báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

   [Bài Viết - Article]                                                                           

 Việt Nam tôi đâu?  -Việt Khang

 

 Anh là ai? -ViệtKhang

 

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 
TIN MỚI- Trung Quốc,Mày Là Thằng Nào? Phỏng vấn Tướng Công An LÊ VĂN CƯƠNG
https://youtu.be/gmhazU2iJpQ

 
Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

***

  

                                                                 

                                                               Chuyện T́nh Của Tôi.

                                                                                 *****

                                                                                                                                 Phạm Bá Hoa

                                

Ngày 7 tháng 2 năm 1955, tôi và 3 bạn nữa là Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Bích (hiện ở Luân Đôn, Anh Quốc), Thiếu Úy Trần Kinh Điển (đă chết tại Việt Nam năm 1993), và Thiếu Úy Nguyễn Văn Miêng (hiện ở Sydney, Australia), chúng tôi vừa tốt nghiệp khóa 5 Thủ Đức đến tŕnh diện Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân đồn trú tại “bót Chín Cẩn”, cách chợ Vĩnh Long khoảng 4 cây số trên đường lên bắc Mỹ Thuận. Tôi thuộc Đại Đội 2 đồn trú ở Trà Ôn, nên hôm sau tôi xuống đó tŕnh diện Đại Đội, và giữ chức trung Đội Trưởng. Sau những cuộc hành quân vùng Trà Ôn với Tam B́nh, Đại Đội chuyển về Tiểu Đoàn ở Vĩnh Long, tham dự nhiều cuộc hành quân từ Vĩnh Long lên đến Sa Đéc, Lai Vung, Lấp Ṿ, tôi được cử giữ chức Đại Đội Trưởng Đại Đội 1.    

Và chuyện t́nh của tôi bắt đầu vào buổi sáng chủ nhật đẹp trời của ngày đầu tháng 6 năm 1955, đang nằm đọc quyển “Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Tranh” của ông Hồ Hán Sơn, tôi nghe tiếng gọi vội vàng của anh Bảy Đô (Đại Úy Tiểu Đoàn Phó. Trong Tiểu Đoàn này được phép gọi nhau theo tuổi chớ không theo cấp bậc hay chức vụ):

“Hoa ơi, Hoa! Nhanh lên. Ra đây anh chỉ cô này cho xem. Chậm là hư chuyện nghe chú”.

Tôi bật dậy. Không kịp mang dép và cuốn sách vẫn trên tay, chạy băng qua pḥng khách, ra bao lơn phía trước: “Ǵ vậy anh Bảy?”

“Kia ḱa”. Anh Đô vừa nói vừa chỉ ra đường, nơi có cô gái mái tóc dài với chiếc nón lá máng ở ghi-đông xe đạp, đang từ hướng chợ Vĩnh Long lên, và tiếp:  

“Cô đó là con ông chủ hăng nước mắm ở trên này một chút. Coi được lắm nghe chú. Về nhà xin cưới cô ta đi. Anh nghe nói có hai ba cậu đang trồng cây si nhưng không thành công. Chú suy nghĩ đi, nếu muốn th́ chú nói với chị Bảy giúp cho. Mai mối th́ chị Bảy chú mát tay lắm nghe”.

Nói xong, anh quay vào trong với nụ cười như chọc quê tôi:

“Điển ơi! Ra coi chú Hoa nè. Anh mới nói tới con gái mà mặt đỏ như cái hôm say rượu chát đó. Thanh niên mà nhát gái quá cở”.

“Say rượu chát”, thoạt nghe có vẻ lạ phải không quí vị? Nhưng mà đúng vậy. Ngay buổi chiều đầu tiên khi chúng tôi mới đến, Thiếu Tá Đỗ Kiến Nhiễu (Tiểu Đoàn Trưởng) mời chúng tôi ra quán ăn trước cổng xem như khoản đăi chúng tôi. Tôi nói nhỏ với anh Điển:

“Tôi không biết uống rượu nghe Điển, nếu tôi có bị ép uống th́ cũng ráng, nhưng khi tôi say th́ Điển d́u tôi vào giùm nghe”.

Có vẻ như anh ấy tưởng tôi nói chơi nên chỉ cười cười, v́ mới quen nhau từ lúc ngồi xe đến đây làm ǵ biết tính nhau. Đúng là mọi người đều phải uống ít nhất một ly rượu chát đỏ, tôi cố lắm cũng chỉ uống được nửa ly. V́ ngày đầu tiên đến đơn vị làm sao từ chối được. Tiệc tàn, tôi đứng dậy, bỗng từ từ khuỵu xuống, thế là anh Điển và anh Bích xốc nách d́u tôi đứng dậy. Lúc ấy anh  Điển kề tai tôi: “Bộ say thiệt hả Hoa?”

Tôi đáp: “Tôi nói với Điển rồi mà. Ḿnh thấy rơ đôi chân ḿnh chạm đất nhưng không có cảm giác ǵ hết.”

Về cô gái mà anh Bảy Đô vừa giới thiệu từ xa th́ tôi có trông thấy đôi lần, nhưng cũng là trông thấy từ xa thôi, nên chưa cảm nhận được sự biến đổi nào trong cái tính nhát gái của tôi. Nhưng phải nh́n nhận lời của anh Đô làm tôi bắt đầu quan tâm đến “Cô gái ấy”.

Và rồi những buổi chiều mát trời, tôi với anh Điển thả bộ dọc quốc lộ 4 lên cầu Cái Cam (khoảng 1 cây số). Những ngày đầu thuần túy là hóng mát, nhưng dần dần đi hóng mát buổi chiều chỉ là cái cớ để tôi có chút “can đảm” đi ngang hăng nước mắm Hồng Vĩnh Thạnh, với hy vọng có dịp nh́n vóc dáng cô học sinh trường tư thục trung học Long Hồ mà các anh chị ở đây đều công nhận là cô gái đẹp. Thế rồi cái cớ đi dạo cũng đạt được chút kết quả. Chẳng là thỉnh thoảng tôi thấy “Cô ấy” thấp thoáng sau khung cửa  nhà dưới, v́ từ ngoài quốc lộ đi vào cũng khoảng ba bốn chục thước chớ có gần đâu mà trông thấy rơ. Dù vậy, tôi cảm nhận có vẻ như “Cô ấy” cũng nhận ra được cái nguyên nhân đằng sau sự kiện hóng mát của tôi th́ phải? V́ dần dần tôi trông thấy “Cô ấy” quét sân sau nhà vào khoảng giờ hóng mát của tôi. Tôi tin sự kiện đó không phải là ngẫu nhiên, và chuyện t́nh của tôi  theo thời gian qua từng bước, mà theo tôi thật là nhẹ nhàng.

Một hôm, khi cùng các bạn trong Đại Đội từ ngọn rạch Cái Cam trở về, từ hướng ngược chiều, “Cô ấy” đang thong thả đạp xe từ trường về nhà và nhất thiết phải đi ngang tôi. “Cô ấy” mặc bộ bà ba trắng, loại quốc phục mà hầu hết những thiếu nữ vùng nông thôn tỉnh lẻ thường mặc, mái tóc dài phủ bờ vai tṛn. Chiếc xe đạp dần đến… Và rồi như chẳng có chuyện ǵ xảy ra khi “Cô ấy” qua mặt tôi, lúc ấy tôi với “Cô ấy” cách nhau khoảng một thước. Nhưng thật ra th́ có chuyện xảy ra quí vị à! V́ trong khi tôi đang ngẩn ngơ th́ giọng nói của Trung Sĩ Nhất Liên:

“Anh ơi, Anh! Cô “hoa khôi” trường trung học Long Hồ nh́n Anh đó. Cô ta kín đáo lắm nhưng em thấy được mà”

 Đúng là tôi đă không lầm khi trông thấy đôi mắt vừa tṛn vừa sáng của “Cô ấy” trong một thoáng đă nh́n thẳng vào tôi, và tôi tin rằng đó là nét nh́n thiện cảm của người con gái mà tôi công nhận là đẹp với đầy đủ nét đẹp của cô học tṛ tỉnh lẻ.

 Vài tuần sau đó, tôi được cấp gian pḥng nhỏ (3m1 x 4m1=12 m2) trong dăy nhà sát cạnh quốc lộ 4. Với khoảng cách như vậy chẳng có nghĩa ǵ đối với bất cứ ai khác, nhưng với tôi, nó gói ghém một ư nghĩa hay hay. Bởi v́ tôi đang cần thu ngắn khoảng cách từ nhà đến đường, con đường mà thường ngày “Cô ấy” để lại h́nh ảnh ḿnh dưới bóng nắng ban mai trên đường đi học, hoặc bóng nắng chiều sau những giờ học trở về. Khoảng cách càng ngắn càng giúp tôi có cơ hội nh́n “Cô ấy” được rơ hơn, và biết đâu là tôi với “Cô ấy” có thể nói chuyện với nhau qua ánh mắt cũng nên.

Ngày thứ nh́ sau khi dọn nhà, nói là dọn nhà cho oai chớ đồ đạc chỉ có cái giường cá nhân, cái bàn viết nhỏ xíu, với cái tủ cũng nhỏ xíu đủ để túi quân trang và cái ba-lô đeo lưng. Dọn chưa mỏi tay th́ mọi việc xong rồi. Hôm ấy tôi tựa cửa cứ như nhàn rỗi đứng nh́n bâng quơ nhưng đích thật là đứng chờ “Cô ấy”, v́ thường ngày vào giờ này “Cô ấy” đạp xe ngang đây để đến trường.

Ô, kia rồi! Từ xa, “Cô ấy” đang đạp xe hướng xuống chợ Vĩnh Long, chiếc nón lá úp lên ghi-đông xe. Có lẽ “Cô ấy” vừa nhận ra bóng dáng tôi nên đưa tay lấy chiếc nón lá đội lên đầu, nghiêng nghiêng về bên phải. Có vẻ như tôi hơi run khi nghĩ rằng hành động vừa rồi của “Cô ấy” rất có ư nghĩa với tôi. “Cô ấy” càng đến gần, lưng tôi cứ như dính chặt vào khung cửa, và nếu như không có điểm tựa đó trong lúc “Cô ấy” đi ngang có thể dáng đứng của tôi quê lắm! Mà thật vậy, khi “Cô ấy” vừa qua khỏi, tôi nghe văng vẳng như có ai gọi cũng đến vài ba lần th́ phải:

“Chú Hoa. Chú Hoa. Chú bị hốt hồn rồi hả?”

Sở dĩ tôi nghe văng vẳng ở đâu đó trong khi người gọi chỉ cách tôi không đầy 10 thước, v́ lúc ấy chắc là tôi trong trạng thái không b́nh thường nếu không nói là ngờ nghệch, nên không xác định được người gọi cũng như khoảng cách. Bởi tôi bắt đầu h́nh thành ư nghĩ xây dựng gia đ́nh, dù rằng tôi chưa dám nghĩ một cách rơ nét rằng “Cô ấy” sẽ là cô bạn đời của ḿnh do nhiều lư do khác nhau.

Tôi đảo mắt gần như một nửa ṿng tṛn để t́m người gọi, và tầm nh́n của tôi dừng lại bao lơn trên lầu, v́ tiếng cười của chị Bảy Đô (vợ của Đại Úy Đô, Tiểu Đoàn Phó) và chị Rỡ (vợ của Trung Úy Rỡ, Đại Đội Trưởng) đứng đó chọc quê tôi. Thế là tôi tỉnh hẳn khi biết ḿnh bị hai chị ấy “bắt quả tang” cái vụ “chớp đèn pha” vừa rồi. Tôi hỏi một câu mà bây giờ nghĩ lại thật lăng nhách:  

“Chị gọi ǵ vậy chị Bảy?”

Vẫn nụ cười chọc quê:

Nè, bộ chú muốn rồi hả? Khai thiệt đi rồi hai chị giúp cho, hai mươi lăm hai mươi sáu  tuổi rồi, chờ ǵ nữa?”

“Chị hỏi em muốn ǵ là muốn ǵ vậy chị?”

Chẳng là tôi dư hiểu nghĩa của chữ “muốn” nhưng tôi vẫn hỏi theo cái kiểu che che giấu giấu cái tính mắc cở của ḿnh. Khổ nỗi, hai chị này vừa kinh nghiệm vấn đề gia đ́nh, vừa vui tính, lại vừa thích chọc quê tôi nữa chớ!

“Thôi. Chú đừng có làm bộ nữa, chị đi guốc trong bụng chú rồi. Có muốn chị giúp th́ khai mau, chớ làm bộ làm tịch th́ hai chị làm mai cho người khác nghe chưa”.

Chị Rỡ xung trận ngay:

Anh Hoa ơi! Tôi thấy cô đó được lắm. Anh về nhà xin phép hai bác đi, chị Bảy giao vụ này tôi lo cho Anh đó”.

Chị Bảy Đô tấn công luôn:

“Chú chưa có kinh nghiệm đâu, hăy nghe hai chị đây nè. Hễ gặp gái đẹp mà muốn cưới làm vợ phải nhanh tay lẹ chân chớ chần chờ như chú, mai kia mốt nọ có mà thất t́nh đó nghe. Liệu mà tiến tới nếu như chú muốn, nghe chưa?”

Đúng là tôi chỉ hớ một chút mà bị hai chị này chọc quê vừa làm tôi mắc cở vừa làm tôi thích thú!  Lợi dụng lúc hai chị ấy chưa kịp giảng thêm bài học kinh nghiệm ǵ đó, tôi vội phóng lên giường nằm, hai tay ấp trên ngực như để giúp trái tim điều ḥa nhịp đập trở lại. Vậy mà quí vị biết sao không? Tôi đâu có nằm yên. Tôi ngồi dậy. Đứng lên, hai tay chắp sau mông, đi tới đi lui, chốc chốc lại vuốt tóc, lại khoanh tay trước ngực. Quái! Lúc này dường như hai tay tôi dư thừa trong khi không một ư nghĩ nào h́nh thành được cả, cứ ư nghĩ này vừa xuất hiện th́ ư nghĩ khác chồng lên hoặc chen vào, và cứ như thế …  

Chuyện là “Cô ấy” từ lúc vào tầm nh́n của tôi đến khi hai ánh mắt tréo nhau lúc “Cô ấy” khuất tấm vách đầu dăy, chắc chắn là tôi đă bắt gặp đôi mắt “Cô ấy” dưới chiếc nón lá nghiêng nghiêng, mà chính “Cô ấy” nhích vành nón lên tựa như nâng cánh cửa sổ tâm hồn lên vừa đủ cho ánh sáng quen quen d́u dịu lọt vào vậy. Đôi mắt mà tôi tưởng như thân quen từ lâu lắm rồi, và cũng như lần “chạm mặt” trước đây, nghĩa là vẫn nét nh́n thiện cảm đó. Chỉ với ánh mắt của “Cô ấy” thôi đă đủ cho tôi cảm giác như trái đất ngừng quay trong khoảnh khắc vừa qua, nên suưt chút nữa là tôi khuỵu chân tại cửa nhà rồi quí vị à!

Chiều hôm ấy, cơm xong, tôi bỏ giờ hóng mát thường lệ, và “đánh liều” đến nhà anh chị Rỡ. Vừa thấy tôi, anh Rỡ chọc ngay:

“Nè. Tôi mới nghe “nhà tôi” nói cái bộ gió của chú hồi sáng nay rồi. Chú muốn vô làm rể chủ hăng nước mắm hả? Chú phải biết là bà cụ các đấng nhi đồng của tôi có hoa tay làm mai làm mối lắm nghe. Nếu như chú định tiến tới th́ ….”

Anh Rỡ nói chưa hết câu th́ chị Rỡ chen vào:

“Tôi sẳn sàng giúp anh”. Và rồi chị Rỡ trở nên nghiêm trang: “Anh Hoa nè! Anh nghĩ kỷ đi. Nếu như anh thật ḷng muốn cưới cô đó th́ tôi hứa sẽ giúp anh, c̣n nếu như chưa dứt khoát th́ thôi nghe. Cô ta là học sinh, con nhà đứng đắn, không nên nghĩ đến những điều không hay mà mang tội, c̣n tôi th́ mang tiếng. Dù sao th́ ḿnh phải ǵn giữ nhân cách của sĩ quan nghe anh!”

Câu nói đó làm tôi tỉnh người v́ cảm thấy tự ái ḿnh bị chạm, dù đó là lời nói rất chân t́nh của chị bạn:

Không. Không bao giờ đâu chị. Thú thật với anh chị, từ khi ở tuổi vào đời đến nay, tôi chưa bao giờ có bất cứ điều ǵ không tốt với bất cứ cô gái nào. Đối với “Cô ấy”, hai hôm cách đây, tôi đánh liều đến nhà bên cạnh với ư định t́m cách hỏi thăm về “Cô ấy”. Thật là bất ngờ, vừa chào hỏi bà chủ nhà th́ “Cô ấy” bước vào. Không biết có nên gọi đây là dấu hiệu của duyên nợ hay không, nhưng rơ ràng là “Cô ấy” xuất hiện bất ngờ này đă giúp tôi b́nh tỉnh, nhờ vậy mà tôi đă trao đổi với “Cô ấy” vài câu chuyện thật tự nhiên. Câu chuyện ngắn gọn chỉ quanh quẩn học hành và sức khỏe. Thiếm Tám, người chủ nhà mà tô i nghe “Cô ấy” gọi như vậy, hỏi “Cô ấy” về buôn bán nhưng lại nh́n tôi, cứ như có ư hỏi tôi rằng: “Sao, cháu tôi đẹp chớ?” (Năm 2010, gia đ́nh Chú Thiếm Tám vẫn ở Vĩnh Long)  

Ngưng lại, hớp vài hớp nước chanh, và tiếp:

“Chính lần gặp đó, được nh́n “Cô ấy” ở khoảng cách gần gủi và nhất là được nghe âm thanh của “Cô ấy”, tôi quả quyết là tôi yêu và muốn cưới “Cô ấy” làm người bạn đời của tôi. Trưa nay tôi về nhà ngỏ ư và Ba Má tôi rất vui ḷng. Thú thật rằng, nếu sáng nay hai chị không chọc quê tôi, cũng là khuyên tôi, chắc tôi chưa đủ can đảm đến đây với anh chị đâu. Vậy là anh chị biết mục đích về sự có mặt của tôi lúc này rồi chớ?”

“Như vậy là tôi hiểu anh rồi. Những ngày sắp tới tôi sẽ làm quen với ông bà chủ hăng nước mắm, trước khi vào chuyện cho anh”.

Sau đó, Đại Đội tôi chuyển xuống tỉnh lỵ với trách nhiệm bảo vệ an ninh các cơ sở. Gian pḥng nhỏ tôi ở cạnh Ty Điền Địa Vĩnh Long. Buồn ghê, v́ nghĩ là không có cơ hội trông thấy “Cô ấy” nữa! Nhưng rồi tôi vẫn trông thấy “Cô ấy “ gần như hằng ngày được, v́ chỉ hơn một tuần sau đó trong khi đi ăn trưa (ăn cơm tháng), bất chợt tôi với “Cô ấy” cùng trông thấy nhau trên đường đi. Không biết có phải do Trời xui đất khiến hay “ông tơ bà nguyệt” nào đó đưa đường dẫn lối hay không, mà hai cánh cửa tâm hồn t́m “gặp nhau và nói với nhau” cũng bằng hai cánh cửa ấy. Cứ tưởng là không có dịp trông thấy “Cô ấy” nữa, hóa ra lại càng dễ trông thấy hơn, v́ chỉ cách trường trung học Long Hồ một quảng đường ngắn.

Tháng 10 năm 1955, tôi vội vàng phóng lên nhà anh chị Rỡ, nhờ anh chị ấy “mở máy làm mai” nhanh lên, v́ tháng 11 cả Tiều Đoàn 510 chuyển lên Cao Nguyên trong chương tŕnh thành lập các Sư Đoàn Dă Chiến và Khinh Chiến. Chị Rỡ hứa sẽ cố gắng. Mấy ngày sau chị Rỡ gọi tôi đến nhà:

“Anh Hoa, tôi báo cho anh một tin mừng, c̣n anh có mừng hay không là chuyện của anh”.

“Trời ơi, sao chị ác quá vậy. Chị biết là đầu óc tôi đang căng thẳng mà chị câu giờ chi vậy”.

“Anh kết tội tôi đó hả? Vậy th́ … tôi không nói nữa”.

Trả đủa xong, chị ấy cười cười quay nh́n ra cửa. Tôi đành xuống nước:

“Thôi mà chị. Chị tiếp tục đi, tôi đang hiền lành ngồi nghe đây mà”.

“Ừ! Lịch sự như vậy th́ tôi nói tiếp. Hai ông bà ấy chưa hứa nhưng cũng không khước từ, và nói là để hỏi ư kiến con gái của ông bà. Nhưng theo tôi th́ anh yên tâm và vui đi, bởi v́ cách nói kèm theo thái độ của ba má cô ta xem như nhận lời trên nguyên tắc rồi”.

Ngưng một chút, chị Rỡ nói tiếp:

Sao, vui rồi chớ? Bây giờ c̣n cần ǵ tôi nữa không?”

“Cám ơn chị rất nhiều. Nhưng nhớ là chị c̣n nợ tôi dài dài chớ kết thúc đâu mà chị hỏi. Phải không chị? Bây giờ tôi xin phép về”.   

Hai ngày sau, tôi cùng chị Rỡ đến hăng nước mắm theo sự đồng ư của ông bà chủ. Không nghe chị Rỡ nói về mục đích, nhưng tôi tự hiểu là tôi đến “tŕnh diện” để ba má “Cô ấy” quan sát t́m hiểu về tôi, nói theo ngôn ngữ dân gian là để “ông bà nhạc tương lai xem gị xem cẳng”. Nhưng v́ tôi không đủ can đảm nên nhờ chị Rỡ “hộ tống” quí vị à!

Vào nhà: “Dạ chào ông bà”. Chị Rỡ lên tiếng trước, như “phát máy khởi động” giùm tôi.

“Dạ chào hai bác”. Trời đất ơi! Không ngờ là tôi nói trơn tru mà có vẻ truyền cảm nữa! Và khi máy khởi động ngon trớn giúp tôi trở nên b́nh tỉnh và tự tin:

“Chào bà. Chào cháu. Mời bà ngồi, mời cháu ngồi”. 

Chị Rỡ ngồi đối diện với bác gái, tôi ngồi đối diện với bác trai. Bác trai hỏi tôi:

“Bác nghe nói cháu  sắp đổi lên Pleiku hay Kontum ǵ đó, phải hông cháu?”

“ Thưa bác, phải. Và có thể đi trong ngày gần đây thôi. Thật ra cháu cũng chưa biết chính xác địa điểm ở đâu nữa, chỉ biết tổng quát là ở Cao Nguyên thôi, thưa bác”. 

Bác trai xoay sang bác gái: “Bà có nói ǵ với cháu không bà?”

Bác gái đáp:“Th́ ông nói luôn cũng được mà”.

Sau khi hớp ngụm bia, bác trai nh́n thẳng vào tôi với nụ cười nhẹ, im lặng trong giây lát, làm tôi nghĩ rằng bác ấy sắp vào chuyện. Lúc bấy giờ, trong một chừng mực nào đó, tôi xúc động thật sự v́ tôi sắp nghe lời nói quan trọng tuy chưa biết thế nào. Tay tôi không rời ly nước, cứ xoay tṛn nó theo từng nhích một, mắt hết nh́n bác trai lại nh́n sang bác gái với nỗi hồi hộp trong ḷng:

“Cháu à! ..” Giọng của bác trai thật trầm và nghiêm: “Hai bác có nghe bà đây (ư nói chị Rỡ) nói về việc cháu thương con gái thứ ba của bác và xin cưới. Việc này nó quan trọng lắm cháu, cho nên hai bác chưa thể trả lời dứt khoát ngay với cháu được ….”

Ngưng một lúc, bác tiếp: “Hai bác có biết là cháu đă thưa với anh chị rồi (ư nói ba má tôi), nhưng dù sao th́ hai bác cũng cần gặp anh chị để biết nhau, và bàn bạc vài điều cần thiết. Vào lúc nào đó, hai bác sẽ cho phép cháu với con gái của bác liên lạc nhau bằng thư để hiểu nhau hơn.”

 Nói đến đây bác im lặng, nhưng đôi mắt không rời tôi, chừng như bác muốn ḍ xét phản ứng của tôi sau lời nói quan trọng của bác. Niềm xúc động vẫn trong tôi, nhưng chưa kịp diễn tả bằng lời th́ bác trai nói tiếp:

Vậy th́ cháu hăy vui vẻ mà lo nhiệm vụ,  đừng để thua kém bạn bè nghe cháu”.

Rồi bác quay vào trong:

Ba đâu rồi con (“Cô ấy” đó quí vị à). Ra chào anh trước khi anh đi xa nghe con”.    

Chắc quí vị cũng h́nh dung những giây phút căng thẳng của tôi vừa trôi qua trong một khoảnh khắc nhẹ nhàng, bây giờ là giây phút chờ đợi nhưng là chờ đợi trong náo nức phải không quí vị? Trời ơi! Kia rồi. “Cô ấy” từ sau bức mành trúc đang thong thả bước ra, cuối cùng đứng giữa ba má “Cô ấy”. Dường như tôi đang run nhè nhẹ trong khi tim đập b́nh bịch, cũng có thể mặt tôi đỏ lên nữa khi nghe lại giọng nói của “Cô ấy” mà tôi lưu giữ dù mới chỉ một lần nghe: “Chào anh đến chơi”.

Tôi nghĩ chắc là “Cô ấy” phải cố gắng lắm mới giữ được lời nói vững vàng như vậy. “Cô ấy” đứng nép người vào bác gái sau lời chào.

Vâng. Chào cô. Tôi đến thăm hai bác, thăm cô, và gia đ́nh”.

Tôi cũng vững vàng lắm, phải không quí vị? Nhưng rồi không biết nói ǵ thêm, đành thẳng thắn ngắm “Cô ấy”, trong khi đôi mắt “Cô ấy” nh́n thẳng vào tôi. “Cô ấy nói ǵ vậy?” Thưa quí vị, đây là trường hợp người trong cuộc nói bằng mắt chớ có nói bằng lời đâu mà người ngoài cuộc biết nói ǵ. Đó là ước hiệu trong cách nói của ngôn ngữ t́nh yêu mà. Tôi xin tạm giải thích ước hiệu vừa rồi của “người trong cuộc” để quí vị khỏi đặt câu hỏi nhé! Đó là “Cô ấy” hỏi tôi chớ khi đi xa như vậy … có nhớ … không? Tôi trả lời là nhớ lắm chớ, mà sao … hỏi … câu ấy? Xin quí vị vui ḷng nhận cách giải thích của tôi, dù quí vị có chấp nhận hay không, nghe quí vị. C̣n trong dấu chấm chấm, xin tùy quí vị hiểu.

“Cô học trường nào vậy?” Tôi hỏi.

“Dạ, em học trường trung học Long Hồ”.

 “Khi được phép của hai bác, tôi sẽ viết thư thăm cô, cô có vui ḷng nhận và trả lời tôi không?”

 “Dạ …có”.

 “Cám ơn Cô”.

Tháng 11 năm 1955, tôi theo Tiểu Đoàn di chuyển lên Cheo Reo, hai tháng sau lại chuyển toàn bộ đến đồn trú cạnh đồn điền trà Catecka, tỉnh Pleiku. Đầu năm 1956, tôi được cử theo học lớp Đai Đội Trưởng tại chi nhánh Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt. Nhân ngày đầu năm âm lịch, chúng tôi đuợc nghỉ phép một tuần. Tôi về nhà Ba Má tôi ở Nha Mân vui Tết và xuống Vĩnh Long chúc Tết gia đ́nh “Cô ấy”. Hai Bác cho phép tôi với “Cô ấy” liên lạc nhau bằng thư. Hôm ấy tôi đuợc mời ăn “tả pín lù”, món ăn mà gia đ́nh thường ăn trong những ngày họp mặt. Cả nhà ngồi vào bàn, lúc ấy tôi mới biết đầy đủ chị và các em “Cô ấy”.

“Anh cho rau vào tô đi”. Vừa nói “Cô ấy” gắp rau, bún, rồi múc thịt lẫn cá với nước xúp vào tô của tôi: “Anh cho nước mắm vô đi”.

Đến đây th́ ... trời đất ơi, tôi hơi run! Không phải run v́ nhát gái nữa, mà run v́ chưa từng ăn nước mắm, bây giờ phải ăn. Không biết tại sao mà từ nhỏ đến lúc ấy, tôi chỉ dùng muối tiêu vắt chanh làm nước chấm cho tất cả mọi thức ăn. Cho nên trước t́nh cảnh này, nếu cho nước mắm vào làm sao nuốt cho trôi đây! Nếu nuốt không trôi lại e hiểu lầm th́ nguy thiệt đó. Tôi cho tí xíu nước mắm vào một góc tô, dự trù sẽ bậm môi mà ăn phần đó sau cùng. Nhưng hành động “mờ ám” của tôi không qua được đôi mắt “Cô ấy”. Có vẻ như “Cô ấy” nhận ra có ǵ trục trặc về nước mắm, nên “Cô ấy” múc thêm một chút nước mắm ra vẻ như cho vào tô để có lư do đứng sát tôi, rồi nói nhỏ: “Anh ăn một chút đi”.

Ôi chao! Với nụ cười thật tươi đó làm sao tôi khước từ được, cho dẫu ăn chút nước mắm này mà có chết đi nữa th́ tôi cũng vui ḷng quí vị à! Thế rồi, tôi ăn được và từ đó tôi ăn nước mắm. Bây giờ ở cái tuổi 86, tôi vẫn ăn nước mắm chanh chớ không ăn được nước mắm giấm, nhưng muối tiêu vắt chanh vào vẫn thích hơn. Cơm xong, tôi xin phép ra về. Nhân khi sát cạnh nhau lúc tiễn tôi ra cửa, tôi “rất can đảm” khi dùng vai phải hít nhẹ vào vai trái “Cô ấy”, cả hai nh́n nhau cùng cười thẹn, thẹn mà vui phải không quí vị? Khi ngồi trên xe, tôi tự hănh diện: “Dù sao ḿnh cũng là thanh niên mà”.  

Từ khi được phép liên lạc thư tín, chúng tôi gởi và nhận thư đều đặn hằng tuần. Chính nhờ “chương tŕnh thư tín” này giúp chúng tôi hiểu nhau hơn. Chúng tôi cùng nhau xây dựng những quan niệm sống cho từng góc cạnh sinh hoạt từ gia đ́nh đến xă hội.

Tháng 12 năm 1956, sau khi ba “Cô ấy” đến Nha Mân t́m hiểu về gia đ́nh ba má tôi, và lễ đính hôn giữa tôi với “Cô ấy” được tổ chức tại Vĩnh Long, nhưng lúc ấy tôi bận hành quân thao dượt không về được nên chị tôi thay tôi trong vai “hôn phu”.

Ngày Ba Mươi Tết Nguyên Đán đầu năm 1958, lúc ấy Trung Đoàn 35 chúng tôi đồn trú ở Catecka, cách Pleiku khoảng 20 cây số, là một căn cứ án ngữ con đường 19 bis Pleku đến biên giới VietNam - Cambodge. Tôi với hai bạn cùng đi kiếm mai vàng về trang trí trong nhà cho những ngày Tết. Chúng tôi theo đường 19 bis về hướng biên giới Cambodge. Khi qua khỏi làng Thanh B́nh, một cánh rừng mai toàn búp măng hiện ra trước mắt cả hai bên đường. Thật khó tưởng tượng được cánh rừng mai mộc mạc, nhưng có sức thu hút người ngắm một cách mạnh mẽ. Bởi những người đang ngắm có may lắm cũng chỉ được nh́n vài ba cây mai trong sân nhà giàu xưa nào đó ở miệt vườn là cùng, nay giữa cảnh hùng vĩ của núi rừng đèo heo gió hú này, bỗng dưng được trông thấy tận mắt một cảnh trí tuyệt vời với không biết bao nhiêu ong bướm bay lượn chen lẫn trong cánh rừng mai óng ả. Chúng tôi đứng lặng khá lâu. Riêng tôi cảm nhận một niềm vui lâng lâng trong ḷng, tưởng như ḿnh đang bên cạnh những người thân thương khi chuẩn bị vào Xuân. Nhưng rồi tiếng chim hót líu lo đă đưa tôi trở lại thực tại, để thấy ḿnh vẫn chốn xa xôi!

Các bạn bè rất đỗi ngạc nhiên về những cành mai vàng búp măng tṛn trịa mà chúng tôi chở đầy cả xe. Thế là mọi nhà đều được phân phối những cành mai đón Xuân. Mọi người vui vẻ. Sau khi phân phối những cành mai là cơm tất niên. Chị Quỳnh (vợ anh Đại Úy Quỳnh, nhận chức Tiểu Đoàn Trưởng trước khi di chuyển lên đây) hỏi các bạn cùng ăn:

“Hôm nay là chiều Ba Mươi Tết, tôi đố mấy anh, có anh nào biết anh Hoa có cái ǵ đặc biệt khi ăn cơm hông?”

Anh Lê Hồng Danh hỏi lại: “Chị hỏi cho những bữa ăn b́nh thường hay bữa ăn này?”

“Bữa nào cũng vậy hết”. Chị Quỳnh khẳng định, và tiếp: Mấy anh thấy dĩa muối tiêu hông?”

Anh Trần Kinh Điển hỏi: “Bữa nào tôi cũng thấy, nhưng cái dĩa này có liên quan ǵ đến Bá Hoa đâu Chị”.

Mấy anh có biết là anh Hoa không ăn nước mắm mà chỉ ăn muối tiêu hông? Chú Thạch É (nấu bếp) nói tôi  mới biết đó”.

Anh Điển cười ngất: “Vậy là nguy lắm. Vợ sắp cưới của Bá Hoa là con của chủ hăng nước mắm, Bá Hoa hổng ăn nước mắm coi chừng hổng cưới được người đẹp à nghe”.

Các bạn cùng vui vẻ, và “thanh toán” xong bữa cơm tất niên.  

Sau Tết 1958, toàn bộ Trung Đoàn 35 di chuyển lên Kon Tum, cùng lúc tôi thuyên chuyển lên Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn giữ chức Trưởng Ban 3 kiểm Trưởng Ban 5. Tôi mướn gian nhà ngói vách gạch với giá 600 đồng một tháng, v́ hai tuần lễ nữa là ngày cưới của chúng tôi. Chân ướt chân ráo mới nhận chức có một tuần mà xin phép đặc biệt, kể cũng khó mở miệng, nhưng nếu không mở miệng th́ vấn đề càng khó hơn. Thế là tôi mạnh dạn đến gơ cửa văn pḥng ông Trung Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhâm. Hai gót chân chụm vào nhau, đưa tay lên ngang trán:

“Chào Thiếu Tá”.

Ông từ từ ngước nh́n tôi, hai tay ông từ từ gở mắt kiến để trên bàn. Thật ḷng mà nói, ông Trung Đoàn Trưởng của tôi mới xấp xỉ tuổi 50, nét mặt khắc khổ, tóc hoa râm, vầng trán nhăn nheo, trông ông hom hem làm sao á! Ông vẫn nh́n tôi, thật chậm răi:

”Anh ngồi đi. Có việc ǵ vậy?”

“Thưa Thiếu Tá, tôi chưa nhận được giấy phép kết hôn từ Bộ Quốc Pḥng, nhưng ngày 4 và 5 tháng 3 này (1958), hai bên cha mẹ quyết định làm lễ cưới cho chúng tôi. Xin Thiếu Tá cho tôi 4 ngày phép đặc biệt để về Sa Đéc và Vĩnh Long cưới vợ. Tôi biết điều này làm Thiếu Tá khó nghĩ, nhưng nếu tôi không làm như vậy th́ tôi càng khó nghĩ hơn, thưa Thiếu Tá”. 

Ông cố nhướng đôi mắt nh́n tôi: “Anh rào đón hết rồi, tôi phải giải quyết sao đây”. Ông lại găi đầu găi tai một lúc, rồi nhăn mặt:

Tôi đồng ư cho anh đi bốn ngày, nhưng anh phải về đúng hạn v́ Sư Đoàn đang chuẩn bị hành quân thao dượt. Anh thấy được không?”

“Dạ được, thưa Thiếu Tá. Tôi biết điều đó, nhưng đây là trường hợp đặc biệt. Trong lần lễ đính hôn cuối năm 1956, cũng v́ Trung Đoàn thao dượt nên tôi không về được, nhưng lần này không thể vắng mặt tôi. Hay là số ngày phép Thiếu Tá cấp cho tôi bây giờ sẽ trừ vào phép 15 ngày khi giấy phép kết hôn của tôi về đến”.

Tôi rời Kon Tum lúc 3 giờ chiều ngày 4 tháng 3 với một vé Kon Tum - Sài G̣n, và trong túi c̣n hai vé trên chuyến bay Sài G̣n - Kon Tum ngày 7 tháng 3, v́ tôi chỉ có ngần ấy ngày cho lễ cưới của chúng tôi, v́ giấy phép kết hôn ở Bộ Quốc Pḥng chưa về. Phi cơ đáp phi trường Tân Sơn Nhất lúc 6 giờ 30 phút chiều. Lên xe taxi vào bến xe Miền Tây (lúc ấy ở gần chợ An Đông) để về Vĩnh Long, măi đến 9 giờ 30 tối xe mới rời bến. Nóng ơi là nóng, nhưng chẳng thể làm ǵ khác được, đành nhai khúc bánh ḿ thịt mới mua ở bến xe. Chữ “nóng” mà tôi dùng ở đây là “nóng ḷng” chớ không phải than phiền thời tiết nóng đâu, cho dẫu là không khí nóng thiệt.

Đúng nửa đêm 4 rạng sang ngày 5, xe đến bến bắc Mỹ Thuận. Tôi “bao” chiếc xe lôi chạy xuống nhà “Cô ấy” cho biết là tôi về đến. Vào nhà là tôi trông thấy “Cô ấy” cùng cô bạn học -cô Bạch- đứng ngay cửa, cứ như có hẹn trước vậy. Thật ra là “Cô ấy” đứng đợi tin tức về tôi.

“Em trông quá trời! Anh khỏe không? Ba Má c̣n thức, Anh vào chào Ba Má đi Anh”.

“Anh xin lỗi Em nghe. Phần th́ mới chuyển từ Tiểu Đoàn lên Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, phần công việc quá nhiều, đến khi xin phép được th́ phi cơ không c̣n chỗ trên chuyến bay dự trù ngày hôm qua”.

Cả nhà thật vui. Sau vài câu chuyện ngắn ngủi, tôi từ giả và hẹn lát nữa gặp lại. “Cô ấy” đưa tôi ra cửa, nghiêng người sát vai tôi, thế là tôi thừa cơ hội hôn trên má “Cô ấy” một phát. Xong, chạy ra cửa, lên xe lôi về Nha Mân.

Đến nhà lúc 3 giờ sáng. Tuy là quá trễ so với dự định, nhưng cả nhà vui lắm. Ba tôi tươi cười:

Vậy là tốt rồi, dù sao ḿnh cũng c̣n đủ th́ giờ. Con ăn tô cháo rồi chuẩn bị là vừa. Ba dự định rời nhà ḿnh lúc 5 giờ sáng, dự trù đến nơi lúc 6 giờ, lễ xong th́ rước dâu lúc 7 giờ. Ba dự trù, Con về không kịp th́ Cẩm Liên làm chàng rể”. Chị Cẩm Liên là Chị cùng Cha khác Mẹ với tôi. 

Bây giờ là 5 giờ sáng, bầu trời tối om. Họ nhà trai chúng tôi lên xe. Khởi hành.

Thưa quí vị quí bạn, thuở ấy “cô dâu” tỉnh lẻ vùng đồng bằng Cửu Long ḿnh trang điểm đơn giản lắm. “Cô ấy của tôi” cũng vậy. Bộ đồ dài trắng, cành hoa trắng nhỏ cài trên mái tóc uốn dợn, hai tay nâng nhẹ bó hoa huệ trắng. Từ khung cửa pḥng bước ra. “Cô ấy của tôi” xuất hiện trong tiếng trầm trồ của nhiều người có mặt, nhất là đám con trai con gái bên họ nhà trai chúng tôi: “Đẹp quá”.

Chỉ cần so với mấy tiếng đồng hồ trước đây thôi, quả  là  Cô ấy của tôi đẹp thật, ít nhất cũng là đối với tôi. Nét đẹp hồn nhiên của cô gái miền quê pha chút nét đẹp thị thành.

Đọc đến đây có thể quí vị quí bạn thắc mắc: “Không biết Anh ấy có run khi gặp Cô ấy không vậy?

Xin thưa, chẳng những không run mà là rất tĩnh. Tĩnh đến mức khi đang lạy, tôi cố t́nh va chạm Cô Dâu lia lịa. Tôi nghĩ là Tổ Tiên Ông Bà đang lờn vờn trong hương khói trên bàn thờ trông thấy cũng tức cười lắm quí vị à! Về đến Nha Mân, lễ xong là vào tiệc. Tiệc xong, họ nhà gái ra về, trừ một người ở  lại cùng tôi “kư khế ước” dùng chung một tên: Phạm Bá Hoa.

Lễ cưới ở miền quê không ồn ào xe cộ, trang trí đơn sơ chớ không lộng lẫy như thành thị, nhưng nó là niềm vui tươi mát nhẹ nhàng của cả xóm chớ không riêng của gia đ́nh cô dâu chú rể. Đó là tập quán đẹp trong văn hoá Việt Nam chúng ta, một nét văn hoá h́nh thành từ nền tảng xă hội nông nghiệp.

Ngày hôm sau, 6 tháng 3 năm 1958, chúng tôi từ giă hai bên Ba Má rồi lên Sài G̣n, ở nhà bà D́ chúng tôi. Trời đất ơi! Chuyến bay Sài G̣n - Kon Tum ngày 7 đă hết chỗ, măi đến ngày 11 mới được. Thôi th́ phải đi xe đ̣. Hôm từ Kon Tum về Vĩnh Long cứ nóng ḷng sợ trễ ngày giờ rước dâu. Sau khi “rước được cô dâu” lại sợ trễ ngày về Kom Tum. Thôi th́ cho dù có trễ hay không trễ, chúng tôi cũng c̣n được một ngày ở Sài G̣n. Tôi chợt nhớ đến một cô bạn mà tôi thấy cần phải giới thiệu cho vợ tôi biết, để tránh rắc rối về sau:

Bây giờ Anh đưa Em đến giới thiệu với Em một cô bạn nghe”.

Cô bạn nào vậy Anh?” Vợ tôi có vẻ ngạc nhiên.

Thế là tôi thuật câu chuyện về cô bạn ấy như thế này:

Lúc đó khoảng tháng 3 năm 1955, Anh có nhắn tin trên báo t́m các bạn trong Trung Đội lúc sinh viên ở trường. Một hôm Anh nhận được cái thư màu xanh da trời với ng̣i bút cứng cáp lắm. Người viết thư xưng là Liên, họ Phạm. Cô ta than thở đang buồn v́ thi tú tài 1 Pháp rớt, và đang chuẩn bị nhập học Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia. Cô ta nói thấy cái tên Anh hay hay nên muốn làm quen”.

Hơn tuần sau đó, anh Điển hỏi Anh: “Bá Hoa trả lời cô ta chưa?”

“Chưa”. Anh trả lời cụt ngủn.

Anh Điển càng chọc:

“Bá Hoa nhát quá. Con trai nhận thư con gái mà làm thinh, bộ hổng sợ con gái nó chửi hả? Chọc con gái giận, nó chửi thúi lỗ tai chớ hổng phải vừa đâu nghe. Trả lời cho người ta đi”.

“Bộ Điển bị con gái chửi rồi hả?” Chắc là có bị chửi nên ảnh nín thinh hà Em.

Nhắc chuyện anh Điển bỗng dưng Anh chợt nhớ đến mẫu chuyện hồi năm 1953 mà tức cười. Sau lớp học đêm, ngoài trời vừa dứt cơn mưa nên sân c̣n sũng nước, đi trước Anh là hai cô và bên cạnh có hai anh cũng vừa trong lớp ra. Một trong hai anh lên tiếng:

“Em ơi! Nó có tội ǵ đâu mà em nắm đầu nó như vậy tội nghiệp lắm.”

Chẳng là hai cô đang túm phía trước quần để tránh nước văng dơ. Thế là một cô chửi như tát nước:  

“Em để Chị nắm đầu chửi nó một trận, cái thứ ra đường ăn nói sàm sở với con gái là đáng cho Chị chửi lắm”.

Thế là hai anh chàng làm thinh mà bước nhanh như chạy trốn vậy Em. 

Thiệt t́nh Anh chẳng biết con gái chửi ra làm sao, nhưng nghe anh Điển nói, cộng với cô học tṛ chửi anh học tṛ bạn như vậy nên cũng hơi ngán. Thế là Anh viết thư vắn tắt trả lời cô ta. Thư thứ hai, cô ta mời Anh có dịp nào về Sài G̣n ghé nhà cho biết.

Vài tháng sau đó, Anh với anh Điển  được cử lên Sài G̣n liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu, xong việc, hai đứa t́m đến địa chỉ nhận thư ở số 139 đường Lê Văn Duyệt (Sài G̣n) mà lát nữa Anh với Em đến đó. Anh với anh Điển đến đúng địa chỉ, nh́n tấm bảng lớn bằng bề ngang gian nhà, với ḍng chữ mà những vị đàn bà có bầu cho dẫu có đau bụng mờ mắt đến mấy cũng trông thấy “Nhà Bảo Sanh Đại Phúc”.

Anh nói với anh Điển: “Điển ơi! Tụi ḿnh vô nhà bảo sanh rồi”.

Anh Điển cười ngất, vỗ vai Anh: “Bá Hoa có lầm không vậy?”.

Thấy Anh có vẻ muốn “lui gót”, anh Điển lẹ làng tḥ tay bấm chuông, tay kia giữ Anh lại cứ như sợ Anh bỏ chạy. Mà thật, nếu tay Anh không bị giữ lại là Anh lên xe rồi. Ai đời hai chàng thanh niên mặt mũi non choẹt mà vào nhà bảo sanh giống như đi thăm “đàn bà đẻ” vậy đó. Trong lúc Anh bối rối th́ anh Điển tỉnh bơ.

Nghe tiếng “két” một cái, cánh cửa mở. Một bà trắng trẽo tṛn trịa, áng chừng trên dưới 30 tuổi, đứng nh́n Anh rồi nh́n anh Điển. Bỗng dưng bà ta tươi cười cứ như gặp người quen vậy Em:

"Thiếu Úy t́m cô Liên phải không?” 

Anh với anh Điển nh́n nhau như cùng thắc mắc: “Sao bà ta biết vậy ḱa?”

Liền đó anh Điển chỉ vào bảng tên trên túi áo Anh, nói nhỏ: “Bả thấy tên Bá Hoa đây nè”.

“Cứ gọi tôi là Chị Ba. Mời hai Thiếu Úy vào nhà”. Mời nước xong, Chị ấy cho người đi gọi cô ta. Hóa ra đây là địa chỉ cô ta mượn để liên lạc thư, chớ nhà cô ở khu Bàn Cờ, gần góc đường Lư Thái Tổ với Hồng Thập Tự.

Không phải đến một cô mà hai cô lận Em. Lúc ấy Anh mới biết tên cô là Ng. c̣n Liên là tên giả. Cô bạn cùng đi tên Lan. Câu chuyện chỉ quanh quẫn sức khỏe, học hành, đến chuyện mặt trời vẫn mọc mặt trăng vẫn lên, mây vẫn trôi nước vẫn chảy, mưa nắng điều ḥa, nghĩa là chẳng ra chuyện ǵ cả. Cuối cùng th́ “ai về nhà nấy”. Từ đó anh Điển hổng chọc Anh nữa. Đến khi anh Bảy Đô giới thiệu Em đang trên đường từ trường học về, th́ Anh không c̣n liên lạc với cô ta nữa”.

“Chuyện đến đó là hết hả Anh?”

“Chỉ có vậy thôi Em. Bây giờ ḿnh đến gặp cô ta, sau đó ḿnh c̣n đi một ṿng Sài G̣n là hết ngày rồi Em”. 

Lên xe tắc xi, tôi giới thiệu đường phố với những nét đặc biệt của từng đoạn  đường, mục đích cũng là choán th́ giờ. Và rồi chúng tôi đến nhà bảo sanh Đại Phúc. Sau khi tôi giới thiệu vợ tôi xong, Chị ấy tự động cho người nhà đi mời cô Ng. và cô Lan cùng đến. Chào hỏi xong, câu đầu tiên cô ta khen vợ tôi:

Chị đẹp quá, mà Anh cũng đẹp nữa”.

“Trời đất ơi! Dám khen chồng của vợ tôi đẹp. Bộ muốn đốt nhà tôi hay sao đây?” Tôi nghĩ thầm như vậy. Nhưng câu chuyện rất vui trong hơn một tiếng đồng hồ, cũng toàn là chuyện trên trời dưới biển. Và sau lời từ giă, “nhà ai nấy về”. Vậy là tôi vừa minh bạch với vợ tôi về một cô gái.

Sáng sớm ngày 7/5/1958, vợ chồng tôi lên xe đi Ban Mê Thuột. Ngủ đêm tại đó, sáng hôm sau lên xe đi Plei Ku, và đến Kon Tum lúc 10 giờ tối. Hết giờ làm việc chiều hôm sau -9/3/1958, tôi đưa vợ tôi đến “ra mắt” các anh chị trong Tiểu Đoàn. Trong bữa ăn đông đủ các bạn, chị Điển hỏi vợ tôi:

“Chị Hoa ơi, tôi hỏi thiệt chị chớ anh Hoa bây giờ ăn nước mắm chưa?”

“Anh Hoa ăn nước mắm mà. Sao chị hỏi vậy?” Vợ tôi đáp với chút thắc mắc.

Các anh các chị cười quá. Chị Quỳnh vừa cười vừa lên tiếng:

“Chị biết tại sao chị Điển hỏi chị vậy hông? Tại v́ ở đây ảnh hổng ăn nước mắm”.

Anh Điển tiếp lời:

Tôi nói rồi mà, ở đây với anh em th́ ảnh hổng ăn, chớ về nhà chị Hoa đố ảnh dám nói hổng ăn nước mắm”.

Các bạn cùng cười vui vẻ, và những nụ cười đó góp phần giúp vợ tôi hội nhập với các anh chị vào cuộc sống nơi khỉ ho vượn hú này. Bà chủ nhà ở căn bên cạnh, chắng mấy ngày trở thành người bạn gần gủi của vợ tôi, qua lại chuyện tṛ giúp vợ tôi có thêm bạn bè, điều mà nhiều cô gái theo chồng đến nơi xa lạ khó tránh khỏi cô đơn khi ở nhà một ḿnh. Vợ chồng tôi hầu như mỗi khi sau bữa ăn chiều, đều đến với các anh chị chuyện tṛ cho vui, hoặc chúng tôi đi dọc theo bờ sông Dakbla mua bắp về ăn, chớ ở cái thị trấn bé xíu cuối dăy Trường Sơn này có ǵ để giải trí đâu.

Quan niệm hạnh phúc.

Chúng tôi sống trong gian nhà nhỏ, bên ngoài chẳng thể gọi là đẹp, bên trong cũng chẳng có trang bị tiện nghi ǵ đáng kể, nhưng trong đó có một cuộc sống thật đơn giản nhưng rất nồng ấm của đôi vợ chồng trẻ. Chúng tôi hiểu rằng, hạnh phúc tự nó không có nguyên tắc hay mẫu mực nào, mà nó h́nh thành từ những góc cạnh nhỏ bé li ti trong cuộc sống. Nói cách khác, hạnh phúc bao gồm tất cả những ǵ liên hệ trong đời sống lứa đôi tạo nên, mà người ngoài cuộc rất khó trông thấy, khó cảm nhận, cũng rất khó hiểu. Bởi hạnh phúc là do quan niệm của mỗi cặp vợ chồng cùng nhau xây dựng, cùng nhau thực hiện, và cùng nhau cảm nhận nó. Một cặp vợ chồng sóng đôi bách bộ dạo phố v́ không có xe riêng, trong khi cặp vợ chồng nào đó ngồi trên xe du lịch đắt tiền, chạy hết đường này sang phố khác, chắc ǵ ai hạnh phúc hơn ai. Bởi trong những mái ấm gia đ́nh bất luận là nhà lớn hay nhà nhỏ, nhà đẹp hay nhà không đẹp, không có hạnh phúc nào giống hạnh phúc nào, v́ ngay trong định nghĩa về hạnh phúc có giống nhau đâu, phải không quí vị quí bạn?

Vậy, hạnh phúc xuất phát từ trong bản thân của mỗi cặp vợ chồng chớ không phải từ chung quanh, nhưng phải công nhận những tương quan hỗ trợ từ chung quanh là điều cần thiết. Từ đó, vợ chồng tôi quan niệm hạnh phúc như thế này: (1) Sau hôn nhân, “Hạnh phúc chúng tôi là chính”. Khi quan niệm như vậy, những vấn đề từ hai bên gia đ́nh hay từ bè bạn được giải quyết trên căn bản giữ được niềm vui với nhau. Tất nhiên, có nhiều trường hợp chúng tôi chấp nhận thiệt tḥi, nhưng đó chỉ là điểm phụ. (2) Khi các con c̣n tuổi ấu thơ, “Niềm vui của các con là hạnh phúc của chúng tôi”. (3) Khi các con đi học, “Tương lai của các con là hạnh phúc của chúng tôi”. (4) Khi các con có gia đ́nh, “Hạnh phúc các con với tương lai các cháu là hạnh phúc của chúng tôi”.

Chúng tôi quan niệm tương lai của các con trong sáu chữ: “Kiến Thức - Đạo Đức - Nghị Lực”. Xin giải thích theo quan niệm chúng tôi: “Kiến Thức là ch́a khóa mở tất cả các cửa trong cuộc sống, kể cả cánh cửa con tim. Kiến thức được h́nh thành từ: Bẩm sinh + giáo dục gia đ́nh + giáo dục học đường + giáo dục xă hội. Kiến thức rất cần sự hướng dẫn của Đạo Đức để mang lại hữu ích cho xă hội, cho bản thân, cho thân quyến. Kiến thức với đạo đức rất cần đến Nghị Lực để đủ kiên nhẫn vượt qua những trở ngại khi biến kiến thức thành sản phẩm cống hiến cho xă hội, dù đó là sản phẩm bất cứ thuộc lănh vực nào trong sinh hoạt xă hội. Quan niệm này có khả năng h́nh thành những con người tử tế trong gia đ́nh, tử tế trong xă hội, từ đó sẽ hành động tử tế trong sinh hoạt quốc gia. Nh́n chung, giáo dục là nền tảng đào tạo nhân cách và kiến thức, từ đó thúc đẩy sức phát triển xă hội. Quốc gia nào có nền giáo dục đúng hướng, quốc gia đó sẽ phát triển đúng hướng.

                                                                             *****

Tháng 4/1959, các Sư Đoàn Dă Chiến với Khinh Chiến giải thể để tổ chức thành Sư Đoàn Bộ Binh. Lúc ấy tôi đang là Trưởng Ban 3 Trung Đoàn 35, được lệnh thuyên chuyển đến Sư Đoàn 21 Bộ binh ở Sa Đéc, làm việc trong Pḥng 3 Sư Đoàn với trách nhiệm đầu tiên là soạn kế hoạch chuyển một phần Sư Đoàn lên Tây Ninh.

Tháng 6/1960, tôi vào học Trường Đại Học Quân Sự tại Sài G̣n, rồi trở về Sư Đoàn 21 Bộ Binh giữ chức Chánh Văn Pḥng Tư Lệnh Sư Đoàn. Tháng 12/1962, thuyên chuyển lên Bộ Tổng Tham Mưu giữ chức Chánh Văn Pḥng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, sau đó giữ chức Chánh Văn Pḥng Tổng Tham Mưu Trưởng. Tháng 12/1966, biệt phái ngoại ngạch giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ). Tháng 4/1968 thuyên chuyển đến Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài G̣n. Tháng 6/1970 theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp ở Đà Lạt, rồi trở về Tổng Cục Tiếp Vận. Tháng 2/1972, thuyên chuyển đến Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận ở Cần Thơ giữ chức Chỉ Huy Phó. Tháng 7 cùng năm, trở về Sài G̣n giữ chức Cục Trưởng Cục Măi Dịch. Tháng 12/1974, chuyển lên Tổng Cục Tiếp Vận giữ chức Tham Mưu Trưởng đến cuối cùng. Trong suốt thời gian đó, dù thuyên chuyển đến đâu, vợ chồng tôi cùng các con vẫn bên nhau, vẫn ǵn giữ và thực hiện quan niệm hạnh phúc gia đ́nh. Đến năm 1975, vợ chồng tôi có được 4 con trai và 1 con gái, đứa lớn nhất 16 tuổi và nhỏ nhất là 4 tuổi.                                                

Trong thời gian tại ngũ, trong phái đoàn chánh phủ tham dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Đại Hàn Pak Chung Hee, tôi được thăm Đại Hàn, Nhật Bản, và Hong Kong năm 1963. Trong phái đoàn thảo luận với Bộ Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội Hoàng Gia Thái Lan năm 1966 sang giúp Việt Nam chúng ta chiến đấu, trong phái đoàn nghiên cứu Tiếp Vận quân đội Trung Hoa Dân Quốc năm 1970, trong phái đoàn nghiên cứu Tiếp Vận các quốc gia vùng Tây Thái B́nh Dương năm 1971 tại Okinawa, và trong phái đoàn nghiên cứu xây dựng chiều cao & hải cảng Sealand Singapore năm 1973.  

Tổ chức & quản trị gia đ́nh.

Thưa quí vị, rất có thể do tôi méo mó công tác tham mưu quân sự nên tôi ứng dụng chữ quan niệm trong lệnh hành quân vào tổ chức và quản trị gia đ́nh. Theo đó, mỗi cung cách xử sự giữa chúng tôi với nhau, giữa chúng tôi với các con chúng tôi, đều có quan niệm để hướng dẫn cung cách xử sự. (h́nh bên phải chụp năm 1970)

Trong cuộc sống gia đ́nh. Giữa vợ chồng tôi, “Anh, Em” là cách gọi nhau và xưng hô với nhau. Đó là lời mở đầu, cũng là lời kết thúc sau câu chuyện. Mỗi khi có điều ǵ cần bàn căi tranh luận, nói rơ hơn là giận nhau, không bao giờ chúng tôi để các con chứng kiến. Lúc ở Cần Thơ, chúng tôi nhờ người giúp việc đưa các con chúng tôi ra chơi ngoài công viên gần nhà. Sau này khi sống ở Sài G̣n, mỗi lần có chuyện như vậy, chúng tôi lên xe chạy đến nơi gần nhất là khuôn viên nhà thờ ngă sáu Chợ Lớn tranh luận. Chỉ riêng cố gắng kềm giữ b́nh thản trước mặt các con, tuy là trong khoảnh khắc nhưng có khả năng làm cho mức độ giận dỗi hạ xuống. Khi xe đến chỗ dừng lại, thường khi chúng tôi nh́n nhau qua ánh mắt đủ nói với nhau rằng: “Giận th́ giận mà thương càng thương” quí vị à! Vậy là ḥa b́nh, hôn nhau, và quay về. Quan niệm và hành động như vậy, chúng tôi muốn các con chúng tôi tránh được cái tâm trạng cảm thấy gần gủi bạn bè hơn là cái không khí nặng nề trong gia đ́nh, bởi điều này ảnh hưởng quan trọng trong hành trang vào đời của các con chúng tôi.

Giữa chúng tôi với các con, các con gọi Mẹ chớ không gọi Má, v́ chúng tôi cho rằng âm thanh Mẹ nghe nhẹ nhàng thân thương hơn, ngọt ngào hơn. Vợ chồng tôi không dám cho là ḿnh đúng, nhưng chúng tôi đă đồng ư như vậy. Chúng tôi gọi các con là gọi tên chớ không gọi theo thứ tự trong gia đ́nh, v́ nghĩ rằng gọi tên nghe gần gủi hơn, tŕu mến hơn. Giữa các con chúng tôi, lớn gọi nhỏ th́ gọi hẳn tên và xưng anh, chị, nhỏ gọi lớn phải gọi anh hay chị và kèm thêm tên của anh hay chị ấy, v́ nghĩ rằng, các con chúng tôi gọi nhau xưng hô với nhau như vậy, âm thanh đó sẽ theo thời gian mà thâm nhập vào tâm hồn các con chúng tôi một cách nhẹ nhàng. Và khi các con chúng tôi vào đời, những âm thanh ngọt ngào thân thương đó, sẽ là một phần trong túi hành trang giáo dục gia đ́nh mà các con chúng tôi mang theo. Thật ḷng mà nói, chúng tôi không dám trông đợi sự hoàn hảo dù là chừng mực trong giáo dục gia đ́nh, nhưng với trách nhiệm người Cha người Mẹ, chúng tôi thấy cần phải giáo dục các con chúng tôi từ lúc bé, c̣n mức độ thành công đến đâu tùy thuộc các con chúng tôi chịu ảnh hưởng giáo dục học đường và giáo dục xă hội nữa. Nhưng nêu gương cho các con, đó là cách mà chúng tôi nhận thấy mức độ hữu hiệu rất cao trong giáo dục gia đ́nh. Bây giờ là năm 2016, vợ chồng tôi vẫn cố gắng thực hiện quan niệm đó.

Chưa hết, chúng tôi quản trị các con chúng tôi như thế này:

Tập album h́nh. Cứ mỗi năm một trang h́nh, v́ chúng tôi h́nh dung cứ theo từng trang h́nh sẽ thấy con lớn dần lên như những thước phim trên màn ảnh! Ngay trong mỗi trang h́nh, có h́nh riêng và h́nh chung trong gia đ́nh, v́ chúng tôi muốn những h́nh ảnh thân thương đó thấm sâu vào tâm hồn lẫn kư ức như nhắc nhở các con chúng tôi rằng: “Chung quanh các con bao giờ cũng có Ba Mẹ Anh Chị Em thân thương quyện vào nhau trong cuộc sống”. Những h́nh này đến nay là năm 2013, chúng tôi chọn lọc lưu giữ trong dĩa DVD với 990 tấm.  

Cuốn sổ viết tay. Ngay trang đầu tiên là bản sao Khai Sanh với những chi tiết lúc chào đời nhất là ngày giờ âm lịch. Tiếp đó là những trang: (1) Theo dơi phát triển. (2) Theo dơi sức khỏe. (3) Theo dơi thái độ và cung cách xử sự đối với Ba Mẹ Anh Chị Em. (4) Theo dơi năng khiếu cũng như cá tính bằng cách ghi lại những lời nói chứng tỏ sự hiểu biết trước tuổi. (5) Những hành động giúp chúng tôi nhận ra hướng đi tương lai của từng đứa. (6) Những trường đă học và những kết quả học trong trường. (7) Tên thầy giáo cô giáo để sau này có cơ hội nhớ ơn.

Vợ chồng tôi nhận thức rằng, ngoài phần bẩm sinh, nhân cách con người được h́nh thành từ giáo dục gia đ́nh, giáo dục học đường, và giáo dục xă hội. Mỗi phạm vi giáo dục có tầm quan trọng riêng của nó, nhưng chúng tôi cho là giáo dục gia đ́nh có tầm quan trọng đặc biệt, v́ trước khi đến tuổi thành niên, phần lớn thời gian các con sống với cha mẹ anh chị em và hấp thụ nếp sống gia đ́nh, từ lời dạy dỗ, noi gương cha mẹ, đến lời ăn tiếng nói, thái độ, cử chỉ, và hành động trong sinh hoạt thường ngày.  

*** 

Cuối năm 1966, tôi được cử giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Phong Dinh. Tất nhiên là rất bận rộn. Mỗi tuần tôi dành ra ba ngày đến các Quận Xă, cùng lúc thăm các vị trách nhiệm, thăm trường học, thăm các Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và thăm một số dân làng tại đó. Thường khi như vậy, ngoài tôi ra, có thêm Thiếu Úy Lâm sĩ quan tùy viên, một chú an ninh, và một chú mang máy truyền tin.

Một ngày tháng 6 năm 1967, khi đang thảo luận với ông Chánh Văn Pḥng Phan Trung Hàm, về hai cái thư gởi cho tôi từ Cà Mau. Đó là hai nữ thí sinh Tú Tài 2 dự trù sẽ thi tại Hội Đồng Thi Cần Thơ, nhưng v́ gia đ́nh túng thiếu nên không chắc dự được. Hai cô rất mong được giúp đỡ. Tôi nói với ông Hàm:

“Tôi sẽ giúp hai cô này. Nhưng có lẽ c̣n không ít trường hợp như vậy, và chúng ta nên giúp đỡ những cô cậu thí sinh nào trong hoàn cảnh khó khăn trong kỳ thi này luôn. Ông nghĩ sao?”

Ông Hàm đáp ngay: “Rất nên Trung Tá”

 

“Bây giờ ông mời anh Ngự, Trưởng Ty Thông Tin đến đây họp với ḿnh luôn”.

 

Lúc ấy vợ tôi đến: “Hay quá! Em đến đúng lúc Anh với ông Hàm bàn việc giúp đỡ thí sinh nghèo từ các tỉnh về thi tại đây. Có lẽ Em sẽ nhận trách nhiệm về tổ chức đội ngũ nhà bếp. Anh chưa biết tỉnh sẽ giúp bao nhiêu thí sinh, nhưng Anh nghĩ cũng hằng trăm chớ không ít đâu. Em xem hai thư này sẽ rơ nguyên nhân tại sao Anh với ông Hàm bắt tay vào việc nên làm này”.

Xem xong thư, vợ tôi cười: “Việc này rất nên giúp đỡ các cô các cậu đi thi. Em sẽ mời các bà các chị giúp việc bếp núc”.

Ông Ngự đến: “Tôi có nghe ông Hàm nói qua. Trung Tá tính bằng cách nào?”

 

“Anh liên lạc các Ty Thông Tin trong phạm vi Hội Đồng Thi Cần Thơ, yêu cầu giúp ḿnh bằng cách thông báo cho học sinh nào khi đến Cần Thơ dự thi mà không có điều kiện ăn và ở, cứ đến Cần Thơ liên lạc với ông Chánh Văn Pḥng ghi tên để được giúp đỡ. Nếu liên lạc trước khi đến Cần Thơ càng thuận tiện cho việc thu xếp nơi ăn chốn ở. Anh nghĩ được không?”

 

“Được chớ Trung Tá. Tôi làm ngay. Ngoài công việc đó ra, Ty chúng tôi cần tiếp tay với ông Hàm việc ǵ nữa không Trung Tá?”

 

“Theo Anh, có địa điểm nào cho các thí sinh nam ngủ được không? C̣n thí sinh nữ sẽ ở trong nhà khách của tỉnh và ngay trong dinh Tỉnh Trưởng. Vợ chồng tôi và các con gom vào một pḥng, c̣n bao nhiêu dành cho các cô”.

 

“Tôi sẽ tŕnh lại Trung Tá chi tiết”.

Tôi mời thêm ông Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh, anh Trưởng Pḥng 4/Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, và anh Đại Đội Trưởng Hành Chánh Tiếp Vận đến họp. Sau khi thảo luận, tuy chưa có con số thí sinh cần trợ giúp, chúng tôi h́nh thành một ủy ban có tên là “Ủy Ban Yểm Trợ Thí Sinh Mùa Thi 1967” với Chủ Tịch Ủy Ban là ông Chủ Tịch Hội Đồng Tỉnh. Ngoài ra, Hội Đồng Tỉnh cử người quản trị tài chánh và gạo với thực phẩm do các thương gia tặng cho Ủy Ban.

Sau khi liên lạc các nơi liên quan, tôi phác thảo ngay kế hoạch tổng quát như sau:

hinh2 7 Chỗ ở. Nam thí sinh ở trong trường tiểu học, khu nhà phía sau Bộ Chỉ Huy, trong Đại Đội Hành Chánh Tiếp Vận, và trong cơ sở của Phật Giáo Ḥa Hảo. Nữ thí sinh ở trong dinh Tỉnh Trưởng.

 

hinh2 8 Chỗ ăn. Nam thí sinh trong 3 lều vải do Đại Đội Hành Chánh dựng ngay trong sân dinh Tỉnh Trưởng. Nữ thí sinh bên trong dinh. Nhà bếp. Dựng lều ngay trong khuôn viên dinh Tỉnh Trưởng. Đội nhà bếp do vợ tôi mời các bà các chị tham gia. Gạo th́ ông Hàm xin ở nhà máy xay lúa. Thức ăn. Ông Hinh, Trưởng Ty Kinh Tế của tỉnh xuất trong quỹ xă hội, đồng thời xin các ông bà thương gia hoặc mỗi nhóm bảo trợ một ngày ăn. Nhu cầu bao nhiêu phần ăn trong ngày, người ta mua mang đến cho Ủy Ban chớ không nhận tiền đi mua.

Vợ tôi đưa ư kiến: “Nhân dịp này ḿnh nên mời các cô các cậu sinh viên đang ăn cơm xă hội đến đây cùng ăn với các thí sinh cho vui. Anh với quí ông nghĩ sao?”

Chuyện là từ đầu năm 1967, vợ chồng tôi có giúp 12 sinh viên nghèo đang theo học tại viện đại học Cần Thơ ăn cơm miễn phí trong quán cơm xă hội do tỉnh tài trợ. Cứ vài tháng, vợ tôi đưa các cô cậu đến nhà sách Văn Nhiều mua sách học. Chúng tôi chỉ có thể giúp được đến mức ấy thôi. Thế là các vị có mặt đều đồng ư mới các sinh viên dùng cơm với các nam nữ thí sinh trong suốt kỳ thi này.

Cũng may là chúng tôi chuẩn bị khá chu đáo nên khi  các thí sinh ghi tên nhờ trợ giúp xấp xỉ 300 người không làm chúng tôi bối rối, và cũng may là thí sinh nữ không nhiều nên đủ chỗ ở nơi mà trên giấy tờ là dinh Tỉnh Trưởng. Ngoại trừ một pḥng của cả gia đ́nh chúng tôi, bất cứ chỗ nào trống đều để ghế bố xếp (của quân đội) với mền gối cho các cô ngủ. Cái dinh rộng lớn với một pḥng vệ sinh tầng trệt và một pḥng vệ sinh có thể nói là rất rộng ngay trong pḥng ngủ chúng tôi, cứ sau giờ cơm chiều th́ tôi sang văn pḥng giải quyết công văn, trong khi vợ tôi tṛ chuyện với các cô hoặc kéo các con ra  bờ sông ngắm … lục b́nh trôi để các cô vào đó sử dụng.

Trong suốt tuần lễ thi Tú Tài 2 tại Cần Thơ, cứ vào giờ ăn sáng ăn trưa và ăn chiều, quí vị h́nh dung cái cảnh quần tây dài màu xanh với sơ mi trắng ngắn tay quây quần trong 3 lều vải, vừa ăn vừa kể chuyện làm bài thi nghe rất vui quí vị à! Xong, mời quí vị vào trong nơi gọi là dinh Tỉnh Trưởng, với những tà áo dài trắng thướt tha đi lại trông rất đẹp. Nét đẹp hiền ḥa chất phát của nữ sinh vùng đồng bằng Cửu Long, có khả năng thu hút mọi người chớ không riêng ǵ thanh niên đâu quí vị à!

   *****

                                             

Cuộc tổng công kích của quân cộng sản nhân Tết Mậu Thân, sau hai lần chống trả đẩy lui chúng ra khỏi tỉnh lỵ Cần Thơ vào cuối tháng 1 và thượng tuần tháng 2 năm 1968. Đến tháng 5/1968, tôi thuyên chuyển lên Bộ Tổng Tham Mưu phục vụ trong bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận do bị qui trách “căi lệnh hành quân của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tư Lệnh Quân Đoàn 4, khi đánh tiểu đội đặc công cộng sản trong Viện Đại Học Cần Thơ. Tôi xin để Tiểu Khu đột kích ban đêm, trong khi Thiếu Tướng Mạnh muốn đánh bằng Không  Quân và Pháo Binh ngay trong ngày, v́ tôi không muốn tàn phá trường đại học bằng Không Quân và Pháo Binh.

Đứa con thứ năm.

Hạ tuần tháng 3 năm 1971, vợ chồng tôi có thêm đứa con trai tên Phạm Bá Nghĩa, cũng chào đời tại nhà bảo sanh Lương Kim Vy. Vậy là chúng tôi có được một con gái với bốn con trai.

                                                *****

Vào trại tập trung.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chế độ Việt Nam Cộng Ḥa sụp đổ bởi quân cộng sản từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa phía bắc đánh chiếm. Chỉ trong tháng đầu tiên, ít nhất là 222.809 quân nhân viên chức và cán bộ trở thành tù chính trị của cộng sản Việt Nam -trong đó có tôi- bị chúng giam giữ trong các trại tập trung trong Nam. Một năm sau đó, thêm vài trăm ngàn đồng đội của chúng tôi bị bắt vào trại. Rồi đa số chúng tôi bị chuyển các trại tập trong trên đất Bắc. Riêng tôi bị tù tại các trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh 16/6/1975, đến tháng 10 cùng năm (1975) chuyển đến trại Tam Hiệp tỉnh Biên Ḥa, tháng 6/1976 chuyển ra vùng rừng núi tây bắc Hà Nội tại trại Cốc quận Trấn Yên tỉnh Hoàng Liên Sơn (Yên Báy), tháng 4/1978  chuyển xuống trại Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh (Phủ Lư), cộng chung là 12 năm 2 tháng 28 ngày kể từ 14/6/1975.  

Các con vượt biển!

Trong thời gian tôi bị tù, vợ tôi vô cùng vất vă lo cho các con chúng tôi vượt biển trong 3 thời gian khác nhau. Tháng 4 năm 1980, hai con trai vượt biển đến trại tạm cư Songkhla Thái Lan, rồi chuyển sang trại Galang Indonesia. Tháng 10 cùng năm, một con trai vượt biển đến Phi Luật Tân. Tháng 5 năm 1981, một con gái và một con trai vượt biển đến trại tạm cư Singapore. Tất cả các con chúng tôi -bốn trai và một gái- lần lượt đến Houston tháng 12/1980, tháng 3/1981, và tháng 9/1981, với sự giúp đỡ của các em tôi là vợ chồng Phạm Phi Long, vợ chồng Phạm Thu Nguyệt, và Phạm Bá Sáng, định cư tại đây từ những năm trước đó.

Khi được tin hai con sau cùng đến trại tạm trú Singapore b́nh an, lúc ấy tôi bị giam trong trại tập trung Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh, với nỗi vui mừng tột độ đó, tôi viết trang thư gởi “chui qua hộp thư chết” ra nhà thăm nuôi, nhờ mang về Sài G̣n để vợ tôi gởi sang Hoa Kỳ cho các con tôi. Nội dung gồm những lời khen tặng vợ tôi, vừa khen vừa hướng dẫn các con chúng tôi vào hành tŕnh “xây dựng tương lai”. Sau khi đọc đi đọc lại mấy lần, tôi nắn nót từ trang thư thành “trang thơ tự do” có tên

                      Dù Thế Nào Anh Vẫn Nhận Ra Em

Vào một ngày nắng hạ

một chín bảy lăm (1975)

Anh phải đi “học tập”

Em ở lại cùng con

            Một ṿng tay, hai nụ hôn từ giă

Em đứng nh́n, đôi mắt đỏ long lanh

Em nghẹn ngào:

            bởi v́ đâu, hai đứa phải chia tay Anh hởi?

            liệu cuộc đời, bước ngoặc có xa không?

Anh kề sát tai Em:

            hoàn cảnh ḿnh, ai biết được ngày mai

            ta chỉ biết, sẽ sum vầy sau ba mươi ngày xa vắng! (1)

                                                                             

                                                ***       

Nhưng

chẳng phải ba mươi ngày

            cũng chẳng phải ba năm (2)

            mà là một trăm bốn mươi bảy tuần trăng tṛn khuyết (3)

Đó là thời gian

            cũng là cuộc sống

Cuộc sống ấy, với biết bao gian khổ

            bủa vây Em, mà Em phải xông pha

Là vợ người chiến sĩ

            hai mươi năm dài binh nghiệp (4)

            tích lũy dần, đức tính đảm đương

Bằng t́nh yêu Chồng, và t́nh Mẹ thương Con

Em chấp nhận cuộc đời

            giẩm lên mà bước

            đạp xuống mà đi

            và Em đi thật vững

Với Anh

            dù ngàn dặm xa xôi cách trở

            dù nắng hạ oi nồng

            dù rét buốt mùa đông

            Em vẫn đến thăm chồng

                        bằng tất cả tâm hồn trong sáng ấy

Với Con

            dù trên lằn ranh tù ngục

            dù trên lằn biên sống chết

            dù ray rứt tâm tư

                        bởi t́nh thương người Mẹ

            Nhưng

                        v́ tương lai con trẻ

                        Em tập trung nghị lực

                        vẫn lệ nḥa, khi tiễn các Con đi

 

                                                ***

Các Con này

            đường tương lai trước mắt

                        Là trau dồi Kiến Thức

                        Đạo Đức phải vun bồi

                        Và giũa mài Nghị Lực                                                           

            phải vững vàng, bước tiếp nghe Con

Đừng ngập ngừng, khi vấp ngă

Hăy đứng lên, kịp bước với bạn hiền

Thành công nào, cũng trả giá nghe Con

Và chính đó, mới vẹn tṛn ư nghĩa

Ráng nghe Con

            đừng phụ Mẹ Ba

            với Ông Bà Cô Chú Cậu D́

                                   

                                                  ***

Em

Mười hai năm qua

Em đă lớn biết bao

            lớn bởi cách nh́n

            lớn do cách nghĩ

            lớn về tầm cao nghị lực

            và lớn về chiều sâu tâm hồn

Ôi!

Nỗi cô đơn, những năm dài cách biệt

T́nh yêu chồng

            Em đong bằng nước mắt!

T́nh thương Con

            Em nhỏ lệ cánh thư dài!

Giờ đây

            một ṿng tay, hai nụ hôn đoàn tụ

            nói ǵ đây, Anh biết nói ǵ đây

Anh chỉ nói được rằng:

Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em

            bởi Em, có một t́nh yêu đầy đặn với Chồng

            bởi Em, có một t́nh thương dào dạt với Con

            bởi Em, có một t́nh quyến thuộc họ hàng

            và bởi Em, có một t́nh người với bạn

Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em

            bởi Em, là nửa phần hơi thở của hồn Anh

            bởi Em, là nửa phần con tim Anh đang nhịp

            và bởi Em, là nửa phần cuộc sống của riêng Anh

Dù thế nào, Anh vẫn nhận ra Em

            bởi Em là Người Vợ

                        Người Yêu

                        Người Bạn Đời măi măi của riêng Anh

            Dù thế nào Anh vẫn nhận ra Em

                        để hôn Em, với những nụ hôn dài

                                    và hôn Em, với những nụ hôn dài …

 

                                                                        *****    

1) Tại Sài G̣n, thông cáo của cộng sản bảo chuẩn bị học tập 30 ngày.

(2) Tại trại Tam Hiệp, cộng sản nói chính sách cải tạo 3 năm.

(3) 147 tháng, hay là 12 năm 2 tháng và 28 ngày trong các trại tập trung.

(4) 21 năm trong quân ngũ.                                                      

Ra khỏi trại tập trung.

(Trích thư ngày 10 tháng 6 năm 1997  của cựu Thống Tướng John W. Vessey gởi  Chủ Tịch  Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị  tiểu  bang Bang Minnesota).

“Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà tôi được Tổng Thống giao phó, là phải t́m cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là “trại cải tạo”. Tôi cũng được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng: “Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng gia đ́nh họ sang Hoa Kỳ”.

 

“Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, chúng tôi không hi vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều mang danh “chiến dịch nhân đạo” (Humanitarian Operations), gọi tắt Anh ngữ là H.O. Do vậy mà danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt - Mỹ sử dụng, để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ.”

Kết quả thỏa thuận bước đầu giữa Hoa Kỳ với cộng sản Việt Nam, tôi trong số 91 tù nhân chính trị ra khỏi trại Nam Hà A tỉnh Hà Nam Ninh ngày 9 tháng 9 năm 1987 lên xe lửa tại Nam Định và về đến gia đ́nh ở Sài G̣n chiều 12 tháng 9 năm 1987. (Mời xem quyển “Kư Sự Trong Tù” 1975-1991 do nhà sách Tú Quỳnh nam California, ấn hành tháng 7 năm 2008).

Vợ chồng tôi sang Hoa Kỳ.                      

Sau thời gian làm thủ tục và chờ đợi xuất ngoại, vợ chồng tôi rời Sài G̣n ngày 29 tháng 3 năm 1991 sang Thái Lan làm thủ tục và đến Hoa Kỳ ngày 5 tháng 4 năm 1991 trong đợt HO5, định cư tại Houston sống với các con chúng tôi đến đây năm 1980 và 1981.

(tại phi trường Houston)

Sau những năm cực mà vui với “nghề bán hàng, nghề may, giữ trẻ, ... ” , vợ chồng tôi ổn định cuộc sống, cũng là lúc trở thành công dân Hoa Kỳ, chúng tôi bắt đầu tham gia sinh hoạt trong Cộng Đồng, gắn bó hơn hết là tổ chức Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại, từ năm 1995 với Hội Thủ Đức Houston, và từ năm 2000 đến 2009 với Tổng Hội Thủ Đức Hải Ngoại. Ngoài tham gia sinh hoạt Cộng Đồng, tôi viết những bài thời sự Việt Nam, nói cho đúng là những bài vạch trần những tội ác, những gian trá, những mánh khóe gian manh trong bản chất của nhóm lănh đạo cộng sản Việt Nam, đưa lên  Net, nhất là  tôi chuyển về các thành phần xă hội trong nước. Mục đích giúp người nhận hiểu được những ǵ đằng sau chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng của cả hệ thống tuyên truyền của chế độ độc tài cai trị Việt Nam, một chế độ sử dụng những hành động côn đồ để che giấu sự tàn bạo của độc tài.

(Mời xem quyển “Tôi Là Một H.O.” (1991-2009) dày 652 trang).   

Một chuyến Châu Âu.                     

Chúng tôi cũng có dịp du lịch vài thành phố: Frankfurt và  4 thành phố  lân cận (Đức), Milan & Venice (Ư), Paris (Pháp) năm 2003. Quần đảo Bahamas 2993. Brisbane, Canbêra, và Sydney 2004. Quebéc, Montréal, Ottawa, Kingston, và Toronto (Canada) năm 2005.

Trong chuyến du lịch Châu Âu, vợ chồng tôi đi với vợ chồng con trai lớn cùng hai cháu Nội. Ngày 28/05/2003, rời Houston trên chuyến bay Continental đến phi trường New York, chuyển phi cơ bay sang thành phố Frankfurt, Cộng Ḥa Liên Bang Đức. Sau 3 tiếng đồng hồ chuẩn bị tại nhà thông gia chúng tôi ở thành phố Langen, thành phố nhỏ ven ngoại ô thành phố Frankfurt, “đoàn chúng tôi” gồm 15 người rời Langen lúc 3 giờ chiều ngày 29/05/2003, xuôi Nam theo xa lộ E35 ngang qua lănh thổ Thụy Sĩ và đến miền Bắc nước Ư lúc nửa đêm. Đoạn cuối xa lộ E35 trong phần lănh thổ Thụy Sĩ có đường hầm dài 16 cây số. Với nét nh́n tổng quát, Thụy Sĩ có nhiều hồ nước cũng không có ǵ ngạc nhiên, v́ quốc gia này lọt thỏm trong vùng núi chập chùng.   (1991-2009) dày 652 trang).   

 Trong những ngày trên đất Ư, chúng tôi ở trong ngôi nhà khang trang của gia đ́nh người Đức cho mượn, bên bờ hồ Maggior thành phố Stresa. Nếu lái xe ṿng quanh hồ này đến hơn 50 cây số mà 1/3 phía Đông thuộc Thụy Sĩ và 2/3 c̣n lại là lănh thổ Italy.

(Venice, Italy) 

 Trong ngày 30/5/2003, cả đoàn chúng tôi thăm 2 thành phố quanh hồ và những vườn nho lân cận. Ngày hôm sau đến thành phố Venice (chữ địa phương là Venezia). Gọi “thành phố ch́m” cũng đúng mà  “thành phố  nổi” cũng không sai. Khi dùng tàu chạy trên Grand Canal gần như cắt đôi Venice, du khách sẽ thấy hầu hết những ngôi biệt thự hay công thự dọc hai bên bờ sông đều bị nước ngập khỏi mặt nền. Cho dẫu đi dạo ṿng quanh thế nào đi nữa th́ điểm tập trung của du khách vẫn là ngôi nhà thờ nguy nga cũ kỹ gần ṭa thị chánh Venice, cũng là gần Grand Canal với những xuồng những ghe và cả tàu nhỏ đưa du khách đi lại trên sông. Ngày hôm sau nữa, chúng tôi đến thăm thành phố Milan (chữ địa phương là Milano), thành phố đă một thời là biểu tượng về thời trang Châu Âu. Chúng tôi đến đây vào ngày chủ nhật nên hầu hết các tiệm đều đóng cửa, ngoại trừ nhà hàng. Chúng tôi thẳng đường trở về Frankfurt.

Những ngày kế tiếp, chúng tôi thăm vài thành phố lân cận trong ṿng 100 cây số: Langen, Heidelberg, Damstadt, Wesnbaden.

Vợ chồng tôi cùng con trai sang Paris bằng xe bus. Rời Langen lúc 11 giờ đêm, đến sáng sớm hôm sau đến Paris. Cả đoàn du khách trên xe bus vào khách sạn Magenta, gần “Gare de L’ Est”, Quận 10, Paris.  Mỗi sáng, chúng tôi đi xe điện ngầm xuống Quận 13, nơi có Cộng Đồng Việt Nam tại đây, ăn sáng và mua trái cây đem theo ăn trưa. Chúng tôi đến “Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn, Bờ Sông Seine, và Viện Bảo Tàng Louvre.  Buổi chiều cũng quay lại Quận 13, cơm xong  lại dùng xe điện ngầm trở về khách sạn.   (Tháp Eiffel, Paris)

Tôi lên 284 bậc thang để đến tầng trên cùng cùa Khải Hoàn Môn. Nh́n bao quát Paris khoảng 1 giờ trưa, chung quanh Khải Hoàn Môn có 6 con đường chia làm 6 cánh đều nhau, với 6 đoàn xe như qui tụ đến Khải Hoàn Môn đồng thời với 6 đoàn xe từ Khải Hoàn Môn tỏa ra 6 hướng của Paris.  

                            Dành ra một ngày dùng “xe bus đỏ” đi một ṿng thành phố Paris, dừng lại 11 thắng cảnh của Paris, trong số đó có Khải Hoàn Môn, Tháp Eiffel, dọc bờ sông Seine, viện bảo tàng Louvre, công ty Hàng Không Pháp, ..v..v.. Xe bus có tầng trên và tầng này hầu như không có mui để du khách dễ dàng ngắm Paris và chụp h́nh quay phim. Tôi có nét nh́n tổng quát về một Paris già nua nhưng vẫn c̣n sức hấp dẫn với du khách đó đây. Tôi nói “Paris già nua”, v́ những ǵ hấp dẫn du khách hầu hết là có từ mấy thế kỷ trước, có lẽ một phần cũng do nước Pháp có một “dân tộc già” v́ hằng nửa thế kỷ qua chỉ gia tăng với con số nhỏ nhoi. Dĩ  nhiê n, “một dân tộc già” không thể nào sánh nổi “một dân tộc trẻ” năng động. 

(Sông Seine, Paris)

 

Trước ngày rời Paris, anh Phan Văn Minh và anh Huỳnh Minh Quang (cả hai là cựu Đại Tá Không Quân) đến khách sạn thăm vợ chồng tôi, ngoài ra không liên lạc được bạn nào khác. Theo lời anh Minh, có thể nói là đa số bạn bè đồng đội hay đồng tù đang sống tại Paris rất ít khi gặp nhau. Kể cũng lạ!

Một chuyến Bahamas.

Cũng trong năm 2003 từ ngày 24 đến 27 tháng 7, chúng tôi du lịch quần đảo Bahamas bằng du thuyền.                            

 Vợ chồng tôi, vợ chồng con gái với 3 cháu Ngoại, vợ chồng con trai với 2 cháu Nội, và 2 cháu Nội Steven Thành & Stephanie Phương Thanh con của vợ chồng con trai lớn.

(trên tầng cao nhất của du thuyền chờ tàu rời cảng Canareval))

Hải tŕnh của du thuyền Royal Caribbean, khởi đi từ hải cảng Canaveral lúc 5 giờ chiều, men theo ven biển xuống hướng đông nam, gần ngang thành phố Miami rẻ hướng đông đông nam. Lúc 11 giờ sáng hôm sau, du thuyền vào hải cảng Nassau của quân đảo Bahamas. Tại đây đă có 3 du thuyền đến trước, trong khi có 1 du thuyền chuẩn bị rời bến trở về hải cảng Canaveral.

Cơm trưa xong, chúng tôi được hướng dẫn sang chiếc du thuyền nhỏ để đến vùng biển trong xanh nh́n thấy những bầy cá lội gần đáy biển. Mọi người trên du thuyền xuống biển lặn hụp tùy thích. Sau 3 tiếng đồng hồ, quay lại du thuyền Royal Carribean dùng cơm chiều. Trên tàu có 2 nhà hàng lớn và 1 nhà hàng buffet, ăn xong vào rạp xem phim.

Lúc 3 giờ sáng ngày 26/7/2003, du thuyền rời hải cảng Nassau, và 8 giờ sáng đến đảo Cococay. Đây là một đảo nhỏ, không có cầu để cặp vào. Thay vào đó, có 3 chiếc tàu nhỏ, mỗi chiếc có khả năng chở 150 du khách, lần lượt đưa hơn 2.000 du khách từ du thuyền vào đảo. Du khách vào đây tắm biển, ăn trưa, mua quà kỹ niệm. Đây là một băi biển đẹp, nước trong xanh. Chừng như không có người ở v́ chỉ thấy mấy dăy gian hàng nho nhỏ bán những vật kỷ niệm cho du khách. Rất có thể những ngày không có du thuyền đến đây, trên đảo  không có bóng dáng người th́ phải? Hoặc nếu có, chắc chỉ lác đác vài người “giữ đảo” thôi.

Tắm xong, cơm trưa xong, mua vài món hàng kỷ niệm cũng xong, chúng tôi lên tàu nhỏ trở ra du thuyền. Không phải tất cả du khách trở ra du thuyền cùng thời gian, miễn sao có mặt trên du thuyến trước 6 giờ chiều là được.

Lại cơm chiều, lại xem phim hoặc mua sắm. Ăn uống th́ không trả tiền, nhưng mua sắm trả bằng “credit card” của du thuyền đưa cho du khách khi mua vé. Khoảng giữa du thuyền, tầng 3, tầng 4, tầng 5, là nơi bán hàng miễn thuế. Rất nhiều vật dụng kỹ niệm, rất nhiều loại đồng hồ, vàng ṿng nữ trang dành cho phụ nữ.

5 giờ chiều ngày 26/07, du thuyền Royal Caribbean rời đảo Cococay, quay về đất liền. 9 giờ sáng ngày 27/07, du thuyền cặp hải cảng Canaveral, chấm dứt một chuyến du lịch quần đảo Bahamas.

Một chuyến Australia.

Tháng 9 năm 2004, vợ chồng tôi có dịp du lịch Australia, nơi mà chúng tôi từng ước mơ được đặt chân đến vùng đất có tên gọi nghe rất nhẹ nhàng t́nh cảm “Miệt Dưới”, tương tự như miền quê đồng bằng Cửu Long chúng ta được gọi là “Miền Tây” vậy. Miệt dưới, được hiểu là vùng đất xa dưới “Nam Bán Cầu”.

  Chúng tôi sang Los Angeles, chuyển sang máy bay hăng hàng không “Qantas Airway” của Australia. Cất cánh lúc 11 giờ 30 khuya ngày 15/09/2004, nh́n vào màn ảnh nhỏ ngay trước mặt, cho thấy máy bay hoàn toàn bay trong bóng đêm.

Cứ như vậy đến sáng ngày 17/09 tức 1 ngày 2 đêm, máy bay đáp phi trường quốc tế Brisbane, tiểu bang Queensland. Brisbane là thành phố lớn thứ 3 của Australia, phía bắc Sydney khoảng 1.000 cây số. Sydney là thủ đô kinh tế, Canberra là thủ đô chính trị.   

Phía nam Brisbane khoảng 100 cây số có thành phố du lịch khá nổi tiếng là Gold Coast. Phía bắc Brisbane khoảng 80 cây số có “Australia Zoo” thuộc thành phố Sunshine Coast. Cả hai bờ biển “Gold Coast với Sunshine Coast” rất đẹp, thu hút đông đảo du khách khi đến Brisbane. Trong “Australia Zoo” có một khu dành riêng cho con Kangaroo, một động vật chỉ có ở Australia. Đến Australia, nếu chưa nh́n thấy con “Kangaroo”, chưa ngắm “nhà hát Con Ṣ” (Opera House), cũng chưa đứng trên “Cầu Hải Cảng” (Harbour Bridge), xem như điều thiếu sót. Tương tự như vậy, nếu đến Paris mà chưa đến Tháp Eiffel, chưa nh́n Khải Hoàn Môn, cũng chưa ngằm bờ sông Seine và viện bảo tàng Louvre, cũng là điều thiếu sót.

Ngày cuối cùng du ngoạn Brisbane, ông bà bác sĩ Hà Ngọc Thuần và giáo sư Đào Hoàng Nga, đăi chúng tôi bữa ăn tại nhà trong không khí rất thân mật dù mới quen nhau trong những ngày nơi đây. 

Sáng hôm sau, vợ chồng tôi rời Brisbane xuống Sydney bằng hăng hàng không nội địa. Gặp lại người bạn cũ -cựu Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm- từng làm việc chung đơn vị trước năm 1975. Người bạn đón chúng tôi và đưa về ở trong gian nhà của anh đang chờ bán, nhưng đồ đạc trang bị trong nhà c̣n đủ.

  Sau cơm trưa, vợ chồng tôi được đưa đi thăm các cơ sở dành riêng cho “Thế Vận Hội Mùa Hè 2000” ngay tại Sydney. Buổi chiều, có người đến đón tôi đến đài phát thanh phỏng vấn về một số vấn đề liên quan đến cuộc “đảo chánh 1/11/1963” lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Sáng hôm sau, vợ chồng tôi được nhà văn Chủ Tịch Văn Bút Australia -bạn thân của anh Thiêm- đưa đi Canberra gọi là thăm cho biết thủ đô chính trị của Australia.   

Người bạn mới “quen qua internet khi trao đổi những bài viết thời sự Việt Nam ” bác sĩ Nguyễn Phước Bảo Quư. Do lời hẹn trước khi rời Houston, anh Quư đón chúng tôi đưa vào downtown ṿng ṿng khu thương mại, rồi về nhà ba má bác sĩ Quư dùng cơm trưa theo lời mời của ông bà.

Tại Sydney, Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản sinh sống tại khu Cabramatta (?) là đông nhất, tương tự như khu Bellaire và Beechnut của Houston vậy. Tính theo số lượng cơ sở làm ăn buôn bán chắc là không bằng, nhưng tính theo tỷ lệ dân số có thể xem là tương ứng với Houston.

Sau lưng vợ tôi là “Nhà Hát Con Ṣ”, lối kiến trúc độc đáo này với h́nh dáng con ṣ ốp lưng chừng vào nhau qua những kiểu dáng thích hợp, vừa “nh́n” vào hướng downtown vừa “nh́n” ra cửa sông vào “Harbour Bridge”. Gần bờ sông bên dưới nhà hát là những gian hàng bán thức ăn nhanh và giải khát.

Với khoảng cách vài trăm thước trước mặt vợ tôi là downtown Sydney, sạch, đẹp, và nhịp sống trôi chảy dịu dàng, chớ không ồn ào náo nhiệt thậm chí là nhịp sống hấp tấp vội vả như hầu hết các thành phố lớn của Hoa Kỳ. Sydney như vậy, tôi thấy Brisbane, Canberra cũng vậy.     

Một chuyến Canada.

Tháng 7 năm 2005, vợ chồng tôi sang Ottawa, thủ đô Canada, ở nhà anh chị Dương Ngọc Hương, người bạn già lâu năm định cư nơi đây. Anh Hương đưa chúng tôi đế thăm Quốc Hội 2 viện. Hôm sau, một buổi họp mặt do Liên Hội Người Việt tị nạn Canada tổ chức tại trụ sở của Hội. Mục đích để các Anh Chị và các bạn trẻ có mặt, nêu câu hỏi hoặc những thắc mắc liên quan đến những biến cố chính trị tại Việt Nam Cộng Ḥa trong giai đoạn 1963-1975. Sau bữa ăn thật vui, chúng tôi được hướng dẫn đến thăm “Tượng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân” và chụp h́nh kỹ niệm.

 (Trước tượng đài Thuyền Nhân)

Vợ chồng con gái anh chị Hương đưa vợ chồng tôi và anh chị Hương xuống Kingston, du ngoạn “Ngàn ḥn đảo trong hồ” bằng du thuyền nhỏ. Hồ này, một bên thuộc Hoa Kỳ và bên kia thuộc Canada. Đây là 1 trong 5 hồ lớn trên biên giới Hoa Kỳ - Canada, thường gọi là “ngũ đại hồ”.

Ngày hôm sau, vợ chồng tôi dùng xe bus đi Montreal. Tại đây có anh cựu Trung Tá Lê Văn Trang đón đưa về nhà Anh sau khi ṿng quanh thành phố Montreal. Nhờ anh Hương điện thoại giữ chỗ trước nên ngày kế tiếp vợ chồng tôi dùng xe bus của công ty du lịch từ Montreal đi thăm thành phố Quebec và trở về trong ngày.     

 Cô hướng dẫn du lịch người gốc Trung Hoa, vui tính, cô dành cho vợ chồng tôi ngồi hàng ghế ngay sau lưng tài xế, có lẽ thấy chúng tôi già hơn  tất cả du khách trên xe. Nhờ ngồi phía trước nên thu h́nh rất thuận tiện, đôi lúc tôi đến đứng cạnh tài xế và anh ta vui ḷng chỉ cho tôi những cảnh đẹp nữa. Dọc theo xa lộ từ Ottawa đến Montreal, hoa dại màu tím trải dài hai bên lề trông rất đẹp. Loại hoa này riêng từng bụi chắc không ra ǵ, nhưng khi kết lại với nhau như tấm thảm màu tím suốt hành tŕnh, rất hấp dẫn du khách. Bắt đầu vào thành phố Montreal, những chậu hoa được treo trên các trụ đèn, tôi nghĩ, công tác chăm sóc những chậu hoa này rất công phu. Đây là nét đặc biệt của Montreal mà tôi chưa có dịp thấy ở những thành phố du lịch khác mà tôi đến.

        (H́nh bên trái. Tại Quebec, vợ tôi quàng áo màu tím, đeo kính mát, đứng nơi thuận tiện nhất để ngắm ḍng suối bên dưới)

Phía bên trên ḍng suối, có cây cầu treo để những ai đủ can đảm lên đó ngắm ḍng suối, nhưng chúng tôi  không thấy ai đứng trên cầu treo ấy cả. Ngắm măi cũng có chút rùng ḿnh v́ chiếc cầu mong manh, người đông, ḍng suối chảy mạnh, cả đoàn theo hướng dẫn viên lêo lên đồi cao nhất của Quebec nh́n bao quát thành phố mà cư dân nơi đây hầu hết đều  nói tiếng Pháp, trong khi cư dân Montreal vừa nói tiếng Pháp vừa nói tiếng Anh.

Hôm sau nữa, vợ chồng tôi lên xe lửa từ Montreal xuống Toronto. Ngồi trong ḷng xe lửa, khi nh́n thấy cảnh trí hai bên lùi dần về sau mới biết là xe đă chạy, nghĩa là không nghe tiếng động cơ. Trái với khi tôi đi xe lửa Việt Nam từ Nam Định về Sài G̣n hồi tháng 9 năm 1987 sau hơn 12 năm bị giam trong các trại tập trung của cộng sản. 

  Trong những ngày ở Toronto, chúng tôi ở nhà anh chị Sa Xuân Vũ, ba má của hai ca sĩ Tâm Đoan và  Christine Sa. Tháng 8 năm 2002, vợ chồng tôi có dịp đến thăm thác Niagara cùng với 2 cháu Ngoại là Tuyết Vi và Tuyết Nhi, nên lần này dạo ṿng quanh Toronto thôi. Lâu ngày gặp lại anh chị Nguyễn Văn Sang, đôi bạn già chúng tôi thân nhau khi cùng phục vụ trong ngành Tiếp Vận.  

 

Một chuyến Washington DC, New York.

 

Tháng 9/2003, tháng 6/2004, và tháng 1/2005, vợ chồng tôi thực hiện được 3 lần đến Washington DC và New York nhờ vợ chồng người bạn giúp nơi ăn chốn ở, vừa thăm “sếp cũ” của tôi là cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, vừa biết qua đôi nét về bộ mặt thủ đô chính trị và thủ đô kinh tế liên bang Hoa Kỳ.            

Sau khi ṿng quanh bờ hồ dưới rặng Anh Đào toàn lá không hoa, đến trước ṭa Bạch Ốc chụp tấm h́nh, tạt qua ṭa nhà Quốc Hội, đi chầm chận dọc bước tường đá đen với hơn 58.000 tên họ của quân nhân Hoa Kỳ đă hi sinh trên chiến trường Việt Nam chúng ta từ năm 1966 đến 1973, để mà ngậm ngùi thương cảm cho những bạn Đồng Minh trong cuộc chiến bảo vệ dân chủ tự do do quân cộng sản từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (miền Bắc) xâm lăng.    

(H́nh bên trái lúc vợ chồng tôi đứng trong khu đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Thế Giới 1939-1945 mới khánh thành).

Đến New York mà không đến Tượng Nữ Thần Tự Do là điều thiếu sót. Trong h́nh, chúng tôi đang trên tàu để ra đảo nhỏ áng ngay cửa sông của New York. Tàu càng đến gần đảo th́ tượng Nữ Thần Tự Do hiện ra mỗi lúc mỗi rơ thêm. Tượng đặt trên bệ khá cao. 

New York hầu như rất ít bải đậu xe công cộng, cho nên những nơi đậu xe tư nhân rất đắt, Chẳng hạn như xe của anh bạn đưa chúng tôi từ Washington DC lên đây, ở khách sạn nhưng phải gởi xe gần đó với giá 36 mỹ kim 1 đêm (không phải ngày đêm).

Nhân nói đến đậu xe, tôi nhớ đến đậu xe ở Paris. Người lái xe được phép ủi đít xe trước và ủi đầu xe sau để chen dần vào chỗ đậu, đến mức khi đậu xong th́ khoảng cách phía trước với khoảng cách phía sau chỉ cách xe trước và xe sau chừng một gang tay hoặc hơn chút ít. Cho nên cái cảng đít xe và cái cảng đầu xe nào cũng bị móp méo hoặc thụng vào.

                                  *****

Niềm vui bất ngờ.

Việc mà vợ chồng tôi cho là nên làm khi giúp đỡ các thí sinh trong kỳ thi Tú Tài 2 năm 1967 tại Cần Thơ, lặng lẽ theo thời gian cũng không có dịp nhớ lại như nhớ một trong những kỷ niệm đẹp của đời binh nghiệp. Bỗng niềm vui chợt đến.

Lúc ấy là tháng 8 năm 2002, sau chuyến vợ chồng tôi sang Toronto, Canada, dự Đại Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại kỳ 3 trở về Houston vài tuần, nhận được lá thư 3 trang giấy với 2 tấm h́nh. Một tấm h́nh chụp năm 1967 (35 năm trước) ngay trong dinh Tỉnh Trưởng Cần Thơ, có mũi tên chỉ vào cô thí sinh Nguyễn Xuân Trúc đang ăn cơm sau buổi thi trở về, và chính cô là tác giả lá thư. Cô nhắc lại sự kiện ṭa hành chánh tỉnh Phong Dinh đă giúp mấy trăm thí sinh trong kỳ thi Tú Tài 2 mà cô không bao giờ quên. Khi cô hay tin vợ chồng tôi đến Toronto th́ lúc ấy chúng tôi đă về lại Houston. Cô hỏi thăm bạn bè về tin tức chúng tôi để liên lạc nhưng không ai biết. Một hôm có người bạn cho cô tờ Thời Báo phát hành tại Toronto trong đó có đăng bài của tôi, nhờ vậy mà cô xin được địa chỉ. C̣n tấm h́nh kia là cô mới chụp để vợ chồng tôi nh́n cô Trúc năm 2002 so với cô thí sinh tên Trúc năm 1967. Đó là niềm vui bất ngờ của chúng tôi.

Niềm vui bất ngờ kế tiếp.

Tháng 9 năm 2004 vợ chồng tôi sang thành phố Brisbane, tiểu bang Queensland, Australia, dự Đại Hội Thủ Đức Hải Ngoại kỳ 4, vợ chồng tôi được anh Lê Minh Tâm đón tiếp thật nồng hậu. Anh thuật chuyện vào giữa năm 1967, lúc ấy anh là học sinh Nông Lâm Súc, cùng với 3 nam sinh và 2 nữ sinh tháp tùng nhóm chúng tôi đi bộ từ B́nh Thủy vào thăm các Đoàn Xây Dựng Nông Thôn trong quận Phong Điền. Đang trên đường ngoằn nghoèo từ làng này sang làng khác, bỗng cơn mưa đổ xuống tuy không lớn nhưng cũng đủ làm chúng tôi ướt nhẹp. Nh́n hai cô học sinh run rẩy, tôi với Thiếu Úy Lâm cởi áo mưa đưa hai cô mặc. Trong dạ tiệc chia tay sau 3 ngày Đại Hội, anh Tâm cho biết hôm nay sẽ có Cô Hoa là một trong hai nữ sinh trong nhóm học sinh Nông Lâm Súc Cần Thơ 37 năm trước đến thăm. Gặp nhau như thể thân nhau từ lâu. Trước khi chia tay, vợ chồng tôi chụp h́nh kỷ niệm với vợ chồng anh Tâm và cô Hoa. Những tấm h́nh kỷ niệm thật t́nh cảm này nằm trong tập album “Chuyến Du Lịch Australia 2004” của chúng tôi. Xin nói thêm, vợ chồng tôi giữ được hầu hết các h́nh kỷ niệm từ năm 1955 trong 16 tập album tính đến đầu năm 2011.

 Đến niềm vui bất ngờ kế tiếp nữa.

 Cũng năm 2004, khi vợ chồng tôi đến New Orleans dự Đại Hội do Hội Thủ Đức Louisiana tổ chức, vợ chồng tôi được một cô đến bắt tay như thể bạn thân lâu năm gặp lại mặc dù chúng tôi không nhận ra cô là ai. Sau một lúc siết tay nhau, cô tự giới tên là Chi, từ Philadelphia đến Đại Hội, nhưng mục đích chính là muốn t́m gặp chúng tôi. Cô thuật lại lúc cô đến thi Tú Tài 2 năm 1967 tại Cần Thơ, được tỉnh giúp đỡ và cô không quên những ngày sống với gia đ́nh chúng tôi ngay trong dinh Tỉnh Trưởng.

 Lại niềm vui bất ngờ kế tiếp nữa.

Ngày 29/04/2009, trong một e-mail của người bạn ở Philadelphia chuyển tiếp đến tôi một thư ngắn dưới câu “Lê Diễm, lời cám ơn muộn đến Đại Tá Phạm Bá Hoa”. Bạn tôi đang điều hành trang báo điện tử “Việt Nam Hải Ngoại”, trong đó anh có đăng lại quyển “Đôi Ḍng Ghi Nhớ”, hồi kư chính trị 1963-1975 của tôi. Đây là nguyên văn e-mail của bạn Lê Diễm:

Thưa quí báo, Tôi là độc giả hằng ngày của trang báo điện tử này. Nếu quí vị thấy không có ǵ trở ngại, xin quí vị đăng lời cám ơn này của tôi. Cám ơn quí vị.

"Mùa thi tú tài 2 năm 1967, các tỉnh miền Tây chỉ có Cần Thơ là có mở trung tâm thi, học sinh các tỉnh như Vĩnh Long, Long Xuyên, Châu Đốc, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh B́nh, Kiến Phong ,..v..v...muốn thi lấy bằng tú tài 2 phải tề tựu về Cần Thơ để dự cuộc thi kéo dài trong ṿng mấy ngày. Tôi quê ở Sa Đéc, dù Sa Đéc chỉ cách Cần Thơ khoảng 60 cây số nhưng thời đó phương tiện giao thông c̣n ít ỏi, muốn di chuyển từ tỉnh này qua tỉnh khác mất nhiều th́ giờ, chỗ ăn ở cho mấy ngày thi tốn kém khó khăn cho những học sinh nghèo như tôi. Năm đó, Tỉnh Trưởng Cần Thơ là Trung Tá Phạm Bá Hoa, ông đă tổ chức ngay trong khuôn viên ṭa tỉnh, nấu ăn hoàn toàn miễn phí cho tất cả các thí sinh trong suốt mấy ngày thi. Học sinh nào muốn ăn th́ cứ đến ṭa tỉnh ghi tên rồi ăn cả sáng lẫn chiều, cứ tốp này ăn xong th́ các bà dọn thức ăn cho toán kế tiếp, cứ như vậy cho đến sẫm tối có rất đông học sinh đến ăn.Trong lúc học sinh ăn cơm, các bà mạnh thường quân đến coi sóc thức ăn. C̣n về chỗ ở, th́ có các trường tiểu học trong thành phố cho học sinh ở v́ là mùa hè nên các trường đóng cửa. Tôi nhớ phần tôi ở trong một trường sơ cấp cùng với các học sinh nghèo như tôi. Mấy ngày thi rất vui và không tốn kém trôi qua. Lúc đó tôi ước, sau này nếu có điều kiện tôi sẽ làm theo gương của ông Tỉnh Trưởng. Thời gian qua mau, đất nước ngày càng ch́m  sâu trong khói lửa. tôi cũng khoác áo chiến binh với các bạn cùng trang lứa lên đường bảo vệ tổ quốc. Nhưng mà chính nghĩa đôi khi cũng thảm bại trước gian tà trong cuộc chiến. Sau bao lận đận nơi quê nhà, tôi đến đây t́nh cờ đọc được một số bài viết và sách của Đại Tá Phạm Bá Hoa trên trang Web Người Việt Boston. Xin ông bà Đại Tá và quí vị mạnh thường quân năm xưa nhận nơi đây lời cám ơn muộn màng của tôi, người học tṛ nghèo đă nhận những bữa ăn ngày trước. Lê Diễm”.  

Và thêm niềm vui kế tiếp nữa.

Trong lúc đang bận rộn với mọi chuẩn bị vào giờ chót để vào nghi thức bắt đầu chương tŕnh họp mặt của các anh chị cựu học sinh các trường trung học 3 tỉnh Vĩnh Long Vĩnh B́nh Sa Đéc ngày 24 tháng 7 năm 2009 tại nhà hàng Kim Sơn đường Bellaire, thành phố Houston, tiểu bang Texas, một phụ nữ lớn tuổi đến hỏi tôi:

Xin lỗi, ông có phải là Phạm Bá Hoa trước đây đă làm Tỉnh Trưởng Cần Thơ không?”

“Dạ phải. Xin lỗi tôi chưa nhận ra chị”.

“Ông hổng nhớ tôi đâu. Năm 1967, tôi đến Cần Thơ thi Tú Tài 2, được ông bà giúp cho ăn ở trong dinh cùng với hằng trăm bạn khác, hôm nay nghe nói có ông ở đây nên vợ chồng tôi đến gặp nói lời cám ơn chớ không có ǵ. Gặp ông tôi mừng quá”.

Tôi đến nắm tay vợ tôi đang giúp các cháu Nội Ngoại trong toán tiếp tân:

“Dạ đây là vợ tôi, người phụ trách các bà các chị trong toán nấu bếp suốt tuần lễ giúp các cô cậu thí sinh đó”.

“Bà đây hả? Tuy lâu lắm mới gặp lại nhưng bà không khác trước”.

“Xin gọi nhau bằng Anh Chị cho gần gủi nhau hơn. Bây giờ ḿnh già cả rồi chớ đâu c̣n trong cái tuổi của mấy chục năm trước, nên khó nhận ra nhau lắm chị ơi!”.

Lúc bấy giờ chị ấy xưng tên là Trung, Lê Tuyết Trung, rồi giới thiệu chồng chị đứng cạnh. V́ tôi phụ trách phần nghi thức khai mạc nên câu chuyện ngưng ở đó, măi đến khi chuyển sang chương tŕnh dạ vũ, vợ chồng tôi cùng anh chị Lê Tuyết Trung ra hành lang tiếp tục câu chuyện. Sau 20 phút hàn huyên trong sự gặp gỡ bất ngờ, nhắc lại chuyện từ 43 năm trước, chúng tôi cùng chụp vài tấm h́nh kỹ niệm, trao nhau địa chỉ với điện thoại để thỉnh thoảng thăm hỏi sức khỏe.

  Và lư thú nhất là Cô Giáo Hưng, dạy vợ tôi thời tiểu học ở Vĩnh Long. Năm 1967, Cô là Giám Thị trường trung học Tống Phước Hiệp, hướng dẫn một toán thí sinh từ Vĩnh Long sang, và Thầy Tṛ nhận ra nhau ngay khi gặp mặt. Bữa ăn cuối cùng, sau khi tôi với anh Nguyễn Văn Khánh, Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh chúc các bạn trẻ thành đạt trên đường học vấn để phung sự quốc gia dân tộc, th́:

Cô Giáo Hưng hỏi vợ tôi: “Em thấy bà Tỉnh Trưởng đâu hông Em?”

Vợ tôi hỏi lại: “Cô hỏi bà Tỉnh Trưởng chi vậy Cô?”

Để Cô nói lời cám ơn, v́ thấy Bà ấy có ḷng lo cho các thí sinh nghèo ăn ở cả  tuần nay. Hành động này hiếm có lắm Em”. 

  ( Các con chúng tôi theo số thứ tự lớn nhỏ:   (5)      (1)       (2)     (4)      (3)

Vợ tôi cười cười:

“Em nè Cô. Mà Cô đừng cám ơn Em, v́ thấy việc nên làm th́ vợ chồng Em mời các Anh Chị cùng làm mà Cô”.

Cô Giáo Hưng nh́n vợ tôi với nét nh́n ngạc nhiên ....., rồi Thầy Tṛ ôm nhau. Và Cô vui vẽ  ra về.

  Tôi nghĩ rằng, khi ḿnh thấy việc làm nào tử tế mà ḿnh làm được th́ nên làm, nhưng khi làm việc đó đừng nghĩ rằng ḿnh sẽ được đền bù th́ sự “hồi âm bất chợt” sẽ mang đến tâm hồn ḿnh cảm giác thanh thản nhẹ nhàng. Phải chăng đó là lúc ḿnh cảm nhận thiên đường hiện diện trong tâm ḿnh chớ không phải thiên đường ở nơi xa xôi nào cả.

Đầu năm 2013, các con các cháu tổ chức kỹ niệm 55 năm hôn lễ của vợ chồng tôi, với sự tham dự của thân nhân và bạn bè bằng hữu trong không khí thân t́nh.           

 (H́nh trái. 55 năm: 1958 - 2013)

Trong năm học 2016-2017 này, vợ chồng tôi có 10 cháu Ngoại/Nội:

- 1 cháu tốt nghiệp Y Tá 4 năm tại University of Women.

- 1 cháu tốt nghiệp Luật  Khoa, đang làm trong tổ hợp Luật Sư tại Houston này.

- 1 cháu tốt nghiệp Cử Nhân, và gia nhập quân đội. Đang là Trung Úy trong binh chủng Thiết Giáp.

- 1 cháu năm thứ tư tại Texas A&M at College Station.

- 3 cháu năm thứ nhất tại UH và Orlando (Florida).

- 1 cháu lớp 10.

- 1 cháu lớp 8.

- và 1 cháu đang ở tuổi chưa đến trường..

Từ năm học 1993-1994, hằng ngày tôi đón các cháu tôi từ trường học về. Ban đầu 1 cháu, rồi 2 cháu, 3 cháu, đến cháu thứ 6 th́ cháu thứ nhất tự lái xe đi học. Năm 2012 th́ tôi “về hưu lần 2” rồi. 

Năm 1958 vợ chồng tôi kết hôn, năm 2013 gia đ́nh chúng tôi gồm:  Vợ chồng tôi + 5 con x 2 + 10 cháu = 22 .

Chúng tôi rất trân quí chuyện t́nh mộc mạc chân thành của ḿnh trải dài theo cuộc sống lứa đôi, trong ư nghĩa ǵn giữ nét thôn dă hiền ḥa trên dăi đất cù lao được ôm ấp bởi hai ḍng phù sa Sông Cửu thân thương có tên gọi “Vĩnh Long-Vĩnh B́nh-Sa Đéc”./.   

                                                                           Houston, đầu Xuân 2011                                                

                                                                               Hoàn chỉnh 2016

 

 

  

Phm Bá Hoa: Thư gi Người Lính QĐND VN