn sang th́ bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ th́ yêu lấy  thày
.

(Ca dao Việt Nam)

“Tôi muốn thấy có sự kính trọng trong một trường học.  Ông thày tới, học tṛ phải nghiêm chỉnh đứng dậy chào thày…” Nicolas Sarkozy, khi tranh cử Tổng Thống Pháp     (Từ Nguyên, “Tựu Trường 2006”, Báo Người Việt, 10 tháng 9, 2006)

Một người bạn mới về thăm Việt Nam trở lại Mỹ trước ngày Lễ Tạ Ơn 2016 ít ngày cho biết rất nhiều người trong nước hiện tại đă đánh giá cao nền giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975; riêng bà con ở Miền Nam lại lấy làm hănh diện là đă được đào tạo bởi nền giáo dục ấy, trong những học đường Miền Nam và bởi các thày cô Miền Nam.  Bạn tôi là một nhà nghiên cứu.  Anh đă khách quan kể lại không thêm bớt.  Sau đó dư luận lại ồn ào về chuyện xảy ra ở trong nước: 21 cô giáo ở Thị Xă Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh bị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh ép phải “tiếp khách, rót rượu, hát karaoke” cho quan khách.  Chưa hết, các nạn nhân lại c̣n bị vị Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, ông Phùng Xuân Nhạ, thay v́ bênh vực cho những nhân viên thấp cổ bé miệng nhất của bộ ḿnh, trước sự bắt nạt của những ông vua con ở các địa phương, lại công khai trách cứ họ là không biết phản đối, khiến dư luận trong và ngoài nước vô cùng phẫn nộ, nhiều người lấy làm tủi hổ.  Việc làm của các quan chức Cộng Sản tỉnh Hà Tĩnh này phải nói là chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn luôn hănh diện tự coi ḿnh là có nhiều ngàn năm văn hiến.

         Nhân dịp này, tôi xin được cùng bạn đọc ôn lại những ưu điểm qua một số những đặc tính cơ bản của sinh hoạt giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975 nói riêng và văn hóa miền Nam nói chung, chính yếu là sự liên tục lịch sử. Nói như vậy không phải là trong thời gian này miền đất của tự do và nhân bản mà những người Quốc Gia c̣n giữ được không phải là không trải qua nhiều xáo trộn.  Chiến tranh dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác luôn luôn tồn tại và có những thời điểm người ta nói tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng.  Nhưng ngoại trừ những ǵ liên hệ tới chế độ chính trị, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn diễn ra một cách b́nh thường, người nào việc nấy, người nào trách nhiệm nấy và được tôn trọng hay tôn trọng lẫn nhau.  Sự liên tục lịch sử do đó đă có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt giáo dục.  Trong bài này tôi chỉ nói tới tới giáo dục và giáo dục công lập.  Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, và tất nhiên là không đầy đủ..  Đồng thời mỗi người có thể có phần riêng của ḿnh.  Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết. 

Giáo dục là của những người làm giáo dục

            Giáo dục công lập ở Việt Nam đă có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, tới một mức độ nào đó định chế này đă tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung. Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học cả. Có điều coi trọng th́ coi trọng, các vua Việt Nam, nói riêng và các triều đ́nh Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư ở rải rác khắp trong nước.  Sinh hoạt này hoàn toàn do các thày ở các trường do các tư nhân đảm trách.  Giáo dục là của người dân và của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, những nguyên tắc căn bản của giới này. Sang thời Pháp, do nhu cầu bảo vệ và phát triển văn minh và văn hóa của họ, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương tŕnh vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức và yêu mến nghề dạy học dù chỉ là tạm thời về phía người Pháp cũng như về phía người Việt.  Họ mở các trường sư phạm để huấn luyện giáo chức chuyện nghiệp.

          Đặc tính kể trên đă liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của Cựu Hoàng Bảo Đại.  Chức vụ bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như đổng lư văn pḥng, chánh văn pḥng, bí thư tức thư kư riêng của bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong bộ, từ thứ trưởng, tổng thư kư, tổng giám đốc, giám đốc cho tới các hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các giáo sư, giáo viên, đều là những nhà giáo chuyên nghiệp, không có đại diện đảng phái chính trị ở bên cạnh. Lư do rất đơn giản: họ là những người vô tư, biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề.  Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc, hay ít ra là của những thế hệ tới mới, là quan trọng. Trong phạm vi lập pháp, rơ hơn là ở quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban, dù là thượng viện hay hạ viện đều do các nghị sĩ hay dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những ǵ thuộc phạm vi chính trị nhất thời đă ngưng lại trước ngưỡng cửa của học đường. Thày cô giáo là nhân viên của bộ giáo dục, do bộ giáo dục bổ nhiệm, trực thuộc vị hiệu trưởng của trường sở tại , rồi các nha sở của bộ giáo dục ở trung ương chứ không trực thuộc các quận hay tỉnh trưởng.

          Về tên các trường,  tất cả các trường trung, tiểu học đều được gọi bằng tên của các danh nhân hay anh hùng dân tộc thời trước, được mọi người công nhận, Trưng Vương, Ngô Quyền, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Gia Long, Petrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trăi, Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phan Thanh Giản, Lê Ngọc Hân, …không hề có tên nào là của các lănh tụ đương thời dù đó là Bảo Đại, Ngô Đ́nh Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, kể cả Trần Văn Hương gốc nhà giáo… thay v́ những tên hoàn toàn xa lạ đối với quảng đại quần chúng Miền Nam về sau này như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Vơ Thị Sáu, Lê Văn Tám…, những người của một đảng chính trị hay, tệ hơn nữa, là ngụy tạo, không có thật.

Tôn chỉ và mục đích nhằm hướng tới quốc gia, dân tộc và con người, dựa trên những truyền thống đă có từ lâu đời

            Nói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ư không thích ba nguyên tắc này. Lư do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là v́ ba nguyên tắc này phần nào đă được người Cộng Sản Việt Nam nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ. Ba nguyên tắc đó là Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam th́ là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học… Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này v́ dù không thích, không đồng ư, ba nguyên tắc Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng này vẫn đă trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam mà không ai lưu tâm tới vấn đề là không biết.  Chúng đă giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những ǵ của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời… Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được, phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc.  Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng giáo.  Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Kư sau đây là một trường hợp điển h́nh:

 Khổng Mạnh cương cường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâm

          Sự khủng hoảng hiện tại của nền giáo dục ở trong nước là do ở sự thiếu những yếu tố chỉ đạo này.  Điều này đă được thấy rơ qua sự vô cùng lúng túng  của Ông Vũ Đức Đam, đương kim Phó Thủ Tướng, đặc trách văn hóa, xă hội, khoa học, giáo dục và đào tạo trong một buổi điều trần trước Quốc hội và bị hỏi câu hỏi là  “có hay không một triết lư giáo dục Việt Nam?”  Điều khiến cho người ta ngạc nhiên là không lẽ là một cán bộ ở cấp cao chuyên lo về văn hóa, như vậy, ông lại không biết tớiĐề Cương Văn Hóa 1943 của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong đó ba nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cho các vận dụng văn hóa, nói chung, văn học và giáo dục… nói riêng, là: dân tộc hóa, đại chúng hóa, và khoa học hóađă được nêu cao hay sao?  Không lẽ ba nguyên tắc này đă trở thành lạc hậu trong t́nh thế mới, trước quyền hành và quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam?

Liên tục trong phạm vi nhân sự

            Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Tôi muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đă chọn nghề dạy học làm lư tưởng cho ḿnh và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học hănh diện với vai tṛ làm thày, làm cô của ḿnh, dù đó là sư phạm tiểu học hay sư phạm trung học.  Một nghề bị coi là “bạc nghệ”, là bị xếp sau so với các nghề khác:

Dưa leo ăn với cá kèo,
 Cha mẹ anh nghèo, anh học noọc-man.

 

          Tất cả các vị này vẫn c̣n nguyên vẹn khi đất nước bị qua phân và đă ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa, không mấy người tập kết ra Bắc.  

          Sau khi đất nước bị chia cắt và qua cuộc di cư của non một triệu người từ miền Bắc vô Nam, họ lại được tăng cường thêm bởi một số đông các đồng nghiệp của họ từ miền Bắc vô cùng với các trường được gọi là Bắc Việt di chuyển: Ngô Quyền, Nguyễn Trăi, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục… Tất cả đă cùng nhau hướng dẫn và điều hành các học đường miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập, đồng thời cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới. Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp, cho phép học tṛ ngồi, tới cách viết bảng và xóa bảng, cách chấm bài hay phê bài, các vị này đă để toát ra một sự chừng mực và vô cùng thận trọng của những nhà sư phạm nhà nghề, khác hẳn với một số các đồng nghiệp của họ từ ngoại quốc về chỉ lo dạy các môn học chuyên môn.  Học đường do đó đă tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập.  Nhiều vị vào những lúc t́nh thế vô cùng tế nhị đă giữ được thế vô tư và độc lập, nghiêm chỉnh của học đường và tư cách của giáo chức. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn c̣n có mặt ở các học đường, đặc biệt là các Đại Học Văn Khoa ở Saigon và Huế như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Giác, Cử Nhân Thẩm Quỳnh, Tú Tài Kép Vũ Huy Chiểu… mà không ai là không quư trọng.

Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương tŕnh học vẫn giữ được những nét chính của Chương Tŕnh Pháp và Chương Tŕnh Hoàng Xuân Hăn, Phan Huy Quát

            Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những ǵ người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà c̣n được thận trọng giữ ǵn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc.  Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đă biết phân định những ǵ là ḱm kẹp và những ǵ là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại, thay v́ cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối tiếc.  Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đă tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định.  Những ǵ gọi là cách mạng vội vă, nhất thời dường như không được chấp nhận.  Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ đă trở nên rất mạnh.  Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đă tồn tại dưới h́nh thức Việt hóa bắt đầu từ thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, với chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời, sau này là Phan Huy Quát thời Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập.  Nó cho phép người ta, từ thày đến tṛ, dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc.  Ngay từ cuối niên học 1944-1945, trong rất nhiều khó khăn, từ giao thông, vận chuyển đến thông tin, liên lạc, người ta đă tổ chức đươc những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại.  Điều nên nhớ là Chính Phủ Trần Trong Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng hay hơn một trăm ngày, vô cùng ngắn ngủi, với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn.  Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đă không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp, hệ thống học và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nă Đại, Úc, Nhật… v́ đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế.

          Duy tŕ mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người quốc gia.  Điển h́nh là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đă được không những các thày mà luôn cả các tṛ sử dụng làm tài liệu hay để tự học.  Trong phạm vi văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đă được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đă được soạn thảo.  Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lượccủa Trần Trọng Kim.  Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở.  Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đă được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công tŕnh của họ thay v́ gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay v́ căn cứ vào chuyện họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này. Tô Hoài, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… là những trường hợp điển h́nh.

          Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy tŕ, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài.  Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đă bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương tŕnh viện trợ khiến cho nhiều người Mỹ đă tỏ vẻ bất b́nh.  H́nh thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đă đón nhận nó với những nhận định khác nhau.  Tiếc rằng chỉ vài năm sau Miền Nam đă không c̣n nữa.

          Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng ǵ quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hăy c̣n chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà c̣n luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa.  Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đă luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đă tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho ḿnh hay biết khôn ngoan né tránh cho ḿnh và cho các đồng nghiệp của ḿnh khi phải lănh nhiện vụ ở những vùng xa thủ đô Saigon, an ninh và giao thông không bảo đảm.  Nên nhớ là trong thờ gian này hệ thống trung ương tập quyền vẫn c̣n tồn tại.  Ra đề thi, in đề thi và gửi đề thi về địa phương với tất cả sự bảo mật cần thiết là vô cùng khó khăn, tế nhị và phức tạp.  Về phía chính quyền th́ từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp . Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh phui mọi chuyện.

Một Xă hội tôn trọng sự học và những người có học

            Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xă hội Miền Nam nói chung và nền giáo dục Miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đă được biểu lộ không riêng qua tinh thần tôn sư trọng đạo mà c̣n được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị.  Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị.  Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc.  Người làm công tác giáo dục được tôn trọng và từ đó có được những điều kiện ít ra là về phương diện tinh thần để thực thi sứ mạng của ḿnh mà những người làm chánh trị, những nhà chủ trương cách mạng, kể cả những người cấp tiến nhất cũng phải kiêng nể.  Nhưng bù lại, người ta lại trông đợi rất nhiều ở các người làm công tác giáo dục, ở đây là các thày, cô.  Giữa những người cùng làm công tác dạy học cũng vậy, tất cả đă tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng các bậc tôn trưởng, kể cả những người đă khuất.  Sự thiết lập những bàn thờ tiên sư ở các trường trung học Nguyễn Đ́nh Chiểu ở Mỹ Tho và Phan Thanh Giản ở Cần Thơ phải được kể là tiêu biểu cho tinh thần giáo dục của miền Nam.  Đối với các phụ huynh học sinh, sự trong đợi các thày nhiều khi qua mức, ngày nay khó ai có thể nghĩ được điển h́nh là chuyện “giáo sư mà cũng ăn phở”.   Câu chuyện do một vị giáo sư từ Bắc vô Nam sau Hiệp Định Genève và được cử xuống Mỹ Tho chấm thi tú tài kể lại.  Buổi sáng, các thày rủ nhau đi ăn phở trước khi nhập trường.  Ở tiệm phở, ông nghe người địa phương thầm th́ “giáo sư mà cũng ăn phở”.  Nên nhớ là Mỹ Tho là một tỉnh nhỏ và hồi giữa thập niên 1950, bằng tú tài là to lắm rồi trong khi các vị giáo sư này lại là giám khảo chấm thi tú tài lận!

Tạm thời kết luận

            Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định c̣n có những h́nh ảnh của các kỳ thi đi kèm.  Tất cả đă xảy ra hàng ngày và đă chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát h́nh hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ băi trường hay khởi đầu của một niên học.  Mọi chuyện đă liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến.  Nhiều người c̣n dùng hai chữ phá sản để h́nh dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác c̣n tỏ ư nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975.  Ở đây, như đă nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản liên hệ tới nền giáo dục ở Miền Nam thời truớc năm 1975.  Một công tŕnh nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn c̣n cần phải được thực hiện trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này. Tuy nhiên có một điều người ta phải để ư và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm cách mạng. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác trong đó có giáo dục một cách máy móc, không thận trọng.  Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và là một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm.  Có  điều v́ bằng kinh nghiệm nên khi biết được là sai lầm th́ đă quá muộn.  Những ǵ thuộc về quá khứ, kể cả quá khứ bị coi là phong kiến, lạc hậu không phải là luôn luôn tệ hại, là cổ hủ và những ǵ được coi là canh tân, đổi mới không phải luôn luôn là tốt đẹp.  Tất cả cần phải có thời gian để “gạn đục, khơi trong”. Duy có một điều không bao giờ thay đổi là khi giáo dục không c̣n được coi là một giá trị và khi các thày cô không c̣n được coi trọng th́ xă hội sẽ không c̣n là xă hội của loài người nữa.

          Trở về với thực tế trước mắt, với vụ 21 cô giáo ở Thị Xă Hồng Lĩnh, tỉnh Quảng Trị, nhiều người tự hỏi nếu các cô không được chính Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cơ quan trực tiếp phải lo cho đời sống và điều kiện hành nghề của các cô bênh vực, th́ nghiệp đoàn giáo chức của các cô ở đâu?  Tự hỏi nhưng ai cũng biết là ở Việt Nam hiện tại làm ǵ có nghiệp đoàn v́ các luật về lập hội, lập nghiệp đoàn, biểu t́nh vẫn chưa được Quốc Hội đem ra thảo luận.  Tưởng cũng nên nhớ là ngay từ thời Vua Bảo Đại, qua Chính Phủ Trần trọng Kim, các đạo Dụ về tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập nghiệp đoàn đă được ban hành ngay từ Tháng Bảy năm 1945.  Tất cả đă xảy ra trong một  tuần lễ đầu tháng Bảy khiến cho báo chí đương thời đă mệnh danh tuần lễ này là Tuần Lễ Của Các Tự Do.  Nhưng chỉ chưa tới ba tuần lễ sau ngày tuyên bố nền độc lập và thành lập Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Hồ Chí Minh đă kư sắc lệnh ngày 22 tháng 9 năm 1945, băi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cơi Việt Nam.  Đồng thời Bộ Trưởng Nội Vụ Vơ Nguyên Giáp đă kư nghị định giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức và cho Hội Văn Hóa Cứu Quốc tư cách pháp nhân.   Trong khi đó, ở các nước tiền tiến, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, các nghiệp đoàn giáo chức rất mạnh và được phía chính quyền kính nể.  Tương lai của các giáo chức Việt Nam, nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam, nói chung, quả thật không có ǵ sáng sủa.

TS Phạm Cao Dương

Quận Cam Hoa Kỳ Mùa Lễ Tạ Ơn 2016

 

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc
 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

Nguyên Thạch