báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

   [Bài Viết - Article]                                                                           

 Việt Nam tôi đâu?  -Việt Khang

 

 Anh là ai? -ViệtKhang

 

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 
TIN MỚI- Trung Quốc,Mày Là Thằng Nào? Phỏng vấn Tướng Công An LÊ VĂN CƯƠNG
https://youtu.be/gmhazU2iJpQ

 
Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

***

Phạm Bá Hoa

                                                                         

                      Thư số 68b gởi

 

           Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.               

 

 

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lănh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Pḥng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, v́ Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Với loạt Thư mà tôi tổng hợp một số tội ác của các nhóm lănh đạo Việt Cộng từ năm 1945 đến năm 2017, v́ quá dài, nên tôi chia ra làm 6 Thư. Mời Các Anh lần lượt đọc để có nét nh́n rộng hơn và sâu hơn về lănh đạo của Các Anh đă gây tội ác đến mức nào, trong khi tuyên truyền của họ phũ lấp những hành động của họ. Đề rồi, ngày nay người dân bị ch́m trong một xă hội chỉ có dối trá là sự thật, và dối trá đă đẩy mọi người gần như mất hẳn nếp sống t́nh cảm, nếp sống văn minh lịch sự, vốn dĩ là nền tảng trong văn hóa truyền thống Việt Nam từ ngàn xưa!

Nội dung Thư số 68b này-cũng là Thư số 2/6- tôi tổng hợp một số tội ác của lănh đạo Việt Cộng từ năm 1954 đến năm 1968. Mời Các Anh …

Số 5. Tội ác dẫn đến cuộc chạy trốn cộng sản 1954. (Source: Ngô Đ́nh Châu)

Giáo sư Lê Xuân Khoa nhận định rằng: “Chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất là một trong ba nguyên nhân chính,dẫn đến cuộc chay trốn vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư hồi năm 1954”.

Hiệp Định Đ́nh Chiến ngày 20/7/1954, chia Việt Nam thành hai quốc gia: Từ vĩ tuyến 17 trở lên cực bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa theo chế độ cộng sản độc tài. Từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực nam là nước Việt Nam Cộng Ḥa theo chế độ dân chủ tự do. Sau khi Hiệp Định có hiệu lực, hàng hàng lớp lớp người dân dưới chế độ cộng sản đổ về Hà Nội và Hải Pḥng, t́m một chỗ trên máy bay hoặc trên tàu vận tải biển để thoát khỏi xă hội chủ nghĩa.

Giám sát thi hành Hiệp Định là một Ủy Hội Quốc Tế có đại diện của Ấn Độ + Ba Lan + Canada. Đại diện Canada là ông Sherwood Lett. Tổng số nhân viên trong Ủy Hội có 120 quân nhân + 29 nhân viên dân sự. Theo tài liệu th́ phái đoàn Canada đă tŕnh Ủy Hội 3 điểm: Một. Việt Minh đă vi phạm nặng nề điều 14 của Hiệp Định là đàn áp và ngăn cản việc di cư vào Nam của người dân miền Phát Diệm, Trà Lư, Ba Làng, Lưu Mỹ, Thuận Nghĩa, Xă Đoài. Canada phản đối và lên án việc này.Hai. Việt Minh tố cáo đồng bào miền Bắc bị cưỡng bách di cư vào Nam. Canada cho điều này là hoàn toàn vô căn cứ v́ Canada đă tiếp xúc với hơn 25.000 người trong các trại di cư th́ không có một ai ngỏ ư muốn được trở về miền Bắc cả.Ba. Canada tố cáo đích danh nhân viên Ấn Độ và Ba Lan đă thiếu vô tư và thiên vị Bắc Việt (trích trong lá thư Canada của Trà Lũ, do chiensitudo chuyển ngày 12/6/2017)

Đường biển. Với các tàu vận tải của Pháp, Hoa Kỳ, Ba Lan, Đài Loan, và các quốc gia đồng minh trợ giúp, chuyên chở được 655.037 đồng bào chạy trốn cộng sản. Chuyến tàu cuối cùng cặp bến Sài G̣n ngày 16/8/1955.

Đường hàng không. Nối phi trường Tân Sơn Nhứt ở Sài G̣n, với phi trường Gia Lâm và Bạch Mai ngoại ô Hà Nội, và phi trường Cát Bi của Hải Pḥng. Trong thời gian này, phi cảng Tân Sơn Nhất thường xuyên đông nghẹt, v́ mỗi ngày có từ 2.000 đến 4.200 người rời khỏi phần đất cộng sản. Số người chạy trốn cộng sản bằng đường hàng không là 213.635 đồng bào.

Tổng cộng số người được chuyên chở bằng đường hàng không và đường biển vào Việt Nam Cộng Ḥa là 868.672 người, được chánh phủ và đồng bào đón tiếp định cư những vùng đất ph́ nhiêu: 

- Cái Sắn, Rạch Giá, cho nông dân canh tác ruộng rẫy hoa màu.

- Dọc theo bờ biển B́nh Tuy và đảo Phú Quốc cho ngư dân quen sống với nghề đánh cá.

- Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai, cho dân khai thác lâm sản và thủ công đồ gỗ.

- Vùng đất đỏ ba-dan cao nguyên Ban Mê Thuột, cho dân trồng cây kỹ nghệ.

- Sài G̣n và chung quanh Sài G̣n, cho dân kinh doanh sản xuất và dịch vụ.

Cũng trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1956, có 102.861 đồng bào, trốn khỏi phần đất cộng sản đến phần đất tự do bằng tàu đánh cá dọc theo duyên hải, hoặc băng rừng vượt suối dọc theo dăy Trường Sơn. Như vậy, tổng cộng số đồng bào chạy trốn cộng sản lên đến 971.533 người.

Tóm tắt. Qua chiến dịch cải cách ruộng đất, người dân nhận rơ bản chất dă man của ông Hồ Chí Minh khi ông ra lệnh giết người theo tỷ lệ, v́ vậy mà gần một triệu đồng bào hoảng hốt bỏ lại tài sản cùng mồ mả ông bà, để thoát khỏi cái chế độ cộng sản độc tài tàn bạo, và đồng bào cũng nhận ra quyết định của ḿnh là đúng, khi được đón tiếp định cư tại những vùng đất thích hợp với nghề nghiệp trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Với h́nh ảnh cuộc di cư này là chứng tích rơ ràng “ngày bỏ phiếu bằng chân” cùa gần một triệu đồng bào chọn lựa chế độ chính trị để được sống một cuộc đời đáng sống trong “chế độ dân chủ tự do”.Và chắc chắn rằng, không có người nào từ Việt Nam Cộng Ḥa chạy sang nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa đến sống ở đó, ngoại trừ quân lính chánh quy của Việt Minh cộng sản.

Số 6. Tội ác vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1955-1956. (Source: Phong trào NVGP. Wikipedia)

Nhân Văn và Giai Phẩm là một Phong Trào.Cơ quan ngôn luận của phong trào là tờ Nhân Văn, chuyên về văn hóa, xă hội, do ông Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư kư ṭa soạn. Bên cạnh đó là tờ Giai Phẩm.

Phong Trào với những cây bút là nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, và trí thức, như: (1) Thụy An. (2) Đào Duy Anh. (3) Trần Thiếu Bảo. (4) Thanh B́nh. (5) Nguyễn Bính. (6) Hoàng Cầm. (7) Văn Cao. (8) Trần Công (9) Phùng Cung. (10) Trần Dần. (11) Đỗ Đức Dục. (12) Quang Dũng. (13) Trần Duy. (14) Lê Đạt. (15) Nguyễn Hữu Đang. (16) Hoàng Huế. (17) Cao Xuân Huy. (18) Đặng Đ́nh Hưng. (19) Hoàng Công Khanh. (20) Phan Khôi. (21) Yến Lan. (22) Hoàng Tích Linh. (23) Nguyễn Thành Long. (24) Hữu Loan. (25) Như Mai. (26) Vĩnh Mai. (27) Sỹ Ngọc. (28) Hoàng Tố Nguyên. (29) Tử Phác. (30) Bùi Xuân Phái. (31) Huy Phương. (32) Phùng Quán. (33) Lê Đại Thanh. (34) Trần Đức Thảo. (35) Trần Thịnh. (36) Hữu Thung. (37) Nguyễn Tuân. (38) Nguyễn Mạnh Tường. (39) Trương Tữu. (40) Nguyễn Văn Tư. (41) Trần Lê Văn. (42) Và Phan Vũ.

Tháng 1/1956,Giai phẩm Mùa Xuân” đăng bài Nhất Định Thắng của Trần Dần. Tác giả dựng lại chân dung đời sống xă hội chủ nghĩa trong những ngày đầu đất nước chia đôi, v́ vậy mà tác giả bị kết tội "bôi đen chế độ, với những câu thơ sau đây:Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ”.

Bán nguyệt san Nhân Văn trong số ra mắt ngày 20/9/1956, bài "Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ". Người được phỏng vấn đầu tiên là luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông nêu hai nguyên nhân dẫn đến xă hội không dân chủ: (1) Đảng thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ, chẳng những xa ĺa quần chúng mà c̣n đối lập với quần chúng. (2) Yêu cầu trung ương đảng và chính phủ bảo đảm sự thi hành triệt để các tự do dân chủ. Nhân Văn số 3 ra ngày 15/10/1956,có bài của Trần Đức Thảo, nói về mở rộng dân chủ phát triển phê b́nh trong nhân dân. Trần Duy cũng góp tiếng nói đấu tranh cho tự do dân chủ trong Nhân văn số 4 ấn hành tháng 11/1956.

Ngày 15/12/1956, lănh đạo Việt Cộng (tức cộng sản Việt Nam) ra lệnh đóng cửa hai tạp chí Nhân Văn và Giai Phẩm. Từ lúc bắt đầu đến khi bị đóng cửa, Nhân Vănchỉ n hành được 5 số, và Giai Phẩm chỉ 4 s. Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo luậnvề "Nghị Quyết của 800 văn nghệ sĩ", tiếp theo Nghị Quyết của Hội Liên Hiệp. Cuối tháng 6 đu tháng 7/1958, để thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đă tham gia Phong Trào, Hội Nhà Văn, Hội Mỹ Thuật, và Hội Nhạc Sĩ, quyết định: (1) Khai trừ ra khỏi Hội là: Phan Khôi. Trương Tửu. Thụy An. Trần Duy. Hoàng Cầm. Phùng Quán. Trần Dần. Lê Đạt. Tử Phác. Và Đặng Đ́nh Hưng. (2) Khai trừ ra khỏi Ban Chấp Hành, là: Sĩ Ngọc. Nguyễn Sáng. Văn Cao. Nguyễn Văn Tư. Hoàng Cầm. Và Hoàng Tích Linh. (3) Năm người tội nặng chờ ngày ra ṭa.

Tháng 1/1960, ṭa án Nhân Dân Hà Nội xử vụ án mà báo chí nhà nước gọi là “gián điệp có tổ chức. Chánh án Nguyễn Xuân Dương, tuyên án:

Nguyễn Hữu Đang, 15 năm giam.

Lưu Thị Yến tức Thụy An, 15 năm giam.

Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, 10 năm giam.

Phan Tại, 6 năm giam.

Lê Nguyên Chí, 5 năm giam.

Tóm tắt. Sau khi nhuộm đỏ một nửa nước từ tháng 7/1954, đây là sự phản kháng đầu tiên bằng ng̣i bút của nhóm văn nghệ sĩ và trí thức, dưới h́nh thức những bài viết trên Nhân Văn và Giai Phẩm. Lănh đạo Việt Cộng áp dụng chính sách “trăm hoa đua nở” của Trung Cộng, lừa người dân tham gia sinh hoạt dân chủ để gắn cho họ cái “tội gián điệp” và sử dụng ṭa án để triệt hạ.

Số 7.Tội ác làm mất chủ quyền trên Biển Đông năm 1958 (source: Wikipedia).

Năm 1958. Kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, đă  thông qua Bản Tuyên Bố và ban hành ngày 4/9/1958: 

Thứ nhất. Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lư. Điều lệ này áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Hoa trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa tức Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa tức Trường Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  

Thứ hai. Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lănh hải dọc theo đất liền Trung Hoa và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lư tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Hoa. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Hoa. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Hoa. 

Thứ ba. Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Hoa và vùng trời trên hải phận này.  Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Hoa, đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa 

Thứ tư. Điều thứ hai và thứ ba bên trên, cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  Đài Loan và Penghu hiện c̣n bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lănh thổ và chủ quyền của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Hoa”.

Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng ớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Phạm Văn Đồng, gởi Công Hàm cho chánh phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa:

“Thưa đồng chí Tổng Lư,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lư rơ, Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a ghi nhận và “tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Hoa. Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a tôn trọng quyết “định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư “của Trung Hoa trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển.

“Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng Lư lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội, ngày 14/9/1958”

(kư tên Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước Việt Nam n Chủ Cộng a. Đóng dấu)

Tóm tắt. Chính v́ Công Hàm này mà từ năm 2014 đến nay, tàu Hải Giám của Trung Cộng rượt đuổi, ủi ch́m tàu cá, và bắt ngư dân Việt Nam nộp tiền chuộc mới thả, v́ họ nói rằng Biển Đông là của họ mà chánh phủ Việt Nam đă công nhận từ năm 1958. V́ vậy mà lănh đạo Việt Cộng không có bất cứ hành động nào để bảo vệ biển đảo, bảo vệ ngư dân, ngoài lời phản đối nhẹ nhàng từ người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao.  

Số 8. Tội ác trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa 1960.

Theo Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương 1945-1955, sẽ rút khỏi lănh thổ của phía bên kia.

Quốc Gia Việt Nam, rồi trở thành Việt Nam Cộng Ḥa. Các đơn vị quân đội Việt Nam cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp, rút toàn bộ xuống dưới vĩ tuyến 17. Trong cùng thời gian, thực hiện kế hoạch vận chuyển gần 1.000.000 đồng bào của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa di tản vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư sinh sống. 

Trong khi lănh đạo Việt Minh cộng sản là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa thi hành Hiệp Định Geneve như thế này: “Chỉ rút quân chánh qui lên phía bắc vĩ tuyến 17, c̣n lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị được “bố trí ở lại” (trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa). Một số cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lănh đạo đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của địch (Việt Nam Cộng Ḥa), phải nắm lực lượng vũ trang giáo phái để sẳn sàng cho chiến tranh quân sự trở lại. Vũ khí phải chôn giấu để sử dụng khi cần. Bên cạnh đó, trung ương Đảng đă cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam, chuẩn bị lănh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương”. (trích trong Wikipedia)

*****

Ông Ngô Đ́nh Diệm nhận chức Thủ Tướng Việt Nam Cộng Ḥa ngày 7/7/1954. Tháng 1/1955, Thủ Tướng tuyên bố tẩy chay bầu cử mà Hiệp Định Geneve ngày 20/7/1954 qui định sau hai năm, với lư do: “Người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa không được tự do khi bỏ phiếu. Cùng lúc, lực lượng của họ c̣n giấu lại trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, sẽ uy hiếp cử trị bỏ phiếu cho họ. Như vậy, chằng những cử tri của  Việt Cộng không được tự do sử dụng lá phiếu theo ư họ, trong khi một phần cử tri nông thông Việt Nam Cộng Ḥa cũng không được tư do bỏ phiêu v́ bị Việt Cộng nằm vùng uy hiếp . Nói chung, là không công bằng”.

*****

Ngày 20/12/1960, ông Hồ Chí Minh tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại căn cứ Dương Minh Châu, trong cánh rừng phía bắc của tỉnh Tây Ninh, với nhóm lănh đạo gồm: Vơ Chí Công, Phùng Văn Cung, và Huỳnh Tấn Phát. Năm 1961, có thêm Nguyễn Văn Linh, Ung Ngọc Ky, Lê Thanh, và Nguyễn Hữu Thọ. Nhiệm vụ của tổ chức là đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Bên cạnh Mặt Trận là Trung Ương Cục Miền Nam -c̣n gọi là Cục R- đại diện cho đảng cộng sản trá h́nh dưới tên gọi đảng Lao Động Việt Nam, hoạt động bí mật từ đó đến năm 1969 mới công khai. 

Nửa đêm 28/1/1960, quân cộng sản đột kích vào doanh trại Trung Đoàn 32 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Trăng Sụp, 6 cây số phía bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Lúc ấy, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban Hành Quân/Pḥng 3/Sự Đoàn 21 Bộ Binh, đồn trú tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh. Trời sáng hẳn th́ chúng rút về biên giới Việt Nam - Cam Bốt. Cuộc hành quân truy kích đến sát biên giới, Sư Đoàn 21 chúng tôi thu hồi lại một xe vũ khí, trong số 2 xe bị cộng sản chiếm, đồng thời thu được một số tài liệu. Trong số đó có tài liệu về chiến dịch Đồng Khởi, mà cuộc đột kích này là trận mở màn của chiến dịch Đồng Khởi chuyển từ hoạt động kinh tài sang chiến tranh quân sự trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa.

Kết quả của chiến dịch này gây thiệt hại không đáng kể, nhưng nó đánh dấu lănh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (cộng sản), bắt đầu chiến tranh trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa để nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế, sau khi nhuộm đỏ một nửa lănh thổ phía bắc trên dăi đất có dạng h́nh cong chữ S. Từ đó, chiến tranh xảy ra khắp nơi trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, với những trận đánh gia tăng dần lên, từ cấp Trung Đội à Đại Đội à Tiểu Đoàn à Trung Đoàn à Sư Đoàn từ giữa những năm 1960. V́ vậy mà cuối năm 1965, quân đồng minh Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam với mục đích tiếp tay ngăn chận quân cộng sản. Lần lượt được tăng cường thêm bởi quân đội Thái Lan, Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, đến Việt Nam.

Điều này cho thấy quân cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, trái ngược với tuyên bố của họ khi thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là chống Mỹ - Diệm. V́ họ bắt đầu chiến tranh từ đầu năm 1960, và chiến tranh ngày càng ác liệt hơn, nên cuối năm 1965 quân đội ngoại quốc mới đến Việt Nam cùng chống quân cộng sản, đồng thời với oanh tạc cơ chiến lược thả bom phá hủy các kho dự trữ vũ khí đạn dược trên lănh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, với mục đích ngăn chận tiếp tế cho lực lượng của họ trên đường Trường Sơn, và bên trong lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa.

Số 9. Tội ác vụ thảm sát Mậu Thân 1968 (source: Wikipedia và bài viết của nhân chứng).

Từ tối 29/1/1968 -tức 30 Tết Nguyên Đán Mậu Thân- chen lẫn trong tiếng pháo mừng Xuân là tiếng súng của quân cộng sản tấn công thủ đô Sài G̣n, và 28 trong số 44 tỉnh lỵ. Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa phản công mạnh mẽ và chiến thắng trên các chiến trường. Riêng chiến trường tại Huế bị chúng chiếm tối 31/1/1968, ngay sau đó quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ phản công dữ dội trong suốt 26 ngày đêm, trong khi các chiền trường khác đă chấm dứt trước đó.

Đau thương nhất là tại Huế, số người bị quân Việt Cộng giết và chôn tập thể răi rác vùng rừng núi ngoại ô Huế. Những con số do nhiều người thu thập hoàn toàn không giống nhau, nhưng cũng không quá cách biệt.   

Theo giáo sư Nguyễn Lư Tưởng, cựu Dân Biểu đơn vị Thừa Thiên, ông có mặt tại Huế trong 26 ngày chiến tranh trên đường phố. Sau khi đẩy quân cộng sản ra khỏi Huế th́ cuộc kiểm kê thực hiện nhanh chóng, với số gia đ́nh có người mất tích lên đến 4.000 gia đ́nh. Một kế hoạch t́m người mất tích được thực hiện trên vùng đất rộng lớn, kéo dài đến tận năm 1970 mới chấm dứt. Số mồ chôn tập thể t́m thấy lên đến 22 địa điểm, với số xác đếm được là 2.810 xác người, trong số đó có nhiều thi thể trong tư thế bị trói. Chánh phủ công bố danh sách 4.062 nạn nhân được xác định là bị bắt cóc hoặc bị giết chết         

Theo báo cáo tổng kết vào năm 1970 của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm Lư Chiến thuộc cơ quan thông tin Hoa Kỳ, nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng  th́ khoảng 2.000 người vẫn c̣n mất tích, v́ bảng tổng kết về người chết và mất tích như sau:

Năm 1968, ngay sau cuộc chiến t́m được 1.173 xác chết + năm 1969 t́m được 809 xác ở đụn cát + 428 xác tại khe Đá Mài và khu Nam Hoa + 400 xác răi rác các nơi. Năm 1970 tổng kết số xác t́m được lên đến 2.810 xác gồm nam giới + phụ nữ + thiếu niên + trẻ sơ sinh , và ghi nhận c̣n 1.946 người mất tích.

Bản công bố sau cùng cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của quân Việt Cộng trên các chiến trường từ Quảng Trị tới Cà Mau, quân đội Việt Cộng chết 58.373 người + 10.000 bị bắt + 6.000 đầu hàng. Quân đội Việt Nam và Hoa Kỳ thu được 17.000 vũ khí các loại. Tổn thất của Việt Nam Cộng Ḥa là 4.954 quân nhân hy sinh + 14.300 đồng bào chết + 1.946 đồng bào mất tích.

Theo tác giả David T. Zabecki trong quyển “The Vietcong Massacre at Hue” ấn hành năm 1976, số hài cốt t́m được do cộng sản Việt Nam đă bắt giết trong 21 ngày chiếm giữ một phần thành phố Huế, và chôn tập thể trong các hầm là 2.810 người, trong tổng số dân ghi mất tích hơn 5.000 người!

Theo sử gia Trần Gia Phụng, th́ số người t́m được trong 22 mồ chôn tập thể là 2.326 xác trong tổng số dân bị giết là 5.800 người! Những con số của hai tác giả không hoàn toàn giống nhau, nhưng chắc chắn là những con số đó đă đủ để chứng minh bản chất dă man tàn bạo của cộng sản, bởi mục tiêu của họ là thi hành lệnh của cộng sản quốc tế.   

Trang <Wikipedia.org> có những bài viết với những ư kiến khác nhau của các tác giả, về tựa đề  “t́m thủ phạm vụ thảm sát” này, tôi chọn và trích một đoạn của cựu Thiếu Tá Liên Thành, một thời là Phó Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, như sau: “Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, từ Huế trốn lên mật khu Việt Cộng, rồi xâm nhập trở lại thành phố Huế, và trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 những người này có mặt tại Huế.”

Tác giả Liên Thành tin rằng, những người này có tham gia vào các cuộc thảm sát trong 26 ngày tại Huế. Ngoài ra, c̣n có một số ít sinh viên trở về Huế và thực hiện các vụ hành quyết do tư thù cá nhân. Trong thời gian quân Việt Cộng chiếm giữ thành phố Huế, người Huế sợ cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Quân Việt Cộngđến khu phố nào th́ người dân ở đó bỏ chạy. Việt Cộng xă súng bắn vào những người bỏ chạy bất cứ người đang chạy là ai, là thành phần nào. Những ai sống tại Huế thời đó điều biết.

Và quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Ḥa, bị Việt Cộng giết như thế nào? Tác giả Liên Thành viết tiếp: “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá Việt Cộng, tên Hoàng Kim Loan, là thành uỷ viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm.

Tôi hỏi:“Tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? T

Việt Cộng Kim Loan trả lời: “Thứ nhất, đây là chủ trương bạo lực Cách Mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng Sản chúng tôi chủ trương thà giết lầm c̣n hơn bỏ sót.”

Liên Thành hỏi: “Sao không bắn họ, cho họ viên đạn c̣n dễ hơn lấy búa, dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố”.

Việt CộngKim Loan trả lời:  “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy, chớ đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”

Tóm tắt.

Năm 1975, khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, lănh đạo Việt Cộng tàn phá Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, họ đập phá Tượng Thương Tiếc, cắt 1/3 phần trên Nghĩa Dũng Đài mà họ nói là làm trạm gác, họ xây dựng những cơ sở bằng cách lấn chiếm các khu đất của Nghĩa Trang, khoảng 50% trong số 16.000 ngôi mộ bị họ đập phá mộ bia, nhất là tên và ảnh người nằm dưới mộ. Khởi thủy diện tích của nghĩa trang là 125 mẫu tây, năm 2006 khi chánh phủ Việt Cộng chuyển giao nghĩa trang cho tỉnh B́nh Dương th́ diện tích c̣n 58 mẫu tây, đến cuối năm 2015 chỉ c̣n 29 mẫu tây, tức diện tích c̣n lại dưới ¼ so với diện tích ban đầu.

Đối với những ngôi mộ tập thể sau vụ thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968, lănh đạo Việt Cộng cũng cho đập phá tấm bia lớn và bàn thờ tại nghĩa trang trên núi BaTầng, nơi an táng 400 thi hài t́m được tại Khe Đá Mài hồi tháng 9/1969, để xóa dấu tích tội ác của họ. Với người dân Việt, với ḍng sử Việt, lănh đạo Việt Cộng biết rơ “họ là tội ác”, nên bất cứ những ǵ mà họ cho là dấu vết tội ác là họ t́m mọi cách phá bỏ. Ngay cả hai tấm bia lớn tại Malaysia, Tưởng Niệm Thuyền Nhân chết trên đường chạy trốn Việt Cộng, lănh đạo Việt Cộng yêu cầu chánh phủ Mă Lai phá bỏ ngay trong đêm, huống ǵ những tấm bia nhỏ sau vụ thảm sát Tết Mậu Thân trên đất Huế trong tay của chúng. Nhưng, họ không hiểu rằng, mỗi người Việt Nam dù trong nước hay hải ngoại, là một tấm bia sống tố cáo tội ác của họ bằng những cách khác nhau.            

Đă gần 50 năm trôi qua kể từ năm Mậu Thân 1968, cuộc thảm sát kinh hoàng năm ấy, vẫn là một vết thương chưa lành của người Việt Nam nói chung, và người dân Huế nói riêng!

Kết luận.

Sự giết người một cách dă man tàn bạo theo lệnh của lănh đạo Việt Cộng, là dấu ấn mà tôi nghĩ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của những ai luôn quan tâm đến ḍng sử Việt, v́ ḍng sử Việt chính là tâm hồn của mỗi người Việt Nam gắn bó với quê hương dân tộc, cho dù đang sống ngay trên quê hương hay bất cứ nơi nào trên thế giới. V́ vậy mà người Việt Nam đang sống tại hải ngoại, vào những lúc yên tĩnh suy gẫm về cuộc đời, tôi tin rằng các vị ấy chợt nhận ra rằng, ḿnh có yêu thương đất nước mà ḿnh đang sống đến đâu đi nữa, cũng không bằng ḿnh yêu thương quê hương đất nước nghèo khổ của ḿnh, bởi đó là quê hương cội nguồn của ḿnh!

Gần đây nhất, Nhật Hoàng và Hoàng Hậu sang thăm Việt Nam từ ngày 28/2 đến ngày 5/3/2017. Ngài đến thăm đài tưởng niệm Cụ Phan Bội Châu, một nhân vật Việt Nam mà Ngài rất trân trọng. Ngay trước khi rời Việt Nam trở về Nhật Bản, Ngài nhắn nhũ với người dân Việt Nam một lời nhắn mà tôi cho là rất ư nghĩa trong bối cảnh chính trị thế giới nói chung, và bối cảnh chính trị  Việt Nam chúng ta nói riêng, rằng:  “Người Việt Nam hăy nh́n lại lịch sử, v́ lịch sử rất cần cho hôm nay, cũng là chuẩn bị cho ngày mai”.

Và Các Anh đừng bao giờ quên rằng:“Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, v́ Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.

 

                                                       Texas, tháng 6 năm 2017

  

Phm Bá Hoa: Thư gi Người Lính QĐND VN