báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

   [Bài Viết - Article]                                                                           

 Việt Nam tôi đâu?  -Việt Khang

 

 Anh là ai? -ViệtKhang

 

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 
Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y

***

Phạm Bá Hoa

                                               Tóm lược

tội ác của lănh đạo Việt Cộng 1945-2017.

 

Phần 2/3

Số 12. Tội ác xóa bỏ Hiệp Định Paris 27/1/1973 và tiếp tục chiến tranh.

Ḥa b́nh, nhưng chiến tranh vẫn c̣n đó!

 Ngay trước ngày Hiệp Định Ngưng Bắn & Tái Lập Ḥa B́nh có hiệu lực (27/3/1973), các cơ quan đơn vị quân đội trên toàn quốc nói chung và Quân Trấn Sài G̣n nói riêng, được lệnh bảo vệ chặt chẻ các cơ quan đơn vị đến sau ngày thật sự “ḥa b́nh”, v́ bất cứ một cơ quan đơn vị nào mất vào tay cộng sản tính đến ngày 27/3/1973, có nghĩa là khu vực đó thuộc về quân cộng sản, điều mà báo chí gọi là “ngưng bắn da beo”. Cơ sở Cục Măi Dịch chúng tôi có sân thượng ở tầng trên, một tuần lễ trước đó, nhất là đêm 26 rạng 27, những điểm canh gác trải đều trên sân thượng và trên các mái nhà, quan sát toàn bộ khu vực dân cư chung quanh, lực lượng chính bố trí cổng cơ quan và dọc theo đường Chi Lăng mặt trước, đề pḥng quân đặc công cộng sản đột kích chiếm đóng. Hết thời gian “báo động”, tất cả yên tịnh.

Trong khi căn cứ Tống Lê Chân án ngữ trục giao liên của quân Việt Cộng nơi giáp ranh hai tỉnh Tây Ninh với B́nh Dương do Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân trấn giữ, bị quân cộng sản bao vây từ ngày 10/05/1972 và liên tục tấn công, nhưng bọn chúng thất bại. Ngay sau khi Hiệp Định có hiệu lực, quân cộng sản vẫn tiếp tục tấn công căn cứ Tống Lê Chân cũng như nhiều căn cứ khác. Sau 510 ngày giữ vững căn cứ, Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân được lệnh rút quân an toàn từ ngày 11/04/1974.

Rơ ràng là quân cộng sản không hề tôn trọng Hiệp Định Paris, như đă từng không tôn trọng Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954 vậy. (trích trong quyển Quê Hương & Quân Ngũ của tôi)

T́nh h́nh quân sự vẫn tiếp diễn, đến khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975. 

Số 13. Tội ác quẵng thương phế binh VNCH ra đường.

Ngay trước, trong, và sau ngày 30/4/1975, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa đang điều trị trong Tổng Y Viện và cả hệ thống Quân Y Viện, lănh đạo Việt Cộng đă thể hiện ḷng hận thù tột độ ngang qua hành động vô cùng tàn nhẫn khi ra lệnh quẵng tầt cả anh em thương phế binh chúng tôi ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa. Đây là lá thư viết vào cuối tháng 11/2013 của thương binh Phạm Trinh Viên đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa (Sài G̣n), hiện định cư ở Australia, gởi cho bạn Cường cùng khóa 4/72 Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang, như lời than của Người Thương Binh thua trận, như sau: 

Xin trích lá thư viết vào cuối tháng 11/2013 của Thương Binh Phạm Trinh Viên từ Sydney (Australia), gởi bạn Cường (ở Mỹ) cùng khóa 4/72 sĩ quan trừ bị Trường Đồng Đế Nha Trang, để thấy sự tàn nhẫn của lănh đạo Việt Cộng ngay khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa:

 “... Sáng ngày 1/5/1975, từ trên lầu 3 khu tổng quát, tao đă chứng kiến bọn Việt Cộng chạy vào cổng Tổng Y Viện bằng 2 xe Jeep treo cờ Mặt Trận Giai Phóng, ngừng trước cửa văn pḥng của Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Cộng Ḥa, dẫn vị Y sĩ Chuẩn Tướng (Phạm Hà Thanh. PB Hoa) lên xe Jeep và chở đi mất tiêu. Sau một thông báo bằng loa phát thanh, tất cả các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Ḥa phải rời khỏi bệnh viện trong thời hạn một ngày… Thế là một quang cảnh hoảng loạn đă xảy ra… Các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Ḥa, bạn nào c̣n đi được hoặc may mắn c̣n chút sức tàn, dắt díu các thương binh bạn khập khiễng rời khỏi nơi điều trị… C̣n lại, là thương bệnh binh bị thương nặng, cảnh các bạn này rời đi mới chính là cảnh thê thảm nhất mà tao đă nh́n thấy trong suốt cuộc chiến chống cộng sản. Các bạn ḅ lê ḅ lết dưới đất, bông băng dính đầy máu mủ, quét trên mặt đất, dính đầy bùn đất, vết thương lở lói, máu mủ vẫn c̣n rỉ ra ngoài, nhưng tất cả đều cố gắng trong sự tuyệt vọng, cố ḅ lết từng tấc đất ra cổng Tổng Y Viện Cộng Ḥa… Đến đây, tao thật không dám nghĩ đến cuộc sống của các bạn ấy ra sao, nếu như ra khỏi được Tổng Y Viện, và sống dưới một chế độ đầy thù hận...!”

Nét nh́n này chỉ mới một Quân Y Viện, trong khi trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa có cả một hệ thống Quân Y Viện, cùng với một hệ thống bệnh viện và cơ sở y tế góp phần bảo vệ sức khỏe người dân, liệu bao nhiêu nước mắt mới dựng lại được “chân dung Thương Bệnh Binh &Bệnh Nhân Dân Sự” trong những ngày bất hạnh trên quê hương Việt Nam, trước kẻ chiến thắng mà nhà văn nữ Việt Cộng Dương Thu Hương gọi là “chế độ man rợ đă thắng chế độ văn minh! Đây là sự hàm hồ của lịch sử!”

Số 14. Tội ác vụ 16 tấn vàng tài sản quốc gia (source: Tác giả Huỳnh Bửu Sơn).        

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng tịch thu toàn bộ tài sản quốc gia, lúc ấy trong ngân hàng quốc gia c̣n khối tiền mặt trị giá hơn 1.000 tỷ đồng, và 16 tấn vàng khối.

Bài viết nhan đề “Câu chuyện 16 tấn vàng trong ngân hàng quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày 30/4/1975”, do người giữ ch́a khóa kho vàng của ngân hàng quốc gia là ông Huỳnh Bửu Sơn kể lại:

“...Những ngày đầu tháng 5/1975, tôi vào tŕnh diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương thủ đô Sài G̣n, cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân Quản Ngân Hàng Quốc Gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.  Tôi được giao công tác tại Vụ Phát Hành và Kho Quỹ. Những ngày tiếp theo, Ban Quân quản tổ chức học tập tại chỗ ba ngày cho các viên chức ở lại và cấp giấy chứng nhận học tập cải tạo. Lúc đó, giấy chứng nhận này chính là một lá bùa hộ mệnh....

Đầu tháng 6/1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc Gia kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng thuộc quyền quản trị của Nha Phát Hành, nơi tôi làm việc trong ban lănh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh Giám Đốc Nha Phát Hành đă đi cải tạo tập trung, trong số người c̣n lại chỉ có tôi là người giữ ch́a khóa, và anh Lê Minh Kiêm -chánh sự vụ- là người giữ mă số của các hầm bạc. Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên không có ǵ đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho nhà cầm quyền mới. 

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản trị một cách an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mă riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cánh cửa nặng trên 1.000 kí lô.

Đại diện Ban Quân Quản là một người khoảng 50 tuổi, kiểm kê là một anh bộ đội c̣n rất trẻ và khá thân thiện. Anh hay nắm tay tôi tṛ chuyện, sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia.

 Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào lác ấy gồm vàng thoi, và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi:

(1) Vàng thoi mua của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED).

(2) Vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi là Công ty Montagu.

(3) Vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào. Tất cả 1.234 thoi vàng nguyên chất X mỗi thoi nặng 12 đến 14 kí lô = 16.000 kí lô.  Trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi ít nhiều.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19, từ nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này c̣n được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả thoi vàng và tiền vàng cổ đều được ghi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dơi định kỳ hằng tháng, hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập.

Công tác kiểm kê trong hai ngày liền. Số giấy bạc dự trữ trong các thùng bằng gỗ thông được niền bằng đai sắt và niêm ch́, mỗi thùng ghi rơ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Do đó chỉ cần kiểm kê số lượng thùng bạc, các chi tiết tương ứng và đối chiếu với sổ sách được điện toán hóa. Lúc đó, loại giấy bạc mệnh giá cao nhất chỉ có 1.000 đồng, thuộc loại mới phát hành, có in h́nh các con thú hoang trong rừng rậm Việt Nam. Ngoài ra vẫn c̣n tồn kho và tiếp tục phát hành loại giấy bạc nổi tiếng có in h́nh danh tướng Trần Hưng Đạo, mệnh giá 500 đồng. Tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc đó -nếu tôi nhớ không lầm- là hơn 1.000 tỷ đồng, gấp đôi lượng tiền lưu hành tại Việt Nam Cộng Ḥa đến ngày 30/4/1975.

Chỉ trong một buổi sáng, chúng tôi đă kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ. Việc kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn v́ phải kiểm kê từng thoi vàng một để xem trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có đúng với sổ sách hay không. Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều đúng với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi kư vào biên bản kiểm kê, ḷng cảm thấy nhẹ nhơm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho nhà cầm quyền mới đă hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng c̣n lại một chút ǵ, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản trị đúng đắn minh bạch của những người đă từng làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa.”

Năm 2010, cựu Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín, tổng biên tập báo Nhân Dân của đảng, có bài viết liên quan đế 16 tấn vàng nói trên. Trích một đoạn: “... Năm 1987, tôi gặp ông Trường Chinh tại Đà Lạt, tôi kể lại chuyện 16 tấn vàng th́ ông cho biết: Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi. Trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay c̣n ǵ nữa đâu”. Trích một đọan khác của ông Tín: “Đây là câu duy nhất mà tôi nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng của một nhà lănh đạo”.

Ông Bùi Tín cho biết thêm: “Trong các phiên họp của chính phủ cũng như của Quốc Hội sau 30/4/1975, và tháng 4/2012 Bộ Quốc Pḥng họp để viết về ngày 30/4/1975, không một chi tiết nào, cũng không một vị nào hỏi, hay nói đến vụ 16 tấn vàng lấy trong ngân hàng của chế độ cũ tại Sài G̣n hồi tháng 5/1975, mà đảng đă sử dụng phi cơ chjở tất cả ra Hà Nội”.

Tóm tắt. Chở 16 tấn vàng thoi về Hà Nội, khi được hỏi th́ lănh đạo Việt Cộng là Trường Chinh trả lời, làm cho người nghe tưởng như ông vừa đi chợ về vậy. Đă lấy số vàng đó mà không cấp lănh đạo trung ương nào, cũng như đại biểu nào trong Quốc Hội biết đến, nhưng lại vu khống cho lănh đạo Việt Nam Cộng Ḥa chở ra ngoại quốc. Đúng là bản chất vừa cướp đoạt vừa nói láo của lănh đạo Việt Cộng.     

Số 15. Tội ác đày đọa hằng triệu người trong trại tập trung (source: Wikipedia).

Chế độ cải tạo lao động rập theo khuôn mẫu của Trung Cộng đă được áp dụng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa từ năm 1954 với tội phạm, tù binh, và tù nhân, bị kết án chống đối nhà cầm quyền. Sau ngày 30/4/1975, nhóm chữ “học tập cải tạo" nói đến chương tŕnh tập trung để cải tạo của lănh đạo Việt Cộng đối với những người phục vụ trong quân đội và trong ngành hành chánh Việt Nam Cộng Ḥa cũ. Hệ thống trại tập trung này theo tên gọi là trại cải tạo lao động mà Liên Xô đă sử dụng.

Tháng 6/1975, lănh đạo Việt Cộng ra thông cáo bắt buộc sĩ quan quân đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đi học tập cải tạo. Hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra tŕnh diện.

Riêng Sài G̣n có 443.360 người trong số đó. Từng cấp bậc như sau:

 “28 Tướng Lănh.

362 Đại Tá.

1.806 Trung Tá.

3.978 Thiếu Tá.

39.304 Sĩ Quan ấp uư.

35.564 Cảnh Sát.

1.932 nhân viên t́nh báo.

1.469 viên chức cao cấp.

Và 9.306 người trong các đảng phái chính trị.” 

Sau 1 năm giam giữ trong các trại tập trung trên phần lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ, lănh đạo Việt Cộng chuyển phần lớn ra các trại mới lập tại các khu rừng già vùng Tây Bắc và phía Bắc Hà Nội, do Bộ Quốc Pḥng Việt Cộng giam giữ. Tôi, trong số gần 300 cấp Đại Tá bị giam trong trại AH 2 và AH 3 thuộc Đoàn 776, tại xă Việt Cường, huyện Trấn Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ đó,  danh từ “tù chính trị” được sử dụng để chỉ quân đội + nhân dân + cán bộ + viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Ḥa cũ trong các trại tập trung mà Việt Cộng gọi là trại cải tạo.

Riêng Đoàn 776 trú đóng tại Yên Báy, quản trị 82 trại đánh số từ AH1 đến AH82 rải rác trong các tỉnh chung quanh. Trên toàn quốc, theo lời kể của tù chính trị, ít nhất cũng hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực Nam đến trại Cổng Trời cực Bắc Việt Nam.

Xin hiểu rằng, con số những trại tập trung mà tôi nói ở đây, chưa nói đến con số những trại tù do Công An cai quản.

Trước khi quân Trung Cộng tấn công 6 tỉnh dọc biên giới phía bắc hồi tháng 2/1979, lănh đạo Việt Cộng chuyển “tù chính trị chúng tôi” xuống các trại tập trung vùng đồng bằng Sông Hồng do Công An giam giữ. Trong những năm đầu của thập niên 1980, Việt Cộng chuyển phần lớn tù chính trị chúng tôi vào các trại tập trung trong Nam, đến năm 1985 chỉ c̣n lại trại tù duy nhất là Trại Nam Hà với khoảng 500 tù chính trị, và tôi trong số này. Cứ mỗi 3 năm, lănh đạo Việt Cộng kư lệnh gia hạn giam giữ thêm 3 năm nữa. Và cứ liên tục như vậy tại tất cả các trại giam dù trong Nam hay ngoài Bắc.      

Năm 1980, Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng nói rằng: ”Hiện c̣n 26.000 người trong các trại cải tạo”. Tuy nhiên, một số báo chí ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn đang bị giam giữ trong các trại tập trung. Trong khi Hoa Kỳ ước tính khoảng 165.000 người đă chết trong các trại tập trung.

Và trường hợp nào mà quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa cũ được ra khỏi trại tập trung, và cùng gia đ́nh sang Hoa Kỳ định cư?

 Trong lúc tôi bị giam trong buồng giam số 1, Trại Nam Hà A, tỉnh Hà Nam Ninh, vào buổi tối ngày 5/8/1987 sau khi cửa buồng giam số 1 đóng lại nghe cái rầm, thanh sắt kéo ngang nghe réc-réc, và tiếng crắc của ống khóa bóp lại, là tôi đọc báo. Tôi đọc ngay bản tin ngắn trên tờ Nhân Dân của cộng sản Việt Nam mà hằng tuần họ cho chúng tôi 2 lần báo. Đọc xong là tôi phải ngưng lại v́ anh em chúng tôi bàn luận rất ồn ào.

Bản tin nói ǵ mà ồn ào vậy? Bản tin như sau: “Ngày 2 và 3 tháng 8 năm 1987, Tướng hồi hưu Vessey, với tư cách Đặc Sứ của Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan sang Việt Nam, gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch. Hai bên thỏa thuận điểm đầu tiên về hợp tác đẩy mạnh công cuộc t́m kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, và điểm 2 là vấn đề trả tự do cho những người học tập cải tạo để cùng gia đ́nh được xuất ngoại sang Hoa Kỳ theo nguyện vọng”.

Từ ngày 12/8/1987, 3 toán Công An từ Hà Nội đến trại này -đây là trại tập trung duy nhất c̣n lại trên đất Bắc- để phỏng vấn khoảng 200 trong số hơn 400 anh em chúng tôi đang bị giam tại đây. Họ làm việc trong 2 tuần lễ. Đến ngày 5/9/1987, toán Công An khác cũng từ Hà Nội đến đọc lệnh ra trại, và đây là đợt ra trại đầu tiên. Tôi trong số này.

Ngày 9/9/1987, 91 tù chính trị chúng tôi được đưa xuống Nam Định, lên xe lửa rời nhà ga này lúc 5 giờ chiều cùng ngày, và sau 3 ngày 3 đêm về đến Sài G̣n lúc 6 giờ chiều ngày 12/9/1987. Những ngày sau đó, anh em chúng tôi gặp nhau tại các cơ quan Công An khi đến đó làm giấy tờ tùy thân, mới biết là cùng về với anh em chúng tôi ngoài Bắc, có rất nhiều anh em bị giam trong các trại tập trung trong Nam cũng được về.    

Đầu tháng 4/1991, vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ đoàn tụ với các Con chúng tôi đă vượt biển trong năm 1980 và 1981. Măi đến năm 1997, tôi được đọc lá thư ngày 10/6/1997 bằng Anh ngữ của cựu Đại Tướng John W. Vessey, gởi anh Hội Trưởng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Minnesota khi ông được mời tham dự đại hội H.O. tại địa phương ông cư ngụ. Sở dĩ có lá thư v́ ông không đến được, nên ông viết thư và muốn anh Hội Trưởng đọc trong buổi họp mặt để mọi người tham dự được nghe tâm sự của ông. 

Người dịch sang Việt ngữ là Ông hay Bà Nguyễn T. Ngọc Châu. Xin trích 3 đoạn:

“..... Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà tôi được Tổng Thống giao phó là phải t́m cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là “trại cải tạo”. Tôi cũng được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng gia đ́nh họ sang Hoa Kỳ”.

“Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, chúng tôi không hi vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều mang danh “chiến dịch nhân đạo” -Humanitarian Operations- gọi tắt Anh ngữ là H.O. Do vậy mà danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt - Mỹ sử dụng, để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ.  

“Riêng với tôi, H.O. là biểu tượng của ḷng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và ḷng hi sinh. Tất cả những ai được gọi là H.O. đều là những anh hùng thực sự trong thời đại chúng ta”.

Tôi đưa lá thư của cựu Đại Tướng John W. Vessey vào đây, để quí độc giả thấy rơ sự dối trá của lănh đạo Việt Cộng khi họ huênh hoang rằng: “Với chính sách khoan hồng nhân đạo, lănh đạo nhà nước trả tự do cho ngụy quân ngụy quyền về với gia đ́nh, sau khi họ học tập cải tạo tốt” (trích trong Wikipedia).

Trong khi chính xác là lănh đạo Việt Cộng sử dụng tù chính trị chúng tôi, trao đổi với chánh phủ Hoa Kỳ để mong được thiết lập bang giao, và hy vọng được Hoa Kỳ giúp đỡ nền kinh tế Việt Nam suy sụp.       

Tóm tắt.V́ rập khuôn hệ thống trại tập trung của Liên Xô -cộng sản quốc tế- nên giam giữ mà không cần ṭa tuyên án hằng mấy trăm ngàn tù chính trị, như thể thế giới này không có ngành tư pháp trong hệ thống công quyền. Đến tháng 4/1992, hơn trăm người tù cuối cùng mới ra khỏi trại tập trung. Đúng là bản chất hận thù của cộng sản.  

 Số 16. Tội ác “biệt giam 16.000 anh hùng tử sĩ VNCH dưới mộ”.

 Năm 1965, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa được thành lập, trên diện tích 125 mẫu tây. Các công tŕnh xây dựng trên mô h́nh Con Ong, như sau: (1) Trên lưng Con Ong là Nghĩa Dũng Đài, cao 43 thước. Phần dưới là Vành Khăn Tang. Từ Vành Khăn nh́n xuống triền đồi thoai thoải, sẽ là những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối, và tất cả đều giống nhau. (2) Chung quanh thân mà phần đuôi dài ra trông như h́nh quả trứng, chia làm 8 Khu theo h́nh nan quạt, đủ chỗ cho khoảng 30.000 ngôi mộ, là nơi an táng những anh hùng tử sĩ của dân tộc. (3) Giữa đầu Con Ong là Đền Tử Sĩ, với ngôi mộ Chiến Sĩ Vô Danh. (4) Trước đầu Con Ong là Cổng Tam Quan. Trước Cổng Tam Quan là con đường, biểu tượng cho Cây Kim của Con Ong thẳng ra xa lộ. (5) Ngay đầu cây kim tại xa lộ, là Tượng Đài Thương Tiếc cao 5 thước, biểu tượng Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa, trong tư thế ngồi nghỉ trên bệ đá cao 3 thước, vẫn túi hành quân trên lưng, hai tay trên cây súng gác ngang bắp chân, với đôi mắt u buồn, nh́n xa xa phía trước ...

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng “quẵng ra đường”  hằng chục ngàn Thương Phế Binh Quân Lực VIệt Nam Cộng Ḥa từ trong hệ thống Quân Y Viện, và Họ phải lê lết xin ăn! Hơn 16.000 đồng đội đă an nghĩ trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, bị lănh đạo Việt Cộng "biệt giam" một cách nghiêm ngặt, không nén nhang hương khói! Một hàng rào kẻm gai bao bọc, vớitấm bảng "khu quân sự, cấm lai văng, cấm chụp h́nh". Tương tự như 28 vị Tướng và 362 Đại Tá trong số nửa triệu Quân Nhân, Viên Chức, và các vị Dân Cử Việt Nam Cộng Ḥa, “bị đày đọa”trong hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực nam đến trại Cổng Trời biên giới cực bắc, quanh năm với bo-bo thay gạo!

Ngày 27/11/2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kư Quyết định 1568/QĐ bàn giao khu đất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, với tên gọi là Nghĩa Địa B́nh Ancho tỉnh B́nh Dương. Lúc ấy diện tích chỉ c̣n 58 mẫu tây, v́ Việt Cộng cướp đất của người dưới mộ để xây cất nhiều cơ sở lấn vào nghĩa trang, thậm chí vào sát chân Nghĩa Dũng Đài. Họ trồng rất nhiều Cây Sao, Cây Hắc Hương, Cây Muồng, chen lẫn giữa các ngôi mộ, đểkhi lớn lên th́ rễ của nó sẽ vào bên trong các ngôi mộ để giết người trong mộ thêm lần nữa!

Năm 2010, Hội Việt Mỹ (Vietnamese American Foundation) cố gắng vận động nhà cầm quyền Việt Nam trong công tác tu bổ nghĩa trang. Năm 2013, ông về Việt Nam theo lời mời của ông Lê Thành Ân, Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ tại Sài G̣n. Hai ông cùng lên B́nh Dương, nêu yêu cầu họ về những bậc thang lên Nghĩa Dũng Đài, tráng xi măng lối đi, và xây bàn thờ tại Nghĩa Dũng Đài, để những ai muốn cầu nguyện có chỗ để lễ vật, và có lư hương cắm nhang. Trong khi thực hiện lời yêu cầu, th́ Việt Cộng lại tung tin là nghĩa địa này sẽ bị giải tỏa. Điều đáng quan tâm, là ngôi mộ nào đă bốc hài cốt đi th́ nhà cầm quyền tách khu đất đó ra khỏi nghĩa trang, v́ vậy mà khi có khoảng 3.000 ngôi mộ do thân nhân đưa về quê cải táng, th́ diện tích hiện nay của nghĩa trang chỉ c̣n lại khoảng 29 mẫu tây!

Liệu, bao nhiêu năm nữa th́ họ sẽ công bố giải tán khu "Nghĩa Địa Nhân Dân B́nh An" với lư do không c̣n ngôi mộ nào cả để triệt tiêu chứng tích tội ác của họ đánh chiếm Việt Nam Cộng Ḥa để nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam?

Số 17. Tội ác về tiêu hủy văn hóa phẩm truyền thống (source: Wikipedia).

Sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản (= Việt Cộng)ra lệnh đ́nh chỉ mọi hoạt động văn hóa, gồm: “Rạp hát, rạp chiếu phim, nhà xuất bản , nhà in, và báo chí phải  ngưng hoạt động và chờ lệnh. Thêm nữa, tất cả tác phẩm của 800 tác giả như Doăn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, ..v..v.. bị cấm lưu hành. Các tác phẩm có nội dung chống cộng sản đều bị loại bỏ.Theo lệnh của lănh đạo Việt Cộng, tất cả phương tiện truyền thông ở Việt Nam đều là tiếng nói của đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam,  nên có nhiệm vụ chánh là quảng bá đường lối và chính sách của đảng, và việc đưa tin là phụ.

Ngày 20/8/1975, Bộ Thông Tin Văn Hóa ra thông tri 218/CT75, ra lệnh cấm lưu hành các loại sách phản động. Tháng 9/1975, họ qui định danh mục sách bị cấm lưu hành, buộc các nhà bán sách báo và các nhà xuất bản thời chế độ cũ phải đem đốt tất cả. 

Tháng 5/1977, Việt Cộng Sài G̣n ra thông tri 1230/STTVH/XB, bắt dân chúng phải tiêu hủy hoặc mang nộp toàn bộ các ấn phẩm văn hóa thời Việt Nam Cộng Ḥa, trong khi Công An mở chiến dịch càn quét truy lùng sách báo cũ, chặn bắt người mua bán, thậm chí họ c̣n được lệnh vào nhà dân lục soát tịch thu bất cứ lúc nào họ muốn.

Tháng 6/1981, trong cuộc truy lùng càn quét của Công An, đă tịch thu khoảng 3.000.000 (3 triệu) ấn phẩm sách và báo. Riêng tại Sài G̣n, tịch thu được 60 tấn sách vở các loại theo tường tŕnh của tạp chí cộng sản. 

Tất cả có năm chiến dịch ở Miền Nam vào cuối 1975, đầu 1976, giữa 1977, giữa 1981, và giữa 1985. Ai lưu trữ ấn phẩm thời Việt Nam Cộng Ḥa đều bị truy tố dưới điều luật 82, trong đó ghi rằng: “Việc làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống chế chế độ xă hội chủ nghĩa là "trọng tội", có thể bị tù từ 10 năm đến 20 năm”.

Ngoài ra, c̣n có những trường hợp tiêu hủy sách một cách vô cớ như vụ đốt sách ở Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Chăm ở Phan Rang năm 1978, do Giám Đốc Thư Viện tỉnh ra lệnh. Hàng trăm tấn sách biến thành đống tro. Một số học giả cố vớt vát nhưng chẳng được bao nhiêu.

Các văn nghệ sĩ Miền Nam cũng bị bắt. Tính đến năm 1980, đă có 200 nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc, trước năm 1975 đă bị đẩy vào các trại tập trung cải tạo.

Lệnh của Bộ Văn Hoá Thông Tin Việt Cộng buộc mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Ḥa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra “ṭa án nhân dân”. Chính sách này giống chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Đông cộng sản trong Cách Mạng Văn Hóa vậy.

Từ cuối thập niên 1980, sau cuộc "cởi trói" văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm được phép xuất bản nhưng ngay sau đó bị thu hồi. Trước tiên là cuốn tiểu thuyết Ly Thân của Trần Mạnh Hảo. Sách vừa in ra th́ có lệnh cấm ngay. Tiếp theo là sách của Dương Thu Hương với tác phẩm Những Thiên Đường Mù, tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng, và Tiểu Thuyết Vô Đề. Bà Dương Thu Hương mạnh mẽ phản đối chính sách kiểm duyệt tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1982. Kết quả là lănh đạo Việt Cộng ra lệnh cấm mọi tác phẩm của bà không được in hay bán trong nước. Năm 1989 bà bị đuổi khỏi đảng, và bị bắt giam năm 1991. Năm 2006, nhà văn Dương Thu Hương lưu vong tại Pháp.

Năm 2001, có lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn

Năm 2002 Bộ Thông tin Văn hóa Việt Nam ra lệnh tịch thu và thiêu hủy những tác phẩm:

1. “Suy tư và ước vọng” của Nguyễn Thanh Giang. 

2. “Đối thoại năm 2000 và Đối thoại năm 2001” của Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân

3. “Gửi lại trước khi về cơi” của Vũ Cao Quận.

4. “Nhật kư rồng rắn: của Trần Độ.

Năm 2006 cuốn “Tranh luận để đồng thuận” của nhà xuất bản Tri thức, có in lại bài b́nh luận của Vơ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, và Nguyễn Đức B́nh, nhưng v́ có nội dung chỉ trích chánh phủ nên có lệnh cấm phát hành.

Đối với cuốn tiểu sử Ho Chi Minh: a Life của tác giả William Duiker, lănh đạo Việt Cộng cũng đ̣i xóa bỏ những đoạn liên quan đến người vợ Tăng Tuyết Minh trong bản dịch sang Việt ngữ. Tác giả phản đối, không chấp nhận việc cắt xén khiến cuốn sách bị trở ngại không được lưu hành. Cuốn The Spy Who Loved Us của Thomas Bass xuất bản năm 2009, viết về điệp viên Phạm Xuân Ẩn qua phiên bản tiếng Việt, đă bị cắt xén sau 5 năm kiểm duyệt khiến tác giả phải than phiền. Những đoạn bị cắt bỏ là phần viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất trên đất Bắc vào giữa những năm 1950.

Năm 2014 cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh, xuất bản ở ngoại quốc và bán qua <Amazon.com> khi gửi qua bưu điện về Việt Nam th́ bị giữ lại. Người mua phải viết giấy "từ chối nhận hàng vi phạm" v́ không đúng với luật xuất bản 2012. Bưu Cục c̣n ghi rơ sách bị cấm v́ "có nội dung nói xấu chế độ, xúc phạm lănh đạo Việt Cộng, không được nhập cảng. Lệnh cấm có khi chỉ là chỉ thị truyền miệng mà không có văn bản như cuốn “Petrus Kư Nỗi oan thế kỷ” của học giả Nguyễn Đ́nh Đầu. Sách đă được Cục Xuất Bản cấp lưu chiểu, nhưng đến hôm ra mắt sách vào đầu năm 2017 th́ được lệnh hủy bỏ v́ sách bị cấm lưu hành.

Ngay cả sách giáo khoa càng siết chặt hơn. Trong chiến tranh chống Trung Cộng hồi tháng 2/1979, theo Giáo Sư sử học Vũ Dương Ninh, người phụ trách bên soạn sách giáo khoa sử học lớp 12, đă thu gọn trong 4 trang, cũng bị cắt bỏ chỉ c̣n vỏn vẹn 11 ḍng. C̣n t́nh trạng mất một số Đảo và Đá Ngầm trên Biển Đông, cho đến năm 2016 cũng không có một trang nào, thậm chí không có một ḍng nào trong sách giáo khoa môn sử cả. Theo blogger Phạm Viết Đào, giới sử học chỉ được viết môn sử trong bản thảo sách giáo khoa, c̣n xuất bản như thế nào là quyền của Ban Tuyên Giáo trung ương và nhà xuất bản.

 Số 18. Tội ác trong đổi tiền 1975-1978-1985 (source: Wikipedia).

Sau khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng ngụy trang bộ máy cầm quyền dưới tên gọi Chánh Phủ Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam. Lúc ấy, tổng số tiền giấy lưu hành là 615 tỷ đồng, và tồn trữ trong Ngân Hàng Quốc Gia hơn 1.000 tỷ đồng. Trong khi toàn bộ các ngân hàng bị niêm phong ngay chiều 30/4/1975. Và ngày hôm sau -1/5/1975- cộng sản ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ ngân hàng.  

 Ngày 6/6/1975, cộng sản thành lập ngân hàng Quốc Gia Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam, và thông qua danh nghĩa này để thừa kế vai tṛ hội viên của Ngân Hàng Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Ḥa trong các tổ chức tài chánh quốc tế.

Ngày 22/9/1975, tiền giấy Việt Nam Cộng Ḥa đang lưu hành với mệnh giá từ 50 đồngtrở lên bị cấm lưu hành, và đổi sang tiền mới. Thời gian đổi tiền mới, từ 11 giờ sáng đến cuối 10 giờ tối ngày 22/9/1975, chỉ có 12 tiếng đồng hồ.

Có hai loại hối suất:

(1) Từ Đà Nẳng vào cực Nam, th́ 500 đồng Việt Nam Cộng Ḥa bằng 1 đồng tiền mới.

(2) Từ Huế ra cực Bắc, th́ 1.000 đồng Việt Nam Cộng Ḥa bằng 3 đồng tiền mới.

Căn bản:  Mỗi gia đ́nh, cứ 100.000 đồng Việt Nam Cộng Ḥa đổi được 200 đồng tiền mới. Nếu là tiểu thương, cứ 200.000 đồng tiền cũ đổi được 400 đồng tiền mới.  Và nếu hảng xưỡng, cứ 500.000 đồng tiền cũ, đổi được 1.000 đồng tiền mới..

Trong số tiền đem đến đổi tiền mới theo căn bản nói trên, nếu số tiền c̣n lại tối đa là 100.000 đồng tiền cũ của mỗi gia đ́nh, và tối đa là 1.000.000 đồng tiền cũ đối với mỗi hảng xưỡng, bắt buộc kư thác vào ngân hàng. Nhưng sau khi nhận tiền kư gởi số tiền c̣n lại th́ ngân hàng đóng cửa. Đầu năm 1976, ngân hàng mở cửa lại, nhưng mỗi tháng gia đ́nh chỉ được rút tối đa là 30 đồng tiền mới, nhưng phải làm đơn gởi cho nhà cầm quyền địa phương và chờ cứu xét. Nhưng, đến cuối năm 1976, gia đ́nh cũng như hảng xưỡng, dù c̣n bao nhiêu tiền trong ngân hàng đều vuột khỏi nắm tay, v́ tất cả thuộc tài sản của lănh đạo Việt Cộng.

Về tỷ giá hối đoái với đồng mỹ kim lúc ấy:  1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim.

Ngày 3/5/1978, lại đổi tiền. Lần này đổi tiền trên toàn cơi Việt Nam, theo căn bản: 1 đồng tiền cũ miền Bắc đổi được 1 đồng tiền mới. 1 đồng tiền mới năm 1975 của miền Nam đổi được 0.80 đồng tiền mới cả nước.   

Tiêu chuẩn số tiền tối đa được đổi tiền như sau:

Thành phố: 100 đồng cho gia đ́nh 1 người. 200 đồng cho mỗi gia đ́nh 2 người. Gia đ́nh 3 người, th́ người thứ 3 trở lên, mỗi người được 50 đồng. Tối đa cho mỗi gia đ́nh là 500 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Miền quê: 100 đồng cho gia đ́nh 2 người. Gia đ́nh trên 2 người, th́ mỗi người từ người thứ 3 trở lên được đội 30 đồng. Tối đa cho mỗi gia đ́nh là 300 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Số tiền được đổi, nếu trên mức tối đa phải khai báo và bắt buộc gởi ngân hàng, khi cần sử dụng phải xin phép nếu có lư do chính đáng. Một điều kiện bắt buộc, người dân phải chứng minh số tiền trên mức tối đa là do đâu mà có.

Năm 1985, đổi tiền lần thứ 3. Cứ 10 đồng tiền của năm 1978, đổi được 1 đồng tiền mới năm 1985.

Tóm tắt. Qua lần đổi tiền 1975, cộng sản đă nhân danh nhà cầm quyền mà cướp một khoản tiền của người dân Việt Nam Cộng Ḥa cũ, khi bắt buộc gởi vào ngân hàng. Nhưng chỉ cho rút tiền rất giới hạn mà lại phải có lư do gọi là “chính đáng” trong đơn xin, và một năm sau tổng số tiền của đồng bào c̣n lại trong ngân hàng đều biến mất.Đúng là bản chất cướp đoạt của cộng sản.

Về tỷ giá hối đoái. Năm 1975, sau khi đổi tiền, th́ 1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim. Sau rất nhiều lần phá giá đồng bạc Việt Nam, đến ngày 11/2/2011, ngân hàng nhà nước Việt Nam ấn định tỷ giá mới là: 21.693 đồng Việt Nam, đổi được 1 Mỹ kim. Thử làm bài toán vể tỷ giá hối đoái giữa đồng bạc Việt Nam với đồng mỹ kim Hoa Kỳ:

- Năm 1975: Sau khi đổi tiền th́ 1.53 đồng Việt Nam, bằng 1 mỹ kim.

- Năm 1985: Đồng bạc Việt Nam tự phá giá: 10 đồng của năm 1975, đổi được 1 đồng của năm 1985, tức đồng bạc 1975 mất giá đến 10 lần.

 Số 19. Tội ác tịch thu tài sản của dân (source: tham khảo trên Wikipedia).

Ngày 4/9/1977, Quyết Định số 111/CP do Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Hùng kư. Ngày 16/2/1976, Đỗ Mười (về sau là Tổng Bí Thư) là Trưởng Ban Cải Tạo trung ương, trực tiếp chỉ huy chiến dịch dánh tư sản mại bản trong cả 3 đợt.   

Đợt 1. Tịch thu nhà cửa đất đai tài sản của người Việt Nam Cộng Ḥa cũ, trong đó có người Việt gốc Hoa, nhưng giấu kín đến ngày 11/9/1975 đồng loạt thực hiện tại 17 tỉnh từ Quảng Trị trở xuống đến Cà Mau, và thành phố Sài G̣n.

Đợt 2, năm 1976-1979, tịch thu toàn bộ tài sản của người Việt gốc Hoa, và bắt buộc những người bị cướp hết tài sản, phải đến sống tại các nơi mà Việt Cộng gọi là khu kinh tế mới.

Và đợt 3 năm 1979-1984, tịch thu toàn bộ tài sản của các tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ, cơ sở kỹ nghệ nhẹ, và các công ty giao thông đường bộ, đường thủy.

Trong chiến dịch này, số lượng người Sài G̣n sau khi bị cướp toàn bộ tài sản, c̣n bị cưỡng bức đi khu kinh tế mới vào khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài G̣n qua các thời kỳ trong ḍng sử Việt.

Tổng kết trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ, vào khoảng 950.000 người bị đẩy đến các khu kinh tế mới. Sức mạnh kinh tế Sài G̣n tự nhiên bị phá hoại đến kiệt quệ hoàn toàn. Hơn 14.000 cơ sở tiệu thủ công nghiệp bị lănh đạo Việt Cộng cướp, cùng lúc khoảng 270.000 công nhân vừa mất việc vừa trắng tay v́ bị đẩy đến các khu kinh tế.

Sau khi tịch thu nhà cửa của khoảng 950.000 người bị đẩy đến các khu kinh tế mới mà thực chất là họ cướp nhà và tài sản. Ngay sau đó, lănh đạo Việt Cộng đưa khoảng 150.000 cán bộ cùng gia đ́nh của họ, từ Hà Nội vào chiếm giữ hằng trăm ngàn ngôi nhà đó làm nhà của họ. Cướp giật kiểu ấy chỉ có lănh đạo Việt Cộng từ ngoài rừng vào mới làm được.

Riêng về tổng số vàng và nữ trang tịch thu từ các nhà tư bản tại Sài G̣n từ tháng 5/1977 đến tháng 2/1978, được truyền thông của đảng thừa nhận lên đến 4.000 lượng vàng. Tính chung số vàng và nữ trang tịch trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ lên đến khoảng 35.000 lạng vàng. Cướp giật kiểu ấy chỉ có lănh đạo Việt Cộng từ ngoài rừng vào mới làm được. Ngoài rừng, được hiểu là người hoang dă.    

Tư sản mại bản ngă quỵ, kinh tế xă hội dẫn đến mức lạm phát lên 80%, cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, lănh đạo Việt Cộng sợ Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Cộng, trong khi người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu t́nh đ̣i giữ quốc tịch Trung Hoa. Hành động này làm cho lănh đạo Việt Cộng lo lắng đến nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài, v́ e ngại Trung Cộng can thiệp dưới danh nghĩa bảo vệ dân của họ.

Theo nhận định của các chuyên gia Liên Hiệp Quốc về kinh tế: “Việt Nam đang tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế sau chính sách đánh tư sản Việt Nam Cộng Ḥa cũ. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới năm 1985, tính từ cuối bảng lên trên”.

 Số 20. Tội ác khi chiếm toàn bộ đất đai toàn quốc 1978 (source: Wikipedia). 

Tháng 5/1978. Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị, toàn bộ đt đai trên lănh thổ Việt Nam trở thành tài sản của lănh đạo Việt Cộng, người dân chỉ được cấp phát –sau khi xét đơn xin- dưới tên gọi “người sử dụng đất”. Vậy là, sau khi cướp tài sản của 18.000.000 dân Việt Nam Cộng Ḥa (cũ), lănh đạo Việt Cộng cướp cả một phần đất trên mặt địa cầu.

Khi có Hiến Pháp, th́ đất đai chánh thức thuộc về lănh đạo Việt Cộng, mà họ ghi là “quyền sở hữu của toàn dân, và không công nhận quyền sở hữu đất đai của tư nhân”.  Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị, người dân phải làm đơn xin sử dụng đất để cất nhà hay làm vườn làm ruộng, phải chờ nhà cầm quyền cứu xét, c̣n cho phép sử dụng hay không là tùy thuộc quyền lợi của họ, hoặc những lúc họ vui hay buồn.

Chính v́ Chỉ Thị 43 mà toàn bộ đất đai trên toàn cơi Việt Nam vào tay lănh đạo Việt Cộng, và sau đó Hiến Pháp hợp thức hóa, đă dẫn đến hằng chục ngàn thậm chí là hằng trăm ngàn Dân Oan sống lang thang ở các công viên, v́ lănh đạo Việt Cộng cưỡng bách thu hồi đất dem bán cho các công ty ngoại quốc đầu tư, nhất là các công ty từ Trung Cộng tràn sang.  

Riêng tại Sài G̣n, báo Tuổi Trẻ đă thừa nhận hơn 10.000 tiệm bán hàng hóa vật dụng, bị đóng cửa chỉ trorng một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí biểu tượng của cả Sài G̣n, cũng bị truyền thông Việt Cộng tại Sài G̣n lúc bấy giờ rêu rao là tư bản chó đẻ cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí đă từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc, cũng bị lănh đạo Việt Cộng cướp sạch.

Tháng 3/2013, khi Quốc Hội Việt Cộng đang trong thời gian sửa đổi Luật Đất Đai, th́ Tổ chức Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam nhấn mạnh rằng: "Đối xử công bằng giữa các thành phần sử dụng đất là rất quan trọng đối với tăng trưởng công bằng hơn, và phát triển con người ở Việt Nam.

Ngân Hàng Thế giới tại Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sửa đổi luật đất đai tại Việt Nam: “Điều quan trọng là sửa đổi Luật Đất đai cần tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho việc quản trị đất đai một cách hiệu quả, công bằng, và bền vững hơn về môi trường đối với nguồn tài nguyên đất đai khan hiếm."

 Số 21. Tội ác vụ nộp vàng không được vượt biển (source: Wikipedia).

Trong những năm 1978-1979, khoảng 250.000 người Việt gốc Hoa trở về Trung Hoa qua biên giới phía Bắc mà Trung Cộng gọi đây là vấn đề “nạn kiều”. V́ chế độ cai trị khắc nghiệt trong khi kinh tế vô cùng khóa khăn, người Việt gốc Hoa cùng với người Việt chính thống thời Việt Nam Cộng Ḥa cũ, đă vượt biên vượt biển đến quốc gia thứ ba để t́m đường sống cho tương lai các con các cháu.

Công An Việt Cộng lừa người Việt gốc Hoa để cướp vàng, bằng cách bảo mỗi người phải nộp vàng th́ Công An cho lên tàu chở ra biển chờ tàu buôn ngoại quốc nhận và chuyển tiếp đến nước thứ ba. Chỉ có những chuyến tàu đầu tiên là trót lọt, sau đó là họ đưa ra biển rồi hôm sau quay vào, và họ viện dẫn sắp có băo, hoặc nói tàu bị hư, ..v..v... Không đi được mà vàng đă nộp th́ mất trắng.

Chuyện là tháng 11/1978, “Bộ Công An trách nhiệm thực hiện lệnh của lănh đạo Việt Cộng, cho phép các Sở Công An tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần người Việt gốc Hoa, với 3 lượng vàng mỗi đầu người, nhưng thực tế th́ Công An bắt mỗi đầu người ghi tên vượt biển phải nộp cho họ 7 lượng vàng, hoặc hơn thế nữa. Lệnh này có mục đích vừa đẩy thành phần đó ra khỏi Việt Nam, vừa thu vàng bổ sung ngân sách. Từ năm 1978 đến năm 1982, Bộ Công An thu được 700.000 lượng vàng”.

Bản tin này tôi nhận trên internet do một tổ chức chính trị bên Germany phổ biến. E-mail cũng cho biết, tin tức này tiết lộ từ Bộ Công An Việt Cộng.

Vàng th́ họ thu khi ghi danh, c̣n bao nhiêu người thoát khỏi Việt Nam th́ không ai biết, chỉ có họ với Trời mới biết số vàng khổng lồ đó đi đâu.

 Số 22. Tội ác đă đẩy người dân vượt phải biên vượt biển 1976-1995.

Ngay sau ngày đánh chiếm Việt Nam Cộng Ḥa 30/4/1975, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa bị đẩy ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện +Đày đọa nửa triệu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa trong hệ thống trại tập trung suốt 17 năm +Đoạt 16 tấn vàng thoi mà nói láo là cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă đem ra ngoại quốc +Đổi tiền để cướp tiền của đồng bào +Chiếm đoạt cơ sở những nhà buôn bán mà họ gọi là “chiến dịch đánh tư sản” để biến toàn xă hội thành vô sản + Gia đ́nh quân nhân viên chức cũ bị đối xử  kỳ thị trong mọi sinh hoạt xă hội, rồi buộc gia đ́nh quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa vào các khu kinh tế mới để cướp đoạt nhà cửa tài sản, sau khi bắt chồng họ vào các trại tập trung, ..v..v.. đă quá đủ để người Việt Nam Cộng Ḥa cũ khẳng định là không thể sống dưới chế độ cộng sản độc tài tàn bạo. Vậy là, mọi người t́m mọi phương cách trốn khỏi quê hương để t́m đất sống tại các quốc gia tự do.          

H́nh ảnh và tin tức tràn lan trên báo chí ngoại quốc, giùp cho thế giới nh́n thấy t́nh cảnh hằng triệu người Việt Nam Cộng Ḥa cũ phải xuyên rừng rậm vượt biên giới bỏ xác giữa rừng sâu, phải vượt biển trên những chiếc tàu thuyền bé bỏng, đă để lại những ḍng sông đẫm máu và xác người nhấp nhô trên biển cả mênh mông, đến mức thế giới phải kinh hoàng trước sự can đảm tột cùng của người Việt Nam vượt lên sự chết để t́m sự sống dân chủ tự do, đồng thời góp vào hồ sơ tội ác để cảnh tỉnh nhân loại về chủ nghĩa cộng sản.

 Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc công bố vào năm 2000, th́ từ năm 1975 đến năm 1995, đă có 839.200 người vượt biên vượt biển đến tị nạn chính trị tại 91 quốc gia tự do, và Liên Hiệp Quốc ước lượng khoảng 400.000 đến 500.000 người đă chết trên biển và trong rừng, trên đường chạy trốn cộng sản! Lại cuộc bỏ phiếu bằng chânlần 2 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do.

Xin nhắc lại là trong 300 ngày từ sau Hiệp Định Đ́nh Chiến 20/7/1954 có hiệu lực, đă có 868.672 người từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chạy vào nước Việt Nam Cộng Ḥa dân chủ tự do tị nạn. Từ năm 1954 đến năm 1956, có thêm 102.861 người trốn khỏi phần đất cộng sản vào phần đất tự do Việt Nam Cộng Ḥa chúng tôi tị nạn. Cộng chung là 971.533 người. Đó là cuộc bỏ phiếu bằng chânlần 1 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do.

 Số 23. Tội ác với quân línhcủa họ khi Trung Cộng tấn công đá Gạc Ma.

“Hải chiến Gạc Ma 1988” là nhóm chữ nói đến 64 quân lính của họ giữ Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa, khi bị Hải Quân Trung Cộng tấn công Đá Chữ Thập từ ngày 31/1/1988, Đá Châu Viên ngày 18/2/1988, Đá Ga Ven ngày 26/2/1988, Đá Tư Nghĩa ngày 28/2/1988, Đá Xu Bi ngày 23/3/1988.

Riêng Đá Gạc Ma + Đá Cô Lin + Đá Len Đao bị tấn công cùng ngày 14/3/1988. Bài “Hải chiến Gạc Ma + Cô Lin + Len Đao” trong Wikipedia, mô tả trận chiến đă xảy ra giữa Hải Quân Việt Cộng với Hải Quân Trung Cộng, cuối cùng th́ Việt Cộng có 3 chiến hạm bị ch́m và 64 chiến sĩ tử trận, nói cho đúng là quân lính Việt Cộng ôm súng để bị Trung Cộng bắn chết. Phía Trung Cộng hư hại 1 xuồng đổ bộ và 24 chiến sĩ thương vong. Trong số 64 lính Việt Cộng ôm súng để bị bắn chết, có 8 xác được đồng đội mang về đất liền.

Rồi 27 năm sau, Thiếu Tướng Việt Cộng Lê Mă Lương, anh hùng lực lượng vơ trang nhân dân, từng giữ chức Giám Đốc Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Cộng tường thuật trong cuộc hội luận nhân ngày kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma, do Trung Tâm Minh Triết tổ chức vào năm 2015 tại khách sạn Công Đoàn.

 Hôm ấy, Tướng Lê Mă Lương tường thuật: “Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lănh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa.Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đă được ghi vào tài liệu mà ta đă rơ rồi là trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng? Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người, là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù. Ngài Bộ Trưởng Quốc Pḥng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đă ra cái lệnh như vậy.”

Ông Nguyễn Khắc Mai, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Minh Triết, nói về vai tṛ của Tướng Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ Trưởng Quốc Pḥng, người được xem là đă ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:Ngài Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh, đă ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mă Lương đă tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma, th́ bây giờ ta phải công khai cái này. Một Bộ Trưởng Quốc Pḥng thấy giặc nó xâm lấn bờ cơi của ḿnh mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người ḿnh để cho nó nă súng nó bắn!

Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Lê Đức Anh: “Tôi cho rằng, lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ Trưởng Quốc Pḥng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của ḿnh như là bia sống, th́ tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người t́nh báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài ǵ đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lư lịch rồi được ḷng ông Lê Đức Thọ, rồi ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ Trưởng Quốc Pḥng, sau này thành Chủ Tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau ḷng lắm, và cho là một nỗi nhục của đất nước. Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy, nhiều người xác vẫn c̣n nằm dưới biển, và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng Bí Thư lại nói rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải... t́m cách vớt lên, và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ, th́ anh lại để im...”

 Số 24. Tội àc từ hội nghị Thành Đô 1990.

Trước hội nghị Thành Đô.

Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đă công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, và Đỗ Mười Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện Việt Nam, với Giang Trạch Dân Tổng Bí Thư, và Lư Bằng Thủ Tướng, đại diện lănh đạo cộng sản Trung Hoa ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Hoa.  Wikileaks khẳng định, tin tức dưới đây nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài G̣n gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu này có đoạn ghi rơ:

“.... V́ sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết ḿnh để vun đắp t́nh hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ư sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đă từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Hoa đă đồng ư và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Hoa”.

Ông Nguyễn Văn Linh (Wikipedia - Nguyễn Văn Linh), tên thật là Nguyễn Văn Cúc, chào đời ngày 1/7/1915 tại Hưng Yên. Không thấy nói tŕnh độ giáo dục, nhưng năm 14 tuổi có tham gia Học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên lănh đạo. Ngày 1/5/1930, khi rải truyền đơn chống Pháp th́ bị bắt với án tù chung thân tại trại tù Côn Đảo. Năm 1936, chánh phủ Pháp thay đi lănh đạo và ông được trả tự do. Ông Linh vào đảng cộng sản tại Hải Pḥng.

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6, ông Nguyễn Văn Linh giữ chức Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành trung ương. Trong đại hội 7 năm 1991 và đại hội 8 năm 1996, giữ chức Cố Vấn, Ban Chấp Hành trung ương. Ông chết ngày 27/4/1998.

Ông Trần Quang Cơ (trích trong Google.vn). Giữ chức Đại Sứ tại Thái Lan từ tháng 10/1982 đến tháng 10/1986. Giữ chức Thứ Trưởng Ngoại Giao từ tháng 1/1987 đến 1993 ông về hưu.

Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao và giới trí thức ở Việt Nam đă chuyền tay nhau tập hồi kư và suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ Trưởng Ngoại Giao. Tập hồi kư 82 trang viết từ năm 2001, hoàn tất tháng 5/2003, nhưng chưa được phép xuất bản. Tác giả cung cấp những tài liệu giá trị về những vấn đề Việt Nam trong giai đoạn nguy khốn nhất về hồ sơ chiến tranh Campuchia, và hồ sơ tái lập bang giao giữa hai nước đàn anh Trung Cộng với đàn em Việt Cộng.

Ngày 9/4/1987, Bộ Chính Trị quyết định thành lập “Tổ Nghiên Cứu Nội Bộ” để t́m giải pháp trong bang giao với Liên Xô- Trung Cộng - Camphuchia. Ông Trần Quang Cơ là một thành viên trong tổ nghiên cứu này.

Ngày 20/5/1988, Nghị Quyết 13 nhắm giải quyết vấn đề Campuchia trước năm 1990, và cố gắng tái lập bang giao với Trung Cộng. Ngày 14/3/1989, Bộ Chính Trị quyết định rút hết quân khỏi Campuchia vào cuối tháng 9/1989.

Ngày 13/6/1990, Đại Sứ Trung Cộng tại Việt Nam Từ Đôn Tín, đến gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch và nói:Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí,chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về bang giao hai nước Trung Quốc-Việt Nam”.

Ngày 29/8/1990, Đại S Trung Cộng Trương Đức Duy gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trao thông điệp của Tổng Thư Giang Trạch Dân, mời các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Cộngvào ngày 3/9/1990, để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia, và vấn đề b́nh thường hoá bang giao giữa Việt Cộng với Trung Cộng.

Điều lạ là ngày 24/8/1990, Trung Cộng đă bác bỏ việc bàn chuyện b́nh thường hóa, mà đ̣i phải giải quyết vấn đề Campuchia trước. Theo ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ Trưởng Ngoại Giao nhận định: “Sự thay đổi đột ngột của Trung Cộng là do họ Hoa Kỳ, Nhật Bản, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với Việt Nam nên họ muốn phá Việt Nam”.

Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp thảo luận về việc gặp lănh đạo Trung Cộng. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chúng ta cần hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ Nghĩa XăHội và chống đế quốc, đồng thời ḥa hợp giữa PhnomPenh với Khmer đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia”. Quan điểm của Đại Tướng Lê Đức Anh về hồ sơ Campuchia: “Phải bàn về ḥa hợp dân tộc thực sự ở Campuchia, v́ nếu không có Polpot th́ chiến tranh vẫn tiếp tục”.

Ngày 2/9/1990, Ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có ông Hồng Hà chánh văn pḥng trung ương, ông Hoàng Bích Sơn Trưởng ban đối ngoại, và ông Đinh Nho Liêm Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, nhưng  không có B Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch, v́ cho rằng quan điểm ông Thạch không thích hợp trong cuộc họp này.

Trong hội nghị Thành Đô.

Ngày 3/9/1990. Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lư Bằng của Trung Cộng, đón các vị lănh đạo  Việt Cộng là ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô.

Buổi họp đầu tiên chiều hôm nay 3/9/1990- ông Nguyễn Văn Linh nói đến nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, và đặt trọng tâm vào vấn đề b́nh thường hóa bang giao Việt-Trung.

Ngày 4/9/1990. Buổi sáng tiếp tục họp. Những vấn đề hội nghị thảo luân hầu như đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nên quyết định khởi thảo một bản kỷ yếu của Hội Nghị. Lúc 2 giờ 30 chiều, tại khách sạn Kim Ngưu, lănh đạo hai nước Việt-Trung cử hành nghi thức kư kết chánh thức. Hai bên riêng biệt do Tổng Bí Thư và Thủ Tướng kư. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử  của bang giao hai nước Việt-Trung.

Điều lạ là tác giả hồi kư chỉ cho biết hai bên đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nhưng không một chi tiết nào cho thấy hai bên đạt được những ǵ. Vậy, phải chăng những chi tiết đó thuộc loại tối mật?

Trong cuốn sách “Mao Chủ Tịch của tôi” của tác giả Hà Cẩn, Viện Văn Học Trung Cộng đă được giới thiệu trong “Những sự thật không thể chối bỏ”, có đoạn viết: ”Việt Nam cuối cùng cũng đă xích lại gần hơn nữa với Trung Quốc. Những ǵ thuộc về quan hệ tốt đẹp của hai đảng từ thời Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch đă được Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn sau chiến tranh biên giới năm 1979. Không có ǵ có lợi hơn cho cả Việt Nam và Trung Quốc khi đứng chung nhau”.

Sau hội nghị Thành Đô.

Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  5 điểm là quan điểm của Trung Cộng giải quyết hồ sơ Campuchia mà lănh đạo Việt Cộng không có quan điểm nào cả. 2 điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có 1 điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Cộng - Trung Cộng mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Cộng đối với Việt Nam, nhưng không thấy nói lập trường cũ là như thế nào.

Ông Giang Trạch Giang nhấn mạnh: “Các nước phương Tây rất chú ư tới bang giao của chúng ta. Các đồng chí đến đây, các nước không ai biết. Chúng ta cảnh giác vấn đề này, họ cho rằng Việt Nam xă hội chủ nghĩa với Trung Quốc xă hội chủ nghĩa đều do đảng cộng sản lănh đạo, họ họp nhau làm ǵ đây” V́ vậy, chúng ta giữ kín chuyện này, v́ t́nh h́nh quốc tế hiện nay, nếu để họ biết hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.

Ông Trần Quang Cơ nhận định: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là một sai lầm hết sức đáng tiếc trong bang giao giữa hai nước.

Trong khi đó, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động rất lớn đến ông Nguyễn Văn Linh, và dẫn đến tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách cản ngăn, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc có bành trướng thế nào đi nữa th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Tóm tắt tài liệu. Những sử liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước và bán nước do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những ai thật sự lương thiện đă không theo cộng sản, hoặc nhận thấy cộng sản tồi tệ nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là dối trá là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài của cộng sản. Vậy th́, mỗi chúng ta hăy đem những sự thật này đến với nhân dân Việt Nam, v́ đó là con đường ngắn nhất để cứu nước trước thảm họa đang đến rất gần. Đấu tranh cho dân chủ, trước hết phải lật đổ Việt Cộng.

Trích nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng.

 Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, bang giao Trung-Việt bế tắc. Tháng 12/1986, trước t́nh h́nh quốc tế thay đổi, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu tan ră. Tổng Bí ThưNguyễn Văn Linh t́m kiếm chính sách b́nh thường hóa với Trung Quốc.Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ư hội nghị bí mật vào ngày 03-04/9/1990. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười, chấp nhận đàm phán với các nhà lănh đạo Trung Quốc

“Ngày 27/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quan tôi đă báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu B́nh. Cuộc họp này liên quan đến việc b́nh thường hóa bang giao song phương Trung-Việt điều đặc biệt hệ trọng, nên để bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được tổ chức tại Thành Đô.

“Ngày 30/8/1990.Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ đến Thành Đô, để đàm phán nội bộ với Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào.

Với ḍng chữ tôi tô đậm trên đây, rơ ràng là Trung Cộng xem Việt Cộng không ra ǵ cả.

“Ngày 02/9/1990. Lúc 3 giờ 30 chiều, tôi lên chiếc máy bay riêng và cất cánh từ ngoại ô Bắc Kinh. Khoảng 6 giờ chiều đến sân bay Thành Đô, và di chuyn bằng xeđến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛). T tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tại đây. Trong khi đồng chí Giang Trạch Dân đáp chiếc bay khác và đến Thành Đô sau tôi. Lúc 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân, trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai.

Thành Đô, ngày 3/9/1990. Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam.Khoảng 2 giờ trưa, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, và Cố Vấn ban chấp hành trung ương đảng Phạm Văn Đồng, cùng đến Kim Ngưu tân quán. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí Thư  Nguyễn Văn Linh, mặc veston màu cà phê, phong thái học giả. Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, mái tóc bạc trắng, cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc.

 Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu. Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên đọc bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt.Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ bày tỏ về nguyên tắc, c̣n trọng điểm là b́nh thường hóa bang giao Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ tối, và vào tiệc lúc 8 giờ 30 tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân,tiếp tục làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh”. Ngày 4/9/1990. Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lănh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ratrong đàm phánđă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, cùng quyết định soạn thảo bản "Kỷ yếu hội nghị". 

Với những chữ mà tôi tô đậm có thể làm cho người đọc nghĩ rằng, nội dung đàm phán do Trung Cộng soạn thảo và Việt Cộng chấp nhận nhanh chóng, và Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đạt được mục đích khi ông nói rằng: “ Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”, để phản bác ư kiến các “đồng chí của ông” có ư ngăn cản ông đưa Việt Nam ngă vào ṿng tay Trung Cộng.

(Trong h́nh. Hàng trước, từ trái sang phải: Vị trí số 1 tận cùng bên trái là ông Hoàng Bích Sơn. Vị trí số 3 là ông Phạm Văn Đồng. Số 4 ông Nguyễn Văn Linh. Số 5 ông Giang Trạch Dân. Số 6  ông Lư Bằng. Số 7 ông Đỗ Mười. Và vị trí số 9 tận cùng bên phải là ông Hồng Hà).

“Lúc 2 giờ 30 chiều, trên tầng lầu 1 của nhà khách Kim Ngưu. Tổng Bí Thư và Thủ Tướng của hai bên Trung Quốc với Việt Nam cùng kư. Đây là bước ngoặc lịch sử trong bang giao Trung-Việt. (Hết trích).

Sau ngày hội nghị Thành Đô kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam, rằng: "Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đă dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Quốc".

Một chút so sánh tổng quát giữa hai nhật kư. Trung Cộng mời họp và Việt Nam chấp nhận, đến những diễn biến như địa điểm họp, ngày giờ họp, nội dung họp, soạn thảo Biên Bản mà hội nghị gọi là “kỷ yếu hội nghị”, và hai bên cùng kư, giữa nhật kư của Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ với nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng, đều giống nhau.

Nhưng nội dung của Biên Bản th́ nhật kư của ông Lư Bằng chỉ viết: “…. có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng,làm cho người đọc hiểu là lănh đạo Việt Cộng nhanh chóng chấp nhận quan điểm của lănh đạo Trung Cộng.

Trong khi nhật kư của ông Trần Quang Cơ viết như sau: Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  Năm điểm là quan điểm của Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia. Hai điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có một điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Nam - Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Quốc đối với Việt Nam”. Điểm thứ 8 th́ ông Trần Quang Cơ viết như sau: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầmtrong quan hệgiữa hai nước”.

“Trong bối cảnh Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động đến tư tưởng của ông Nguyễn Văn Linh, tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù trong thời gian chuẩn bị, các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách ngăn cản, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Nhận định.

Người lănh đạo như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh kéo Trung Cộng lại để thay thế Liên Xô, chừng như ông ta không hiểu ǵ về lịch sử Việt Nam mà vua Trấn Nhân Tông từ nửa cuối thế kỷ 13 đă nh́n thấy, rằng: “Trung Hoa phong kiến là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam”. Vua Trần Nhân Tông c̣n nh́n thấy kẻ thù vừa thâm lại vừa độc, bất cứ lúc nào cũng sẳn sàng gậm nhấm Việt Nam trên từng tấc đất tấc biển. Ngay trong thời đương đại, chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979 mà ông Nguyễn Văn Linh cũng không hề quan tâm, khi sử dụng chủ trương “kéo Trung Cộng lại gần Việt Cộng”, mà thật ra làm sao ông Linh kéo được Trung Cộng lại, mà chính là ông Nguyễn Văn Linh và nhóm bán nước của ông chui vào ṿng tay của lănh đạo Trung Cộng, cho nên bây giờ người Việt Nam trong nước được nhóm lănh đạo hiện nay chuẩn bị cho vào cái tḥng lọng của Trung Cộng sau 3 năm nữa!

 Xin nhớ rằng, lănh đạo Trung Cộng tấn công các tỉnh dọc biên giới Việt – Trung từ ngày 17/2/1979 đến ngày 17/3/1979. Chỉ một tháng thôi, với sự tàn phá kinh hoàng các tỉnh biên giới mà Trung Cộng gọi là dạy cho Việt Cộng bài học. Với một lực lượng gồm 300.000 quân + 550 xe tăng + 480 khẩu đại bác + 1.260 khẩu súng cối, Trung Cộng cho rằng “đây là cuộc điều quân quân trong một cuộc chiến lớn nhất từ sau chiến tranh Triều Tiên 1950. Tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy tấn công Lạng Sơn và Cao Bằng, và Tướng Dương Đắc Chí chỉ huy tấn công vào Hoàng Liên Sơn.   

Sau 30 ngày, quân Việt Cộng và dân Việt Nam tổn thất theo bản tin của Trung Cộng th́ khoảng 50.000 người Việt Nam chết. Trong khi báo Times loan tin phía Việt Cộng khoảng 10.000 quân lính tử trận và 1.600 quân lính bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Người dân Việt Nam thiệt hại hết sức nặng nề: (1) Các thị xă Lạng Sơn + Cao Bằng + Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn. (2) Tất cả 320/320 xă + 735/904 trường học các cấp + 428/430 bệnh viện bệnh xá + 41/41 nông trường + 38/42 lâm trường +81 xí nghiệp + hầm mỏ + 80.000 mẫu tây hoa màu + 400.000 gia súc, tất cả bị hủy hoại hoàn toàn. (3) Khoảng 1.700.000 dân bị mất sạch nhà cửa + tài sản + phương tiện sinh sống. 

Vậy mà, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh vẫn cố gắng để được ôm kẻ thù -ngang qua hội nghị Thành Đô- để được ngồi yên trên chếc ghế Tổng Bí Thư. Thật là ghê tởm với lănh đạo cái đảng cộng sản, một thứ rác phế thải của nhân loại!

Hậu quả của nó chưa hết. Quân Trung Cộng trong khi “dạy cho Việt Cộng bài học trong 30 ngày” đă có hằng chục ngàn người quân lính chết, dù ở sát biên giới nhưng họ nhất định chôn quân lính của họ ngay trên lănh thổ Việt Nam. Trong cùng thời gian, quân lính Việt Cộng chết cũng chôn trong một nghĩa trang riêng. Điều rất lạ, là lănh đạo Việt Cộng cấm quân lính của họ không được đến nghĩa trang làm lễ tưởng niệm hằng chục ngàn đă chết trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979, nhưng họ lại ra lệnh tu bổ nghĩa trang của quân lính Trung Cộng, và được lănh đạo Trung Cộng khen ngợi. 

Những tài liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước cho Trung Cộng do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những người Việt Nam tử tế đă không theo cộng sản, những người đi theo cộng sản nhưng khi nhận ra cộng sản độc tài tàn bạo nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là độc tài, là dối trá, là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài cộng sản, đến mức ông ta c̣n nói “dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”. Với trọng tâm của Biên Bản Thành Đô, ông Trần Quang Cơ nói là ”hết sức sai lầm” trong bang giao giữa hai nước, trong khi ông Lư Bằng nhấn mạnh là “bước ngoặc lịch sử”.   

Cho dù có phải hay không phải, th́ những sự kiện từ sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay, vẫn là một chuỗi sự thật trên quê hương Việt Nam mà lănh đạo Việt Cộng không thể phủ nhận, v́ chính họ đă và đang tiếp tay cho Trung Cộng thực hiện. Dưới đây là một số bằng chứng.

 Số 25. Tội ác trong Ủy Hội Sông MeKong. 

Năm 1995, trong hội nghị trên lănh thổ Trung Cộng –nhưng Trung Cộng không tham gia- để thành lập Ủy Hội Sông MéKong, các nước tham dự đă thỏa thuận không phản ứng khi có bất cứ

quốc gia nào khai thác ḍng sông MéKong. Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là ông Nguyễn Mạnh Cầm, một trong bốn quốc gia hội viên trong hội nghị, mà không một lời tranh đấu cho quyền phản kháng của một quốc gia hạ nguồn, v́ bất cứ một đập nào trên thuợng nguồn cũng ảnh hưởng đến sự sống của người Việt Nam nói chung, và gần 20.000.000 người dân vùng đồng bằng Cửu Long nói riêng.

Trung Cộng không tham gia Ủy Hội Sông Mekong, nhưng đứng ra tổ chức hội nghị. Điều đó cho phép độc giả tin rằng, Trung Cộng đă “khuyên” các đại diện tham dự không được thảo luận đến “quyền phản kháng của các nước thành viên”. V́ không quốc gia nào có quyền phản đối, nên từ năm 2001, Trung Cộng bắt đầu xây dựng một hệ thống đập thủy điện trên phần thượng lưu sông Mê Kông (Trung Cộng gọi là Lạng Thương Giang) mà không tham khảo ư kiến các nước vùng hạ lưu, cũng không thông báo những tin tức về ḍng chảy của con sông này. Sáu đập lớn đă  xong hoặc đang xây dựng, là:

(1) Đập Dacgaoshan, phiên âm là Đại Chiếu Sơn, hoàn thành năm 2003.

(2) Đập Manwan, phiên âm là Măn Loan, xong năm 2007.

(3) Đập Jinghong, phiên âm là Cảnh Hồng, xong năm 2009.

(4) Đập Xiaowan phiên âm là Tiểu Loan, cao 300 thước, xong năm 2010.

 (5) Đập Nuozhadu, phiên âm là Nọa Trát Độ, cao 248 thước, dự trù xong vào năm 2017.

(6) Đập Gonguagao (không thấy phiên âm), dự trù xong vào năm 2020. Ngoài ra, c̣n 9 đập nhỏ cũng đang xây dựng. 

Theo sau Trung Cộng, là Lào với Cam Bốt cũng có 11 dự án xây dựng đập thủy điện trên ḍng sông Mê Kông trong phần lănh thổ của họ.

Lào với 9 dự án thủy điện là đập Pak Beng, Luang Prabang, Xayaburi, Pak Lay, Xanakham, Lat Sua, Ban Koum, đập Don Sahong, và đập Pak Chom.

Cam Bốt với 2 dự án thủy điện là đập Strung Treng và đập Sambor.

Năm 2012, Tổ chức Ủy Hội Sông Mê Kong nhận định: "Trước mắt, Việt Nam sẽ phải đối mặt với 4 vấn đề sau đây.

Về ḍng chảy, ảnh hưởng đến nông nghiệp và ngư nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long do mực nước ngày càng xuống thấp, và nước mặn từ biển xâm nhập vào những sông rạch vùng này sẽ gia tăng.

 Về phù sa, khoảng 26 triệu tấn phù sa/năm hiện nay sẽ c̣n lại khoảng 7 triệu tấn/năm, dẫn đến suy giảm năng suất nông nghiệp, cùng lúc sẽ gia tăng hiện tượng sạt  lở bờ sông làm giảm dần diện tích đất liền.

Về thủy sản, đồng bằng này sẽ thiệt hại khoảng 1 tỷ mỹ kim do tổn thất các loài cá trắng chiếm đến 65% lượng cá trên sông này. Trong khi đó, cá trắng lại là thức ăn của cá đen, chiếm 35% lượng cá c̣n lại, nên sự biến mất của cá trắng, cũng có nghĩa là cá đen cũng biến mất.

(H́nh của AFP. Vùng đồng bằng Cửu Long bị nước mặn tràn vào. Màu đỏ đậm là nước mặn, màu đỏ hồng là nước lợ)

Về mặt xă hội, khoảng 14 triệu nông dân và ngư dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp ngư nghiệp, sẽ bị ảnh hưởng nặng".

Ủy Hội Sông Mê Kông nhận định tiếp: "Trong 17 đập thủy điện suốt chiều dài sông Mê Kông, không có đập thủy điện nào của Việt Nam, nhưng Việt Nam là quốc gia hạ nguồn gánh chịu mọi thảm họa từ các đập đó. Trong khi các đập thủy điện đó hoạt động sẽ đem lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia chủ nhà, nhưng Việt Nam sẽ mất đến 65% lượng cá, và hơn 100 loài sinh vật sẽ lâm vào cảnh giảm dần cho đến tuyệt chủng. Thiệt hại nông nghiệp do lũ từ những hồ chứa nước đổ xuống, ước tính vào khoảng 5 triệu mỹ kim mỗi năm. Lượng phù sa giảm trên đưới 65%, và nông dân ngư dân sẽ lâm vào t́nh cảnh thảm hại, tự nó sẽ tác động đến vấn đề xă hội".

Nay là năm 2016, người dân đồng bằng sông Cửu Long đang chết dần, v́ nước không lên đồng ruộng nên không thể trồng được lúa, ḍng nước Cửu Long cạn dần nên nước biển tràn sâu vào nội địa các tỉnh ven biển, từ G̣ Công, Mỹ Tho, Bến Tre, xuống Trà Vinh, Vĩnh Long, rồi Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, và ṿng qua Rạch Giá, cá nước ngọt cũng biến mất!

 26. Tội ác chấp nhận thực hiện tư tưởng của lănh đạo Trung Cộng.

Ngày 27/12/2014,trên làn sóng đài BBC, Phó Giáo Sư Tiến Hoàng Ngọc Giao, Viện Trưởng Viện Chính Sách Pháp Luật và Phát Triển thuộc Vusta,lập lại đoạn cuối trong phần trả lời cuộc phỏng vấn của Tân Hoa Xă Trung Cộng, th́ ông Du Chí Thanh nói rằng: “.... Chuyến thăm này của tôi tại Việt Nam, là nhằm củng cố niềm tin, xây dựng sự nhất trí và thúc đẩy bang giao Việt - Trung đi đúng hướng".

Trong khi đó, t Thời Báo Hoàn Cầu ngày 5/1/2015, dẫn lời b́nh luận của thông tấn xă Trung Cộng về phát biểu của ông Du Chính Thanh tại Việt Nam, rằng: “Phải thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển đúng hướng mà phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt là tư tưởng chỉ đạo”.

Vậy, phương châm 16 chữ vàng xuất xứ từ Trung Cộng trước hay sau hội nghị Thành Đô? Tôi vào trang Google.vn t́m thấy như sau:

“Tháng 2/1999, khi hội đàm với Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu, ông Tổng Bí Thư Trung Cộng là Giang TrạchDân,đề ra phương châm 16 chữ vàng, là "n định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”, xác định tư tưởng chỉ đạocho bước phát triển mới giữa hai nước,ông Lê Khả Phiêu vui vẻ nhận và đồng ư đưa vào bản Tuyên B Chung”.

Tháng 11/2000, khi ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư mới của Việt Cộngsang thăm, ông Giang Trạch Dân lập lại 16 chữ vàng là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước”. Ngày 19/7/2005, khi hội kiến với ông Ôn Gia Bảo, Thủ Tướng Quốc Vụ Viện Trung Cộng, Chủ Tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương khẳng định rằng: “Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức ḿnh để thực hiện phương châm 16 chữ và quan hệ 4 tốt”. (hết trích)

Và lần này, liệu ông Du Chí Thanh có hướng lănh đạo Việt Cộng thực hiện bước nữa trên “hành tŕnh” tiến đến năm 2020 như nội dung Biên Bản Thành Đô chăng? Bước nữa, có nghĩa là Việt Cộng sử dụng “nhân dân tệ” trong toàn dân chăng? 

Vậy là, chính xác 16 chữ vàng là do Trung Cộng đưa ra sau hội nghị Thành Đô năm 1990, với nội dung là Trung Cộnglănh đạo và Việt Cộng thi hành. Vậy là, lănh đạo Trung Cộng giăng ra cái bẫy, và lănh đạo Việt Cộng vui vẽ chui vào đó để được Trung Cộng gọi là đúng hướng. V́ vậy mà mỗi khi họ thấy sai hướng, th́ họ sang dạy cho Việt Cộng bài học đúng hướng theo hội nghị Thành Đô.  

 Số 27. Tội ác dâng cho Trung Cộng 789 cây số vuông biên giới.

Bác sĩ Trần Đại Sỹ, lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC). Ngày 9/1/2000 - tức 10 ngày sau ngày kư Hiệp Ước dâng đất biên giới- ông được hai người bạn Trung Hoa đang là kư giả cho ông biết chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đă thuộc về Trung Cộng. Về mặt chính quyền, bộ Ngoại Giao Việt Cộng đă lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên internet mà Các Anh gọi là mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lănh thổ Việt Nam khởi từ Cây Số KHÔNG ở phía bắc”. Ông nói thêm: “Cây Số Không bây giờ lui vào nội địa Việt Nam 5 cây số”.

Năm 1999, tặng 789 cây số vuông biên giới.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội có bài viết như một lời than từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, rằng: “... Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lănh đạo Vit Nam thông báo trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng cộng sản vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đă thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”. Rồi ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? V́ sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa? Cho dù Trung Hoa có 1 tỉ 300 triệu dân, nhưng đâu phải họ thiếu đất cho dân ở đến nỗi Việt Nam phải chia cho họ 1 cây số vuông?” .....

Ông chợt nhớ đến cụ Đỗ Việt Sơn ngót 80 tuổi đời mà trong đó gần 60 tuổi đảng, cụ Sơn đă dơng dạc đề nghị không thông qua bản Hiệp Định biên giới Việt Nam-Trung Hoa, để rồi cụ phải chịu bao nhiêu sách nhiễu răn đe hỗn xược của Công An.

Ông Giang cũng nhớ đến Bùi Minh Quốc! Là nhà văn nhà thơ, thiên chức đó thôi thúc Bùi Minh Quốc không thể bàng quan, không thể nín lặng, anh đă lặng lẽ làm một cuộc hành tŕnh dọc biên giới phía Bắc, nơi mà hiệp định đă cắt một phần biên giới cho Trung Hoa, để rồi anh bị quản chế giam hảm tại nhà.

Lại đến nhà xă hội học Trần Khuê, cũng chung số phận hẩm hiu như Bùi Minh Quốc. Ông Giang khẳng định: “Trung Hoa là người láng giềng, sông liền sông núi liền núi, nhân dân hai nước sáng sớm cùng chung nghe tiếng gà gáy ó o, khi tắt lửa tối đèn cùng sống với nhau trong thân bằng quyến thuộc, nhưng Trung Hoa chưa bao giờ là người láng giềng tử tế cả, không chỉ không tử tế đối với Việt Nam chúng ta mà đối với các quốc gia lân bang cũng vậy ...”

Vậy là Ải Nam Quan từ trong lịch sử của chúng ta đă mất vào tay Trung Cộng! Nhưng nỗi đau của người dân Việt chúng ta là mất đất trong ḥa b́nh, mất đất trong cái gọi là 16 chữ vàng mà lănh đạo của Các Anh luôn rao giảng trong quân đội và buộc Các Anh phải tôn trọng”.

Số 28. Tội ác bán biển trong vịnh Bằc Việt 2000.

 Sau khi lấn chiếm biên giới xong, Trung Cộng xoay qua Vịnh Bắc Việt. Ngày 31/12/1999. ôngTang Jiaxuan, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng sang Hà Nội gặp riêng Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu bàn về biên giới trên Vịnh Bắc Việt.

Ngày 25/2/2000, Lê Khả Phiêu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh cho biết là (lănh đạo Việt Cộng) đồng ư sẽ giao thêm phần biển trên Vịnh Bắc Việt.

 Từ đó đến ngày 25/12/2000 -sau nhiều  quốc gia cộng sản- Chủ Tịch Trần Đức Lương sang Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và hai bên cùng kư Hiệp Ước. Theo đó, lănh đạo Việt Cộng bán một phần Vịnh Bắc Việt cho lănh đạo Trung Cộng với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và lănh đạo Trung Cộng trả cho lănh đạo Việt Cộng qua h́nh thức đầu tư.

Hăy nghe Lư Bằng nói với Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân ngày 26/12/2000 như sau: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua một phần Vịnh Bắc Việt là hợp lư”. Lư Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đă giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, ... của Việt Nam”.

Vậy là Trung Cộng đă chiếm đoạt 789 cây số vuông trên biên giới, và 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt mà Trung Cộng không tốn một mạng người, không tốn một viên đạn, không tốn một giọt xăng dầu, cũng không nhỏ một giọt mồ hôi, họ chỉ cần nhón 3 ngón tay cầm cây viết kư vào bản Hiệp Ước là xong!

 Số 29. Tội ác cho Trung Cộng chiếm giữ nơi eo thắt miền Trung Việt Nam.

Năm 2006, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng,cấp phép chocông ty Formosa khai thác khu kỹ nghệ Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh. Thành lập tháng 4/2006 trên diện tích 22.781 mẫu tây, bao gồm 9 xă thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh. Toàn bộ dự án sẽ tiếp nhận 30.400 lao động, và bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động & Thương Binh Xă Hội, xác nhận số công nhân Trung Cộng tại đây là 10.000 người..

 Dự án Formosa với khu gang thép và hải cảng Sơn Dương trên một qui mô lớn. Với vốn đầu tư trong giai đoạn 1 lên đến 7 tỷ 900 triệu mỹ kim, với công suất 7.500.000 tân thép/năm. Giai đoạn 2, vốn đầu tư lên đến 28 tỷ mỹ kim, với công suất 22.500.000 tấn/năm. Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải -nguời Việt gốc Tàu- đă ưu đăi cho phép họ được xây nhà để bán cho 15.000 công nhân X 4 mỗi gia đ́nh, cộng chung lên đến 60.000 người. Họ cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, lại được miễn giấy tờ nhập cảnh mà chỉ cần giấy chứng nhận của tỉnh Hà Tỉnh là đủ.

Khu kinh tế Vũng Áng, là một trong những vị trí chiến lược về mặt  quân sự, v́ lănh thổ Việt Nam với dạng h́nh cong chữ S theo chiều bắc nam khoảng 1.500 cây số tính theo đường chim bay, hai đầu ph́nh ra và eo thắt ở giữa. Bề ngang lănh thổ theo chiều Đông Tây: Nơi rộng nhất của Miền Bắc khoảng 600 cây số, từ A-pa-chài đến Móng Cái. Miền Nam rộng nhất khoảng 370 cây số từ Hàm Tân đến Hà Tiên. Nơi eo thắt ở Miền Trung là Đồng Hới, từ bờ biển vào đến biên giới Việt-Lào chỉ có 37 cây số. Đă eo thắt, lại là vùng núi non hiểm trở, nên người dân chỉ sinh sống trên dăi đất hẹp dọc theo bờ biển. Tại đây c̣n có hải cảng Sơn Dương phía nam Vũng Áng, vị trí này cùng vĩ tuyến 18 với cảng Tam Á phần cuối đảo Hải Namnơi có hạm đội nguyên tử của Trung Cộng.

Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay chân phía bắc đèo Ngang, nơi có quốc lộ 1A với đường đèo và đường hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương trên 16m, và sau khi xây đoạn đê dài 3.000 thước từ Mũi Ṛn đến Ḥn Sơn Dương để chắn gió, th́ hải cảng này có giá trị về quân sự lẫn kinh tế. V́ vậy, cảng Sơn Dương là vị trí chiến lược trên đất liền lẫn đường hàng hải ra vào vịnh Bắc Việt, kiểm soát đường biển và đường bộ từ Miền Nam và Miền Trung tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam khi chiến tranh.

 Ngày 4/4/2016, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, 36 tuổi, khi lặn xuống biển “săn” cá, đă nh́n thấy một đường ống xả các chất thải rất lớn sâu dưới mặt biển. Đường ống này được chôn dưới đáy biển, phủ phía trên là một lớp đất cùng nhiều đá hộc, chiều dài của đường ống khoảng 1 cây số rưỡi, và đường kính 1 thước 10 phân. Một đầu của đường ống nối từ khu vực dự án Formosa, đầu kia nối liền với 3 đoạn đường ống nhỏ, mỗi đoạn dài khoảng 2 thước, với đường kính khoảng 40 phân. Lúc tôi nh́n thấy đường ống này đang phun nước rất mạnh. Nước phun từ đường ống ra có màu vàng đục, nhừa nhựa, rất hôi thúi, làm cho tôi cảm thấy như nghẹt thở”.

.Ngày 6/4/2916, vùng biển khu kinh tế VũngÁng bỗng dưng cá chếttrôi dạt vào bờ trắng xóa dọc băi biển Hà Tĩnh, rồi băi biển Quảng B́nh ngày  10/4/2016, đến băi biển Quảng Trị và Thừa Thiên ngày 19/4/2016,như một thảm họa của loài cá sống ở đáy biển, cũng là thảm họa của người dân 4 tỉnh này -nhất là ngư dân- rất lo ngại về sự sống của họ, bởi trọng lượng cá chết đă vớt lên khoảng 30 tấn trong những ngày đầu tiên.

Ngày 21/4/2016, ông Phạm Khánh Ly, Vụ Phó Vụ Nuôi Trồng Thủy Sản/Tổng Cục Thủy Sản, trả lời phỏng vấn, rằng: "Với tư cách là cơ quan quản lư hàng dọc, chúng tôi đến làm việc với Sở Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn tỉnh Hà Tĩnh, được xác nhậnlà"Đoàn công tác không vào kiểm tra khu Vũng Áng được, v́ đây là Khu kỹ Nghệ có yếu tố nước ngoài, nên cần thành lập đoàn công tác liên ngành, nhưng phải có lệnh của Thủ Tướng mới tiến hành kiểm tra được"  Ông cũng xác nhận là có một ngư dân Hà Tĩnh tŕnh báo là đă nh́n thấy một đường ống rất có thể là hệ thống xả nước thải từ khu gang thép Formosa ra biển

Vậy mà, hai tuần sau đó, Tổng Bí Thư Việt Cộng là ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm công ty Formosa, ông ta hết lời ca tụng những thành công của công ty này tại địa phương và trên toàn quốc. Ông Trọng không đến thăm một người dân, cũng không xem một tấc biển đầy cá chết, thậm chí không một lời nào nói về thảm họa này! Có những lúc tôi dừng tay viết, tôi nghĩ: “Không biết cái ông Trọng này có phải là người Việt Nam hay không, mà lại vô cảm đến như vậy? Rôi tôi nhớ lại và tự mĩa mai ḿnh, v́ “lănh đạo Việt Cộng làm quái ǵ có trái tim máu đỏ, mà là họ chỉ có trái tim với ḍng màu đen thủi đen thui thôi, mà khi ḍng máu đen luân lưu trong người họ th́ họ chỉ có hận thù với những ai không phải là Việt Cộng, thậm chí khi đă là Việt Cộng với nhau, họ vẫn thù hận nhau, nêu không cùng phe theo Tàu, không cùng nhóm lợi ích”. 

Nay là giữa năm 2017, lănh đạo Việt Cộng vẫn chưa giải quyết ổn thỏa cho ngư dân trong vùng đang vô cùng khốn khổ, kể cả 500.000.000 mỹ kim do công ty Formosa đă bồi thường. V́ vậy mà những cuộc biểu t́nh mạnh mẽ phản đối Formosa có lúc lên đến hơn ngàn người tham gia, thậm chí đ̣i nhà nước hủy hợp đồng với công ty này. Lănh đạo Việt Cộng không hề lên tiếng về yêu cầu của người dân biểu t́nh, trong khi lặng lẽ cho ŕnh rập và dùng mọi mánh khóe để sách nhiễu hoa85cx bắt giữ những người mà họ cho là xách động biểu t́nh.  

 

Số 30.Tội ác cho Trung Cộng chiếm giữ nóc nhà Tây Nguyên.

 Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng đă kư Quyết Định số 167/2007, về thăm ḍ khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than & Khoáng Sản quốc doanh Việt Nam thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác.

Dự án này sẽ khai thác tại Nhân Cơ tỉnh Đắc Nông và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng, tổng mức đầu tư ước tính đến năm 2019 sẽ 190.000 đến 250.000 tỷ đồng. Trong dự án cần xây đoạn đường sắt dài 270 cây số để vận chuyển hang xuống cảng Kê Gà ở B́nh Thuận.

Ngày 10/3/2009 (TuanVietNamNet online)., Thiếu Tướng Việt Cộng Nguyễn Trọng Vĩnh trả lời báo chí, rằng: “Cha ông ta từ xưa đă nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên th́ coi như đă làm chủ được Việt Nam và Đông Dương.Sau này người Pháp, người Mỹ, và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng: “Đây là nóc nhà của Đông Dương”. Vùng đất này là ngă ba Đông Dương, cho nên khi chiếm được khu vực này th́ cũng dể dàng chiếm được 3 nước Đông Dương”.

Ngày 3/4/2009 (Đối thoại online). Thiếu Tướng Công An Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến Lược & Khoa Học Bộ Công An, phân tách về địa thế của Tây Nguyên như sau: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đă có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đă thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và họ đă làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngă ba Đông Dương).Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia.

 Tác động đối với nguồn điện năng. Việc khai thác bauxite sử dụng rất lớn điện năng, gây trầm trọng thêm sự thiếu điện hiện nay, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và các ngành kinh tế khác.

 

 

 

 

 

Phạm Bá Hoa:  Tóm lược  tội ác của lănh đạo Việt Cộng 1945-2017. Phần 3/3