báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

   [Bài Viết - Article]                                                                           

 Việt Nam tôi đâu?  -Việt Khang

 

 Anh là ai? -ViệtKhang

 

 

LƯU Ư: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, t đó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!

 ***

 
Thảm Họa Bắc Thuộc

https://youtu.be/0N-rO2vD04Y


https://youtu.be/YZGmC800oV8

90 triệu dân đang bị che dấu sự thật kinh hoàng này

***

Phạm Bá Hoa

                                                                         

                      Thư số 69a gởi

 

           Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.     

Xin gọi chung Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam là Các Anh để tiện xưng hô. Chữ “Các Anh” viết hoa, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lănh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Pḥng. Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, v́ Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Với loạt Thư mà tôi tổng hợp được một số tội ác của các nhóm lănh đạo Việt Cộng từ năm 1945 đến năm 2017, v́ quá dài nên tôi chia ra làm 6 Thư. Các Anh lần lượt đọc để có nét nh́n rộng hơn và sâu hơn về lănh đạo của Các Anh đă gây tội ác đến mức nào, trong khi tuyên truyền của họ phũ lấp những hành động của họ. Để rồi, ngày nay người dân bị ch́m trong một xă hội vô cảm, một xă hội chỉ có dối trá là sự thật, và dối trá đă đẩy mọi người gần như mất hẳn nếp sống t́nh cảm, nếp sống văn minh lịch sự, vốn dĩ là nền tảng trong văn hóa truyền thống Việt Nam từ ngàn xưa!

Thư số 68a = 1945 – 1954. =>     Thư số 68a/6 => 1/6 (1945-1954)

Thư số 68b = 1954 – 1975. =>>   Thư số 68b/6=> 2/6 (1954-1975)
Thư số 68c = 1975 – 1990.=>       Thư số 68c/6=>3/6 (1975-1990)

Trong Thư 69a này -cũng là Thư 4/6-tôi tổng hợp một số tội ác của các nhóm lănh đạo Việt Cộng từ năm 1990 đến năm 2010. Mời Các Anh …

Số 19. Tội àc từ hội nghị Thành Đô 1990.

Trước hội nghị Thành Đô.

Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đă công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, và Đỗ Mười Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện Việt Cộng, với Giang Trạch Dân Tổng Bí Thư, và Lư Bằng Thủ Tướng, đại diện Trung Cộng ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Hoa.  Wikileaks khẳng định, tin tức dưới đây nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài G̣n gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu này có đoạn ghi rơ:

“.... V́ sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết ḿnh để vun đắp t́nh hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ư sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đă từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Hoa đă đồng ư và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Hoa”.

Ông Nguyễn Văn Linh (trích trong Wikipedia - Nguyễn Văn Linh), tên thật là Nguyễn Văn Cúc, chào đời ngày 1/7/1915 tại Hưng Yên. Không thấy nói tŕnh độ giáo dục, nhưng năm 14 tuổi có tham gia Học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên lănh đạo. Ngày 1/5/1930, khi rải truyền đơn chống Pháp th́ bị bắt với án tù chung thân tại trại tù Côn Đảo. Năm 1936, chánh phủ Pháp thay đi lănh đạo và ông được trả tự do. Ông Linh vào đảng cộng sản tại Hải Pḥng.Tháng 12/1986, trong đại hội đảng lần 6, ông Nguyễn Văn Linh giữ chức Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành trung ương. Trong đại hội 7 năm 1991 và đại hội 8 năm 1996, giữ chức Cố Vấn, Ban Chấp Hành trung ương. Ông chết ngày 27/4/1998.

Ông Trần Quang Cơ (trích trong Google.vn). Giữ chức Đại Sứ tại Thái Lan từ tháng 10/1982 đến tháng 10/1986. Giữ chức Thứ Trưởng Ngoại Giao từ tháng 1/1987 đến 1993 ông về hưu.Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao và giới trí thức ở Việt Nam đă chuyền tay nhau tập hồi kư và suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ Trưởng Ngoại Giao. Tập hồi kư 82 trang viết từ năm 2001, hoàn tất tháng 5/2003, nhưng chưa được phép xuất bản. Tác giả cung cấp những tài liệu giá trị về những vấn đề Việt Nam trong giai đoạn nguy khốn nhất về hồ sơ chiến tranh Campuchia, và hồ sơ tái lập bang giao giữa hai nước đàn anh Trung Cộng với đàn em Việt Cộng.

Ngày 9/4/1987, Bộ Chính Trị quyết định thành lập “Tổ Nghiên Cứu Nội Bộ” để t́m giải pháp trong bang giao với Liên Xô- Trung Cộng - Camphuchia. Ông Trần Quang Cơ là một thành viên trong tổ nghiên cứu này. Ngày 20/5/1988, Nghị Quyết 13 nhắm giải quyết vấn đề Campuchia trước năm 1990, và cố gắng tái lập bang giao với Trung Cộng. Ngày 14/3/1989, Bộ Chính Trị quyết định rút hết quân khỏi Campuchia vào cuối tháng 9/1989.

Ngày 13/6/1990, Đại Sứ Trung Cộng tại Việt Nam Từ Đôn Tín, đến gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch và nói:Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí,chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về tái lập bang giao hai nước Trung Quốc-Việt Nam”.

Ngày 29/8/1990, Đại S Trung Cộng Trương Đức Duy gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trao thông điệp của Tổng Thư Giang Trạch Dân, mời các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Cộngvào ngày 3/9/1990, để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia, và vấn đề b́nh thường hoá bang giao giữa Việt Cộng với Trung Cộng.

Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp thảo luận về việc gặp lănh đạo Trung Cộng. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chúng ta cần hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ Nghĩa XăHội và chống đế quốc, đồng thời ḥa hợp giữa PhnomPenh với Khmer đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia”.

Ngày 2/9/1990, Ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có ông Hồng Hà chánh văn pḥng trung ương, ông Hoàng Bích Sơn Trưởng ban đối ngoại, và ông Đinh Nho Liêm Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, nhưng  không có B Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch, v́ cho rằng quan điểm ông Thạch không thích hợp trong cuộc họp này.

Trong hội nghị Thành Đô.

Ngày 3/9/1990. Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lư Bằng của Trung Cộng, đón các vị lănh đạo  Việt Cộng là ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô.

Buổi họp đầu tiên chiều hôm nay 3/9/1990- ông Nguyễn Văn Linh nói đến nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, và đặt trọng tâm vào vấn đề b́nh thường hóa bang giao Việt-Trung.

Ngày 4/9/1990. Buổi sáng tiếp tục họp. Những vấn đề hội nghị thảo luân hầu như đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nên quyết định khởi thảo một bản kỷ yếu của Hội Nghị. Lúc 2 giờ 30 chiều, tại khách sạn Kim Ngưu, lănh đạo hai nước Việt-Trung, do Tổng Bí Thư và Thủ Tướng mỗi bên kư vào bản kỷ yếu của hội nghị, cũng gọi là Biên Bản. Đây là bước ngoặc lịch sử của bang giao hai nước Việt-Trung.

Điều lạ là tác giả hồi kư chỉ cho biết hai bên đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nhưng không một chi tiết nào cho thấy hai bên đạt được những ǵ. Vậy, phải chăng những chi tiết đó thuộc loại tối mật?

Trong cuốn sách “Mao Chủ Tịch của tôi” của tác giả Hà Cẩn, Viện Văn Học Trung Cộng đă được giới thiệu trong “Những sự thật không thể chối bỏ”, có đoạn viết: ”Việt Nam cuối cùng cũng đă xích lại gần hơn nữa với Trung Quốc. Những ǵ thuộc về quan hệ tốt đẹp của hai đảng từ thời Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ Tịch đă được Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn sau chiến tranh biên giới năm 1979. Không có ǵ có lợi hơn cho cả Việt Nam và Trung Quốc khi đứng chung nhau”.

Sau hội nghị Thành Đô.

Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  5 điểm là quan điểm của Trung Cộng giải quyết hồ sơ Campuchia mà lănh đạo Việt Cộng không có quan điểm nào cả. 2 điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có 1 điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Cộng - Trung Cộng mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Cộng đối với Việt Nam, nhưng không thấy nói lập trường cũ là như thế nào. Ông Giang Trạch Giang nhấn mạnh: “Các nước phương Tây rất chú ư tới bang giao của chúng ta. Các đồng chí đến đây, các nước không ai biết. Chúng ta cảnh giác vấn đề này, họ cho rằng Việt Nam xă hội chủ nghĩa với Trung Quốc xă hội chủ nghĩa đều do đảng cộng sản lănh đạo, họ họp nhau làm ǵ đây” V́ vậy, chúng ta giữ kín chuyện này, v́ t́nh h́nh quốc tế hiện nay, nếu để họ biết hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.

Ông Trần Quang Cơ nhận định: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là một sai lầm hết sức đáng tiếc trong bang giao giữa hai nước.

Trong khi đó, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động rất lớn đến ông Nguyễn Văn Linh, và dẫn đến tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách cản ngăn, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc có bành trướng thế nào đi nữa th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Tóm tắt tài liệu. Những sử liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước và bán nước do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những ai thật sự lương thiện đă không theo cộng sản, hoặc nhận thấy cộng sản tồi tệ nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là dối trá là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài của cộng sản. Vậy th́, mỗi chúng ta hăy đem những sự thật này đến với nhân dân Việt Nam, v́ đó là con đường ngắn nhất để cứu nước trước thảm họa đang đến rất gần. Đấu tranh cho dân chủ, trước hết phải lật đổ Việt Cộng.

Trích nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng.

Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, bang giao Trung-Việt bế tắc. Tháng 12/1986, trước t́nh h́nh quốc tế thay đổi, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu tan ră. Tổng Bí ThưNguyễn Văn Linh t́m kiếm chính sách b́nh thường hóa với Trung Quốc.Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ư hội nghị bí mật vào ngày 03-04/9/1990. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười, chấp nhận đàm phán với các nhà lănh đạo Trung Quốc

“Ngày 27/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quan tôi đă báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu B́nh. Cuộc họp này liên quan đến việc b́nh thường hóa bang giao song phương Trung-Việt điều đặc biệt hệ trọng, nên để bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được tổ chức tại Thành Đô.

“Ngày 30/8/1990.Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ đến Thành Đô, để đàm phán nội bộ với Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào.

Với ḍng chữ tôi tô đậm trên đây, rơ ràng là Trung Cộng xem Việt Cộng không ra ǵ cả.

“Ngày 02/9/1990. Lúc 3 giờ 30 chiều, tôi lên chiếc máy bay riêng và cất cánh từ ngoại ô Bắc Kinh. Khoảng 6 giờ chiều đến sân bay Thành Đô, và di chuyn bằng xe đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛). T tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tại đây. Trong khi đồng chí Giang Trạch Dân đáp chiếc bay khác và đến Thành Đô sau tôi. Lúc 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân, trao đi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai.

Thành Đô, ngày 3/9/1990. Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam.Khoảng 2 giờ trưa, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, và Cố Vấn ban chấp hành trung ương đảng Phạm Văn Đồng, cùng đến Kim Ngưu tân quán. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí Thư  Nguyễn Văn Linh, mặc veston màu cà phê, phong thái học giả. Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, mái tóc bạc trắng, cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc.

Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu. Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên đọc bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt.Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ bày tỏ về nguyên tắc, c̣n trọng điểm là b́nh thường hóa bang giao Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ tối, và vào tiệc lúc 8 giờ 30 tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân,tiếp tục làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh”. Ngày 4/9/1990. Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lănh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ratrong đàm phánđă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, cùng quyết định soạn thảo bản "Kỷ yếu hội nghị". 

Với những chữ mà tôi tô đậm có thể làm cho người đọc nghĩ rằng, nội dung đàm phán do Trung Cộng soạn thảo và Việt Cộng chấp nhận nhanh chóng, và Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đạt được mục đích khi ông nói rằng: “ Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”, để phản bác ư kiến các “đồng chí của ông” có ư ngăn cản ông đưa Việt Nam ngă vào ṿng tay Trung Cộng.

(Trong h́nh. Hàng trước, từ trái sang phải: Vị trí số 1 tận cùng bên trái là ông Hoàng Bích Sơn. Vị trí số 3 là ông Phạm Văn Đồng. Số 4 ông Nguyễn Văn Linh. Số 5 ông Giang Trạch Dân. Số 6 ông Lư Bằng. Số 7 ông Đỗ Mười. Và vị trí số 9 tận cùng bên phải là ông Hồng Hà).

“Lúc 2 giờ 30 chiều, trên tầng lầu 1 của nhà khách Kim Ngưu. Tổng Bí Thư và Thủ Tướng của hai bên Trung Quốc với Việt Nam cùng kư. Đây là bước ngoặc lịch sử trong bang giao Trung-Việt. (Hết trích).

Sau ngày hội nghị Thành Đô kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam, rằng: "Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đă dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Quốc".

Một chút so sánh tổng quát giữa hai nhật kư. Trung Cộng mời họp và Việt Nam chấp nhận, đến những diễn biến như địa điểm họp, ngày giờ họp, nội dung họp, soạn thảo Biên Bản mà hội nghị gọi là “kỷ yếu hội nghị”, và hai bên cùng kư, giữa nhật kư của Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ với nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng, đều giống nhau. Nhưng nội dung của Biên Bản th́ nhật kư của ông Lư Bằng chỉ viết: “…. có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng,làm cho người đọc hiểu là lănh đạo Việt Cộng nhanh chóng chấp nhận quan điểm của lănh đạo Trung Cộng, trong khi nhật kư của ông Trần Quang Cơ viết như sau: Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  Năm điểm là quan điểm của Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia. Hai điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có một điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Nam - Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Quốc đối với Việt Nam”. Điểm thứ 8 th́ ông Trần Quang Cơ viết như sau: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầmtrong quan hệgiữa hai nước”.

“Trong bối cảnh Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động đến tư tưởng của ông Nguyễn Văn Linh, tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù trong thời gian chuẩn bị, các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách ngăn cản, nhưng ông Nguyễn Văn Linh vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Tóm tắt tài liệu. Những tài liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước cho Trung Cộng do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những người Việt Nam tử tế đă không theo cộng sản, những người đi theo cộng sản nhưng khi nhận ra cộng sản độc tài tàn bạo nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là độc tài, là dối trá, là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài cộng sản, đến mức ông ta c̣n nói “dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”. Với trọng tâm của Biên Bản Thành Đô, ông Trần Quang Cơ nói là ”hết sức sai lầm” trong bang giao giữa hai nước, trong khi ông Lư Bằng nhấn mạnh là “bước ngoặc lịch sử”.  

Cho dù có phải hay không phải, th́ những sự kiện từ sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay (2017), vẫn là một chuỗi sự thật trên quê hương Việt Nam mà lănh đạo Các Anh không thể phủ nhận, v́ chính họ đă và đang tiếp tay cho Trung Cộng thực hiện:

Số 20. Tội ác đồng lơa trong Ủy Hội Sông Mê Kong. 

Năm 1995, trong hội nghị thành lập Ủy Hội Sông Mê Kong tổ chức trên lănh thổ Trung Cộng dù rằng Trung Cộng không tham gia. Các nước tham dự đă thỏa thuận không phản ứng khi có bất cứ quốc gia nào khai thác ḍng sông Mê Kong. Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là ông Nguyễn Mạnh Cầm, một trong bốn quốc gia hội viên trong hội nghị, mà không một lời tranh đấu cho quyền phản kháng của một quốc gia hạ nguồn, v́ bất cứ một đập nào trên thuợng nguồn cũng ảnh hưởng đến sự sống của người Việt Nam nói chung, và gần 20.000.000 người dân vùng đồng bằng Cửu Long nói riêng. Chẳng lẽ ông ta không biết điều đó? Hay là đă nhận được “lời khuyên” của Trung Cộng?

Trung Cộng không tham gia Ủy Hội Sông Mekong, nhưng đứng ra tổ chức hội nghị. Điều đó cho Các Anh tin rằng, Trung Cộng đă “khuyên” các đại diện tham dự không được thảo luận đến “quyền phản kháng của các nước thành viên”. Và v́không quốc gia nào có quyền phản đối, nên từ năm 2001, Trung Cộng bắt đầu xây dựng một hệ thống đập thủy điện trên phần thượng lưu sông Mê Kông (Trung Cộng gọi là Lạng Thương Giang) mà không tham khảo ư kiến các nước vùng hạ lưu, cũng không thông báo những tin tức về ḍng chảy của con sông này, v́ đâu có quốc gia nào có quyền phản kháng mà họ cần thông báo. Sáu đập lớn đă xong hoặc đang xây dựng, là:

(1) Đập Dacgaoshan, phiên âm là Đại Chiếu Sơn, hoàn thành năm 2003. (2) Đập Manwan, phiên âm là Măn Loan, xong năm 2007. (3) Đập Jinghong, phiên âm là Cảnh Hồng, xong năm 2009. (4) Đập Xiaowan phiên âm là Tiểu Loan, cao 300 thước, xong năm 2010. (5) Đập Nuozhadu, phiên âm là Nọa Trát Độ, cao 248 thước, dự trù xong vào năm 2017. (6) Đập Gonguagao (không thấy phiên âm), dự trù xong vào năm 2020. Ngoài ra, c̣n 9 đập nhỏ cũng đang xây dựng. 

Theo sau Trung Cộng, là Lào với Cam Bốt cũng có 11 dự án xây dựng đập thủy điện trên ḍng sông Mê Kong trong phần lănh thổ của họ. Lào với 9 dự án thủy điện là đập Pak Beng, Luang Prabang, Xayaburi, Pak Lay, Xanakham, Lat Sua, Ban Koum, đập Don Sahong, và đập Pak Chom. Cam Bốt với 2 dự án thủy điện là đập Stung Treng và đập Sambor.

Năm 2012, Tổ chức Ủy Hội Sông Mê Kong nhận định: "Trước mắt, Việt Nam sẽ phải đối mặt với 4 vấn đề sau đây. Về ḍng chảy, ảnh hưởng đến nông nghiệp và ngư nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long do mực nước ngày càng xuống thấp, và nước mặn từ biển xâm nhập vào những sông rạch vùng này sẽ gia tăng. Về phù sa, khoảng 26 triệu tấn phù sa/năm hiện nay sẽ c̣n lại khoảng 7 triệu tấn/năm, dẫn đến suy giảm năng suất nông nghiệp, cùng lúc sẽ gia tăng hiện tượng sạt  lở bờ sông làm giảm dần diện tích đất liền. Về thủy sản, đồng bằng này sẽ thiệt hại khoảng 1 tỷ mỹ kim do tổn thất các loài cá trắng chiếm đến 65% lượng cá trên sông này. Trong khi đó, cá trắng lại là thức ăn của cá đen, chiếm 35% lượng cá c̣n lại, nên sự biến mất của cá trắng, cũng có nghĩa là cá đen cũng biến mất.

Về mặt xă hội, khoảng 14 triệu nông dân và ngư dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp ngư nghiệp, sẽ bị ảnh hưởng nặng".Ủy Hội Sông Mê Kông nhận định tiếp: "Trong 17 đập thủy điện suốt chiều dài sông Mê Kông, không có đập thủy điện nào của Việt Nam, nhưng Việt Nam là quốc gia hạ nguồn gánh chịu mọi thảm họa từ các đập đó. Trong khi các đập thủy điện đó hoạt động sẽ đem lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia chủ nhà, nhưng Việt Nam sẽ mất đến 65% lượng cá, và hơn 100 loài sinh vật sẽ lâm vào cảnh giảm dần cho đến tuyệt chủng. Thiệt hại nông nghiệp do lũ từ những hồ chứa nước đổ xuống, ước tính vào khoảng 5 triệu mỹ kim mỗi năm. Lượng phù sa giảm trên đưới 65%, và nông dân ngư dân sẽ lâm vào t́nh cảnh thảm hại, tự nó sẽ tác động đến vấn đề xă hội".

Nay là năm 2016, người dân đồng bằng sông Cửu Long đang chết dần, v́ nước không lên đồng ruộng nên không thể trồng được lúa, ḍng nước Cửu Long cạn dần nên nước biển tràn sâu vào nội địa các tỉnh ven biển, từ G̣ Công, Mỹ Tho, Bến Tre, xuống Trà Vinh, Vĩnh Long, rồi Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, và ṿng qua Rạch Giá, cá nước ngọt cũng biến mất!

(H́nh của AFP. Vùng đồng bằng Cửu Long bị nước mặn tràn vào. Màu đỏ đậm là nước mặn, màu đỏ hồng là nước lợ)

 

Số 21. Tội ác dâng cho Trung Cộng 789 cây số vuông biên giới.

Bác sĩ Trần Đại Sỹ, lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC). Ngày 9/1/2000 - tức 10 ngày sau ngày kư Hiệp Ước dâng đất biên giới- ông được hai người bạn Trung Hoa đang là kư giả cho ông biết chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đă thuộc về Trung Cộng. Về mặt chính quyền, bộ Ngoại Giao Việt Cộng đă lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên internet mà Các Anh gọi là mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lănh thổ Việt Nam khởi từ Cây Số KHÔNG ở phía bắc”. Ông nói thêm: “Cây Số Không bây giờ lui vào nội địa Việt Nam 5 cây số”.

Năm 1999, tặng 789 cây số vuông biên giới. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội có bài viết như một lời than từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, rằng: “... Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lănh đạo Vit Nam thông báo trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng cộng sản vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đă thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”. Rồi ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? V́ sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa? Cho dù Trung Hoa có 1 tỉ 300 triệu dân, nhưng đâu phải họ thiếu đất cho dân ở đến nỗi Việt Nam phải chia cho họ 1 cây số vuông?” .....

Ông chợt nhớ đến cụ Đỗ Việt Sơn ngót 80 tuổi đời mà trong đó gần 60 tuổi đảng, cụ Sơn đă dơng dạc đề nghị không thông qua bản Hiệp Định biên giới Việt Nam-Trung Hoa, để rồi cụ phải chịu bao nhiêu sách nhiễu răn đe hỗn xược của Công An. Ông Giang cũng nhớ đến Bùi Minh Quốc! Là nhà văn nhà thơ, thiên chức đó thôi thúc Bùi Minh Quốc không thể bàng quan, không thể nín lặng, anh đă lặng lẽ làm một cuộc hành tŕnh dọc biên giới phía Bắc, nơi mà hiệp định đă cắt một phần biên giới cho Trung Hoa, để rồi anh bị quản chế giam hảm tại nhà. Lại đến nhà xă hội học Trần Khuê, cũng chung số phận hẩm hiu như Bùi Minh Quốc. Ông Giang khẳng định: “Trung Hoa là người láng giềng, sông liền sông núi liền núi, nhân dân hai nước sáng sớm cùng chung nghe tiếng gà gáy ó o, khi tắt lửa tối đèn cùng sống với nhau trong thân bằng quyến thuộc, nhưng Trung Hoa chưa bao giờ là người láng giềng tử tế cả, không chỉ không tử tế đối với Việt Nam chúng ta mà đối với các quốc gia lân bang cũng vậy ...”

Vậy là Ải Nam Quan từ trong lịch sử của chúng ta đă mất vào tay Trung Cộng! Nhưng nỗi đau của người dân Việt chúng ta là mất đất trong ḥa b́nh, mất đất trong cái gọi là 16 chữ vàng mà lănh đạo của Các Anh luôn rao giảng trong quân đội và buộc Các Anh phải tôn trọng”. 

Số 22. Tội ác bán biển trong vịnh Bằc Việt 2000.

Sau khi lấn chiếm biên giới xong, Trung Cộng xoay qua Vịnh Bắc Việt. Ngày 31/12/1999. ông Tang Jiaxuan, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng sang Hà Nội gặp riêng Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu bàn về biên giới trên Vịnh Bắc Việt. Ngày 25/2/2000, Lê Khả Phiêu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh cho biết là (lănh đạo Việt Cộng) đồng ư sẽ giao thêm phần biển trên Vịnh Bắc Việt. Từ đó đến ngày 25/12/2000 -sau nhiều lần thảo luận giữa hai quốc gia cộng sản- Chủ Tịch Trần Đức Lương sang Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và hai bên cùng kư Hiệp Ước. Theo đó, lănh đạo Việt Cộng bán một phần Vịnh Bắc Việt cho lănh đạo Trung Cộng với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và lănh đạo Trung Cộng trả cho lănh đạo Việt Cộng qua h́nh thức đầu tư.

Những ǵ mà tôi ghi chép lại trong Thư này, đều là sự thật trước mắt Các Anh. Tôi mong Các Anh hăy b́nh tâm mà suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính ḿnh chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản, và nhận định thảm họa đối với cuộc sống của toàn dân, trong đó có Các Anh và gia đ́nh Các Anh!

Hăy nghe Lư Bằng nói với Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân ngày 26/12/2000 như sau: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua một phần Vịnh Bắc Việt là hợp lư”. Lư Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đă giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, ... của Việt Nam”.

Vậy là Trung Cộng đă chiếm đoạt 789 cây số vuông trên biên giới, và 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt mà Trung Cộng không tốn một mạng người, không tốn một viên đạn, không tốn một giọt xăng dầu, cũng không nhỏ một giọt mồ hôi, họ chỉ cần nhón 3 ngón tay cầm cây viết kư vào bản Hiệp Ước là xong.

Số 23. Tội ác cho Trung Cộng nắm giữ nơi eo thắt của Việt Nam.

XXXNăm 2006, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng,cấp phép chocông ty Formosa khai thác khu kỹ nghệ Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh. Thành lập tháng 4/2006 trên diện tích 22.781 mẫu tây, bao gồm 9 xă thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh. Toàn bộ dự án sẽ tiếp nhận 30.400 lao động, và bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động & Thương Binh Xă Hội, xác nhận số công nhân Trung Cộng tại đây là 10.000 người.. Dự án Formosa với khu gang thép và hải cảng Sơn Dương trên một qui mô lớn. Với vốn đầu tư trong giai đoạn 1 lên đến 7 tỷ 900 triệu mỹ kim, với công suất 7.500.000 tân thép/năm. Giai đoạn 2, vốn đầu tư lên đến 28 tỷ mỹ kim, với công suất 22.500.000 tấn/năm. Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải -nguời Việt gốc Tàu- đă ưu đăi cho phép họ được xây nhà để bán cho 15.000 công nhân X 4 mỗi gia đ́nh, cộng chung lên đến 60.000 người. Họ cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, lại được miễn giấy tờ nhập cảnh mà chỉ cần giấy chứng nhận của tỉnh Hà Tỉnh là đủ.

Khu kinh tế Vũng Áng, là một trong những vị trí chiến lược về mặt  quân sự, v́ lănh thổ Việt Nam với dạng h́nh cong chữ S theo chiều bắc nam khoảng 1.500 cây số tính theo đường chim bay, hai đầu ph́nh ra và eo thắt ở giữa. Bề ngang lănh thổ theo chiều Đông Tây: Nơi rộng nhất của Miền Bắc khoảng 600 cây số, từ A-pa-chài đến Móng Cái. Miền Nam rộng nhất khoảng 370 cây số từ Hàm Tân đến Hà Tiên. Nơi eo thắt ở Miền Trung là Đồng Hới, từ bờ biển vào đến biên giới Việt-Lào chỉ có 37 cây số. Đă eo thắt, lại là vùng núi non hiểm trở, nên người dân chỉ sinh sống trên dăi đất hẹp dọc theo bờ biển. Tại đây c̣n có hải cảng Sơn Dương phía nam Vũng Áng, vị trí này cùng vĩ tuyến 18 với cảng Tam Á phần cuối đảo Hải Namnơi có hạm đội nguyên tử của Trung Cộng. Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay chân phía bắc đèo Ngang, nơi có quốc lộ 1A với đường đèo và đường hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương trên 16m, và sau khi xây đoạn đê dài 3.000m từ Mũi Ṛn đến Ḥn Sơn Dương để chắn gió, th́ hải cảng này có giá trị về quân sự lẫn kinh tế. V́ vậy, cảng Sơn Dương là vị trí chiến lược trên đất liền lẫn đường hàng hải ra vào vịnh Bắc Việt, kiểm soát đường biển và đường bộ từ Miền Nam và Miền Trung tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam.

Ngày 4/4/2016, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, 36 tuổi, khi lặn xuống biển “săn” cá, đă nh́n thấy một đường ống xả các chất thải rất lớn sâu dưới mặt biển. Đường ống này được chôn dưới đáy biển, phủ phía trên là một lớp đất cùng nhiều đá hộc, chiều dài của đường ống khoảng 1 cây số rưỡi, và đường kính 1 thước 10 phân. Một đầu của đường ống nối từ khu vực dự án Formosa, đầu kia nối liền với 3 đoạn đường ống nhỏ, mỗi đoạn dài khoảng 2 thước, với đường kính khoảng 40 phân. Lúc tôi nh́n thấyđường ống này đang phun nước rất mạnh. Nước phun từ đường ống ra có màu vàng đục, nhừa nhựa, rất hôi thúi, làm cho tôi cảm thấy như nghẹt thở”.

.Ngày 6/4/2916, vùng biển khu kinh tế VũngÁng bỗng dưng cá chếttrôi dạt vào bờ trắng xóa dọc băi biển Hà Tĩnh, rồi băi biển Quảng B́nh ngày  10/4/2016, đến băi biển Quảng Trị và Thừa Thiên ngày 19/4/2016,như một thảm họa của loài cá sống ở đáy biển, cũng là thảm họa của người dân 4 tỉnh này -nhất là ngư dân- rất lo ngại về sự sống của họ, bởi trọng lượng cá chết đă vớt lên khoảng 30 tấn trong những ngày đầu tiên.

Ngày 21/4/2016, ông Phạm Khánh Ly, Vụ Phó Vụ Nuôi Trồng Thủy Sản/Tổng Cục Thủy Sản, trả lời phỏng vấn, rằng: "Với tư cách là cơ quan quản lư hàng dọc, chúng tôi đến làm việc với Sở Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn tỉnh Hà Tĩnh, được xác nhậnlà"Đoàn công tác không vào kiểm tra khu Vũng Áng được, v́ đây là Khu kỹ Nghệcó yếu tố nước ngoài, nên cần thành lập đoàn công tác liên ngành, nhưng phải có lệnh của Thủ Tướng mới tiến hành kiểm tra được"  Ông cũng xác nhận là có một ngư dân Hà Tĩnh tŕnh báo là đă nh́n thấy một đường ống rất có thể là hệ thống xả nước thải từ khu gang thép Formosa ra biển

Vậy mà, hai tuần sau đó, Tổng Bí Thư Việt Cộng là ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm công ty Formosa, ông ta hết lời ca tụng những thành công của công ty này tại địa phương và trên toàn quốc. Ông Trọng không đến thăm một người dân, cũng không xem một tấc biển đầy cá chết, thậm chí không một lời nào nói về thảm họa này! Có những lúc tôi dừng tay viết, tôi nghĩ: “Không biết cái ông Trọng này có phải là người Việt Nam hay không, mà lại vô cảm đến như vậy? Rôi tôi nhớ lại và tự mĩa mai ḿnh, v́ “lănh đạo Việt Cộng làm quái ǵ có trái tim máu đỏ, mà là họ chỉ có trái tim với ḍng màu đen thủi đen thui thôi, mà khi ḍng máu đen luân lưu trong người họ th́ họ chỉ có hận thù với những ai không phải là Việt Cộng, thậm chí khi đă là Việt Cộng với nhau, họ vẫn thù hận nhau, nêu không cùng phe theo Tàu, không cùng nhóm lợi ích”. 

Nay là giữa năm 2017, lănh đạo Việt Cộng vẫn chưa giải quyết ổn thỏa cho ngư dân trong vùng đang vô cùng khốn khổ, kể cả 500.000.000 mỹ kim do công ty Formosa đă bồi thường từ ngày 28/6/2016. V́ vậy mà những cuộc biểu t́nh mạnh mẽ phản đối Formosa có lúc lên đến hơn ngàn người tham gia, thậm chí đ̣i lănh đạo Việt Cộng hủy hợp đồng với công ty này. Vậy mà lănh đạo Các Anh không hề lên tiếng về yêu cầu của người dân biểu t́nh, trong khi lặng lẽ cho ŕnh rập và dùng mọi mánh khóe để sách nhiễu những người mà họ cho là xách động biểu t́nh.  

Số 24.Tội ác cho Trung Cộng khai thác bô-xít Tây Nguyên 2007

Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng đă kư Quyết Định số 167/2007, về thăm ḍ khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than & Khoáng Sản quốc doanh Việt Nam thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác.

Dự án này sẽ khai thác tại Nhân Cơ tỉnh Đắc Nông và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng, tổng mức đầu tư ước tính đến năm 2019 sẽ từ 190.000 đến 250.000 tỷ đồng. Trong dự án cần xây đoạn đường sắt dài 270 cây số để vận chuyển hang xuống cảng Kê Gà ở B́nh Thuận.

Ngày 10/3/2009 (TuanVietNamNet online)., Thiếu Tướng Việt Cộng Nguyễn Trọng Vĩnh trả lời báo chí:“Cha ông ta từ xưa đă nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên th́ coi như đă làm chủ được Việt Nam và Đông Dương.Sau này người Pháp, người Mỹ, và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng:“Đây là nóc nhà của Đông Dương”. Vùng đất này là ngă ba Đông Dương, cho nên khi chiếm được khu vực này th́ cũng dể dàng chiếm được 3 nước Đông Dương”.

Ngày 3/4/2009 (Đối thoại online). Thiếu Tướng Công An Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến Lược & Khoa Học Bộ Công An, phân tách về địa thế của Tây Nguyên như sau: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đă có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đă thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và họ đă làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngă ba Đông Dương).Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia.

Trang Bauxite online ngày 26/9/2010,ông Dương Danh Hy, cựu Tổng Lănh Sự Việt Nam tại Trung Cộng, nhắc đến bài báo trích đăng của Giáo sư Bùi Huy Hùng, Viện Khoa Học Năng Lượng, nhận định rằng:  “Hiện nay có đến 90% dự án nhiệt điện do Trung Quốc thắng thầu, sẽ dẫn đến sự phụ thuộc có nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có tai nạn xảy ra, v́ khi đó chúng ta có cái ǵ làm đối trọng với họ”.

Tác động đối với nguồn điện năng. Việc khai thác bauxite sử dụng rất lớn điện năng, gây trầm trọng thêm sự thiếu điện hiện nay, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và các ngành kinh tế khác.

Tác động đối với môi trường sinh thái. Về mặt môi trường với lượng nhôm sản xuất hàng năm từ năm 2015, mỗi năm hai dự án này thải ra khoảng 10.000.000 tấn bùn đỏ, và hết đời của dự án này là thải ra 1 tỷ 500 triệu tấn, như những quả bom bùn treo trên cao đối với thượng nguồn đồng bằng miền Nam và miền Trung. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thường xuyên có những trận mưa rất lớn, nước vẫn có thể tràn qua đập, cuốn theo nó những chất thải độc hại xuống những vùng đất, sông, suối ở hạ du, gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng. Theo báo VnExpress, th́ "Thà đền tiền đầu tư c̣n hơn làm mà lúc nào cũng lo sợ thảm họa xảy ra." 

Ngày 16/6/2016, hồ chứa titan của công ty CP đầu tư khoáng sản & thương mại tại xă Thuận Quư, quận Hàm Thuận Nam, tỉnh B́nh Thuận, bị vỡ, nước cuốn theo bùn đỏ ra đường nhựa chung quanh. Nhiều nhân chứng nh́n thấy ḍng nước bùn đỏ chảy rất mạnh, kéo 3 xe gắn máy trôi theo nhưng người lái xe đă nhanh chân thoát được. Báo Tuổi Trẻ ghi nhận bùn đỏ tràn lan khắp nơi dọc theo ḍng chảy của nó, tràn vào nhà dân, biến các hồ ao quanh nhà dân trở thành màu đỏ nhầy nhụa. Nước bùn đỏ chảy từ phía trong công ty cuốn theo nhiều vật dụng khai thác bằng kim loại nằm ngổn ngang trên đường. Một trụ điện phía trong công ty bị ngă đổ. Lượng bùn đóng trên mặt đường ngập đến đầu gối.

Do lượng bùn đỏ đổ ra quá lớn, tràn sang các khu rừng thông và đi vào nhiều resort đang được xây dựng tại khu vực giáp ranh giữa huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết. Nước bùn đỏ chảy từ công ty hầu hết là tràn nhiều đường nhựa và đổ thẳng ra phía biển. Đây mới là một trong thảm họa đáng kể đối với người dân đang sống chung quanh công ty, và sống dọc theo con đường mà mỗi khi bùn đỏ tràn ra là nó chảy dọc theo con đường ra hướn biển!   

 

Số 25. Tội ác để Trung Cộng giành chủ quyền Biển Đông. 

Năm 2009, Trung Cộng trưng ra tấm bản đồ Biển Đông cóvẽ “đường lưỡi ḅ” -cũng gọi là h́nh chữ U- để giành chủ quyền hơn 80% diện tích biển này. Đến đầu năm 2010, Trung Cộng lên tiếng lưu ư Hoa Kỳ rằng, Biển Đông thuộc lợi ích cốt lơi của họ, và họ quyết định sẽ điều động hàng không mẫu hạm đến vùng này để bảo vệ quyền lợi của họ. Năm 2011, Philipines đệ đơn kiện Trung Cộng tại ṭa án trọng tài quốc tế, nhưng Việt Nam khước từ lời kêu gọi của Philipines cùng tham gia vụ kiện.

Ngày 18/10/2011. Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tự hỏi trong sự hoảng hốt: “Mất nước rồi ư?” Rồi Cô tự trả lời: “Có lẽ thế thật!.Bởi trong lịch sử 1.000 năm trước dân tộc này không thể bị đồng hóa bằng h́nh thức xâm lấn, thống trị… th́ nay đă có những h́nh thức ngoại giao tinh vi hơn, buộc cả dân tộc phải tự đồng hóa ḿnh, phải cam chịu v́ lép vế, đớn hèn im lặng, chấp nhận cúi đầu mà quên đi truyền thống quật cường của cha ông để lại. Có lẽ thế thật. V́ nếu không, thì tại sao Trung Cộng ngang nhiên phủ nhận đặc quyền khai thác dầu khí của Việt Nam trên thềm lục địa nước Việt trong khi ông Nguyễn Phú Trọng đang thăm viếng Bắc Kinh?”

Kết luận.

Những ǵ mà tôi ghi chép lại trong 3 Thư trước cũng như trong Thư này, đều là sự thật trước mắt Các Anh, là tài liệu mà tôi trích ra từ trang bách khoa toàn thư Wikipedia, từ trang Google.vn tin tức, từ những bài trên một số trang blog, và từ những tác giả trong nước lẫn hải ngoại. Tôi mong Các Anh hăy đọc với một trạng thái tâm hồn thật b́nh thản, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính Các Anh chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản, và nhận định thảm họa đối với cuộc sống của toàn dân, trong đó có Các Anh và gia đ́nh Các Anh! Thời gian c̣n lại quá ngắn Các Anh à! Chỉ 3 năm nữa thôi!

Có khi nào Các Anh nghĩ đến năm 2020 th́ Việt Nam sẽ ra sao không?  Các Anh hăy đọc hai đoạn văn ngắn này: (1)Ngày 4/3/2017, bài viết “Trên Dường Hán Hóa” của Kư Thiệt, như sau: “Theo tài liệu tối mật về Hội Nghị Thành Đô năm 1990, chỉ c̣n 3 năm nữa th́ Việt Nam trở thành 1 tỉnh nhỏ của Trung Cộng. Từ khi những bí mật của Thành Đô bị phơi bày ra ánh sáng, th́ mọi người Việt Nam đều kinh hăi và bàn tán rất nhiều trong dân gian, về việc lănh đạo Việt Cộng lén lút kư tên giao nước Việt Nam cho Trung Cộng, mà miệng của họ vẫn chối lia lịa. Nhiều sử gia trong nước cũng như tại hải ngoại nhận định rằng: “Tội bán nước của Việt Cộng là sự thật ít nhất cũng đến 90%”. Quí vị hăy kiểm lại những sự kiện trong thực tế 30 năm qua, sẽ nhận ra điều này. Nếu 94 triệu dân trong nước không đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước, th́ năm 2020, người dân sẽ ra sao? (2)ngày 6/3/2017 với bài viết “Khi Trở Thành Khu Tự Trị Của Trung Cộng” của Giáo sư Trần Đ́nh Sử, và là nhà giáo nhân dân, th́ việc ǵ xảy ra: “Trước hết, tên nước Việt Nam bị xóa mất. Tiếp theo là dân Tàu tràn sang nước ta. Chữ Hán sẽ là ngôn ngữ chánh, văn hóa Việt, tiếng Việt, sẽ biến mất theo thời gian. Người Việt sẽ bị di dời tản mác trên lănh thổ mênh mông của Tàu, và dân số sẽ giảm dần, dù dăi đất h́nh cong chữ S vẫn c̣n đó!”

Đây là lời của đại văn hào Victor Hugo: “Chủ nghĩa cộng sản là giấc mơ của vài người, nhưng là cơn ác mộng của nhân loại!

Thêm lời vị cao tăng của Tây Tạng là Đức Đạt Lại Lạt Ma rằng:  “Người cộng sản làm cách mạng không phải đem hạnh phúc cho người dân, mà họ làm cách mạng là buộc người dân đem hạnh phúc đến cho họ”.

Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Lính Chúng Tôi- sẽ hết ḷng ủng hộ Các Anh và quí vị đồng bào, những thành phần làm nên lịch sử.

Và Các Anh đừng bao giờ quên rằng: “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và chính chúng ta phải tranh đấu, v́ Dân Chủ Tự Do không phải là quà tặng.

                                                            Houtson, tháng 7 năm 2017

          

 

           

Phm Bá Hoa: Thư gi Người Lính QĐND VN