báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

   [Bài Viết - Article]                                                                           

 Việt Nam tôi đâu?  -Việt Khang

 

 Anh là ai? -ViệtKhang

 

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 
Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

***

Phạm Bá Hoa

                                               Tóm lược

tội ác của lănh đạo Việt Cộng 1945-2017.

 

Phần 1/3

Tổng quát.

Tôi tin rằng, không phải một vài trăm hay một vài triệu người, mà là hằng tỷ người trên thế giới đều biết đến tội ác của cộng sản đối với nhân loại nói chung,và dân tộc Việt Nam nói riêng. Tội ác như thế nào? Nội dung này thể hiện sự cố gắng dựng lại một góc nhỏ “chân dung tội ác” của ông Hồ Chí Minh, và tiếp nối bởi các nhóm lănh đạo Việt Cộng đàn em của ông, từ bản chất độc tài toàn trị, họ tạo ra tội ác để buộc người dân đem hạnh phúc lại cho họ, như nhận định của Đức Đạt Lại Lạt Ma của Tây Tạng.

Xin mời đọc nhận định về tội ác của cộng sản từ một vài giới lănh đạo chính trị trên thế giới, lănh đạo tôn giáo, và nhà văn:

Ông George W. Bush, Tổng Thống Hoa Kỳ. Ngày 12/6/2007, chủ tọa lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial) tại Washington DC, trong diễn văn có đoạn: “… Từ nay, oan hồn của  khoảng 100 triệu nạn nhân cộng sản, được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ, v́ chế độ cộng sản đă lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội”.

Tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản), có đoạn: “... Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị.... Sau đó, sự đàn áp thường ngày,sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai... những kư ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong t́nh trạng sợ hăi. Các quốc gia cộng sản đều trongqui luật này”. 

Tác giả Rudolph J. Rummel: Trong quyển “Death by Government” (Chết do chánh phủ), cung cấp vài con số nạn nhân bị chánh phủ của họ giết chết: (1) Liên Sô 61.911.000 người. (2) Cộng sảnTrung Hoa 35.236.000 người. (3) Quân phiệt Nhật 5.964.000 người. (4) Khmer đỏ 2.035.000 người. (5) Thổ Nhĩ Kỳ 1.883.000 người. (6) Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người. (7) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người. (8) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.

Ông Mikhail Gorbachev, Tổng Bí Thư cuối cùng của đảng cộng sản Liên Sô, cũng là Chủ Tịch Cộng Sản QuốcTế: “Tôi đă bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lư tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo”. 

Ông Boris Yeltsin, Tổng Thống đầu tiên của Cộng Ḥa Liên Bang Nga: “Anh có thể xây ngai vàng bằng lưỡi lê, nhưng anh không thể ngồi lâu trên đó. Cộng Sản là không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”

Ông Medvedev, khi là Tổng Thống Cộng Ḥa Liên Bang Nga:“... Chế độ cầm quyền ở Liên Xô khi trước, không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị...”.

Bà Angela Merkel, Thủ Tướng Cộng Ḥa Liên Bang Đức: “Cộng sản đă làm cho người dân trở thành gian dối.”

Đức Đạt Lại Lạt Ma:  “Người cộng sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà người cộng sàn làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc đến cho họ”.

*****

 Nguồn gốc của tội ác 1922-1932 (Source: Ông Tôn Thất Thiện. Ottawa, 2004)

 Đệ Tam Quốc Tế do ông Lenin thành lập năm 1919 sau khi cướp chánh quyền ở Nga. Năm 1920, đại hội quốc tế cộng sản quy định 21 điều kiện cho các đảng cộng sản hội viên. Ủy Ban Chấp Hành Đệ Tam Quốc Tế (ECCI), từ 10 đến 12 ủy viên, mỗi đảng lớn được hai ghế, các đảng nhỏ chỉ có quyền tham khảo chớ không có ghế. Liên Xô đương nhiên chiếm 5 ghế, cùng với chức Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành, v́ Liên Xô là quốc gia tiếp nhận tổ chức. Trên Ủy Ban Chấp Hành là một Chủ Tịch Đoàn, và Chủ Tịch của Chủ Tịch Đoàn có quyền hạn rộng lớn mà ông Lenin nắm giữ từ năm 1920 đến năm 1924, sau đó là ông Stalin. Dưới đây là 7 Điêu, liên quan trực tiếp đến các đảng hội viên:    (Lenin 1920-1924)

Điều 9. “Liên hệ giữa các đảng hội viên với các cơ quan trung ương của Đệ Tam Quốc Tế, theo nguyên tắc thống nhất và kỹ luật vô sản. ECCI là cấp trên, các đảng hội viên là cấp dưới. ECCI có quyền đ̣i một đảng hội viên trục xuất một nhóm, hay một đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc trục xuất một đảng vi phạm quyết định của Đại Hội Đệ Tam Quốc Tế”. 

 Điều 12: "Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ".

Điều 15: "Các đảng phải lập chương tŕnh thích ứng với điều kiện của nước, và đúng với những quyết nghị của Đệ Tam Quốc Tế".

Điều 16: "Tất cả quyết nghị của các đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng hội viên thi hành".

Điều 17: “Các đảng hội viên, chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, v́ Đệ Tam Quốc Tế không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất".

   (Stalin 1924-1952)

Điều 21. “Đảng hội viên nào phủ nhận các điều kiện và Cương Lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế, sẽ bị loại khỏi Đệ Tam Quốc Tế”.

Điều 30: “Các cán bộ lănh đạo của một đảng hội viên chỉ được từ chức nếu được phép của ECCI, sự chấp thuận của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của Đảng đó không đủ. Để kiểm soát chặt chẽ, thỉnh thoảng Đệ Tam Quốc Tế gởi phái viên đến dự đại hội của các đảng hội viên”.

Ông Lênin giải thích rằng, Đệ Tam Quốc Tế là "một đội quân vô sản quốc tế" mà nhiệm vụ là "thực hiện cách mạng vô sản quốc tế, thiết lập một Cộng Ḥa Sô Viết Quốc Tế".

 40 năm sau đó, trong đại hội cộng sản quốc tế tháng 11/1960, lănh đạo Đệ Tam Quốc Tế là ông Khrushchev (Nga) tuyên bố: “Khi một đảng cộng sản tham gia vào cộng sản quốc tế (tức Liên Sô) phải chấp nhậnLiên Sô là quốc gia số một (tức lănh đạo). Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”.                        (Khrushchev 1952-1962)

Tháng 1/1961, khi đến thăm thủ đô Austria (Áo quốc), ông Khroutchev trả lời báo chí, trong đó có câu“Đời vắn quá, không biết tôi c̣n sống để vui mừng khi cộng sản quốc tế thống trị thế giới này hay không?”

**** 

Nguyễn Tất Thành rời Việt Nam năm 1911 sang Pháp dưới tên Văn Ba.

Tháng 12/1912, ông sang Hoa Kỳ với tên Paul Tất Thành.

Cuối năm 1913, ông sang nước Anh làm nghề cào tuyết.

Cuối năm 1917, ông trở lại Pháp làm nghề chụp h́nh. Từ năm 1919, ông dùng tên Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1920, ông dự đại hội đảng Xă Hội Pháp, và sau đó ông là thành viên trong nhóm sáng lập đảng cộng sản Pháp. Từ đó, ông là người cộng sản.

Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc sang Nga dự đại hội Quốc Tế Cộng Sản lần 4, nhờ vậy mà ông được gặp ông Lenine, và từ đó ông trở thành thành viên trong Ban Đông Nam Á của Quốc Tế Cộng Sản.

Tháng 6/1923, ông vào học trường đại học Lao Động Cộng Sản Phương Đông, đào tạo về chủ nghĩa Marx, về tuyên truyền, và khởi nghĩa vơ trang.

Năm 1924, trong đại hội lần thứ 5 Quốc Tế Cộng Sản, ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu với tên Lư Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chánh phủ Liên Xô bên cạnh chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch.

Ngày 3/2/1930, ông Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hong Kong. Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc dưới tên Tống Văn Sơ, bị nhà cầm quyền Hong Kong bắt giam.

Ngày 9/8/1932, báo L Humanite của Pháp loan tin: “Nguyễn Ái Quốc đă chết v́ bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù Hong Kong, đồng thời tố cáo thực dân Pháp cùng với thực dân Anh ám sát người lănh đạo của đảng cộng sản Đông Dương”. Sau đó, có những nguồn tin cho rằng sự kiện đó chỉ là ngụy trang, v́ ông Nguyễn Ái Quốc vẫn c̣n sống…..Nhưng không có tài liệu nào phủnhận hay xác nhận bản tin bên dưới nói rằng Nguyễn Ái Quốc đă chết. Thôi th́, cho dù lănh đạo Việt Cộng là Nguyễn Ái Quốc c̣n sống, hay đă chết và có người bí mật thay thế Nguyễn Ái Quốc, th́ ông Hồ Chí Minh và tiếp nối bởi các nhóm lănh đạo Việt Cộng gây ra vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam. (Source: Wikipedia)

Source: <DanLamBao>. Một văn kiện quan trọng của đảng cộng sản thừa nhận rằng nhận vật Nguyễn Ái Quốc đă bị ám sát vào giữa năm 1932 tại Hồng Kông.Sự kiện này được viết rất rơ trong tập 4, văn kiện đảng toàn tập, tại bài “kỷ niệm ba năm ngày thành lập đảng cộng sản Đông Dương”: “Đảng Cộng Sản Đông Dương vừa được thống nhất vào đêm trước của cuộc băi công có tính chất khởi nghĩa của các phu đồn điền Phú Riềng, bởi ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ, dưới sự lănh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn Ái Quốcđă bị ám sát vào giữa năm 1932 trong nhà tù địa ngục của Hồng Công”.

Tác giả đă viết ra văn kiện trên là ông Hà Huy Tập, Tổng Bí Thư đời thứ 3 của đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 1937-1938. Đến năm 1941, ông Hà Huy Tập bị Pháp bắt và bị xử bắn. Tài liệu này đang trong kho lưu trữ trung ương đảng và được<website báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam>  đăng tải ngày 10/6/2003. Trang web<dangcongsan.vn> là cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Tổng biên tập tờ báo này là ông Đào Ngọc Dũng, sinh năm 1956, cựu uỷ viên ban biên tập báo Nhân Dân.

 Thử đi t́m sự thật, “Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương -cũng là Hồ Quang- gốc Tàu? Dưới đây là năm nguồn tin có kết luận giống nhau:

Nguồn tin 1. Giáo Sư Sử Học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan, Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, người dân tộc Hẹ, sinh năm 1901 tại Đài Loan, trong cùng một gia tộc với tác giả quyển Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo. Giáo Sư Hồ Tuấn Hùng xác nhận, theo các tài liệu trong văn khố của nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong, Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động tại Hong Kong) sau khi bị Cảnh Sát Hong Kong bắt giữ năm 1931, đă được chữa trị bệnh lao phổi trâm trọng trong một bệnh viện bài lao, và đă chết năm 1932. Nguyễn Tất Thành đă mắc bệnh lao phổi lúc ở Paris (1917-1923). Về mặt y học, bệnh lao phổi vào thập niên 1930 không chữa trị được v́ phương Tây chưa có thuốc trụ sinh Streptomycin. Măi đến ngày 19/10/1943, Sinh Viên Cao Học Albert Schatz, thành viên một nhóm nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dưới quyền điều khiến của Bác Sĩ Selman Abraham Waksman, mới khám phá ra thuốc Streptomycin. Đên năm 1946, thuốc Steptomycin mới được đem ra thí nghiêm trên lâm sàng đế chữa trị bệnh lao phối.

Nguồn tin 2. Căn cứ một bài viết của Huỳnh Tâm tựa đề “đảng cộng sản Việt Nam”. Theo đó th́  phiên bản Của T́nh Báo Trung Cộng đăng trên <Blog danlambaovn>, một số tài liệu của T́nh Báo Trung Cộng hiện c̣n lưu trữ tại hai cơ quan T́nh Báo ở Hoa Nam và Bắc Kinh đă dược giải mă. Các tài liệu đă giải mă, đặc biệt là Sổ Tay của Đặng B́nh Ánh (DBA), xác nhận nhân vật đă được đảng cộng sản Trung Hoa gởi đến căn cứ Pác Bó năm 1940 là Hồ Tâp Chương mang bí danh Hồ chí Minh từ năm 1932. Hồ Tập Chương là một điệp viên của Trung Cộng có năng khiếu về tinh báo và biết nói nhiều thứ tiếng: Hẹ, Quảng Đông, Quan Thoại, Nhựt, Nga, Pháp, và Việt Nam. Tuy nhiên, Hồ Tập Chương viết và nói tiếng Việt và tiếng Pháp c̣n nhiều sai lầm v́ mới học. Tiếng Hẹ có âm thanh gần giống tiếng Việt và tiếng Quảng Đông. Nếu so sánh chữ viết trên lá đơn đề ngày 11/9/1911 của Nguyễn Tất Thành xin nhập học Trường Thuộc Địa của Pháp với chữ viết của Hồ Chí Minh trên nhiều văn bản, nhứt là bản di chúc của ông ta, mọi người đều nhận thấy có một sự khác biệt nổi bật. Viết tiếng Việt không rành, Hồ Chí Minh cầm bút sắt hay bút bi như cách viết chữ Hán (cầm bút lông).

Tác giả Huỳnh Tâm c̣n phát hiện một tài liệu hiện c̣n lưu trữ tại Học Viện Quân Sự T́nh Báo Bắc Kinh ghi rơ như sau: ‘’Hồ Tập Chương thay mặt đảng cộng sản Đông Dương tham dự quốc khánh của Trung Quốc ngày 1/10/1950 đă tuyên bố như sau: ‘’Từ ngày có đảng ta khai hóa được nhược tiểu chư hầu Việt Nam đến với trào lưu nghĩa vụ cộng sản quốc tế, nay kính dâng lên đảng tùy nghi sử dụng cơ sở cộng sản Đông Dương. Mao Chủ Tịch muôn năm’’.

Nguồn tin 3. Trung Cộng  chánh thức xác định Chủ Tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Thiếu Tá Hồ Quang, của quân đội nhân dân Trung Hoa, từng phục vụ trong Đệ Bát Lộ Quân đồn trú và hoạt động tại Tỉnh Quảng Tây.

Nguồn tin 4. Năm 2015, Cục Văn Thư và Lưu trữ của nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, xác nhận Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Thiếu Tá Hồ Quang của quân đội Trung Cộng.

Nguồn tin 5. Trong một bài viết tháng 1/1949 với tựa đề ‘’Đảng ta’’ dưới bút danh Trần Thắng Lợi, Hồ Chí Minh đă viết như sau: ‘’Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong số 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi -tức Hồ chí Minh- nay chỉ c̣n đồng chí Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đ́nh Cữu, đồng chí Tán Anh (Lê tán Anh) và vài đồng chí nữa đă oanh liệt hy sinh cho đảng và cho dân tộc lâu trước cách mạng tháng 8’’. Bài viết nầy đă được đăng trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 (source: Wikipedia)

Tóm tắt. Đảng cộng sản Việt Nam là một Chi Bộ của Đệ Tam Quốc Tế, và phải thi hành lệnh của tổ chức này thực hiện mục tiêu của ông Lenin - Stalin, là “thiết lập một Cộng Ḥa Sô Viết trên toàn thế giới”. Từ khi Trung Cộng chiếm Trung Hoa lục địa năm 1949, th́ đảng cộng sản Việt Nam trở thành đàn em của Trung Cộng. Cho dù Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương (cũng là Hồ Quang) gốc Tàu, th́ tội ác mà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam -cũng gọi là Việt Cộng- gây ra cho dân tộc Việt Nam và tổ quốc Việt Nam là không thể nào chối căi.   

*****

Tội ác của lănh đạo Việt Cộng trong hơn 70 năm qua không thể nào sưu tầm đến mức khả dĩ cho là đủ, bởi những ǵ mà tôi sưu tầm được và tổng hợp trong tập tài liệu này, chỉ là những tội ác mà tôi nghĩ là rất nhiều người đă biết, nhưng chưa hẳn đă rơ. Tôi tin chắc rằng, c̣n vô số tội ác của lănh đạo Việt Cộng (cộng sản Việt Nam) c̣n trong trí nhớ của rất nhiều người nhưng không có cơ hội truyền đạt đến những độc giả thính giả muốn biết, v́ lịch sử phải là sự thật và do chính những người trong cuộc của từng tội ác truyền đạt bằng lời viết, lời nói. Từ đó, những nhà viết sử sẽ sưu tầm, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những ḍng sử qua từng giai đoạn của đất mước.

Tài liệu mà tôi trích dẫn từ trong Wikipedia, từ các tác giả, cũng như trên báo chí xă hội chủ nghĩa, có tin xác thực, cũng có tin cần kiểm chứng lại nếu có cơ hội. Nhưng, dù sao th́ tập tài liệu này cũng gợi lại cho quí độc giả đôi điều suy nghĩ về tội ác của lănh đạo Việt Cộng. Bởi, một xă hội tôn trọng con người, tôn trọng đạo nghĩa, luôn thích ứng với khoa học kỹ thuật trên đường phát triển từ tháng 4/1975 về trước, mà nay trở thành một xă hội suy đồi đạo đức, con người trở nên vô cảm, dối trá, và dối trá đến mức trở thành sự thật trong cuộc sống ngày nay trên quê hương Việt Nam. Bởi, Bộ Chính Trị sử dụng hệ thống giáo dục xă hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến nay (2017) vẫn tiếp tục, để đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, v́ vậy mà xă hội không có những thế hệ công dân để xây dựng và phát triển quốc gia theo nguyện vọng người dân.

Thảm trạng này vẫn chưa thấy “ánh sáng cuối đường hầm”, trong khi theo nội dung Biên Bản hội nghị Thành Đô ngày 4/9/1990,chỉ3 năm nữa là đến thời hạn lănh đạo Việt Cộng sẽ sáp nhập nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam vào Trung Cộng. Cho dù lănh đạo Việt Cộng có phản bác cách nào đi nữa, th́ những sự thật về tội ác 1945 -1990 là họ thi hành lệnh Đệ Tam Quốc Tế biến Việt Nam thành quốc gia vô sản trong một thế giới vô sản, và tội ác 1990-2017 cho thấy lănh đạo Việt Cộng chuẩn bị nhẹ nhàng êm thấm theo khuôn vàng thước ngọc 16 chữ vàng là"n định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”, do Chủ Tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân đề ra cho Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu. Rơ ràng, đây là sự xác định tư tưởng chỉ đạocủa Trung Cộng mà Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu vui mừng đón nhận, và “16 chữ vàng” có ghi trong Bản Tuyên Bố Chung hồi tháng 2 năm 1999.

Tháng 11/2000, khi ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư mới của Việt Cộngsang thăm Trung Cộng, ông Giang Trạch Dân lập lại 16 chữ vàng là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước”, và ông Mạnh vui vẽ chấp nhận.

Ngày 19/7/2005,khi hội kiến với ông Ôn Gia Bảo, Thủ Tướng Quốc Vụ Viện Trung Cộng, Chủ Tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương khẳng định rằng: “Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức ḿnh để thực hiện phương châm 16 chữ và quan hệ 4 tốt”. (hết trích)

Vậy là, lănh đạo Trung Cộng giăng ra cái bẫy, và lănh đạo Việt Cộng vui vẽ chui vào đó để được Trung Cộng gọi là đúng hướng. Và mỗi khi họ thấy sai hướng, th́ họ vội vàng bay sang Hà Nội dạy cho Việt Cộng bài học đúng hướng. 

******

Và đây là chuỗi tội ác đó.

Số 1. Tội ác tuần lễ vàng 1945. (source: Tác giả Trần Gia Phụng)

Ông Hố Chí Minh và đàn em của ông cướp chánh quyền từ Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam Trần Trọng Kim, và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ngày 2/9/1945. Ngày hôm sau, ông  t́m cách kiếm tiền từ trong người dân, v́ ngân hàng quốc gia chỉ c̣n 1.250.000 đồng tiền Đông Dương mà một nửa rách nát không c̣n giá trị. Vơ Nguyên Giáp được giao trách nhiệm tổ chức “Quỹ Độc Lập” với sắc lệnh số 4/SL ngày 4/9/1945. Nội dung sắc lệnh này kêu gọi người dân trong cả nước quyên góp ủng hộ chánh phủ. Ông Đỗ Đ́nh Thiện trách nhiệm gây quỹ tại Hà Nội, tại các tỉnh do lănh đạo địa phương trách nhiệm.

 Ngày 7/9/1945, phát động “tuần lễ vàng” với lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh nhẹ nhàng nhưng không kém phần thống thiết, như đang cầu xin người dân ủng hộ tổ chức Việt Minh (chữ tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội), che giấu cái tên Cộng Sản mà ông ta mang từ Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản trên đất Nga trở về. Theo dự trù, tuần lễ vàng thực hiện từ ngày 7 đến 14/9/1945, nhưng thật ra đă kéo dài trong nhiều tháng và được người dân hưởng ứng đóng góp, có người lột cả bông tai ủng hộ tại chỗ.                                      (Vơ Nguyên Giáp)

Tổng kết tuần lễ vàng: “Thu được 370 kilô vàng và 20 triệu đồng, tương đương với tổng số thuế thân và thuế điền thu được trên toàn quốc trong một năm dưới thời Pháp thuộc.” (Trích trong bài Tuần Lễ Vàng của tác giả Trần Gia Phụng)

Tóm tắt. Với “tuần lễ vàng, ông Hồ Chí Minh kêu gọi ḷng hảo tâm của những nhà giàu với lời lẽ hết sức nhẹ nhàng, khẩn thiết, và được người dân từ nghèo đến giàu ủng hộ. Nhưng, chính v́ ḷng tốt của người dân nghe lời ông Hồ mà ủng hộ đến 370 kí lô vàng và khối tiền rất lớn, lại giúp Hồ Chí Minh có đủ tên tuổi và tài sản của những người mà sau đó ông ta ghép vào các thành phần đem ra đấu tố đến chết trong Cải Cách Ruộng Đất năm 1953-1956, và toàn bộ tài sản đều bị Việt Minh cộng sản tịch thu.

Số 2. Tội ác “giết lầm hơn thả lầm” 1945-1946. 

Chiến tranh giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản âm ỉ từ khi quân Pháp tái chiếm Việt Nam, và chánh thức bắt đầu từ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Trong những năm đầu của cuộc chiến giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản, quân du kích của ông Hồ tại miền Nam đă giết oan hằng trăm ngàn người với cái tội “Việt gian” mà nạn nhân không hiểu tại sao ḿnh lại bị gắn cho cái tội đó! Tội này có nghĩa là người Việt Nam làm tay sai cho thực dân Pháp. Tội là thế, mà cách xử tội thật vô cùng tàn nhẫn, họ xem con người như những con vật khi họ thực hiện lệnh “thà giết lầm hơn tha lầm”, đă gây bao oan ức đối với người dân nói chung và người bị gắn tội nói riêng.

Lúc ấy tôi vào tuổi 15, nhận lời làm thư kư cho ông Đại Đội Trưởng du kích tại Nha Mân, tỉnh Sa Đéc, để Ba Má tôi và anh em chúng tôi được ông chovào ở trong gian nhà khá rộng trong thời gian chạy giặc Tây ở khoảng giữa rạch Bà Thiên với rạch Cầu Xoay. Tôi gọi ông là “chú Tư”.  Chú Tư không biết chữ. Đại Đội này cử người theo bảo vệ cán bộ trên quận xuống, lập nhiều trạm gác dọc theo sông Nha Mân từ ngoài chợ vào đến xă Ḥa Tân trong ngọn. Trạm gác đầu tiên là bờ sông cạnh nhà máy xay lúa tại Rạch Bà Thiên, cách chợ Nha Mân khoảng 500 thước, lúc ấy tại chợ Nha Mân có cái “đồn” do lính da đen gạch mặt trấn giữ. Từ trạm gác này, tôi chứng kiến nhiều lần mấy chú du kích kiểm soát, bắt người, và đem đi đâu đó giết chết thả trôi trên sông Nha Mân!

Điển h́nh là một lần, Chú Tư Đại Đội Trưởng Du Kích bảo tôi đến trạm kiểm soát này quan sát và báo cáo. Và chuyện như thế này:

“Tất cả xuồng ghe qua lại trên sông Nha Mân này đều bị kêu vào bờ kiểm soát. Trong tất cả những ǵ trên ghe xuồng và trên cơ thể những người đi trên đó mà du kích khám xét, cho dù có bao nhiêu màu sắc không cần biết, nhưng chỉ cần có 3 màu xanh, màu trắng, màu đỏ trong số đó cho dù 3 màu đó không liền nhau trên mảnh vải hay mảnh giấy là bị kết tội Việt Gian, bị trói ngay tại chỗ, và vài hôm sau th́ mất tích! Ba màu xanh trắng đỏ nếu may liền nhau theo đúng vị trí và đúng kích thước là quốc kỳ của Pháp. Thế nhưng mấy chú du kích không biết chữ hoặc ít học, nên cứ thấy 3 màu xanh trắng đỏ th́ cho là dấu hiệu liên lạc với quân Pháp, liền kết tội Việt Gian và bắt trói. Ch́ vài ngày sau là xác trồi lên từ dưới đáy sông!

Chỉ riêng tại Nha Mân -cũng là xă Tân Nhuận Đông- mà như vậy, th́ cả nước nói chung và tại miền Nam nói riêng có biết bao nhiêu người chết tức tưởi như vậy! Trong những năm đầu của chiến tranh (từ tháng 8/1945), thường ngày có quá nhiều xác người trôi trên những sông rạch miền Nam nói chung và sông Nha Mân nói riêng, nhiều đến nỗi không ai dám ăn tôm tép nữa v́ loại này háu rỉa thịt người! Có những xác trôi riêng rẻ, có những xác bị cột chung vào một cây tre! Tiếng lóng mà người dân thường dùng để chỉ những xác trôi lềnh bềnh đó là “ṃ tôm”, ẩn nghĩa của nó là những người bị Việt Minh cộng sản bắt giết và ném ch́m dưới sông, vài ngày sau nổi lên trên mặt sông bị ánh nắng biến phần trên xác người thành màu đen sậm, và phần dưới mặt nước với màu trắng bệt!

Số 3. Tội ác diệt trừ văn hóa Việt (source:Wikipediabáo Tiếng Dội 24/8/1951)

Tờ nhật báo Tiếng Dội số 462, năm thứ 3, ngày Thứ Sáu 24/8/1951, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, ṭa soạn trên đường Gia Long Saigon, có bài viết “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Cộng”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do ông Trường Chinh kư tên, như sau :                                     (Trường Chinh)

Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa

Tổng Thư Kư Đảng Lao Động Việt Nam

Số 284/LĐ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Hởi đồng bào thân mến,

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước chư hầu của Trung Hoa bao nhiêu năm rồi, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng tư bản?

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Pháp Alexandre de Rhodes đă đem qua xứ ḿnh?

Không, đồng bào của ta nên loại bỏ cách viết theo lối Âu Tây ấy, dù cách viết rơ ràng có mau thật đấy, để ta hăy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Hoa. Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta mà có lẽ là Thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nh́n nhận như thế, có phải đó là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? C̣n nói ǵ đến y khoa của Âu Mỹ, chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo, có thế thôi.

Hởi đồng bào yêu mến.

Chúng ta hăy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn đế quốc phương Tây đem qua xứ ta. Ta hăy bỏ nhà bảo sanh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hăy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hăy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…Ta hăy quét sạch lũ “trí thức” đă xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc, và thực dân.

Chúc tổng phản công và thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân.

Trường Chinh, Tổng thư kư đảng Lao Động

Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum, London).

Số 4. Tội ác trong cải cách ruộng đất 1953-1956.(Source: Nguyễn Quang Duy& Wikipedia)

Thư số 2, ngày 31/10/1952

 kính gởi Đồng chí Stalin thân mến,

“Xin gửi Ngài chương tŕnh “Cải Cách Ruộng Đất” của đảng Lao Động Việt Nam. Chương tŕnh hành động được lập bởi chính tôi, dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, và đồng chí Văn Sha San. Đề nghị Ngài xem xét và cho chỉ dẫn”.

Gửi lời chào cộng sản. Hồ Chí Minh (kư tên).

Xin chú ư: Kèm theo nguyên văn phần cuối lá Thư để quí vị xem tên và chữ kư ở cuối thư này như là nét chữ Trung Hoa. Và nếu đúng là nét chữ Trung Hoa, th́ liệu đó là chữ kư của ông Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương?

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất trên lănh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, với mục đích xóa bỏ văn hóa truyền thống mà ông Hồ gọi là “văn hóa phong kiến”, tiêu diệt các thành phần mà ông Hồ gắn cho những cái tên “bóc lột, phản quốc, và phản động”, để lập nền chuyên chính vô sản, và đưa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tiến lên chủ nghĩa xă hội, theo Bản Tuyên Ngôn đảng cộng sản mà ông Karl Marx đă  tuyên bố: “Cách mạng ruộng đất là điều kiện giải phóng dân tộc”.

Tháng 11/1953, Quốc Hội thông qua dự luật “Cải Cách Ruộng Đất” và ban hành ngày 19/12/1953. Ông Hồ Chí Minh tuyên bố: “Luật cải cách ruộng đất của ta, chí nhân, chí nghĩa, hợp lư, hợp t́nh, chẳng những làm cho cố nông, bần nông, trung nông có ruộng cày, đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng bào địa chủ”.

Ngay sau đó là thành lậpBan lănh đạo trung ương, gồm:

- Trưởng Ban Chỉ Đạo: Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng.

- Trưởng Ban Chỉ Đạo thí điểm Thái Nguyên: Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành trung ương đảng.

- Trưởng Ban Chỉ Đạo thí điểm Thanh Hóa + Nghệ An + Hà Tĩnh: Lê Văn Lương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành trung ương đảng

- Giám Đốc trực tiếp điều hành chiến dịch: Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành trung ương đảng.

Thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất qua 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1, huấn luyện cán bộ. Cán bộ đảng Lao Động -tức đảng Cộng Sản- tham gia cải cách ruộng đất phải học khóa Chỉnh Huấn 1953, và một số được đưa sang huấn luyện tại Trung Hoa, trong mục đích giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng cộng sản trong cải cách ruộng đất, theo quan điểm bốn thành phần “trí, phú, địa, hào,phải đào tận gốc trốc tận rễ”. Tổng số cán bộ đưa vào công tác là 48.818 người.

Sau đó, các Đội Cán Bộ cải cách ruộng đất, phải vào các làng xă “cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm” với các bần cố nông trong làng xă đó, để kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của Đội.

Giai đoạn 2, phân loại thành phần. Đội Cải cách Ruộng Đất sau khi ra mắt làng xă, là xúc tiến công tác phân loại tất cả gia đ́nh trong xă theo 5 thành phần:

Một là địa chủ.

Hai phú nông.

Ba là trung nông cứng,nếulàm chủ 1 con ḅ, 1 con heo, 1 đàn gà. Đến trung nông vừa,nếu làm chủ 1 con heo và 1 đàn gà. Sau cùng là trung nông yếu,nếu chỉ có 1 đàn gà hay không có ǵ cả.

Bốn bần nông.

VàNăm cố nông.

Gia đ́nh nào có 2 con heo có thể gọi là phú nông. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5% dân số tại mỗi xă. Nếu chưa đủ tỷ lệ, các Đội Cải Cách phải bằng mọi cách để đôn lên thành phần địa chủ cho đủ tỷ lệ 5%là một quy định bắt buộc. Các gia đ́nh bị xếp vào thành phần địa chủ, Đội Cải Cách phải lọc ra 3 thành phần nhỏ, là: Địa chủ gian ác. Địa chủ thường. Và địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Khi bị xếp vào thành phần địa chủ gian ác, Đội Cải Cách bắt giam ngay lập tức.

Giai đoạn 3, học tập đấu tố. Các bần nông, cố nông, rễ, và cành, sẽ học “lớp đấu tố” do Đội Cải Cách giảng dạy. Qua đó, học viên biết cách nhận dạng các tội ác của địa chủ, và được khuyến khích nhớ ra tội ác của từng địa chủ đă bóc lột họ như thế nào. Du kích và cán bộ cải cách ruộng đất t́m bắt các gia đ́nh địa chủ, nếu cần, phải vào thành phố lùng bắt địa chủ và con cái của họ, cho dù họ đang là cán bộ hay công nhân viên chức nhà nước.

 Giai đoạn 4, công khai đấu tố. Các buổi đấu tố thường tổ chức vào ban đêm. Số người tham gia đấu tố, được huy động từ vài trăm đến hằng ngàn người. Thời gian đấu tố, từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông bước ra kể tội địa chủ đă bóc lột họ như thế nào. Tại các tỉnh có tổ chức cải cách ruộng đất, đảng Lao Động -tức đảng cộng sản- cho ra tờ báo lấy tên là Lá Rừng”, ám chỉ địa chủ nhiều như lá rừng. Tờ báo có nhiệm vụ tường thuật chi tiết các vụ đấu tố. Sau khi bị đấu tố, các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ ṭa án nhân dân xét xử. Gia đ́nh và thân nhân người bị đấu tố bị cô lập, bị bỏ đói,bị phân biệt đối xử, và nhục h́nh.

Và giai đoạn 5, xử án địa chủ.Tại các huyện, một ṭa án nhân dân đặc biệt được lập ra, xuống các xă xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, th́ những người bị án tử h́nh th́ ngay lúc ấy, Đội T V Xă thi hành án trước mặt mọi người. Những người không bị xử bắn, th́ bị cô lập trong các làng xă cho đến chết.

Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Hoa, chiến dịch được mở rộngtại 3.341 xăthuộc 15 tỉnh miền Trung và miền Bắc, và thực hiện nhanh hơn để thu ngắn thời gian. Từ đó, chiến dịch càng lên cao điểm càng mất kiểm soát dẫn đến t́nh trạng vô chính phủ. Đám đông dân chúng được dịp trả thù địa chủ trở nên kích động mạnh, tố cáo hỗn loạn gây nhiều oan sai và cô lập, đối xử nhục h́nh với gia đ́nh người bị đấu tố. Hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Có trường hợp là cán bộ, đảng viên cũng bị dân chúng đấu tố. Điển h́nh là:

Trường hợp tử h́nh bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hải Pḥng, mẹ nuôi của Lê Đức Anh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, có một con trai là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội nhân dân Việt Nam. Trong "Tuần Lễ Vàng", gia đ́nh bà cũng đă hiến 100 lạng vàng.Nhưng đoàn cán bộ trong cải cách ruộng đất đă biến những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là "giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại."Và bà bị lên án với tội danh "tư sản địa chủ cường hào gian ác" ngang qua bài viết "Địa chủ ác ghê" của C.B. trên báo Nhân Dân ngày 21/7/1953, kể tội bà là "Làm chết 32 gia đ́nh gồm có 200 người + giết chết 14 nông dân + tra tấn đánh đập hằng chục nông dân...". Cũng theo đó, bà Nguyễn Thị Năm đă "thông đồng với Pháp và Nhật để phá hoại kháng chiến". Bà bị bắn chết ngày 9/7/1953 tại Đồng Bấm tỉnh Thái Nguyên.

Tổng số cán bộ, đảng viên từng bị chỉnh đốn là 84.000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt bị coi là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu h́nh phạt nặng. T́nh h́nh chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn. Số cán bộ lănh đạo các cấp này bị xử lư oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội dự chỉnh đốn đều bị xử tử.

Trường hợp Thiếu Tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại Đoàn 308, nguyên Tư Lệnh Mặt Trận Hà Nội năm 1946, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Hà Nội, bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội v́ có người đấu tố ông là "địa chủ, xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rơ ràng". 

Các cháu nội của Cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là trung đội trưởng, nhà nghèo, 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ và bị tù một thời gian.

Phó Bảng Đặng Văn Hưởng, Bộ Trưởng phụ trách Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh của chánh phủ bị dân chúng đấu tố v́ cho rằng ông từng làm quan cho triều Nguyễn, và chết tại quê nhà Diễn Châu. 

Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niệm,  cha của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, cũng bị dân đấu tố v́ từng làm quan to cho triều Nguyễn, bị giam trong chuồng nuôi hươu, phải ăn cơm thiu và chết tại quê nhà Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Tổng kết chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất.    

Đă tịch thu của địa chủ:

(1) 148.565 ngôi nhà.

(2) 810.000 mẫu ruộng.

(3)106.448 trâu ḅ, và 1.846.000 nông cụ.

Số nạn nhân. Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam ấn hành tại Hà Nội năm 2004, số nạn nhân bị đấu tố là 172.008 người bị ghép vào các thành phần:

(1) 26.453 người là địa chủ cường hào gian ác.

(2) 82.777 người là địa chủ thường.

(3) 586 người là địa chủ kháng chiến.

(4) Và 62.192 người là phú nông.

Trong tổng số 172.008 nạn nhân, số nguời bị oan chiếm đến 123.266 người, hay là 71.6%. Con số về tổng số nạn nhân trên đây, chưa tính đến thân nhân thân quyến của họ cũng bị cô lập và phân biệt đối xử.

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, đă phân chia 810.000 mẫu đất canh tác cho 2.000.000 gia đ́nh nông dân ở đồng bằng và trung du, tức khoảng 72,8% gia đ́nh nông dân. Tuy nhiên, quyền tư hữu ruộng đất của nông dân chỉ tạm thời, năm 1958 th́trung ương đảng quyết định tập thể hóa toàn bộ theo kế hoạch phát triển nông thôn. Đến Hiến Pháp1959, thiết lậpquyền sở hữu tập thể. Và Hiến Pháp 1980, th́ quyền tư hữu của nông dân hoàn toàn biến mất, và nhà nước nắm  quyền sở hữu ruộng đất trên toàn cơi Việt Nam.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, trong một buổi phỏng vấn nhà thơ nổi tiếng với bài “Màu Tím Hoa Sim”, Nguyễn Hữu Loan đă đề cập tới tội ác của Hồ Chí Minh, kẻ đă phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất theo lệnh của quốc tế cộng sản, đă giết hằng ngàn người dân vô tội ở miền Bắc: “Nó phát động đấu tố cha mẹ, gọi bố mẹ là tao mầy. Thế th́ tôi chống cái đấy, và tôi đi trở lại với cái đạo làm người. Tôi thấy Hồ Chi Minh làm cái việc vô đạo, mà tôi dám chửi trước đại hội. Rồi trong một buổi tập họp để tôn vinh Hồ Chí Minh, tôn vinh đạo đức Hồ Chí Minh ầm ĩ, ai đội ông Hồ Chí Minh coi như ông thánh trên đầu họ, c̣n tôi, tôi thấy thằng này là thằng mất đạo đức, bởi v́ nó phát động chiến dịch cải cách ruộng đất để đấu tố bố mẹ. Tôi cho thằng này là thằng mất dạy, không c̣n giống người nữa, nhưng mà không ai dám nói ǵ cả”.

Tóm tắt.

Điểm 1. Cải Cách Ruộng Đất đă giết người theo tỷ lệ 5% tại mỗi xă, trong tổng số nông dân tại 3.341 xă cải cách, nếu không đủ tỷ lệ, phải đôn từ thành phần không bị giết lên thành phần bị giết. Ḍng lịch sử Việt Nam từ thời dựng nước, chưa bao giờ người dân bị giết dă man như vậy.

Điểm 2. Tịch thu đất của người bị giết, phân chia cho nông dân với quyền sở hữu tư nhân, rồi tập trung vào hợp tác xă trở thành quyền sở hữu tập thể, sau cùng th́ quyền sở hữu ruộng đất vào tay nhà nước.

Điểm 3. Thực hiện một xă hội vô sản đúng theo điều lệ của cộng sản quốc tế, nên đă đấu tố giết luôn những viên chức cao cấp trong bộ máy cầm quyền.   

Luật Cải Cách Ruộng Đất dẫn đến giết người quá dă man mà ông Hồ Chí Minh lại nói là chí nhân chí nghĩa hợp lư hợp t́nh, hóa ra con người ông Hồ sau khi học xong trường trường đại học Lao Động Cộng Sản Phương Đông tại Liên Xô, đào tạo về chủ nghĩa Marx, về tuyên truyền, và khởi nghĩa vơ trang, xem ra tội ác của ông không biết phải viết như thế nào để diễn tả hết những góc cạnh của tội ác, v́ luật này giết người theo tỷ lệ 5% căn cứ theo dân số tại mỗi xă Cải Cách Ruộng Đất!

Giữa năm 1951 khi sống tại Sài G̣n, có người bạn cho tôi đọc bản dịch của tác giả người Pháp, nghiên cứu đời sống nông dân tại các vùng nông thôn miền Bắc. Một cách tổng quát th́ mỗi xă có 5% người giàu chiếm giữ 90% tài sản, trong khi 95% người nghèo chỉ chiếm giữ 10% tài sản. Rất có thể trong chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất, ông Hồ Chí Minh căn cứ theo đó để giết người theo tỷ lệ 5% chăng? V́ tôi chưa t́m thấy tài liệu nào cho biết tỷ lệ giết người này căn cứ vào đâu. Nhưng, cho dù biết không biết tỷ lệ giết người từ đâu ra, nhưng chủ trương của ông Hồ Chí Minh ra lệnh giết người  trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 là vô cùng tàn nhẫn, vô cùng khiếp đảm!  

 Số 5. Tội ác dẫn đến cuộc chạy trốn cộng sản 1954. (Source: Ngô Đ́nh Châu)

Giáo sư Lê Xuân Khoa nhận định rằng: “Chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất là một trong ba nguyên nhân chính,dẫn đến cuộc chay trốn vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư hồi năm 1954”.

Hiệp Định Đ́nh Chiến ngày 20/7/1954 tại Geneve, Thụy Sĩ, chia Việt Nam thành hai quốc gia:

Từ vĩ tuyến 17 trở lên cực bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa theo chế độ cộng sản độc tài.

Từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực nam là nước Việt Nam Cộng Ḥa theo chế độ dân chủ tự do.

Sau khi Hiệp Định có hiệu lực, hàng hàng lớp lớp người dân dưới chế độ cộng sản đổ về Hà Nội và Hải Pḥng, t́m một chỗ trên máy bay hoặc trên tàu vận tải biển để thoát khỏi xă hội chủ nghĩa.

Giám sát thi hành Hiệp Định là một Ủy Hội Quốc Tế có đại diện của Ấn Độ + Ba Lan + Canada. Đại diện Canada là ông Sherwood Lett cho biết tổng số nhân viên trong Ủy Hội có 120 quân nhân + 29 nhân viên dân sự. Theo tài liệu th́ phái đoàn Canada đă tŕnh Ủy Hội 3 điểm:

Một. Việt Minh đă vi phạm nặng nề điều 14 của Hiệp Định là đàn áp và ngăn cản việc di cư vào Nam của người dân miền Phát Diệm, Trà Lư, Ba Làng, Lưu Mỹ, Thuận Nghĩa, Xă Đoài. Đại diện Canada trong Ủy Hội phản đối và lên án hành động này.

Hai. Việt Minh tố cáo đồng bào miền Bắc bị cưỡng bách di cư vào Nam. Canada cho điều này là hoàn toàn vô căn cứ, v́ đại diện Canada đă tiếp xúc hơn 25.000 người trong các trại di cư trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, không một người nào ngỏ ư muốn được trở về miền Bắc cả.

 Ba. Canada tố cáo đích danh nhân viên Ấn Độ và Ba Lan đă thiếu vô tư và thiên vị Việt Minh cộng sản. (trích trong lá thư Canada của Trà Lũ, do chiensitudo chuyển ngày 12/6/2017)

Đường biển. Với các tàu vận tải của Pháp, Hoa Kỳ, Ba Lan, Đài Loan, và các quốc gia đồng minh trợ giúp, chuyên chở được 655.037 đồng bào chạy trốn cộng sản. Chuyến tàu cuối cùng cặp bến Sài G̣n ngày 16/8/1955.

Đường hàng không. Nối phi trường Tân Sơn Nhứt ở Sài G̣n, với phi trường Gia Lâm và Bạch Mai ngoại ô Hà Nội, và phi trường Cát Bi của Hải Pḥng. Trong thời gian này, phi cảng Tân Sơn Nhất thường xuyên đông nghẹt, v́ mỗi ngày có từ 2.000 đến 4.200 người rời khỏi phần đất cộng sản di tản vào Sài G̣n. Số người chạy trốn cộng sản bằng đường hàng không là 213.635 đồng bào.

Tổng cộng số người được chuyên chở bằng đường hàng không và đường biển vào Việt Nam Cộng Ḥa là 868.672 người, được chánh phủ và đồng bào đón tiếp định cư những vùng đất ph́ nhiêu tại 319 làng: 

- Cái Sắn, Rạch Giá, cho nông dân canh tác ruộng rẫy hoa màu.

 - Dọc theo bờ biển B́nh Tuy và đảo Phú Quốc cho ngư dân quen sống với nghề đánh cá.

- Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai, cho dân khai thác lâm sản và thủ công đồ gỗ.

- Vùng đất đỏ ba-dan cao nguyên Ban Mê Thuột, cho dân trồng cây kỹ nghệ.

- Sài G̣n và vùng phụ cận, cho dân kinh doanh sản xuất và dịch vụ.

Từ năm 1954 đến năm 1956, có 102.861 đồng bào trốn khỏi phần đất cộng sản đến phần đất tự do bằng tàu đánh cá dọc theo duyên hải, hoặc băng rừng vượt suối dọc theo dăy Trường Sơn. Như vậy, tổng cộng số đồng bào chạy trốn cộng sản từ đất Bắc, và vào đến Việt Nam Cộng Ḥa lên đến 971.533 người.

Tóm tắt. Qua chiến dịch cải cách ruộng đất, người dân nhận rơ bản chất dă man của ông Hồ Chí Minh khi ông ra lệnh giết người theo tỷ lệ, v́ vậy mà gần một triệu đồng bào hoảng hốt bỏ lại tài sản cùng mồ mả ông bà, để thoát khỏi cái chế độ Việt Minh cộng sản độc tài tàn bạo, và đồng bào cũng nhận ra quyết định của ḿnh là đúng, khi được đón tiếp định cư tại những vùng đất thích hợp với nghề nghiệp trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Với h́nh ảnh cuộc di cư này là chứng tích rơ ràng “cuộc bỏ phiếu bằng chân” của gần một triệu đồng bào chọn lựa chế độ chính trị để được sống một cuộc đời đáng sống trong “chế độ dân chủ tự do”. Và chắc chắn rằng, không có người nào từ Việt Nam Cộng Ḥa chạy sang nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa để sống ở đó, ngoại trừ quân lính chánh quy của Việt Minh cộng sản. 

Số 6. Tội ác vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1955-1956. (Source: Phong trào NVGP trong Wikipedia)

Nhân Văn và Giai Phẩm là một Phong Trào.Cơ quan ngôn luận của phong trào là tờ Nhân Văn, chuyên về văn hóa, xă hội, do ông Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư kư ṭa soạn. Bên cạnh đó là tờ Giai Phẩm.

Phong Trào với những cây bút là nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, và trí thức, như:

(1) Thụy An. (2) Đào Duy Anh. (3) Trần Thiếu Bảo. (4) Thanh B́nh. (5) Nguyễn Bính. (6) Hoàng Cầm. (7) Văn Cao. (8) Trần Công (9) Phùng Cung.

(10) Trần Dần. (11) Đỗ Đức Dục. (12) Quang Dũng. (13) Trần Duy. (14) Lê Đạt. (15) Nguyễn Hữu Đang. (16) Hoàng Huế. (17) Cao Xuân Huy. (18) Đặng Đ́nh Hưng. (19) Hoàng Công Khanh.

(20) Phan Khôi. (21) Yến Lan. (22) Hoàng Tích Linh. (23) Nguyễn Thành Long. (24) Hữu Loan. (25) Như Mai. (26) Vĩnh Mai. (27) Sỹ Ngọc. (28) Hoàng Tố Nguyên. (29) Tử Phác.

(30) Bùi Xuân Phái. (31) Huy Phương. (32) Phùng Quán. (33) Lê Đại Thanh. (34) Trần Đức Thảo. (35) Trần Thịnh. (36) Hữu Thung. (37) Nguyễn Tuân. (38) Nguyễn Mạnh Tường. (39) Trương Tữu. (40) Nguyễn Văn Tư. (41) Trần Lê Văn. (42) Và Phan Vũ.

  •  
  •  
  •  

 

  •  

Tháng 1/1956,Giai phẩm Mùa Xuân” đăng bài Nhất Định Thắng của Trần Dần. Tác giả dựng lại chân dung đời sống xă hội chủ nghĩa trong những ngày đầu đất nước chia đôi, v́ vậy mà tác giả bị kết tội "bôi đen chế độ, với những câu thơ sau đây:Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ”.

Bán nguyệt san Nhân Văn trong số ra mắt ngày 20/9/1956, bài "Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ". Người được phỏng vấn đầu tiên là luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông nêu hai nguyên nhân dẫn đến xă hội không dân chủ: (1) Đảng thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ, chẳng những xa ĺa quần chúng mà c̣n đối lập với quần chúng. (2) Yêu cầu trung ương đảng và chính phủ bảo đảm sự thi hành triệt để các tự do dân chủ. Nhân Văn số 3 ra ngày 15/10/1956,có bài của Trần Đức Thảo, nói về mở rộng dân chủ phát triển phê b́nh trong nhân dân. Trần Duy cũng góp tiếng nói đấu tranh cho tự do dân chủ trong Nhân văn số 4 ấn hành tháng 11/1956.

Ngày 15/12/1956, lănh đạo Việt Cộng (tức cộng sản Việt Nam) ra lệnh đóng cửa hai tạp chí Nhân Văn và Giai Phẩm. Từ lúc bắt đầu đến khi bị đóng cửa, Nhân Vănchỉ n hành được 5 số, và Giai Phẩm chỉ 4 s.

Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo luậnvề "Nghị Quyết của 800 văn nghệ sĩ", tiếp theo Nghị Quyết của Hội Liên Hiệp. Cuối tháng 6 đu tháng 7/1958, để thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đă tham gia Phong Trào, Hội Nhà Văn, Hội Mỹ Thuật, và Hội Nhạc Sĩ, quyết định:

(1) Khai trừ ra khỏi Hội là: Phan Khôi. Trương Tửu. Thụy An. Trần Duy. Hoàng Cầm. Phùng Quán. Trần Dần. Lê Đạt. Tử Phác. Và Đặng Đ́nh Hưng.

(2) Khai trừ ra khỏi Ban Chấp Hành, là: Sĩ Ngọc. Nguyễn Sáng. Văn Cao. Nguyễn Văn Tư. Hoàng Cầm. Và Hoàng Tích Linh.

(3) Năm người tội nặng chờ ngày ra ṭa.

Tháng 1/1960, ṭaán Nhân Dân Hà Nội xử vụ án mà báo chí nhà nước gắn cho cái tội “gián điệp có tổ chức. Chánh án Nguyễn Xuân Dương, tuyên án:

Nguyễn Hữu Đang, 15 năm giam.

Lưu Thị Yến tức Thụy An, 15 năm giam.

Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, 10 năm giam.

Phan Tại, 6 năm giam.

Lê Nguyên Chí, 5 năm giam.

Tóm tắt. Sau khi nhuộm đỏ một nửa nước từ tháng 7/1954, đây là sự phản kháng đầu tiên bằng ng̣i bút của nhóm văn nghệ sĩ và trí thức, dưới h́nh thức những bài viết trên Nhân Văn và Giai Phẩm. Lănh đạo Việt Cộng áp dụng chính sách “trăm hoa đua nở” của Trung Cộng, lừa người dân tham gia sinh hoạt dân chủ để gắn cho họ cái “tội gián điệp” và sử dụng ṭa án để triệt hạ.

Số 7.Tội ác làm mất chủ quyền trên Biển Đông (source: Wikipedia).

Năm 1958. Kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, đă  thông qua Bản Tuyên Bố và ban hành ngày 4/9/1958: 

Thứ nhất. Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lư. Điều lệ này áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Hoa trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa tức Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa tức Trường Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  

Thứ hai. Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lănh hải dọc theo đất liền Trung Hoa và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lư tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Hoa. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Hoa. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Hoa. 

Thứ ba. Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Hoa và vùng trời trên hải phận này.  Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Hoa, đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa 

Thứ tư. Điều thứ hai và thứ ba bên trên, cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  Đài Loan và Penghu hiện c̣n bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lănh thổ và chủ quyền của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Hoa”.

Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Phạm Văn Đồng, gởi Công Hàm cho chánh phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa:

“Thưa đồng chí Tổng Lư,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lư rơ, Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a ghi nhận và “tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Hoa. Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a tôn trọng quyết “định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư “của Trung Hoa trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển.

“Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng Lư lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội, ngày 14/9/1958”

(kư tên Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước Việt Nam n Chủ Cộng a. Đóng dấu)

Tóm tắt. Chính v́ Công Hàm này mà từ năm 2014 đến nay (2017), tàu Hải Giám của Trung Cộng rượt đuổi, ủi ch́m tàu cá, và bắt ngư dân Việt Nam nộp tiền chuộc mới thả, v́ họ nói rằng Biển Đông là của họ mà chánh phủ Việt Nam đă công nhận từ năm 1958. V́ vậy mà lănh đạo Việt Cộng không có bất cứ hành động nào để bảo vệ biển đảo, bảo vệ ngư dân, ngoài lời phản đối nhẹ nhàng từ người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao.

Số 8. Tội ác xóa bỏ Hiệp Định Geneve 1954 và tiếp tục chiến tranh.

Theo Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương 1945-1955, sẽ rút khỏi lănh thổ của phía bên kia.

Quốc Gia Việt Nam, rồi trở thành Việt Nam Cộng Ḥa. Các đơn vị quân đội Việt Nam cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp, rút toàn bộ xuống dưới vĩ tuyến 17. Trong cùng thời gian, thực hiện kế hoạch vận chuyển gần 1.000.000 đồng bào của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa di tản vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư sinh sống. 

Trong khi lănh đạo Việt Minh cộng sản là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa thi hành Hiệp Định Geneve như thế này: “Chỉ rút quân chánh qui lên phía bắc vĩ tuyến 17, c̣n lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị được “bố trí ở lại” (trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa). Một số cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc làm nhiệm vụ bảo vệ lănh đạo đảng, thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của địch (Việt Nam Cộng Ḥa), phải nắm lực lượng vũ trang giáo phái để sẳn sàng cho chiến tranh quân sự trở lại. Vũ khí phải chôn giấu để sử dụng khi cần. Bên cạnh đó, trung ương Đảng đă cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam, chuẩn bị lănh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương”. (trích trong Wikipedia)

*****

Ngày 7/7/1954,Ông Ngô Đ́nh Diệm nhận chức Thủ Tướng Việt Nam. Tháng 1/1955, Thủ Tướng tuyên bố tẩy chay bầu cử mà Hiệp Định Geneve ngày 20/7/1954 qui định sau hai năm, với lư do: “Người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa không được tự do khi bỏ phiếu. Cùng lúc, lực lượng của họ c̣n giấu lại trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, sẽ uy hiếp cử trị bỏ phiếu cho họ. Như vậy, chằng những cử tri của  Việt Cộng không được tự do sử dụng lá phiếu theo ư họ, trong khi một phần cử tri nông thôn Việt Nam Cộng Ḥa cũng không được tư do bỏ phiêu v́ bị Việt Cộng nằm vùng uy hiếp . Nói chung là không công bằng”.

*****

Ngày 20/12/1960, ông Hồ Chí Minh tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại căn cứ Dương Minh Châu, trong cánh rừng phía bắc của tỉnh Tây Ninh sát biên giới với Cam Bốt. Nhóm lănh đạo gồm: Vơ Chí Công, Phùng Văn Cung, và Huỳnh Tấn Phát. Năm 1961, có thêm Nguyễn Văn Linh, Ung Ngọc Ky, Lê Thanh, và Nguyễn Hữu Thọ.

Nhiệm vụ của tổ chức là đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Bên cạnh Mặt Trận là Trung Ương Cục Miền Nam -c̣n gọi là Cục R- đại diện cho đảng cộng sản trá h́nh dưới tên gọi đảng Lao Động Việt Nam, hoạt động bí mật từ đó đến năm 1969 mới công khai. 

Nửa đêm 28/1/1960, quân cộng sản đột kích vào doanh trại Trung Đoàn 32 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Trăng Sụp, 6 cây số phía bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Lúc ấy, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban Hành Quân/Pḥng 3/Sự Đoàn 21 Bộ Binh, đồn trú tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh. Trời sáng hẳn th́ chúng rút về biên giới Việt Nam - Cam Bốt. Cuộc hành quân truy kích đến sát biên giới, Sư Đoàn 21 chúng tôi thu hồi lại một xe vũ khí, trong số 2 xe bị cộng sản chiếm, đồng thời thu được một số tài liệu. Trong số đó có tài liệu về chiến dịch Đồng Khởi, mà cuộc đột kích này là trận mở màn của chiến dịch Đồng Khởi, chuyển từ hoạt động kinh tài sang chiến tranh quân sự trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa.

Kết quả của chiến dịch này gây thiệt hại không đáng kể, nhưng nó đánh dấu lănh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (cộng sản), bắt đầu chiến tranh trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa để nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế, sau khi nhuộm đỏ một nửa lănh thổ phía bắc trên dăi đất có dạng h́nh cong chữ S. Từ đó, chiến tranh xảy ra khắp nơi trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, với những trận đánh gia tăng dần lên, từ cấp Trung Đội à Đại Đội à Tiểu Đoàn à Trung Đoàn à Sư Đoàn từ giữa những năm 1960. V́ vậy mà cuối năm 1965, quân đồng minh Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam với mục đích tiếp tay ngăn chận quân cộng sản. Lần lượt được tăng cường thêm bởi quân đội Thái Lan, Đại Hàn, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, đến Việt Nam (trích trong hồi kư Đôi Ḍng Ghi Nhớ của tôi).

Số 9. Tội ác vận chuyển vũ khí vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa bằng đường biển.

Tháng 2/1965, Trung Tướng Nguyễn Khánh đang là Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân - Thủ Tướng - và là vị Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tư Lệnh (tức Bộ Tổng Tham cũ). Trung Tướng Khánh là người rất xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác.Lúc ấy tôi là Thiếu Tá, trong văn pḥng Tổng Tư Lệnh, phụ trách các loại văn thư tŕnh lên vị Tổng Tư Lệnh. Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được lệnh mang theo tất cả hồ sơ công văn của các pḥng và các cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tư Lệnh tŕnh lên, để ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47 mà Không Quân dành cho ông, có trang bị bàn viết, giường nằm, tủ lạnh nhỏ, và vài tiện nghi lặt vặt khác. Thường khi như vậy, ngoài Trung Tướng Khánh ra, c̣n có sĩ quan tùy viên, cận vệ, vài nhân viên an ninh, vài nhân viên truyền tin, và tôi. Đến thành phố nào đó là tôi t́m phi cơ khác của Không Quân Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng Không dân sự, để mang công văn trở về Bộ Tổng Tư Lệnh  hoàn lại các Pḥng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn được quan tâm đúng mức. Đây là nét đặc biệt của Trung Tướng Nguyễn Khánh mà vị Tổng Tư Lệnh trước ông là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, và những vị sau ông là Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, và Đại Tướng Cao Văn Viên, không có. Tôi không dám đoan chắc đó là điều tốt, nhưng rơ ràng là ông không để thời gian trống trong vai tṛ lănh đạo của ông. 

Ngày 16/02/1965, Trung Tướng Khánh ra phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, v́ ông bận sắp xếp thành phần chánh phủ mới thành lập do ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Điều này do chính Trung Tướng Khánh nói với anh em chúng tôi trong khi phi cơ đang trên không tŕnh Sài G̣n - Qui Nhơn.

 Khi đến Qui Nhơn, tôi liên lạc với các cơ quan nhưng không có phi cơ về Sài G̣n nên tôi phải ở lại. T́nh h́nh quân sự tại tỉnh B́nh Định ngày càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi người phải ngủ tại hầm chiến đấu. Đó là khuyến cáo của Trung Tá Lê Trung Tường, Tỉnh Trưởng tỉnh B́nh Định. Tôi sang Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận ngủ nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ Huy này. Lúc ấy, Thiếu Tá Trương Bảy là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận. (Về sau, Trung Tá Tường là Chuẩn Tướng quân đội, Thiếu Tá Bảy là Chuẩn Tướng Cảnh Sát).

Sáng hôm sau, cả đoàn dùng trực thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt mà Chuẩn Tướng Đoàn Văn Quảng đang là Tư Lệnh, Trung Tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô, nơi mà hôm trước Hải Quân và Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă bắn ch́m chiếc tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài bắc xâm nhập vào. Nói cho đúng, chiếc tàu này bị Hạm Đội 7 Hoa Kỳ phát hiện và liên tục theo dơi, đến khi vào hải phận Việt Nam Cộng Ḥa th́ họ báo cho Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa biết. Kết quả là tàu địch bị đánh ch́m. Khi trực thăng lượn nhiều ṿng trên không phận Vũng Rô, tôi nh́n thấy ḍng chảy của nhiên liệu từ chiếc tàu ch́m phía dưới loang dài trên mặt biển, trong khi lực lượng Hải Quân và Người Nhái đang trục vớt vũ khí lên tàu. Cùng lúc, lực lượng của Quân Đoàn II đang hành quân lục soát trong khu vực núi Đá Bia, lân cận Vũng Rô. Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Quân Đoàn II tin rằng, trong khu vực này có thể có kho tồn trữ vũ khí của quân cộng sản. Chỉ trong ngày 17/2/1965, cả hai lực lượng dưới nước và trên bờ thu được hơn 1000 khẩu súng đủ loại, tất cả hoàn toàn mới nguyên được bao bọc trong giấy dầu cẩn thận.  Rơ ràng và chính xác là lănh đạo Việt Cộng từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, lén lút chuyển khối lượng vũ khí rất lớn vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, chuẩn bị cho những trận đánh quan trọng trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa chúng ta.     

Khi trở về Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi có đọc “Phiếu tŕnh” của Pḥng 2/Bộ TTL. Theo nhận định của Pḥng Nh́/Bộ Tổng Tư Lệnh th́ hơn một năm qua, với những bất ổn chính trị trong nội t́nh Việt Nam Cộng Ḥa chúng ta, quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, đă lợi dụng "khoảng trống an toàn" đó để gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí đạn dược vào lănh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc dăy Trường Sơn, và đường thủy dọc duyên hải từ bắc vào. Những lần trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở cửa sông Bồ Đề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba Động tỉnh Vĩnh B́nh (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô này là lần thứ 3 tịch thu được số lượng vũ khí quan trọng.

Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc đảo chánh thành công, với một Thông Điệp quan trọng, Trung Tướng Khánh chánh thức lên tiếng kêu gọi các quốc gia đồng minh giúp Việt Nam Cộng Ḥa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă không làm theo ư muốn của Hoa Kỳ. Nh́n theo góc độ quân sự, tôi nghĩ, cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện "chiến lược Domino" bằng cách thiết lập các căn cứ quân sự trên đất nước chúng ta hay không, th́ sự hiện diện của quân bộ chiến Hoa Kỳ, trong một chừng mực nào đó thật sự là cần thiết. 

Điều này cho thấy quân cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, trái ngược với tuyên bố của họ khi thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là chống Mỹ - Diệm. V́ họ bắt đầu chiến tranh từ đầu năm 1960, và chiến tranh ngày càng ác liệt hơn, nên cuối năm 1965 quân đội ngoại quốc mới đến Việt Nam cùng chống quân cộng sản, đồng thời với oanh tạc cơ chiến lược thả bom phá hủy các kho dự trữ vũ khí đạn dược trên lănh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, với mục đích ngăn chận tiếp tế cho lực lượng của họ trên đường Trường Sơn, và bên trong lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, bởi đây là cuộc “chiến tranh không cần thắng” đối với Hoa Kỳ  (trích trong hồi kư Đôi Ḍng Ghi Nhớ của tôi, do nhà sách Tú Quyền ấn hành lần 4 vào năm 2007).

 

Số 10. Tội ác vụ thảm sát Mậu Thân (source: Wikipedia và bài viết của nhân chứng).

 Từ tối 29/1/1968 -tức 30 Tết Nguyên Đán Mậu Thân- chen lẫn trong tiếng pháo mừng Xuân là tiếng súng của quân cộng sản tấn công thủ đô Sài G̣n, và 28 trong số 44 tỉnh lỵ. Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa phản công mạnh mẽ và chiến thắng trên các chiến trường. Riêng chiến trường tại Huế bị chúng chiếm tối 31/1/1968, ngay sau đó quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ phản công dữ dội trong suốt 26 ngày đêm, trong khi các chiền trường khác đă chấm dứt trước đó.

Đau thương nhất là tại Huế, số người bị quân Việt Cộng giết và chôn tập thể răi rác vùng rừng núi ngoại ô Huế. Những con số do nhiều người thu thập hoàn toàn không giống nhau, nhưng cũng không quá cách biệt.   

Theo giáo sư Nguyễn Lư Tưởng, cựu Dân Biểu đơn vị Thừa Thiên, ông có mặt tại Huế trong 26 ngày chiến tranh trên đường phố. Sau khi đẩy quân cộng sản ra khỏi Huế th́ cuộc kiểm kê thực hiện nhanh chóng, với số gia đ́nh có người mất tích lên đến 4.000 gia đ́nh. Một kế hoạch t́m người mất tích được thực hiện trên vùng đất rộng lớn, kéo dài đến tận năm 1970 mới chấm dứt. Số mồ chôn tập thể t́m thấy lên đến 22 địa điểm, với số xác đếm được là 2.810 xác người, trong số đó có nhiều thi thể trong tư thế bị trói. Chánh phủ công bố danh sách 4.062 nạn nhân được xác định là bị bắt cóc hoặc bị giết chết         

Theo báo cáo tổng kết vào năm 1970 của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm Lư Chiến thuộc cơ quan thông tin Hoa Kỳ, nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng  th́ khoảng 2.000 người vẫn c̣n mất tích, v́ bảng tổng kết về người chết và mất tích như sau:

 Năm 1968, ngay sau cuộc chiến t́m được 1.173 xác chết + năm 1969 t́m được 809 xác ở đụn cát + 428 xác tại khe Đá Mài và khu Nam Hoa + 400 xác răi rác các nơi. Năm 1970 tổng kết số xác t́m được lên đến 2.810 xác gồm nam giới + phụ nữ + thiếu niên + trẻ sơ sinh , và ghi nhận c̣n 1.946 người mất tích.

Bản công bố sau cùng cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của quân Việt Cộng trên các chiến trường từ Quảng Trị tới Cà Mau, quân đội Việt Cộng chết 58.373 người + 10.000 bị bắt + 6.000 đầu hàng. Quân đội Việt Nam và Hoa Kỳ thu được 17.000 vũ khí các loại. Tổn thất của Việt Nam Cộng Ḥa là 4.954 quân nhân hy sinh + 14.300 đồng bào chết + 1.946 đồng bào mất tích.

Theo tác giả David T. Zabecki trong quyển “The Vietcong Massacre at Hue” ấn hành năm 1976, số hài cốt t́m được do cộng sản Việt Nam đă bắt giết trong 21 ngày chiếm giữ một phần thành phố Huế, và chôn tập thể trong các hầm là 2.810 người, trong tổng số dân ghi mất tích hơn 5.000 người!

 Theo sử gia Trần Gia Phụng, th́ số người t́m được trong 22 mồ chôn tập thể là 2.326 xác trong tổng số dân bị giết là 5.800 người! Những con số của hai tác giả không hoàn toàn giống nhau, nhưng chắc chắn là những con số đó đă đủ để chứng minh bản chất dă man tàn bạo của cộng sản, bởi mục tiêu của họ là thi hành lệnh của cộng sản quốc tế.   

Trang <Wikipedia.org> có những bài viết với những ư kiến khác nhau của các tác giả, về tựa đề  “t́m thủ phạm vụ thảm sát” này, tôi chọn và trích một đoạn của cựu Thiếu Tá Liên Thành, một thời là Phó Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, như sau: “Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, từ Huế trốn lên mật khu Việt Cộng, rồi xâm nhập trở lại thành phố Huế, và trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 những người này có mặt tại Huế.”

Tác giả Liên Thành tin rằng, những người này có tham gia vào các cuộc thảm sát trong 26 ngày tại Huế. Ngoài ra, c̣n có một số ít sinh viên trở về Huế và thực hiện các vụ hành quyết do tư thù cá nhân. Trong thời gian quân Việt Cộng chiếm giữ thành phố Huế, người Huế sợ cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Quân Việt Cộngđến khu phố nào th́ người dân ở đó bỏ chạy. Việt Cộng xă súng bắn vào những người bỏ chạy bất cứ người đang chạy là ai, là thành phần nào. Những ai sống tại Huế thời đó điều biết.

Và quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Ḥa, bị Việt Cộng giết như thế nào? Tác giả Liên Thành viết tiếp: “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá Việt Cộng, tên Hoàng Kim Loan, là thành uỷ viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm.

Tôi hỏi: “Tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? T

Việt Cộng Kim Loan trả lời: “Thứ nhất, đây là chủ trương bạo lực Cách Mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng Sản chúng tôi chủ trương thà giết lầm c̣n hơn bỏ sót.”

Liên Thành hỏi: “Sao không bắn họ, cho họ viên đạn c̣n dễ hơn lấy búa, dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố”.

Việt CộngKim Loan trả lời:  “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy, chớ đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”

Tóm tắt.

Năm 1975, khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, lănh đạo Việt Cộng tàn phá Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, họ đập phá Tượng Thương Tiếc, cắt 1/3 phần trên Nghĩa Dũng Đài mà họ nói là làm trạm gác, họ xây dựng những cơ sở bằng cách lấn chiếm các khu đất của Nghĩa Trang, khoảng 50% trong số 16.000 ngôi mộ bị họ đập phá mộ bia, nhất là tên và ảnh người nằm dưới mộ. Khởi thủy diện tích của nghĩa trang là 125 mẫu tây, năm 2006 khi chánh phủ Việt Cộng chuyển giao nghĩa trang cho tỉnh B́nh Dương th́ diện tích c̣n 58 mẫu tây, đến cuối năm 2015 chỉ c̣n 29 mẫu tây, tức diện tích c̣n lại dưới ¼ so với diện tích ban đầu.

Đối với những ngôi mộ tập thể sau vụ thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968, lănh đạo Việt Cộng cũng cho đập phá tấm bia lớn và bàn thờ tại nghĩa trang trên núi BaTầng, nơi an táng 400 thi hài t́m được tại Khe Đá Mài hồi tháng 9/1969, để xóa dấu tích tội ác của họ. Với người dân Việt, với ḍng sử Việt, lănh đạo Việt Cộng biết rơ “họ là tội ác”, nên bất cứ những ǵ mà họ cho là dấu vết tội ác là họ t́m mọi cách phá bỏ. Ngay cả hai tấm bia lớn tại Malaysia, Tưởng Niệm Thuyền Nhân chết trên đường chạy trốn Việt Cộng, lănh đạo Việt Cộng yêu cầu chánh phủ Mă Lai phá bỏ ngay trong đêm, huống ǵ những tấm bia nhỏ sau vụ thảm sát Tết Mậu Thân trên đất Huế trong tay của chúng. Nhưng, lănh đạo Việt Cộng không hiểu rằng, mỗi người Việt Nam dù trong nước hay hải ngoại, là một tấm bia sống tố cáo tội ác của họ bằng những cách khác nhau.            

Đă gần 50 năm trôi qua kể từ năm Mậu Thân 1968, cuộc thảm sát kinh hoàng năm ấy, vẫn là một vết thương chưa lành của người Việt Nam nói chung, và người dân Huế nói riêng!  

Số 11. Tội ác trong trận chiến mùa hè 1972.

Trận An Lộc.

Lần đầu tiên, tại chiến trường B́nh Long, quân cộng sản sử dụng chiến xa cùng hỏa lực pháo binh và hỏa tiễn.

 Ngày 6/4/1972, thị trấn An Lộc, thuộc tỉnh B́nh Long do Sư Đoàn 5 Bộ Binh pḥng thủ, bị 4 Sư Đoàn cộng sản tấn công. Sư Đoàn 5 Bộ Binh lần lượt được tăng cường lực lượng tổng trừ bị, được yểm trợ bởi hằng ngàn phi vụ của không quân Việt Nam, và hằng trăm phi vụ của B52 Hoa Kỳ.

Sau hơn 2 tháng kinh hoàng với bom đạn và khói lửa, An Lộc đă bị khoảng 200.000 viên đạn đại bác và hỏa tiển của cộng sản tàn phá. Khoảng 4.000 quân nhân và đồng bào hy sinh. Quân cộng sản khoảng 30.000 chết mà phần lớn bị chôn vùi trong các hố bom, với hơn 70 chiến xa bị tiêu hủy.

Ngày 7/7/1972, trực thăng chở Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống An Lộc c̣n vương mùi khói lửa chiến tranh, để tuyên dương lực lượng pḥng thủ, và vinh danh Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh là “Anh Hùng An Lộc”.

Ngày 12/71972, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tuyên bố ”An Lộc được giải tỏa hoàn toàn”.

Một người con gái tên Pha của An Lộcđă chứng kiến những người lính dũng cảm, nên cảm đề hai câu thơ: “An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”.

Trận Quảng Trị.

Cuối tháng 3/1972, khoảng 40.000 quân cộng sản tấn công Quảng Trị. Tháng 5/1972, cộng sản chiếm toàn bộ Quảng trị, kể cả CổThành.

Ngày 28/6/1972, lực lượng Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, Biệt Cách Dù, và Thủy Quân Lục Chiến, bắt đầu phản công.

Ngày 27/7/1972, quân đội đă chiếm được một số vị trí ngoại ô Quảng Trị. Sau cơn mưa, nước sông Thạch Hăn dâng cao làm tắt nghẽn đường tiếp vận của quân cộng sản. Thời cơ tốt, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến nhận trách nhiệm tấn công thị xă Quảng Trị và Cổ Thành.

 Sau khi chiếm được nhiều vị trí chung quanh, ngày 7/9/1972, với yểm trợ hỏa lực của 2.200 phi vụ oanh kích, 100 phi vụoanh tạc của B52, và hơn 123.000 đạn đại bác của Hải Quân bắn vào, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bắt đầu tấn công vào Cổ Thành.

Đây là trận chiến dữ dội nhất trong chiến tranh 1954-1975 kéo dài trong 81 ngày. Sau một tuần lễ phản công trên một chiến trường đẫm máu, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đă chiếm lại Cổ Thành ngày 15/9/1972.

Quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa được kéo lên lúc 8 giờ sáng ngày 16/9/1972.         

Về phía Việt Nam Cộng Ḥa, Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, tổn thất khoảng 25% quân số.

Phía quân cộng sản. Sau 4 tháng 16 ngày chiếm giữ Quảng Trị, hồi kư của Tướng cộng sản Lê Tự Đồng, Tư Lệnh mặt trận Quảng Trị, phổ biến năm 1997 tại Hà Nội, thừa nhận tổn thất hơn 50% quân của 4 Sư Đoàn tham chiến. Riêng tại Cổ Thành với hơn 10.000 quân pḥng thủ đă tổn thất chưa từng thấy. Báo Tuổi Trẻ ngày 26/7/1998 tại Sài G̣n, theo lời kể của cựu chiến binh cộng sản trong Trung Đoàn 27 sống sót, khi vào Cổ Thành với hơn 1.500 quân, nhưng khi thoát ra khỏi Cổ Thành chỉ c̣n 1 tiểu đội! (trích trong Wikipedia)

Vẫn năm 1997, vẫn báo Tuổi Trẻ có bài viết dưới đây: “Ḍng sông Thạch Hăn chứng kiến chiến dịch từ 28/6/1972 đến ngày 15/9/1972, dưới nhưng trận mưa bom băo đạn. Các chiến sĩ bộ đội ta bám chốt ngăn chặn cuộc phản công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, cũng là bảo vệ hành lang để tiếp tế nhân lực và vũ khí qua con sông này tiến vào trận địa Cổ Thành. Đă có hằng ngàn người lính vĩnh viễn nằm lại nơi đáy sông ở độ tuổi mười tám đổi mươi!Cựu chiến binh Lê Bá Dương, sau chiến tranh đă trở lại ḍng sông Thạch Hăn, kết bè hoa thả trên ḍng Thạch Hăn, con sông như đang c̣n chứa trong ḷng nó hàng ngàn linh hồn liệt sĩ đồng đội, đă sáng tác câu thơ nổi tiếng:

Đ̣ lên Thch Hăn ơi... chèo nh

Đáy sông c̣n đó bn tôi nm

Có tui đôi mươi thành sóng nước

V yên b măi măi ngàn năm

 

Phạm Bá Hoa:  Tóm lược  tội ác của lănh đạo Việt Cộng 1945-2017. Phần 2/3