báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                           


Xin giới thiệu một số bài của Vĩnh Tường qua youtube cho quí vị có thời gian nghe tiện hơn thời gian đọc


Video Chết Dưới Tay Trung Quốc #1 =>#4 - Sách Hay của Peter W Navarro và Greg Autry

Phạm Bá Hoa
 

Tóm lược

tội ác của lănh đạo Việt Cộng 1945-2019.

 

******

 

Tổng quát.

Tôi tin rằng, không phải một vài trăm hay một vài triệu người, mà là hằng tỷ người trên thế giới đều biết đến tội ác của cộng sản đối với nhân loại nói chung, và dân tộc Việt Nam nói riêng. Tội ác như thế nào? Nội dung này chỉ là sự cố gắng dựng lại một góc nhỏ “chân dung tội ác” của ông Hồ Chí Minh, và tiếp nối bởi các nhóm lănh đạo Việt Cộng đàn em của ông, từ bản chất độc tài toàn trị, họ tạo ra tội ác để buộc người dân đem hạnh phúc lại cho họ, như nhận định của Đức Đạt Lại Lạt Ma của Tây Tạng.

Xin mời đọc nhận định về tội ác của cộng sản từ một vài giới lănh đạo chính trị trên thế giới, lănh đạo tôn giáo, và nhà văn:

Ông George W. Bush, Tổng Thống Hoa Kỳ. Ngày 12/6/2007, chủ tọa lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial) tại Washington DC, trong diễn văn có đoạn: “… Từ nay, oan hồn của  khoảng 100 triệu nạn nhân cộng sản, được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ, v́ chế độ cộng sản đă lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội”.

Tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản), có đoạn: “... Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị.... Sau đó, sự đàn áp thường ngày,sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai... những kư ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong t́nh trạng sợ hăi. Các quốc gia cộng sản đều trong qui luật này”. 

Tác giả Rudolph J. Rummel: Trong quyển “Death by Government” (Chết do chánh phủ), cung cấp vài con số nạn nhân bị chánh phủ của họ giết chết: (1) Liên Sô 61.911.000 người. (2) Cộng sảnTrung Hoa 35.236.000 người. (3) Quân phiệt Nhật 5.964.000 người. (4) Khmer đỏ 2.035.000 người. (5) Thổ Nhĩ Kỳ 1.883.000 người. (6) Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người. (7) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người. (8) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.

Ông Mikhail Gorbachev, Tổng Bí Thư cuối cùng của đảng cộng sản Liên Sô, cũng là Chủ Tịch Cộng Sản QuốcTế: “Tôi đă bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lư tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo”. 

Ông Boris Yeltsin, Tổng Thống đầu tiên của Cộng Ḥa Liên Bang Nga: “Anh có thể xây ngai vàng bằng lưỡi lê, nhưng anh không thể ngồi lâu trên đó. Cộng Sản là không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”

Ông Medvedev, khi là Tổng Thống Cộng Ḥa Liên Bang Nga: “... Chế độ cầm quyền ở Liên Xô khi trước, không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị...”.

Bà Angela Merkel, Thủ Tướng Cộng Ḥa Liên Bang Đức: “Cộng sản đă làm cho người dân trở thành gian dối.”

Đức Đạt Lại Lạt Ma:  “Người cộng sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà người cộng sàn làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc đến cho họ”.

*****

 

Nguồn gốc của tội ác 1922-1932 (Source: Ông Tôn Thất Thiện. Ottawa, 2004)

Đệ Tam Quốc Tế do ông Lenin thành lập năm 1919 sau khi cướp chánh quyền ở Nga. Năm 1920, đại hội quốc tế cộng sản quy định 21 điều kiện cho các đảng cộng sản hội viên. Ủy Ban Chấp Hành Đệ Tam Quốc Tế (ECCI), từ 10 đến 12 ủy viên, mỗi đảng lớn được hai ghế, các đảng nhỏ chỉ có quyền tham khảo chớ không có ghế. Liên Xô đương nhiên chiếm 5 ghế, cùng với chức Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành, v́ Liên Xô là quốc gia tiếp nhận tổ chức. Trên Ủy Ban Chấp Hành là một Chủ Tịch Đoàn, và Chủ Tịch của Chủ Tịch Đoàn có quyền hạn rộng lớn mà ông Lenin nắm giữ từ năm 1920 đến năm 1924, sau đó là ông Stalin. Dưới đây là 7 Điêu, liên quan trực tiếp đến các đảng hội viên:    (Lenin 1920-1924)

Điều 9. “Liên hệ giữa các đảng hội viên với các cơ quan trung ương của Đệ Tam Quốc Tế, theo nguyên tắc thống nhất và kỹ luật vô sản. ECCI là cấp trên, các đảng hội viên là cấp dưới. ECCI có quyền đ̣i một đảng hội viên trục xuất một nhóm, hay một đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc trục xuất một đảng vi phạm quyết định của Đại Hội Đệ Tam Quốc Tế”. 

Điều 12: "Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ".

Điều 15: "Các đảng phải lập chương tŕnh thích ứng với điều kiện của nước, và đúng với những quyết nghị của Đệ Tam Quốc Tế".

Điều 16: "Tất cả quyết nghị của các đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng hội viên thi hành".

Điều 17: “Các đảng hội viên, chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, v́ Đệ Tam Quốc Tế không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất".

   (Stalin 1924-1952)

Điều 21. “Đảng hội viên nào phủ nhận các điều kiện và Cương Lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế, sẽ bị loại khỏi Đệ Tam Quốc Tế”.

Điều 30: “Các cán bộ lănh đạo của một đảng hội viên chỉ được từ chức nếu được phép của ECCI, sự chấp thuận của Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương của Đảng đó không đủ. Để kiểm soát chặt chẽ, thỉnh thoảng Đệ Tam Quốc Tế gởi phái viên đến dự đại hội của các đảng hội viên”.

Ông Lênin giải thích rằng, Đệ Tam Quốc Tế là "một đội quân vô sản quốc tế" mà nhiệm vụ là "thực hiện cách mạng vô sản quốc tế, thiết lập một Cộng Ḥa Sô Viết Quốc Tế".

40 năm sau đó, trong đại hội cộng sản quốc tế tháng 11/1960, lănh đạo Đệ Tam Quốc Tế là ông Khrushchev (Nga) tuyên bố: “Khi một đảng cộng sản tham gia vào cộng sản quốc tế -tức Liên Sô- phải chấp nhận Liên Sô là quốc gia số một -tức lănh đạo- Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”.                         (Khrushchev 1952-1962)

Tháng 1/1961, khi đến thăm thủ đô Austria (Áo quốc), ông Khroutchev trả lời báo chí, trong đó có câu“Đời vắn quá, không biết tôi c̣n sống để vui mừng khi cộng sản quốc tế thống trị thế giới này hay không?”

*****

 

Nguyễn Tất Thành rời Việt Nam năm 1911 sang Pháp dưới tên Văn Ba. 

Tháng 12/1912, ông sang Hoa Kỳ với tên Paul Tất Thành.

Cuối năm 1913, ông sang nước Anh làm nghề cào tuyết.

Cuối năm 1917, ông trở lại Pháp làm nghề chụp h́nh. Từ năm 1919, ông dùng tên Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1920, ông dự đại hội đảng Xă Hội Pháp, và sau đó ông là thành viên trong nhóm sáng lập đảng cộng sản Pháp. Từ đó, ông là người cộng sản.

Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc sang Nga dự đại hội Quốc Tế Cộng Sản lần 4, nhờ vậy mà ông được gặp ông Lenine, và từ đó ông trở thành thành viên trong Ban Đông Nam Á của Quốc Tế Cộng Sản.

Tháng 6/1923, ông vào học trường đại học Lao Động Cộng Sản Phương Đông, đào tạo về chủ nghĩa Marx, về tuyên truyền, và khởi nghĩa vơ trang.

Năm 1924, trong đại hội lần thứ 5 Quốc Tế Cộng Sản, ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.

Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu với tên Lư Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chánh phủ Liên Xô bên cạnh chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch.

Ngày 3/2/1930, ông Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hong Kong. Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc dưới tên Tống Văn Sơ, bị nhà cầm quyền Hong Kong bắt giam.

Ngày 9/8/1932, báo L Humanite của Pháp loan tin: “Nguyễn Ái Quốc đă chết v́ bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù Hong Kong, đồng thời tố cáo thực dân Pháp cùng với thực dân Anh ám sát người lănh đạo của đảng cộng sản Đông Dương”. Sau đó, có những nguồn tin cho rằng sự kiện đó chỉ là ngụy trang, v́ ông Nguyễn Ái Quốc vẫn c̣n sống…..Nhưng không có tài liệu nào phủ nhận hay xác nhận bản tin bên dưới nói rằng Nguyễn Ái Quốc đă chết. Thôi th́, cho dù lănh đạo Việt Cộng là Nguyễn Ái Quốc c̣n sống, hay đă chết và có người bí mật thay thế Nguyễn Ái Quốc, th́ ông Hồ Chí Minh và tiếp nối bởi các nhóm lănh đạo Việt Cộng gây ra vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam. (Source: Wikipedia)

Source: <DanLamBao>. Một văn kiện quan trọng của đảng cộng sản thừa nhận rằng nhận vật Nguyễn Ái Quốc đă bị ám sát vào giữa năm 1932 tại Hồng Kông. Sự kiện này được viết rất rơ trong tập 4, văn kiện đảng toàn tập, tại bài “kỷ niệm ba năm ngày thành lập đảng cộng sản Đông Dương”: “Đảng Cộng Sản Đông Dương vừa được thống nhất vào đêm trước của cuộc băi công có tính chất khởi nghĩa của các phu đồn điền Phú Riềng, bởi ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ, dưới sự lănh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc đă bị ám sát vào giữa năm 1932 trong nhà tù địa ngục của Hồng Công”.

Tác giả đă viết ra văn kiện trên là ông Hà Huy Tập, Tổng Bí Thư đời thứ 3 của đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 1937-1938. Đến năm 1941, ông Hà Huy Tập bị Pháp bắt và bị xử bắn. Tài liệu này đang trong kho lưu trữ trung ương đảng và được <website báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam>  đăng tải ngày 10/6/2003. Trang web <dangcongsan.vn> là cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Tổng biên tập tờ báo này là ông Đào Ngọc Dũng, sinh năm 1956, cựu uỷ viên ban biên tập báo Nhân Dân.

Thử đi t́m sự thật, “Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương -cũng là Hồ Quang- gốc Tàu? Dưới đây là năm nguồn tin có kết luận giống nhau:

Nguồn tin 1. Giáo Sư Sử Học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan, Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, người dân tộc Hẹ, sinh năm 1901 tại Đài Loan, trong cùng một gia tộc với tác giả quyển Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo. Giáo Sư Hồ Tuấn Hùng xác nhận, theo các tài liệu trong văn khố của nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong, Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động tại Hong Kong) sau khi bị Cảnh Sát Hong Kong bắt giữ năm 1931, đă được chữa trị bệnh lao phổi trâm trọng trong một bệnh viện bài lao, và đă chết năm 1932. Nguyễn Tất Thành đă mắc bệnh lao phổi lúc ở Paris (1917-1923). Về mặt y học, bệnh lao phổi vào thập niên 1930 không chữa trị được v́ phương Tây chưa có thuốc trụ sinh Streptomycin. Măi đến ngày 19/10/1943, Sinh Viên Cao Học Albert Schatz, thành viên một nhóm nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dưới quyền điều khiến của Bác Sĩ Selman Abraham Waksman, mới khám phá ra thuốc Streptomycin. Đên năm 1946, thuốc Steptomycin mới được đem ra thí nghiêm trên lâm sàng đế chữa trị bệnh lao phối.

Nguồn tin 2. Căn cứ một bài viết của Huỳnh Tâm tựa đề “đảng cộng sản Việt Nam”. Theo đó th́  phiên bản Của T́nh Báo Trung Cộng đăng trên <Blog danlambaovn>, một số tài liệu của T́nh Báo Trung Cộng hiện c̣n lưu trữ tại hai cơ quan T́nh Báo ở Hoa Nam và Bắc Kinh đă dược giải mă. Các tài liệu đă giải mă, đặc biệt là Sổ Tay của Đặng B́nh Ánh (DBA), xác nhận nhân vật đă được đảng cộng sản Trung Hoa gởi đến căn cứ Pác Bó năm 1940 là Hồ Tâp Chương mang bí danh Hồ chí Minh từ năm 1932. Hồ Tập Chương là một điệp viên của Trung Cộng có năng khiếu về tinh báo và biết nói nhiều thứ tiếng: Hẹ, Quảng Đông, Quan Thoại, Nhựt, Nga, Pháp, và Việt Nam. Tuy nhiên, Hồ Tập Chương viết và nói tiếng Việt và tiếng Pháp c̣n nhiều sai lầm v́ mới học. Tiếng Hẹ có âm thanh gần giống tiếng Việt và tiếng Quảng Đông. Nếu so sánh chữ viết trên lá đơn đề ngày 11/9/1911 của Nguyễn Tất Thành xin nhập học Trường Thuộc Địa của Pháp với chữ viết của Hồ Chí Minh trên nhiều văn bản, nhứt là bản di chúc của ông ta, mọi người đều nhận thấy có một sự khác biệt nổi bật. Viết tiếng Việt không rành, Hồ Chí Minh cầm bút sắt hay bút bi như cách viết chữ Hán (cầm bút lông).

Tác giả Huỳnh Tâm c̣n phát hiện một tài liệu hiện c̣n lưu trữ tại Học Viện Quân Sự T́nh Báo Bắc Kinh ghi rơ như sau: ‘’Hồ Tập Chương thay mặt đảng cộng sản Đông Dương tham dự quốc khánh của Trung Cộng ngày 1/10/1950 đă tuyên bố như sau: ‘’Từ ngày có đảng ta khai hóa được nhược tiểu chư hầu Việt Nam đến với trào lưu nghĩa vụ cộng sản quốc tế, nay kính dâng lên đảng tùy nghi sử dụng cơ sở cộng sản Đông Dương. Mao Chủ Tịch muôn năm’’.

Nguồn tin 3. Trung Cộng  chánh thức xác định Chủ Tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Thiếu Tá Hồ Quang, của quân đội Trung Cộng, từng phục vụ trong Đệ Bát Lộ Quân đồn trú và hoạt động tại Tỉnh Quảng Tây.

Nguồn tin 4. Năm 2015, Cục Văn Thư và Lưu trữ của nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, xác nhận Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Thiếu Tá Hồ Quang của quân đội Trung Cộng.

Nguồn tin 5. Trong một bài viết tháng 1/1949 với tựa đề ‘’Đảng ta’’ dưới bút danh Trần Thắng Lợi, Hồ Chí Minh đă viết như sau: ‘’Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong số 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi -tức Hồ chí Minh- nay chỉ c̣n đồng chí Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đ́nh Cữu, đồng chí Tán Anh (Lê tán Anh) và vài đồng chí nữa đă oanh liệt hy sinh cho đảng và cho dân tộc lâu trước cách mạng tháng 8’’. Bài viết nầy đă được đăng trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 (source: Wikipedia)

Tóm tắt. Đảng cộng sản Việt Nam là một Chi Bộ của Đệ Tam Quốc Tế, và phải thi hành lệnh của tổ chức này thực hiện mục tiêu của ông Lenin - Stalin, là “thiết lập một Cộng Ḥa Sô Viết trên toàn thế giới”. Từ khi Trung Cộng chiếm Trung Hoa lục địa năm 1949, th́ đảng cộng sản Việt Nam trở thành đàn em của Trung Cộng. Cho dù Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương (cũng là Hồ Quang) gốc Tàu, th́ tội ác mà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam -cũng gọi là Việt Cộng- gây ra cho dân tộc Việt Nam và tổ quốc Việt Nam là không thể nào chối căi.   

*****

Tội ác của lănh đạo Việt Cộng trong hơn 70 năm qua không thể nào sưu tầm đến mức khả dĩ cho là đủ, bởi những ǵ mà tôi sưu tầm được và tổng hợp trong tập tài liệu này, chỉ là những tội ác mà tôi nghĩ là rất nhiều người đă biết, nhưng chưa hẳn đă rơ. Tôi tin chắc rằng, c̣n vô số tội ác của lănh đạo Việt Cộng (cộng sản Việt Nam) c̣n trong trí nhớ của rất nhiều người nhưng không có cơ hội truyền đạt đến những độc giả thính giả muốn biết, v́ lịch sử phải là sự thật và do chính những người trong cuộc của từng tội ác truyền đạt bằng lời viết, lời nói. Từ đó, những nhà viết sử sẽ sưu tầm, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những ḍng sử qua từng giai đoạn của đất mước.

Tài liệu mà tôi trích dẫn từ trong Wikipedia, từ các tác giả, cũng như trên báo chí xă hội chủ nghĩa, có tin xác thực, cũng có tin cần kiểm chứng lại nếu có cơ hội. Nhưng, dù sao th́ tập tài liệu này cũng gợi lại cho quí độc giả đôi điều suy nghĩ về tội ác của lănh đạo Việt Cộng. Bởi, một xă hội tôn trọng con người, tôn trọng đạo nghĩa, luôn thích ứng với khoa học kỹ thuật trên đường phát triển từ tháng 4/1975 về trước, mà nay trở thành một xă hội suy đồi đạo đức, con người trở nên vô cảm, dối trá, và dối trá đến mức trở thành sự thật trong cuộc sống ngày nay trên quê hương Việt Nam. Bởi, Bộ Chính Trị sử dụng hệ thống giáo dục xă hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến nay (2019) vẫn tiếp tục đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, v́ vậy mà xă hội không có những thế hệ công dân để xây dựng và phát triển quốc gia theo nguyện vọng người dân.

Thảm trạng này vẫn chưa thấy “ánh sáng cuối đường hầm”, trong khi theo nội dung Biên Bản hội nghị Thành Đô ngày 4/9/1990, chỉ c̣n một 2 năm nữa là đến thời hạn lănh đạo Việt Cộng sẽ sáp nhập nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam vào Trung Cộng dưới tên gọi “Việt Nam tự trị”. Cho dù lănh đạo Việt Cộng có phản bác cách nào đi nữa, th́ những sự thật về tội ác 1945 -1990 là họ thi hành lệnh Đệ Tam Quốc Tế biến Việt Nam thành quốc gia vô sản trong một thế giới vô sản, và tội ác 1990-2019 cho thấy lănh đạo Việt Cộng chuẩn bị nhẹ nhàng êm thấm theo khuôn vàng thước ngọc 16 chữ vàng là "n định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”, do Chủ Tịch Trung Cộng Giang Trạch Dân đề ra cho Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu. Rơ ràng, đây là sự xác định tư tưởng chỉ đạo của Trung Cộng mà Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu vui mừng đón nhận, và “16 chữ vàng” có ghi trong Bản Tuyên Bố Chung hồi tháng 2 năm 1999. 

Tháng 11/2000, khi ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư mới của Việt Cộng sang thăm Trung Cộng, ông Giang Trạch Dân lập lại 16 chữ vàng là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước”, và ông Mạnh vui vẽ chấp nhận.

Ngày 19/7/2005, khi hội kiến với ông Ôn Gia Bảo, Thủ Tướng Quốc Vụ Viện Trung Cộng, Chủ Tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương khẳng định rằng: “Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức ḿnh để thực hiện phương châm 16 chữ và quan hệ 4 tốt”. (hết trích)

Vậy là, lănh đạo Trung Cộng giăng ra cái bẫy, và lănh đạo Việt Cộng vui vẽ chui vào đó để được Trung Cộng gọi là đúng hướng. Và mỗi khi họ thấy sai hướng, th́ họ vội vàng bay sang Hà Nội dạy cho Việt Cộng bài học đúng hướng. 

******

Và đây là chuỗi tội ác đó.

Số 1. Tội ác tuần lễ vàng 1945. (source: Tác giả Trần Gia Phụng)

Ông Hồ Chí Minh và đàn em của ông cướp chánh quyền từ Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam Trần Trọng Kim, và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa ngày 2/9/1945. Ngày hôm sau, ông  t́m cách kiếm tiền từ trong người dân, v́ ngân hàng quốc gia chỉ c̣n 1.250.000 đồng tiền Đông Dương mà một nửa rách nát không c̣n giá trị. Vơ Nguyên Giáp được giao trách nhiệm tổ chức “Quỹ Độc Lập” với sắc lệnh số 4/SL ngày 4/9/1945. Nội dung sắc lệnh này kêu gọi người dân trong cả nước quyên góp ủng hộ chánh phủ. Ông Đỗ Đ́nh Thiện trách nhiệm gây quỹ tại Hà Nội, tại các tỉnh do lănh đạo địa phương trách nhiệm.      

Ngày 7/9/1945, phát động “tuần lễ vàng” với lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh nhẹ nhàng nhưng không kém phần thống thiết, như đang cầu xin người dân ủng hộ tổ chức Việt Minh -chữ tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội- che giấu cái tên Cộng Sản mà ông ta mang từ Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản trên đất Nga trở về. Theo dự trù, tuần lễ vàng thực hiện từ ngày 7 đến 14/9/1945, nhưng thật ra đă kéo dài trong nhiều tháng và được người dân hưởng ứng đóng góp, có người lột cả bông tai ủng hộ tại chỗ.                                      (Vơ Nguyên Giáp)

Tổng kết tuần lễ vàng: “Thu được 370 kilô vàng và 20 triệu đồng, tương đương với tổng số thuế thân và thuế điền thu được trên toàn quốc trong một năm dưới thời Pháp thuộc.” (Trích trong bài Tuần Lễ Vàng của tác giả Trần Gia Phụng)

Tóm tắt. Với “tuần lễ vàng, ông Hồ Chí Minh kêu gọi ḷng hảo tâm của những nhà giàu với lời lẽ hết sức nhẹ nhàng, khẩn thiết, và được người dân từ nghèo đến giàu ủng hộ. Nhưng, chính v́ ḷng tốt của người dân nghe lời ông Hồ mà ủng hộ đến 370 kí lô vàng và khối tiền rất lớn, lại giúp Hồ Chí Minh có đủ tên tuổi và tài sản của những người mà sau đó ông ta ghép vào các thành phần đem ra đấu tố đến chết trong Cải Cách Ruộng Đất năm 1953-1956, và toàn bộ tài sản đều bị Việt Minh cộng sản tịch thu.

     

Số 2. Tội ác “giết lầm hơn thả lầm” 1945-1946. 

Chiến tranh giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản âm ỉ từ khi quân Pháp tái chiếm Việt Nam, và chánh thức bắt đầu từ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Trong những năm đầu của cuộc chiến giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản, quân du kích của ông Hồ tại miền Nam đă giết oan hằng trăm ngàn người với cái tội “Việt gian” mà nạn nhân không hiểu tại sao ḿnh lại bị gắn cho cái tội đó! Tội này có nghĩa là người Việt Nam làm tay sai cho thực dân Pháp. Tội là thế, mà cách xử tội thật vô cùng tàn nhẫn, họ xem con người như những con vật khi họ thực hiện lệnh “thà giết lầm hơn tha lầm”, đă gây bao oan ức đối với người dân nói chung và người bị gắn tội nói riêng.

Lúc ấy tôi vào tuổi 15, nhận lời làm thư kư cho ông Đại Đội Trưởng du kích tại Nha Mân, tỉnh Sa Đéc, một tỉnh trong vùng đồng bằng Cửu Long mà người dân Sài thường gọi một cách thân thương là Miền Tây. Sở dĩ tôi nhận lời là để Ba Má tôi và anh em chúng tôi được ông cho vào ở trong gian nhà khá rộng trong thời gian chạy giặc Tây ở khoảng giữa rạch Bà Thiên với rạch Cầu Xoay. Tôi gọi ông là “chú Tư Tiếp”.  Chú Tư không biết chữ. Đại Đội này cử người theo bảo vệ cán bộ trên quận xuống, lập nhiều trạm gác dọc theo sông Nha Mân từ ngoài chợ vào đến xă Ḥa Tân trong ngọn. Trạm gác đầu tiên là bờ sông cạnh nhà máy xay lúa tại Rạch Bà Thiên, cách chợ Nha Mân khoảng 500 thước, lúc ấy tại chợ Nha Mân có cái “đồn” do lính da đen gạch mặt trấn giữ. Từ trạm gác này, tôi chứng kiến nhiều lần mấy chú du kích kiểm soát, bắt người, và đem đi đâu đó giết chết thả trôi trên sông Nha Mân!                       

Điển h́nh là một lần, Chú Tư Đại Đội Trưởng Du Kích bảo tôi đến trạm kiểm soát này quan sát và báo cáo. Và chuyện như thế này:

“Tất cả xuồng ghe qua lại trên sông Nha Mân này đều bị kêu vào bờ kiểm soát. Trong tất cả những ǵ trên ghe xuồng và trên cơ thể những người đi trên đó mà du kích khám xét, cho dù có bao nhiêu màu sắc không cần biết, nhưng chỉ cần có 3 màu xanh, màu trắng, màu đỏ trong số đó cho dù 3 màu đó không liền nhau trên mảnh vải hay mảnh giấy là bị kết tội Việt Gian, bị trói ngay tại chỗ, và vài hôm sau th́ mất tích! Ba màu xanh trắng đỏ nếu may liền nhau theo đúng vị trí và đúng kích thước là quốc kỳ của Pháp. Thế nhưng mấy chú du kích không biết chữ hoặc ít học, nên cứ thấy 3 màu xanh trắng đỏ th́ cho là dấu hiệu liên lạc với quân Pháp, liền kết tội Việt Gian và bắt trói. Ch́ vài ngày sau là xác trồi lên từ dưới đáy sông!

Chỉ riêng tại Nha Mân -cũng là xă Tân Nhuận Đông- mà như vậy, th́ cả nước nói chung và tại miền Nam nói riêng có biết bao nhiêu người chết tức tưởi như vậy! Trong những năm đầu của chiến tranh (từ tháng 8/1945), thường ngày có quá nhiều xác người trôi trên những sông rạch miền Nam nói chung và sông Nha Mân nói riêng, nhiều đến nỗi không ai dám ăn tôm tép nữa v́ loại này háu rỉa thịt người! Có những xác trôi riêng rẻ, có những xác bị cột chung vào một cây tre! Tiếng lóng mà người dân thường dùng để chỉ những xác trôi lềnh bềnh đó là “ṃ tôm”, ẩn nghĩa của nó là những người bị Việt Minh cộng sản bắt giết và ném ch́m dưới sông, vài ngày sau nổi lên trên mặt sông bị ánh nắng biến phần trên xác người thành màu đen sậm, và phần dưới mặt nước với màu trắng bệt!

 

Số 3. Tội ác diệt trừ văn hóa Việt (source: Wikipedia báo Tiếng Dội 24/8/1951)

 Tờ nhật báo Tiếng Dội số 462, năm thứ 3, ngày Thứ Sáu 24/8/1951, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, ṭa soạn trên đường Gia Long Saigon, có bài viết “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Cộng”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do ông Trường Chinh kư tên, như sau :                                     (Trường Chinh)

Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa

Tổng Thư Kư Đảng Lao Động Việt Nam

Số 284/LĐ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

Hởi đồng bào thân mến,

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước chư hầu của Trung Hoa bao nhiêu năm rồi, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng tư bản?

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Pháp Alexandre de Rhodes đă đem qua xứ ḿnh?

Không, đồng bào của ta nên loại bỏ cách viết theo lối Âu Tây ấy, dù cách viết rơ ràng có mau thật đấy, để ta hăy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Hoa. Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta mà có lẽ là Thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nh́n nhận như thế, có phải đó là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? C̣n nói ǵ đến y khoa của Âu Mỹ, chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo, có thế thôi.

Hởi đồng bào yêu mến.

Chúng ta hăy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn đế quốc phương Tây đem qua xứ ta. Ta hăy bỏ nhà bảo sanh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hăy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hăy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa hoc, phát minh v.v…Ta hăy quét sạch lũ “trí thức” đă xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc, và thực dân.

Chúc tổng phản công và thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân.

Trường Chinh, Tổng thư kư đảng Lao Động

Số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum, London).

 

Số 4. Tội ác trong cải cách ruộng đất 1953-1956. (Source: Nguyễn Quang Duy & Wikipedia)

Thư số 2, ngày 31/10/1952

kính gởi Đồng chí Stalin thân mến,

“Xin gửi Ngài chương tŕnh “Cải Cách Ruộng Đất” của đảng Lao Động Việt Nam. Chương tŕnh hành động được lập bởi chính tôi, dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, và đồng chí Văn Sha San. Đề nghị Ngài xem xét và cho chỉ dẫn”.

 


Gửi lời chào cộng sản. Hồ Chí Minh (kư tên).

 Xin chú ư: Bên trái là Thư Hồ Chí Minh xin nhập học trường thuộc địa tại Pháp ngày 15/9/1911. Bên phải là Thư Hồ Chí Minh ngày 31/10/1952 gởi cho Nga xin duyệt xét cải cách ruộng đất.

Hai thư với nét chữ viết và chữ kư khác nhau hoàn toàn.

 Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất trên lănh thổ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, với mục đích xóa bỏ văn hóa truyền thống mà ông Hồ gọi là “văn hóa phong kiến”, tiêu diệt các thành phần mà ông Hồ gắn cho những cái tên “bóc lột, phản quốc, và phản động”, để lập nền chuyên chính vô sản, và đưa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tiến lên chủ nghĩa xă hội, theo Bản Tuyên Ngôn đảng cộng sản mà ông Karl Marx đă  tuyên bố: “Cách mạng ruộng đất là điều kiện giải phóng dân tộc”.

Tháng 11/1953, Quốc Hội thông qua dự luật “Cải Cách Ruộng Đất” và ban hành ngày 19/12/1953. Ông Hồ Chí Minh tuyên bố: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lư, hợp t́nh, chẳng những làm cho cố nông, bần nông, trung nông có ruộng cày, đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng bào địa chủ”.

Ngay sau đó là thành lập Ban lănh đạo trung ương, gồm:

- Trưởng Ban Chỉ Đạo: Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng.

- Trưởng Ban Chỉ Đạo thí điểm Thái Nguyên: Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành trung ương đảng.

- Trưởng Ban Chỉ Đạo thí điểm Thanh Hóa + Nghệ An + Hà Tĩnh: Lê Văn Lương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành trung ương đảng

- Giám Đốc trực tiếp điều hành chiến dịch: Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành trung ương đảng.

Thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất qua 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1, huấn luyện cán bộ. Cán bộ đảng Lao Động -tức đảng Cộng Sản- tham gia cải cách ruộng đất phải học khóa Chỉnh Huấn 1953, và một số được đưa sang huấn luyện tại Trung Cộng, trong mục đích giúp cán bộ nắm vững đường lối của đảng cộng sản trong cải cách ruộng đất, theo quan điểm bốn thành phần “trí, phú, địa, hào, phải đào tận gốc trốc tận rễ”. Tổng số cán bộ đưa vào công tác là 48.818 người.

Sau đó, các Đội Cán Bộ cải cách ruộng đất, phải vào các làng xă “cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm” với các bần cố nông trong làng xă đó, để kết nạp họ thành "rễ", thành "cành" của Đội.

Giai đoạn 2, phân loại thành phần. Đội Cải cách Ruộng Đất sau khi ra mắt làng xă, là xúc tiến công tác phân loại tất cả gia đ́nh trong xă theo 5 thành phần:

Một là địa chủ.

Hai phú nông.

Ba là trung nông cứng, nếu làm chủ 1 con ḅ, 1 con heo, 1 đàn gà. Đến trung nông vừa, nếu làm chủ 1 con heo và 1 đàn gà. Sau cùng là trung nông yếu, nếu chỉ có 1 đàn gà hay không có ǵ cả.

Bốn bần nông.

Năm cố nông.

Gia đ́nh nào có 2 con heo có thể gọi là phú nông. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5% dân số tại mỗi xă. Nếu chưa đủ tỷ lệ, các Đội Cải Cách phải bằng mọi cách để đôn lên thành phần địa chủ cho đủ tỷ lệ 5% là một quy định bắt buộc. Các gia đ́nh bị xếp vào thành phần địa chủ, Đội Cải Cách phải lọc ra 3 thành phần nhỏ, là: Địa chủ gian ác. Địa chủ thường. Và địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Khi bị xếp vào thành phần địa chủ gian ác, Đội Cải Cách bắt giam ngay lập tức.

Giai đoạn 3, học tập đấu tố. Các bần nông, cố nông, rễ, và cành, sẽ học “lớp đấu tố” do Đội Cải Cách giảng dạy. Qua đó, học viên biết cách nhận dạng các tội ác của địa chủ, và được khuyến khích nhớ ra tội ác của từng địa chủ đă bóc lột họ như thế nào. Du kích và cán bộ cải cách ruộng đất t́m bắt các gia đ́nh địa chủ, nếu cần, phải vào thành phố lùng bắt địa chủ và con cái của họ, cho dù họ đang là cán bộ hay công nhân viên chức nhà nước.

Giai đoạn 4, công khai đấu tố. Các buổi đấu tố thường tổ chức vào ban đêm. Số người tham gia đấu tố, được huy động từ vài trăm đến hằng ngàn người. Thời gian đấu tố, từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông bước ra kể tội địa chủ đă bóc lột họ như thế nào. Tại các tỉnh có tổ chức cải cách ruộng đất, đảng Lao Động -tức đảng cộng sản- cho ra tờ báo lấy tên là Lá Rừng”, ám chỉ địa chủ nhiều như lá rừng. Tờ báo có nhiệm vụ tường thuật chi tiết các vụ đấu tố. Sau khi bị đấu tố, các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ ṭa án nhân dân xét xử. Gia đ́nh và thân nhân người bị đấu tố bị cô lập, bị bỏ đói, bị phân biệt đối xử, và nhục h́nh.

Và giai đoạn 5, xử án địa chủ. Tại các huyện, một ṭa án nhân dân đặc biệt được lập ra, xuống các xă xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, th́ những người bị án tử h́nh th́ ngay lúc ấy, Đội T V Xă thi hành án trước mặt mọi người. Những người không bị xử bắn, th́ bị cô lập trong các làng xă cho đến chết.

Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Hoa, chiến dịch được mở rộng tại 3.341 xă thuộc 15 tỉnh miền Trung và miền Bắc, và thực hiện nhanh hơn để thu ngắn thời gian. Từ đó, chiến dịch càng lên cao điểm càng mất kiểm soát dẫn đến t́nh trạng vô chính phủ. Đám đông dân chúng được dịp trả thù địa chủ trở nên kích động mạnh, tố cáo hỗn loạn gây nhiều oan sai và cô lập, đối xử nhục h́nh với gia đ́nh người bị đấu tố. Hơn 70% người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông là quy sai. Có trường hợp là cán bộ, đảng viên cũng bị dân chúng đấu tố. Điển h́nh là:

Trường hợp tử h́nh bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Hanh Long ở Hải Pḥng, mẹ nuôi của Lê Đức Anh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, có một con trai là trung đoàn trưởng một trung đoàn của quân đội nhân dân Việt Nam. Trong "Tuần Lễ Vàng", gia đ́nh bà cũng đă hiến 100 lạng vàng. Nhưng đoàn cán bộ trong cải cách ruộng đất đă biến những hành động yêu nước của Nguyễn Thị Năm bị cho là "giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại."Và bà bị lên án với tội danh "tư sản địa chủ cường hào gian ác" ngang qua bài viết "Địa chủ ác ghê" của C.B. trên báo Nhân Dân ngày 21/7/1953, kể tội bà là "Làm chết 32 gia đ́nh gồm có 200 người + giết chết 14 nông dân + tra tấn đánh đập hằng chục nông dân...". Cũng theo đó, bà Nguyễn Thị Năm đă "thông đồng với Pháp và Nhật để phá hoại kháng chiến". Bà bị bắn chết ngày 9/7/1953 tại Đồng Bấm tỉnh Thái Nguyên.

Tổng số cán bộ và đảng viên từng bị chỉnh đốn là 84.000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt bị coi là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu h́nh phạt nặng. T́nh h́nh chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn. Số cán bộ lănh đạo các cấp này bị xử lư oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội dự chỉnh đốn đều bị xử tử.

Trường hợp Thiếu Tướng Vương Thừa Vũ, Tư lệnh Đại Đoàn 308, nguyên Tư Lệnh Mặt Trận Hà Nội năm 1946, Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Hà Nội, bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội v́ có người đấu tố ông là "địa chủ, xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rơ ràng". 

Các cháu nội của Cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là trung đội trưởng, nhà nghèo, 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ và bị tù một thời gian.

Phó Bảng Đặng Văn Hưởng, Bộ Trưởng phụ trách Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh của chánh phủ, bị dân chúng đấu tố v́ cho rằng ông từng làm quan cho triều Nguyễn, và chết tại quê nhà Diễn Châu. 

Hoàng Giáp Thượng Thư Nguyễn Khắc Niệm,  cha của nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, cũng bị dân đấu tố v́ từng làm quan to cho triều Nguyễn, bị giam trong chuồng nuôi hươu, phải ăn cơm thiu và chết tại quê nhà ở Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Tổng kết chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất.    

Đă tịch thu của địa chủ:

(1) 148.565 ngôi nhà.

(2) 810.000 mẫu ruộng.

(3) 106.448 trâu ḅ, và 1.846.000 nông cụ.

Số nạn nhân. Theo bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” do Viện Kinh Tế Việt Nam ấn hành tại Hà Nội năm 2004, số nạn nhân bị đấu tố là 172.008 người bị ghép vào các thành phần:

(1) 26.453 người là địa chủ cường hào gian ác.

 (2) 82.777 người là địa chủ thường.

(3) 586 người là địa chủ kháng chiến.

(4) Và 62.192 người là phú nông.

Trong tổng số 172.008 nạn nhân, số nguời bị oan chiếm đến 123.266 người, hay là 71.6%. Con số về tổng số nạn nhân trên đây, chưa tính đến thân nhân thân quyến của họ cũng bị cô lập và phân biệt đối xử.

Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, đă phân chia 810.000 mẫu đất canh tác cho 2.000.000 gia đ́nh nông dân ở đồng bằng và trung du, tức khoảng 72,8% gia đ́nh nông dân. Tuy nhiên, quyền tư hữu ruộng đất của nông dân chỉ tạm thời, năm 1958 th́ trung ương đảng quyết định tập thể hóa toàn bộ theo kế hoạch phát triển nông thôn. Đến Hiến Pháp1959, thiết lập quyền sở hữu tập thể. Và Hiến Pháp 1980, th́ quyền tư hữu của nông dân hoàn toàn biến mất, và nhà nước nắm quyền sở hữu ruộng đất trên toàn cơi Việt Nam.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Loan, trong một buổi phỏng vấn nhà thơ nổi tiếng với bài “Màu Tím Hoa Sim”, Nguyễn Hữu Loan đă đề cập tới tội ác của Hồ Chí Minh, kẻ đă phát động chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất theo lệnh của quốc tế cộng sản, đă giết hằng ngàn người dân vô tội ở miền Bắc: “Nó phát động đấu tố cha mẹ, gọi bố mẹ là tao mầy. Thế th́ tôi chống cái đấy, và tôi đi trở lại với cái đạo làm người. Tôi thấy Hồ Chi Minh làm cái việc vô đạo, mà tôi dám chửi trước đại hội. Rồi trong một buổi tập họp để tôn vinh Hồ Chí Minh, tôn vinh đạo đức Hồ Chí Minh ầm ĩ, ai đội ông Hồ Chí Minh coi như ông thánh trên đầu họ, c̣n tôi, tôi thấy thằng này là thằng mất đạo đức, bởi v́ nó phát động chiến dịch cải cách ruộng đất để đấu tố bố mẹ. Tôi cho thằng này là thằng mất dạy, không c̣n giống người nữa, nhưng mà không ai dám nói ǵ cả”.

Tóm tắt.

Điểm 1. Cải Cách Ruộng Đất đă giết người theo tỷ lệ 5% tại mỗi xă, trong tổng số nông dân tại 3.341 xă cải cách, nếu không đủ tỷ lệ, phải đôn từ thành phần không bị giết lên thành phần bị giết. Ḍng lịch sử Việt Nam từ thời dựng nước, chưa bao giờ người dân bị giết dă man như vậy.

Điểm 2. Tịch thu đất của người bị giết, phân chia cho nông dân với quyền sở hữu tư nhân, rồi tập trung vào hợp tác xă trở thành quyền sở hữu tập thể, sau cùng th́ quyền sở hữu ruộng đất vào tay nhà nước.

Điểm 3. Thực hiện một xă hội vô sản đúng theo điều lệ của cộng sản quốc tế, nên đă đấu tố giết luôn những viên chức cao cấp trong bộ máy cầm quyền.   

Luật Cải Cách Ruộng Đất dẫn đến giết người quá dă man mà ông Hồ Chí Minh lại nói là chí nhân chí nghĩa hợp lư hợp t́nh, hóa ra con người ông Hồ sau khi học xong trường trường đại học Lao Động Cộng Sản Phương Đông tại Liên Xô, đào tạo về chủ nghĩa Marx, về tuyên truyền, và khởi nghĩa vơ trang, xem ra tội ác của ông không biết phải viết như thế nào để diễn tả hết những góc cạnh của tội ác, v́ luật này giết người theo tỷ lệ 5% căn cứ theo dân số tại mỗi xă Cải Cách Ruộng Đất!

Giữa năm 1951 khi sống tại Sài G̣n, có người bạn cho tôi đọc bản dịch của tác giả người Pháp, nghiên cứu đời sống nông dân tại các vùng nông thôn miền Bắc. Một cách tổng quát th́ mỗi xă có 5% người giàu chiếm giữ 90% tài sản, trong khi 95% người nghèo chỉ chiếm giữ 10% tài sản. Rất có thể trong chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất, ông Hồ Chí Minh căn cứ theo đó để giết người theo tỷ lệ 5% chăng? V́ tôi chưa t́m thấy tài liệu nào cho biết tỷ lệ giết người này căn cứ vào đâu. Nhưng, cho dù biết không biết tỷ lệ giết người từ đâu ra, nhưng chủ trương của ông Hồ Chí Minh ra lệnh giết người  trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 là vô cùng tàn nhẫn, vô cùng khiếp đảm!  

Số 5. Tội ác dẫn đến cuộc chạy trốn cộng sản 1954. (Source: Ngô Đ́nh Châu)

Giáo sư Lê Xuân Khoa nhận định rằng: “Chương tŕnh Cải Cách Ruộng Đất là một trong ba nguyên nhân chính, dẫn đến cuộc chay trốn vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư hồi năm 1954”.

Hiệp Định Đ́nh Chiến ngày 20/7/1954 tại Geneve, Thụy Sĩ, chia Việt Nam thành hai quốc gia:

Từ vĩ tuyến 17 trở lên cực bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa theo chế độ cộng sản độc tài.

Từ vĩ tuyến 17 trở xuống cực nam là nước Việt Nam Cộng Ḥa theo chế độ dân chủ tự do.

Sau khi Hiệp Định có hiệu lực, hàng hàng lớp lớp người dân dưới chế độ cộng sản đổ về Hà Nội và Hải Pḥng, t́m một chỗ trên máy bay hoặc trên tàu vận tải biển để thoát khỏi xă hội chủ nghĩa.

Giám sát thi hành Hiệp Định là một Ủy Hội Quốc Tế có đại diện của Ấn Độ + Ba Lan + Canada. Đại diện Canada là ông Sherwood Lett cho biết tổng số nhân viên trong Ủy Hội có 120 quân nhân + 29 nhân viên dân sự. Theo tài liệu th́ phái đoàn Canada đă tŕnh Ủy Hội 3 điểm:

Một. Việt Minh đă vi phạm nặng nề điều 14 của Hiệp Định là đàn áp và ngăn cản việc di cư vào Nam của người dân miền Phát Diệm, Trà Lư, Ba Làng, Lưu Mỹ, Thuận Nghĩa, Xă Đoài. Đại diện Canada trong Ủy Hội phản đối và lên án hành động này.

Hai. Việt Minh tố cáo đồng bào miền Bắc bị cưỡng bách di cư vào Nam. Canada cho điều này là hoàn toàn vô căn cứ, v́ đại diện Canada đă tiếp xúc hơn 25.000 người trong các trại di cư trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, không một người nào ngỏ ư muốn được trở về miền Bắc cả.

 Ba. Canada tố cáo đích danh nhân viên Ấn Độ và Ba Lan đă thiếu vô tư và thiên vị Việt Minh cộng sản. (trích trong lá thư Canada của Trà Lũ, do chiensitudo chuyển ngày 12/6/2017)

Đường biển. Với các tàu vận tải của Pháp, Hoa Kỳ, Ba Lan, Đài Loan, và các quốc gia đồng minh trợ giúp, chuyên chở được 655.037 đồng bào chạy trốn cộng sản. Chuyến tàu cuối cùng cặp bến Sài G̣n ngày 16/8/1955.

Đường hàng không. Nối phi trường Tân Sơn Nhứt ở Sài G̣n, với phi trường Gia Lâm và Bạch Mai ngoại ô Hà Nội, và phi trường Cát Bi của Hải Pḥng. Trong thời gian này, phi cảng Tân Sơn Nhất thường xuyên đông nghẹt, v́ mỗi ngày có từ 2.000 đến 4.200 người rời khỏi phần đất cộng sản di tản vào Sài G̣n. Số người chạy trốn cộng sản bằng đường hàng không là 213.635 đồng bào.

Tổng cộng số người được chuyên chở bằng đường hàng không và đường biển vào Việt Nam Cộng Ḥa là 868.672 người, được chánh phủ và đồng bào đón tiếp định cư những vùng đất ph́ nhiêu tại 319 làng: 

- Cái Sắn, Rạch Giá, cho nông dân canh tác ruộng rẫy hoa màu.

- Dọc theo bờ biển B́nh Tuy và đảo Phú Quốc cho ngư dân quen sống với nghề đánh cá.

- Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai, cho dân khai thác lâm sản và thủ công đồ gỗ.

- Vùng đất đỏ ba-dan cao nguyên Ban Mê Thuột, cho dân trồng cây kỹ nghệ.

- Sài G̣n và vùng phụ cận, cho dân kinh doanh sản xuất và dịch vụ.

Từ năm 1954 đến năm 1956, có 102.861 đồng bào trốn khỏi phần đất cộng sản đến phần đất tự do bằng tàu đánh cá dọc theo duyên hải, hoặc băng rừng vượt suối dọc theo dăy Trường Sơn. Như vậy, tổng cộng số đồng bào chạy trốn cộng sản từ đất Bắc, và vào đến Việt Nam Cộng Ḥa lên đến 971.533 người.  

Tóm tắt. Qua chiến dịch cải cách ruộng đất, người dân nhận rơ bản chất dă man của ông Hồ Chí Minh khi ông ra lệnh giết người theo tỷ lệ, v́ vậy mà gần một triệu đồng bào hoảng hốt bỏ lại tài sản cùng mồ mả ông bà, để thoát khỏi cái chế độ Việt Minh cộng sản độc tài tàn bạo, và đồng bào cũng nhận ra quyết định của ḿnh là đúng, khi được đón tiếp định cư tại những vùng đất thích hợp với nghề nghiệp trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Với h́nh ảnh cuộc di cư này là chứng tích rơ ràng “cuộc bỏ phiếu bằng chân” của gần một triệu đồng bào chọn lựa chế độ chính trị để được sống một cuộc đời đáng sống trong “chế độ dân chủ tự do”. Và chắc chắn rằng, không có người nào từ Việt Nam Cộng Ḥa chạy sang nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa để sống ở đó, ngoại trừ quân lính chánh quy của Việt Minh cộng sản. 

 

Số 6. Tội ác vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1955-1956. (Source: Phong trào NVGP trong Wikipedia)

Nhân Văn và Giai Phẩm là một Phong Trào. Cơ quan ngôn luận của phong trào là tờ Nhân Văn, chuyên về văn hóa, xă hội, do ông Phan Khôi làm chủ nhiệm, Trần Duy làm thư kư ṭa soạn. Bên cạnh đó là tờ Giai Phẩm.

Phong Trào với những cây bút là nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ, và trí thức, như:

(1) Thụy An. (2) Đào Duy Anh. (3) Trần Thiếu Bảo. (4) Thanh B́nh. (5) Nguyễn Bính. (6) Hoàng Cầm. (7) Văn Cao. (8) Trần Công (9) Phùng Cung.

(10) Trần Dần. (11) Đỗ Đức Dục. (12) Quang Dũng. (13) Trần Duy. (14) Lê Đạt. (15) Nguyễn Hữu Đang. (16) Hoàng Huế. (17) Cao Xuân Huy. (18) Đặng Đ́nh Hưng. (19) Hoàng Công Khanh.

(20) Phan Khôi. (21) Yến Lan. (22) Hoàng Tích Linh. (23) Nguyễn Thành Long. (24) Hữu Loan. (25) Như Mai. (26) Vĩnh Mai. (27) Sỹ Ngọc. (28) Hoàng Tố Nguyên. (29) Tử Phác.

(30) Bùi Xuân Phái. (31) Huy Phương. (32) Phùng Quán. (33) Lê Đại Thanh. (34) Trần Đức Thảo. (35) Trần Thịnh. (36) Hữu Thung. (37) Nguyễn Tuân. (38) Nguyễn Mạnh Tường. (39) Trương Tữu. (40) Nguyễn Văn Tư. (41) Trần Lê Văn. (42) Và Phan Vũ.  Tháng 1/1956,Giai phẩm Mùa Xuân” đăng bài Nhất Định Thắng của Trần Dần. Tác giả dựng lại chân dung đời sống xă hội chủ nghĩa trong những ngày đầu đất nước chia đôi, v́ vậy mà tác giả bị kếhế độ, với những câu thơ sau đây:Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ thấy mưa sa, trên màu cờ đỏ”.

Bán nguyệt san Nhân Văn trong số ra mắt ngày 20/9/1956, bài "Chúng tôi phỏng vấn về vấn đề mở rộng tự do và dân chủ". Người được phỏng vấn đầu tiên là luật sư Nguyễn Mạnh Tường. Ông nêu hai nguyên nhân dẫn đến xă hội không dân chủ: (1) Đảng thi hành chính sách thiếu tinh thần dân chủ, chẳng những xa ĺa quần chúng mà c̣n đối lập với quần chúng. (2) Yêu cầu trung ương đảng và chính phủ bảo đảm sự thi hành triệt để các tự do dân chủ. Nhân Văn số 3 ra ngày 15/10/1956, có bài của Trần Đức Thảo, nói về mở rộng dân chủ phát triển phê b́nh trong nhân dân. Trần Duy cũng góp tiếng nói đấu tranh cho tự do dân chủ trong Nhân văn số 4 ấn hành tháng 11/1956.

Ngày 15/12/1956, lănh đạo Việt Cộng (tức cộng sản Việt Nam) ra lệnh đóng cửa hai tạp chí Nhân Văn và Giai Phẩm. Từ lúc bắt đầu đến khi bị đóng cửa,  Nhân Văn chỉ n hành được 5 số, và Giai Phẩm chỉ 4 s.

Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo luận về "Nghị Quyết của 800 văn nghệ sĩ", tiếp theo Nghị Quyết của Hội Liên Hiệp. Cuối tháng 6 đu tháng 7/1958, để thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đă tham gia Phong Trào, Hội Nhà Văn, Hội Mỹ Thuật, và Hội Nhạc Sĩ, quyết định:

(1) Khai trừ ra khỏi Hội là: Phan Khôi. Trương Tửu. Thụy An. Trần Duy. Hoàng Cầm. Phùng Quán. Trần Dần. Lê Đạt. Tử Phác. Và Đặng Đ́nh Hưng.

(2) Khai trừ ra khỏi Ban Chấp Hành, là: Sĩ Ngọc. Nguyễn Sáng. Văn Cao. Nguyễn Văn Tư. Hoàng Cầm. Và Hoàng Tích Linh.

(3) Năm người tội nặng chờ ngày ra ṭa.

Tháng 1/1960, ṭa án Nhân Dân Hà Nội xử vụ án mà báo chí nhà nước gắn cho cái tội “gián điệp có tổ chức. Chánh án Nguyễn Xuân Dương, tuyên án:

Nguyễn Hữu Đang, 15 năm giam.

Lưu Thị Yến tức Thụy An, 15 năm giam.

Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, 10 năm giam.

Phan Tại, 6 năm giam.

Lê Nguyên Chí, 5 năm giam.

Tóm tắt. Sau khi nhuộm đỏ một nửa nước từ tháng 7/1954, đây là sự phản kháng đầu tiên bằng ng̣i bút của nhóm văn nghệ sĩ và trí thức, dưới h́nh thức những bài viết trên Nhân Văn và Giai Phẩm. Lănh đạo Việt Cộng áp dụng chính sách “trăm hoa đua nở” của Trung Cộng, lừa người dân tham gia sinh hoạt dân chủ để gắn cho họ cái “tội gián điệp” và sử dụng ṭa án để triệt hạ.

Số 7. Tội ác làm mất chủ quyền trên Biển Đông (source: Wikipedia).

Năm 1958. Kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, đă  thông qua Bản Tuyên Bố và ban hành ngày 4/9/1958: 

Thứ nhất. Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lư. Điều lệ này áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Hoa trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa tức Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa tức Trường Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  

Thứ hai. Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lănh hải dọc theo đất liền Trung Hoa và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lư tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Hoa. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Hoa. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Hoa. 

Thứ ba. Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Hoa và vùng trời trên hải phận này.  Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Hoa, đều phải tuân thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa 

Thứ tư. Điều thứ hai và thứ ba bên trên, cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Hoa.  Đài Loan và Penghu hiện c̣n bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lănh thổ và chủ quyền của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Hoa”.

Ngày 14/9/1958, Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Phạm Văn Đồng, gởi Công Hàm cho chánh phủ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa:

“Thưa đồng chí Tổng Lư,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng Lư rơ, Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a ghi nhận và “tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Hoa. Chính phủ nước Việt Nam n Chủ Cộng a tôn trọng quyết “định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà Nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư “của Trung Hoa trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển.

“Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng Lư lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội, ngày 14/9/1958”

(kư tên Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước Việt Nam n Chủ Cộng a. Đóng dấu)

Tóm tắt. Chính v́ Công Hàm này mà từ năm 2014 đến nay (2018), tàu Hải Giám của Trung Cộng rượt đuổi, ủi ch́m tàu cá, và bắt ngư dân Việt Nam nộp tiền chuộc mới thả, v́ họ nói rằng Biển Đông là của họ mà chánh phủ Việt Nam đă công nhận từ năm 1958. V́ vậy mà lănh đạo Việt Cộng không có bất cứ hành động nào để bảo vệ biển đảo, bảo vệ ngư dân, ngoài lời phản đối nhẹ nhàng từ người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao.

Số 8. Tội ác xóa bỏ Hiệp Định Geneve 1954 và tiếp tục chiến tranh.

Theo Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương 1945-1955, sẽ rút khỏi lănh thổ của phía bên kia.

Quốc Gia Việt Nam, rồi trở thành Việt Nam Cộng Ḥa. Các đơn vị quân đội Việt Nam cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp, rút toàn bộ xuống dưới vĩ tuyến 17. Trong cùng thời gian, thực hiện kế hoạch vận chuyển gần 1.000.000 đồng bào của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa di tản vào nước Việt Nam Cộng Ḥa định cư sinh sống. 

Trong khi lănh đạo Việt Minh cộng sản là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa thi hành Hiệp Định Geneve như thế này: “Năm 1954, theo Ủy Viên Sherwood Lett, đại diện Canada trong Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến gồm Ấn Độ - Ba Lan - Canada, khi tập trung quân đội Việt Minh cộng sản và các loại cán bộ dưới vĩ tuyến 17 chuyển về nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (trên vĩ tuyến 17), ông Hồ Chí Minh ra lệnh chỉ rút quân chánh qui lên phía bắc vĩ tuyến 17, c̣n lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị khoảng 8.000 người được “bố trí ở lại” (trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa). Một số cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc để thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của địch (Việt Nam Cộng Ḥa), phải nắm lực lượng vũ trang giáo phái để sẳn sàng cho chiến tranh sau đó. Tất cả vũ khí phải chôn giấu để chuẩn bị cho cuộc chiến kế tiếp. Trung ương Đảng đă cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam, chuẩn bị lănh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương”. (trích trong Wikipedia)

*****

Ngày 7/7/1954, Ông Ngô Đ́nh Diệm nhận chức Thủ Tướng Việt Nam. Tháng 1/1955, Thủ Tướng tuyên bố tẩy chay bầu cử mà Hiệp Định Geneve ngày 20/7/1954 qui định sau hai năm, với lư do: “Người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa không được tự do khi bỏ phiếu. Cùng lúc, lực lượng của họ c̣n giấu lại trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, sẽ uy hiếp cử trị bỏ phiếu cho họ. Như vậy, chằng những cử tri của  Việt Cộng không được tự do sử dụng lá phiếu theo ư họ, trong khi một phần cử tri nông thôn Việt Nam Cộng Ḥa cũng không được tư do bỏ phiêu v́ bị Việt Cộng nằm vùng uy hiếp . Nói chung là không công bằng”.  

*****

Ngày 20/12/1960, ông Hồ Chí Minh tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại căn cứ Dương Minh Châu, trong cánh rừng phía bắc của tỉnh Tây Ninh sát biên giới với Cam Bốt. Nhóm lănh đạo gồm: Vơ Chí Công, Phùng Văn Cung, và Huỳnh Tấn Phát. Năm 1961, có thêm Nguyễn Văn Linh, Ung Ngọc Ky, Lê Thanh, và Nguyễn Hữu Thọ.

Nhiệm vụ của tổ chức là đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Bên cạnh Mặt Trận là Trung Ương Cục Miền Nam -c̣n gọi là Cục R- đại diện cho đảng cộng sản trá h́nh dưới tên gọi đảng Lao Động Việt Nam, hoạt động bí mật từ đó đến năm 1969 mới công khai. 

Nửa đêm 28/1/1960, quân cộng sản đột kích vào doanh trại Trung Đoàn 32 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh tại Trăng Sụp, 6 cây số phía bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Lúc ấy, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban Hành Quân/Pḥng 3/Sự Đoàn 21 Bộ Binh, đồn trú tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh. Trời sáng hẳn th́ chúng rút về biên giới Việt Nam - Cam Bốt. Cuộc hành quân truy kích đến sát biên giới, Sư Đoàn 21 chúng tôi thu hồi lại một xe vũ khí, trong số 2 xe bị cộng sản chiếm, đồng thời thu được một số tài liệu. Trong số đó có tài liệu về chiến dịch Đồng Khởi, mà cuộc đột kích này là trận mở màn của chiến dịch Đồng Khởi, chuyển từ hoạt động kinh tài sang chiến tranh quân sự trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. 

Kết quả của chiến dịch này gây thiệt hại không đáng kể, nhưng nó đánh dấu lănh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (cộng sản), bắt đầu chiến tranh trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa để nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế, sau khi nhuộm đỏ một nửa lănh thổ phía bắc trên dăi đất có dạng h́nh cong chữ S. Từ đó, chiến tranh xảy ra khắp nơi trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, với những trận đánh gia tăng dần lên, từ cấp Trung Đội à Đại Đội à Tiểu Đoàn à Trung Đoàn à Sư Đoàn từ giữa những năm 1960. V́ vậy mà cuối năm 1965, quân đồng minh Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam với mục đích tiếp tay ngăn chận quân cộng sản. Lần lượt được tăng cường thêm bởi quân đội Thái Lan, Đại Hàn, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan đến Việt Nam (trích trong hồi kư Đôi Ḍng Ghi Nhớ của tôi).

Số 9. Tội ác vận chuyển vũ khí vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa bằng đường biển.

Tháng 2/1965, Trung Tướng Nguyễn Khánh đang là Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân - Thủ Tướng - và là vị Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tư Lệnh (tức Bộ Tổng Tham cũ). Trung Tướng Khánh là người rất xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác. Lúc ấy tôi là Thiếu Tá, trong văn pḥng Tổng Tư Lệnh, phụ trách các loại văn thư tŕnh lên vị Tổng Tư Lệnh. Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được lệnh mang theo tất cả hồ sơ công văn của các pḥng và các cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tư Lệnh tŕnh lên, để ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47 mà Không Quân dành cho ông, có trang bị bàn viết, giường nằm, tủ lạnh nhỏ, và vài tiện nghi lặt vặt khác.

Thường khi như vậy, ngoài Trung Tướng Khánh ra, c̣n có sĩ quan tùy viên, cận vệ, vài nhân viên an ninh, vài nhân viên truyền tin, và tôi. Đến thành phố nào đó là tôi t́m phi cơ khác của Không Quân Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng Không dân sự, để mang công văn trở về Bộ Tổng Tư Lệnh  hoàn lại các Pḥng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn được quan tâm đúng mức. Đây là nét đặc biệt của Trung Tướng Nguyễn Khánh mà vị Tổng Tư Lệnh trước ông là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, và những vị sau ông là Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, và Đại Tướng Cao Văn Viên, không có. Tôi không dám đoan chắc đó là điều tốt, nhưng rơ ràng là ông không để thời gian trống trong vai tṛ lănh đạo của ông. 

Ngày 16/02/1965, Trung Tướng Khánh ra phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, v́ ông bận sắp xếp thành phần chánh phủ mới thành lập do ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Điều này do chính Trung Tướng Khánh nói với anh em chúng tôi trong khi phi cơ đang trên không tŕnh Sài G̣n - Qui Nhơn.

 Khi đến Qui Nhơn, tôi liên lạc với các cơ quan nhưng không có phi cơ về Sài G̣n nên tôi phải ở lại. T́nh h́nh quân sự tại tỉnh B́nh Định ngày càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi người phải ngủ tại hầm chiến đấu. Đó là khuyến cáo của Trung Tá Lê Trung Tường, Tỉnh Trưởng tỉnh B́nh Định. Tôi sang Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận ngủ nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ Huy này. Lúc ấy, Thiếu Tá Trương Bảy là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận. (Về sau, Trung Tá Tường là Chuẩn Tướng quân đội, Thiếu Tá Bảy là Chuẩn Tướng Cảnh Sát).

Sáng hôm sau, cả đoàn dùng trực thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt mà Chuẩn Tướng Đoàn Văn Quảng đang là Tư Lệnh, Trung Tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô, nơi mà hôm trước Hải Quân và Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa đă bắn ch́m chiếc tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài bắc xâm nhập vào. Nói cho đúng, chiếc tàu này bị Hạm Đội 7 Hoa Kỳ phát hiện và liên tục theo dơi, đến khi vào hải phận Việt Nam Cộng Ḥa th́ họ báo cho Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa biết. Kết quả là tàu địch bị đánh ch́m.

Khi trực thăng lượn nhiều ṿng trên không phận Vũng Rô, tôi nh́n thấy ḍng chảy của nhiên liệu từ chiếc tàu ch́m phía dưới loang dài trên mặt biển, trong khi lực lượng Hải Quân và Người Nhái đang trục vớt vũ khí lên tàu. Cùng lúc, lực lượng của Quân Đoàn II đang hành quân lục soát trong khu vực núi Đá Bia, lân cận Vũng Rô. Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Quân Đoàn II tin rằng, trong khu vực này có thể có kho tồn trữ vũ khí của quân cộng sản. Chỉ trong ngày 17/2/1965, cả hai lực lượng dưới nước và trên bờ thu được hơn 1000 khẩu súng đủ loại, tất cả hoàn toàn mới nguyên được bao bọc trong giấy dầu cẩn thận.  Rơ ràng và chính xác là lănh đạo Việt Cộng từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, lén lút chuyển khối lượng vũ khí rất lớn vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, chuẩn bị cho những trận đánh quan trọng trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa chúng ta.     

Khi trở về Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi có đọc “Phiếu tŕnh” của Pḥng 2/Bộ TTL. Theo nhận định của Pḥng Nh́/Bộ Tổng Tư Lệnh th́ hơn một năm qua, với những bất ổn chính trị trong nội t́nh Việt Nam Cộng Ḥa chúng ta, quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, đă lợi dụng "khoảng trống an toàn" đó để gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí đạn dược vào lănh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc dăy Trường Sơn, và đường thủy dọc duyên hải từ bắc vào. Những lần trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở cửa sông Bồ Đề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba Động tỉnh Vĩnh B́nh (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô này là lần thứ 3 tịch thu được số lượng vũ khí quan trọng.

Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc đảo chánh thành công, với một Thông Điệp quan trọng, Trung Tướng Khánh chánh thức lên tiếng kêu gọi các quốc gia đồng minh giúp Việt Nam Cộng Ḥa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều mà Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă không làm theo ư muốn của Hoa Kỳ. Nh́n theo góc độ quân sự, tôi nghĩ, cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện "chiến lược Domino" bằng cách thiết lập các căn cứ quân sự trên đất nước chúng ta hay không, th́ sự hiện diện của quân bộ chiến Hoa Kỳ, trong một chừng mực nào đó thật sự là cần thiết. 

Điều này cho thấy quân cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, trái ngược với tuyên bố của họ khi thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là chống Mỹ - Diệm. V́ họ bắt đầu chiến tranh từ đầu năm 1960, và chiến tranh ngày càng ác liệt hơn, nên cuối năm 1965 quân đội ngoại quốc mới đến Việt Nam cùng chống quân cộng sản, đồng thời với oanh tạc cơ chiến lược thả bom phá hủy các kho dự trữ vũ khí đạn dược trên lănh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, với mục đích ngăn chận tiếp tế cho lực lượng của họ trên đường Trường Sơn, và bên trong lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, bởi đây là cuộc “chiến tranh không cần thắng” đối với Hoa Kỳ  (trích trong hồi kư Đôi Ḍng Ghi Nhớ của tôi, do nhà sách Tú Quyền ấn hành lần 4 vào năm 2007).

 

Số 10. Tội ác vụ thảm sát Mậu Thân (source: Wikipedia và bài viết của nhân chứng). 

Từ tối 29/1/1968 -tức 30 Tết Nguyên Đán Mậu Thân- chen lẫn trong tiếng pháo mừng Xuân là tiếng súng của quân cộng sản tấn công thủ đô Sài G̣n, và 28 trong số 44 tỉnh lỵ. Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa phản công mạnh mẽ và chiến thắng trên các chiến trường. Riêng chiến trường tại Huế bị chúng chiếm tối 31/1/1968, ngay sau đó quân đội Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ phản công dữ dội trong suốt 26 ngày đêm, trong khi các chiến trường khác đă chấm dứt trước đó.

Đau thương nhất là tại Huế, số người bị quân Việt Cộng giết và chôn tập thể răi rác vùng rừng núi ngoại ô Huế. Những con số do nhiều người thu thập hoàn toàn không giống nhau, nhưng cũng không quá cách biệt.   

Theo giáo sư Nguyễn Lư Tưởng, cựu Dân Biểu đơn vị Thừa Thiên, ông có mặt tại Huế trong 26 ngày chiến tranh trên đường phố. Sau khi đẩy quân cộng sản ra khỏi Huế th́ cuộc kiểm kê thực hiện nhanh chóng, với số gia đ́nh có người mất tích lên đến 4.000 gia đ́nh. Một kế hoạch t́m người mất tích được thực hiện trên vùng đất rộng lớn, kéo dài đến tận năm 1970 mới chấm dứt. Số mồ chôn tập thể t́m thấy lên đến 22 địa điểm, với số xác đếm được là 2.810 xác người, trong số đó có nhiều thi thể trong tư thế bị trói. Chánh phủ công bố danh sách 4.062 nạn nhân được xác định là bị bắt cóc hoặc bị giết chết         

Theo báo cáo tổng kết vào năm 1970 của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm Lư Chiến thuộc cơ quan thông tin Hoa Kỳ, nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng  th́ khoảng 2.000 người vẫn c̣n mất tích, v́ bảng tổng kết về người chết và mất tích như sau:

Năm 1968, ngay sau cuộc chiến t́m được 1.173 xác chết + năm 1969 t́m được 809 xác ở đụn cát + 428 xác tại khe Đá Mài và khu Nam Hoa + 400 xác răi rác các nơi. Năm 1970 tổng kết số xác t́m được lên đến 2.810 xác gồm nam giới + phụ nữ + thiếu niên + trẻ sơ sinh , và ghi nhận c̣n 1.946 người mất tích.

Bản công bố sau cùng cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân của quân Việt Cộng trên các chiến trường từ Quảng Trị tới Cà Mau, quân đội Việt Cộng chết 58.373 người + 10.000 bị bắt + 6.000 đầu hàng. Quân đội Việt Nam và Hoa Kỳ thu được 17.000 vũ khí các loại. Tổn thất của Việt Nam Cộng Ḥa là 4.954 quân nhân hy sinh + 14.300 đồng bào chết + 1.946 đồng bào mất tích.

Theo tác giả David T. Zabecki trong quyển “The Vietcong Massacre at Hue” ấn hành năm 1976, số hài cốt t́m được do cộng sản Việt Nam đă bắt giết trong 21 ngày chiếm giữ một phần thành phố Huế, và chôn tập thể trong các hầm là 2.810 người, trong tổng số dân ghi mất tích hơn 5.000 người!

Theo sử gia Trần Gia Phụng, th́ số người t́m được trong 22 mồ chôn tập thể là 2.326 xác trong tổng số dân bị giết là 5.800 người! Những con số của hai tác giả không hoàn toàn giống nhau, nhưng chắc chắn là những con số đó đă đủ để chứng minh bản chất dă man tàn bạo của cộng sản, bởi mục tiêu của họ là thi hành lệnh của cộng sản quốc tế.   

 Trang <Wikipedia.org> có những bài viết với những ư kiến khác nhau của các tác giả, về tựa đề  “t́m thủ phạm vụ thảm sát” này, tôi chọn và trích một đoạn của cựu Thiếu Tá Liên Thành, một thời là Phó Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, như sau: “Năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, từ Huế trốn lên mật khu Việt Cộng, rồi xâm nhập trở lại thành phố Huế, và trong vụ thảm sát Mậu Thân 1968 những người này có mặt tại Huế.”

Tác giả Liên Thành tin rằng, những người này có tham gia vào các cuộc thảm sát trong 26 ngày tại Huế. Ngoài ra, c̣n có một số ít sinh viên trở về Huế và thực hiện các vụ hành quyết do tư thù cá nhân. Trong thời gian quân Việt Cộng chiếm giữ thành phố Huế, người Huế sợ cộng sản vô cùng. Vô cùng sợ. Quân Việt Cộngđến khu phố nào th́ người dân ở đó bỏ chạy. Việt Cộng xă súng bắn vào những người bỏ chạy bất cứ người đang chạy là ai, là thành phần nào. Những ai sống tại Huế thời đó điều biết.

Và quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Ḥa, bị Việt Cộng giết như thế nào? Tác giả Liên Thành viết tiếp: “Năm 1972, tôi bắt được một trung tá Việt Cộng, tên Hoàng Kim Loan, là thành uỷ viên hoạt động bí mật tại Huế 20 năm.

Tôi hỏi: “Tại sao các anh thảm sát đồng bào Huế man rợ đến như vậy? T

Việt Cộng Kim Loan trả lời: “Thứ nhất, đây là chủ trương bạo lực Cách Mạng của cấp trên chỉ thị. Thứ hai, khi trên đường rút lui, do không thể đem theo tù nhân, nên phải giết. Người Cộng Sản chúng tôi chủ trương thà giết lầm c̣n hơn bỏ sót.”

Liên Thành hỏi: “Sao không bắn họ, cho họ viên đạn c̣n dễ hơn lấy búa, dùng vật cứng đập đầu họ và đẩy xuống hố”.

Việt Cộng Kim Loan trả lời:  “Đạn chúng tôi để bắn Mỹ Ngụy, chớ đạn đâu để bắn những đám người như vậy.”

Tóm tắt.

Năm 1975, khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, lănh đạo Việt Cộng tàn phá Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, họ đập phá Tượng Thương Tiếc, cắt 1/3 phần trên Nghĩa Dũng Đài mà họ nói là làm trạm gác, họ xây dựng những cơ sở bằng cách lấn chiếm các khu đất của Nghĩa Trang, khoảng 50% trong số 16.000 ngôi mộ bị họ đập phá mộ bia, nhất là tên và ảnh người nằm dưới mộ. Khởi thủy diện tích của nghĩa trang là 125 mẫu tây, năm 2006 khi chánh phủ Việt Cộng chuyển giao nghĩa trang cho tỉnh B́nh Dương th́ diện tích c̣n 58 mẫu tây, đến cuối năm 2015 chỉ c̣n 29 mẫu tây, tức diện tích c̣n lại dưới ¼ so với diện tích ban đầu.

Đối với những ngôi mộ tập thể sau vụ thảm sát Huế Tết Mậu Thân 1968, lănh đạo Việt Cộng cũng cho đập phá tấm bia lớn và bàn thờ tại nghĩa trang trên núi Ba Tầng, nơi an táng 400 thi hài t́m được tại Khe Đá Mài hồi tháng 9/1969, để xóa dấu tích tội ác của họ. Với người dân Việt, với ḍng sử Việt, lănh đạo Việt Cộng biết rơ “họ là tội ác”, nên bất cứ những ǵ mà họ cho là dấu vết tội ác là họ t́m mọi cách phá bỏ. Ngay cả hai tấm bia lớn tại Malaysia, Tưởng Niệm Thuyền Nhân chết trên đường chạy trốn Việt Cộng, lănh đạo Việt Cộng yêu cầu chánh phủ Mă Lai phá bỏ ngay trong đêm, huống ǵ những tấm bia nhỏ sau vụ thảm sát Tết Mậu Thân trên đất Huế trong tay của chúng. Nhưng, lănh đạo Việt Cộng không hiểu rằng, mỗi người Việt Nam dù trong nước hay hải ngoại, là một tấm bia sống tố cáo tội ác của họ bằng những cách khác nhau.            

Đă gần 50 năm trôi qua kể từ năm Mậu Thân 1968, cuộc thảm sát kinh hoàng năm ấy, vẫn là một vết thương chưa lành của người Việt Nam nói chung, và người dân Huế nói riêng!

 

Số 11. Tội ác trong trận chiến mùa hè 1972.

Trận An Lộc.

Lần đầu tiên, tại chiến trường B́nh Long, quân cộng sản sử dụng chiến xa cùng hỏa lực pháo binh và hỏa tiễn.

Ngày 6/4/1972, thị trấn An Lộc, thuộc tỉnh B́nh Long do Sư Đoàn 5 Bộ Binh pḥng thủ, bị 4 Sư Đoàn cộng sản tấn công. Sư Đoàn 5 Bộ Binh lần lượt được tăng cường lực lượng tổng trừ bị, được yểm trợ bởi hằng ngàn phi vụ của không quân Việt Nam, và hằng trăm phi vụ của B52 Hoa Kỳ.

Sau hơn 2 tháng kinh hoàng với bom đạn và khói lửa, An Lộc đă bị khoảng 200.000 viên đạn đại bác và hỏa tiển của cộng sản tàn phá. Khoảng 4.000 quân nhân và đồng bào hy sinh. Quân cộng sản khoảng 30.000 chết mà phần lớn bị chôn vùi trong các hố bom, với hơn 70 chiến xa bị tiêu hủy.

Ngày 7/7/1972, trực thăng chở Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống An Lộc c̣n vương mùi khói lửa chiến tranh, để tuyên dương lực lượng pḥng thủ, và vinh danh Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh là “Anh Hùng An Lộc”.

Ngày 12/71972, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tuyên bố ”An Lộc được giải tỏa hoàn toàn”.

Một người con gái tên Pha của An Lộc đă chứng kiến những người lính dũng cảm, nên cảm đề hai câu thơ: “An Lộc địa, sử ghi chiến tích. Biệt Cách Dù, vị quốc vong thân”.

 

Trận Quảng Trị.

Cuối tháng 3/1972, khoảng 40.000 quân cộng sản tấn công Quảng Trị. Tháng 5/1972, cộng sản chiếm toàn bộ Quảng trị, kể cả CổThành.

Ngày 28/6/1972, lực lượng Nhẩy Dù, Biệt Động Quân, Biệt Cách Dù, và Thủy Quân Lục Chiến, bắt đầu phản công.

Ngày 27/7/1972, quân đội đă chiếm được một số vị trí ngoại ô Quảng Trị. Sau cơn mưa, nước sông Thạch Hăn dâng cao làm tắt nghẽn đường tiếp vận của quân cộng sản. Thời cơ tốt, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến nhận trách nhiệm tấn công thị xă Quảng Trị và Cổ Thành.

Sau khi chiếm được nhiều vị trí chung quanh, ngày 7/9/1972, với yểm trợ hỏa lực của 2.200 phi vụ oanh kích, 100 phi vụ oanh tạc của B52, và hơn 123.000 đạn đại bác của Hải Quân bắn vào, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến bắt đầu tấn công vào Cổ Thành.

Đây là trận chiến dữ dội nhất trong chiến tranh 1954-1975 kéo dài trong 81 ngày. Sau một tuần lễ phản công trên một chiến trường đẫm máu, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến đă chiếm lại Cổ Thành ngày 15/9/1972.

Quốc kỳ Việt Nam Cộng Ḥa được kéo lên lúc 8 giờ sáng ngày 16/9/1972.        

Về phía Việt Nam Cộng Ḥa, Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, tổn thất khoảng 25% quân số.

Phía quân cộng sản. Sau 4 tháng 16 ngày chiếm giữ Quảng Trị, hồi kư của Tướng cộng sản Lê Tự Đồng, Tư Lệnh mặt trận Quảng Trị, phổ biến năm 1997 tại Hà Nội, thừa nhận tổn thất hơn 50% quân của 4 Sư Đoàn tham chiến. Riêng tại Cổ Thành với hơn 10.000 quân pḥng thủ đă tổn thất chưa từng thấy. Báo Tuổi Trẻ ngày 26/7/1998 tại Sài G̣n, theo lời kể của cựu chiến binh cộng sản trong Trung Đoàn 27 sống sót, khi vào Cổ Thành với hơn 1.500 quân, nhưng khi thoát ra khỏi Cổ Thành chỉ c̣n 1 tiểu đội! (trích trong Wikipedia)

Vẫn năm 1997, vẫn báo Tuổi Trẻ có bài viết dưới đây: “Ḍng sông Thạch Hăn chứng kiến chiến dịch từ 28/6/1972 đến ngày 15/9/1972, dưới nhưng trận mưa bom băo đạn. Các chiến sĩ bộ đội ta bám chốt ngăn chặn cuộc phản công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, cũng là bảo vệ hành lang để tiếp tế nhân lực và vũ khí qua con sông này tiến vào trận địa Cổ Thành. Đă có hằng ngàn người lính vĩnh viễn nằm lại nơi đáy sông ở độ tuổi mười tám đổi mươi! Cựu chiến binh Lê Bá Dương, sau chiến tranh đă trở lại ḍng sông Thạch Hăn, kết bè hoa thả trên ḍng Thạch Hăn, con sông như đang c̣n chứa trong ḷng nó hàng ngàn linh hồn liệt sĩ đồng đội, đă sáng tác câu thơ nổi tiếng:

Đ̣ lên Thạch Hăn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông c̣n đó bạn tôi nằm

Có tuổi đôi mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ măi măi ngàn năm

 

Số 12. Tội ác xóa bỏ Hiệp Định Paris 27/1/1973 và tiếp tục chiến tranh.

Ḥa b́nh, nhưng chiến tranh vẫn c̣n đó!

 Ngay trước ngày Hiệp Định Ngưng Bắn & Tái Lập Ḥa B́nh có hiệu lực (27/3/1973), các cơ quan đơn vị quân đội trên toàn quốc nói chung và Quân Trấn Sài G̣n nói riêng, được lệnh bảo vệ chặt chẻ các cơ quan đơn vị đến sau ngày thật sự “ḥa b́nh”, v́ bất cứ một cơ quan đơn vị nào mất vào tay cộng sản tính đến ngày 27/3/1973, có nghĩa là khu vực đó thuộc về quân cộng sản, điều mà báo chí gọi là “ngưng bắn da beo”. Cơ sở Cục Măi Dịch chúng tôi có sân thượng ở tầng trên, một tuần lễ trước đó, nhất là đêm 26 rạng 27, những điểm canh gác trải đều trên sân thượng và trên các mái nhà, quan sát toàn bộ khu vực dân cư chung quanh, lực lượng chính bố trí cổng cơ quan và dọc theo đường Chi Lăng mặt trước, đề pḥng quân đặc công cộng sản đột kích chiếm đóng. Hết thời gian “báo động”, tất cả yên tịnh.

Trong khi căn cứ Tống Lê Chân án ngữ trục giao liên của quân Việt Cộng nơi giáp ranh hai tỉnh Tây Ninh với B́nh Dương do Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân trấn giữ, bị quân cộng sản bao vây từ ngày 10/05/1972 và liên tục tấn công, nhưng bọn chúng thất bại. Ngay sau khi Hiệp Định có hiệu lực, quân cộng sản vẫn tiếp tục tấn công căn cứ Tống Lê Chân cũng như nhiều căn cứ khác. Sau 510 ngày giữ vững căn cứ, Tiểu Đoàn 92 Biệt Động Quân được lệnh rút quân an toàn từ ngày 11/04/1974.

Rơ ràng là quân cộng sản không hề tôn trọng Hiệp Định Paris, như đă từng không tôn trọng Hiệp Định Genève ngày 20/7/1954 vậy. (trích trong quyển Quê Hương & Quân Ngũ của tôi)

T́nh h́nh quân sự vẫn tiếp diễn, đến khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975. 

 

Số 13. Tội ác quẵng thương phế binh VNCH ra đường.

Ngay trước, trong, và sau ngày 30/4/1975, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa đang điều trị trong Tổng Y Viện và cả hệ thống Quân Y Viện, lănh đạo Việt Cộng đă thể hiện ḷng hận thù tột độ ngang qua hành động vô cùng tàn nhẫn khi ra lệnh quẵng tầt cả anh em thương phế binh chúng tôi ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa. Đây là lá thư viết vào cuối tháng 11/2013 của thương binh Phạm Trinh Viên đang điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa (Sài G̣n), hiện định cư ở Australia, gởi cho bạn Cường cùng khóa 4/72 Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang, như lời than của Người Thương Binh thua trận, như sau: 

Xin trích lá thư viết vào cuối tháng 11/2013 của Thương Binh Phạm Trinh Viên từ Sydney (Australia), gởi bạn Cường (ở Mỹ) cùng khóa 4/72 sĩ quan trừ bị Trường Đồng Đế Nha Trang, để thấy sự tàn nhẫn của lănh đạo Việt Cộng ngay khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa:

 “... Sáng ngày 1/5/1975, từ trên lầu 3 khu tổng quát, tao đă chứng kiến bọn Việt Cộng chạy vào cổng Tổng Y Viện bằng 2 xe Jeep treo cờ Mặt Trận Giai Phóng, ngừng trước cửa văn pḥng của Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Cộng Ḥa, dẫn vị Y sĩ Chuẩn Tướng (Phạm Hà Thanh. PB Hoa) lên xe Jeep và chở đi mất tiêu. Sau một thông báo bằng loa phát thanh, tất cả các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Ḥa phải rời khỏi bệnh viện trong thời hạn một ngày… Thế là một quang cảnh hoảng loạn đă xảy ra… Các thương bệnh binh Việt Nam Cộng Ḥa, bạn nào c̣n đi được hoặc may mắn c̣n chút sức tàn, dắt díu các thương binh bạn khập khiễng rời khỏi nơi điều trị… C̣n lại, là thương bệnh binh bị thương nặng, cảnh các bạn này rời đi mới chính là cảnh thê thảm nhất mà tao đă nh́n thấy trong suốt cuộc chiến chống cộng sản. Các bạn ḅ lê ḅ lết dưới đất, bông băng dính đầy máu mủ, quét trên mặt đất, dính đầy bùn đất, vết thương lở lói, máu mủ vẫn c̣n rỉ ra ngoài, nhưng tất cả đều cố gắng trong sự tuyệt vọng, cố ḅ lết từng tấc đất ra cổng Tổng Y Viện Cộng Ḥa… Đến đây, tao thật không dám nghĩ đến cuộc sống của các bạn ấy ra sao, nếu như ra khỏi được Tổng Y Viện, và sống dưới một chế độ đầy thù hận...!”

Nét nh́n này chỉ mới một Quân Y Viện, trong khi trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa có cả một hệ thống Quân Y Viện, cùng với một hệ thống bệnh viện và cơ sở y tế góp phần bảo vệ sức khỏe người dân, liệu bao nhiêu nước mắt mới dựng lại được “chân dung Thương Bệnh Binh & Bệnh Nhân Dân Sự” trong những ngày bất hạnh trên quê hương Việt Nam, trước kẻ chiến thắng mà nhà văn nữ Việt Cộng Dương Thu Hương gọi là “chế độ man rợ đă thắng chế độ văn minh! Đây là sự hàm hồ của lịch sử!”    

 

Số 14. Tội ác vụ 16 tấn vàng tài sản quốc gia (source: Tác giả Huỳnh Bửu Sơn).         

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng tịch thu toàn bộ tài sản quốc gia, lúc ấy trong ngân hàng quốc gia c̣n khối tiền mặt trị giá hơn 1.000 tỷ đồng, và 16 tấn vàng khối.

Bài viết nhan đề “Câu chuyện 16 tấn vàng trong ngân hàng quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa sau ngày 30/4/1975”, do người giữ ch́a khóa kho vàng của ngân hàng quốc gia là ông Huỳnh Bửu Sơn kể lại:

“...Những ngày đầu tháng 5/1975, tôi vào tŕnh diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương thủ đô Sài G̣n, cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân Quản Ngân Hàng Quốc Gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan.  Tôi được giao công tác tại Vụ Phát Hành và Kho Quỹ. Những ngày tiếp theo, Ban Quân quản tổ chức học tập tại chỗ ba ngày cho các viên chức ở lại và cấp giấy chứng nhận học tập cải tạo. Lúc đó, giấy chứng nhận này chính là một lá bùa hộ mệnh....

Đầu tháng 6/1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc Gia kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng thuộc quyền quản trị của Nha Phát Hành, nơi tôi làm việc trong ban lănh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh Giám Đốc Nha Phát Hành đă đi cải tạo tập trung, trong số người c̣n lại chỉ có tôi là người giữ ch́a khóa, và anh Lê Minh Kiêm -chánh sự vụ- là người giữ mă số của các hầm bạc. Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên không có ǵ đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho nhà cầm quyền mới. 

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản trị một cách an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mă riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cánh cửa nặng trên 1.000 kí lô.

Đại diện Ban Quân Quản là một người khoảng 50 tuổi, kiểm kê là một anh bộ đội c̣n rất trẻ và khá thân thiện. Anh hay nắm tay tôi tṛ chuyện, sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia.

  Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc Gia vào lác ấy gồm vàng thoi, và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi:

(1) Vàng thoi mua của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED).

(2) Vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi là Công ty Montagu.

(3) Vàng thoi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào. Tất cả 1.234 thoi vàng nguyên chất X mỗi thoi nặng 12 đến 14 kí lô = 16.000 kí lô.  Trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi ít nhiều.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19, từ nhiều quốc gia khác nhau... Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này c̣n được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả thoi vàng và tiền vàng cổ đều được ghi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dơi định kỳ hằng tháng, hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập.

Công tác kiểm kê trong hai ngày liền. Số giấy bạc dự trữ trong các thùng bằng gỗ thông được niền bằng đai sắt và niêm ch́, mỗi thùng ghi rơ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Do đó chỉ cần kiểm kê số lượng thùng bạc, các chi tiết tương ứng và đối chiếu với sổ sách được điện toán hóa. Lúc đó, loại giấy bạc mệnh giá cao nhất chỉ có 1.000 đồng, thuộc loại mới phát hành, có in h́nh các con thú hoang trong rừng rậm Việt Nam. Ngoài ra vẫn c̣n tồn kho và tiếp tục phát hành loại giấy bạc nổi tiếng có in h́nh danh tướng Trần Hưng Đạo, mệnh giá 500 đồng. Tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc đó -nếu tôi nhớ không lầm- là hơn 1.000 tỷ đồng, gấp đôi lượng tiền lưu hành tại Việt Nam Cộng Ḥa đến ngày 30/4/1975.

Chỉ trong một buổi sáng, chúng tôi đă kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ. Việc kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn v́ phải kiểm kê từng thoi vàng một để xem trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có đúng với sổ sách hay không. Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều đúng với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi kư vào biên bản kiểm kê, ḷng cảm thấy nhẹ nhơm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho nhà cầm quyền mới đă hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng c̣n lại một chút ǵ, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản trị đúng đắn minh bạch của những người đă từng làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Ḥa.”

Năm 2010, cựu Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín, tổng biên tập báo Nhân Dân của đảng, có bài viết liên quan đế 16 tấn vàng nói trên. Trích một đoạn: “... Năm 1987, tôi gặp ông Trường Chinh tại Đà Lạt, tôi kể lại chuyện 16 tấn vàng th́ ông cho biết: Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi. Trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay c̣n ǵ nữa đâu”. Trích một đọan khác của ông Tín: “Đây là câu duy nhất mà tôi nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng của một nhà lănh đạo”.   

Ông Bùi Tín cho biết thêm: “Trong các phiên họp của chính phủ cũng như của Quốc Hội sau 30/4/1975, và tháng 4/2012 Bộ Quốc Pḥng họp để viết về ngày 30/4/1975, không một chi tiết nào, cũng không một vị nào hỏi, hay nói đến vụ 16 tấn vàng lấy trong ngân hàng của chế độ cũ tại Sài G̣n hồi tháng 5/1975, mà đảng đă sử dụng phi cơ chjở tất cả ra Hà Nội”. 

Tóm tắt. Chở 16 tấn vàng thoi về Hà Nội, khi được hỏi th́ lănh đạo Việt Cộng là Trường Chinh trả lời, làm cho người nghe tưởng như ông vừa đi chợ về vậy. Đă lấy số vàng đó mà không cấp lănh đạo trung ương nào, cũng như đại biểu nào trong Quốc Hội biết đến, nhưng lại vu khống cho lănh đạo Việt Nam Cộng Ḥa chở ra ngoại quốc. Đúng là bản chất vừa cướp đoạt vừa nói láo của lănh đạo Việt Cộng.     

  Số 15. Tội ác đày đọa hằng triệu người trong trại tập trung (source: Wikipedia).

Chế độ cải tạo lao động rập theo khuôn mẫu của Trung Cộng đă được áp dụng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa từ năm 1954 với tội phạm, tù binh, và tù nhân, bị kết án chống đối nhà cầm quyền. Sau ngày 30/4/1975, nhóm chữ “học tập cải tạo" nói đến chương tŕnh tập trung để cải tạo của lănh đạo Việt Cộng đối với những người phục vụ trong quân đội và trong ngành hành chánh Việt Nam Cộng Ḥa cũ. Hệ thống trại tập trung này theo tên gọi là trại cải tạo lao động mà Liên Xô đă sử dụng.

Tháng 6/1975, lănh đạo Việt Cộng ra thông cáo bắt buộc sĩ quan quân đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Ḥa đi học tập cải tạo. Hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra tŕnh diện.

Riêng Sài G̣n có 443.360 người trong số đó. Từng cấp bậc như sau:

“28 Tướng Lănh.

362 Đại Tá.

1.806 Trung Tá.

3.978 Thiếu Tá.

39.304 Sĩ Quan ấp uư.

35.564 Cảnh Sát.

1.932 nhân viên t́nh báo.

1.469 viên chức cao cấp.

Và 9.306 người trong các đảng phái chính trị.” 

Sau 1 năm giam giữ trong các trại tập trung trên phần lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ, lănh đạo Việt Cộng chuyển phần lớn ra các trại mới lập tại các khu rừng già vùng Tây Bắc và phía Bắc Hà Nội, do Bộ Quốc Pḥng Việt Cộng giam giữ. Tôi, trong số gần 300 cấp Đại Tá bị giam trong trại AH 2 và AH 3 thuộc Đoàn 776, tại xă Việt Cường, huyện Trấn Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ đó, danh từ “tù chính trị” được sử dụng để chỉ quân đội + nhân dân + cán bộ + viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Ḥa cũ trong các trại tập trung mà Việt Cộng gọi là trại cải tạo.

Riêng Đoàn 776 trú đóng tại Yên Bái, quản trị 82 trại đánh số từ AH1 đến AH82 rải rác trong các tỉnh chung quanh. Trên toàn quốc, theo lời kể của tù chính trị, ít nhất cũng hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực Nam đến trại Cổng Trời cực Bắc Việt Nam.

Xin hiểu rằng, con số những trại tập trung mà tôi nói ở đây, chưa nói đến con số những trại tù do Công An cai quản.

Trước khi quân Trung Cộng tấn công 6 tỉnh dọc biên giới phía bắc hồi tháng 2/1979, lănh đạo Việt Cộng chuyển “tù chính trị chúng tôi” xuống các trại tập trung vùng đồng bằng Sông Hồng do Công An giam giữ. Trong những năm đầu của thập niên 1980, Việt Cộng chuyển phần lớn tù chính trị chúng tôi vào các trại tập trung trong Nam, đến năm 1985 chỉ c̣n lại trại tù duy nhất là Trại Nam Hà với khoảng 500 tù chính trị, và tôi trong số này. Cứ mỗi 3 năm, lănh đạo Việt Cộng kư lệnh gia hạn giam giữ thêm 3 năm nữa. Và cứ liên tục như vậy tại tất cả các trại giam dù trong Nam hay ngoài Bắc.      

Năm 1980, Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng nói rằng: ”Hiện c̣n 26.000 người trong các trại cải tạo”. Tuy nhiên, một số báo chí ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn đang bị giam giữ trong các trại tập trung. Trong khi Hoa Kỳ ước tính khoảng 165.000 người đă chết trong các trại tập trung.

Và trường hợp nào mà quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa cũ được ra khỏi trại tập trung, và cùng gia đ́nh sang Hoa Kỳ định cư?

Trong lúc tôi bị giam trong buồng giam số 1, Trại Nam Hà A, tỉnh Hà Nam Ninh, vào buổi tối ngày 5/8/1987 sau khi cửa buồng giam số 1 đóng lại nghe cái rầm, thanh sắt kéo ngang nghe réc-réc, và tiếng crắc của ống khóa bóp lại, là tôi đọc báo. Tôi đọc ngay bản tin ngắn trên tờ Nhân Dân của cộng sản Việt Nam mà hằng tuần họ cho chúng tôi 2 lần báo. Đọc xong là tôi phải ngưng lại v́ anh em chúng tôi bàn luận rất ồn ào.

Bản tin nói ǵ mà ồn ào vậy? Bản tin như sau: “Ngày 2 và 3 tháng 8 năm 1987, Tướng hồi hưu Vessey, với tư cách Đặc Sứ của Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan sang Việt Nam, gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch. Hai bên thỏa thuận điểm đầu tiên về hợp tác đẩy mạnh công cuộc t́m kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, và điểm 2 là vấn đề trả tự do cho những người học tập cải tạo để cùng gia đ́nh được xuất ngoại sang Hoa Kỳ theo nguyện vọng”.

Từ ngày 12/8/1987, 3 toán Công An từ Hà Nội đến trại này -đây là trại tập trung duy nhất c̣n lại trên đất Bắc- để phỏng vấn khoảng 200 trong số hơn 400 anh em chúng tôi đang bị giam tại đây. Họ làm việc trong 2 tuần lễ. Đến ngày 5/9/1987, toán Công An khác cũng từ Hà Nội đến đọc lệnh ra trại, và đây là đợt ra trại đầu tiên. Tôi trong số này.

Ngày 9/9/1987, 91 tù chính trị chúng tôi được đưa xuống Nam Định, lên xe lửa rời nhà ga này lúc 5 giờ chiều cùng ngày, và sau 3 ngày 3 đêm về đến Sài G̣n lúc 6 giờ chiều ngày 12/9/1987. Những ngày sau đó, anh em chúng tôi gặp nhau tại các cơ quan Công An khi đến đó làm giấy tờ tùy thân, mới biết là cùng về với anh em chúng tôi ngoài Bắc, có rất nhiều anh em bị giam trong các trại tập trung trong Nam cũng được về.    

Đầu tháng 4/1991, vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ đoàn tụ với các Con chúng tôi đă vượt biển trong năm 1980 và 1981. Măi đến năm 1997, tôi được đọc lá thư ngày 10/6/1997 bằng Anh ngữ của cựu Đại Tướng John W. Vessey, gởi anh Hội Trưởng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Minnesota khi ông được mời tham dự đại hội H.O. tại địa phương ông cư ngụ. Sở dĩ có lá thư v́ ông không đến được, nên ông viết thư và muốn anh Hội Trưởng đọc trong buổi họp mặt để mọi người tham dự được nghe tâm sự của ông. 

Người dịch sang Việt ngữ là Ông hay Bà Nguyễn T. Ngọc Châu. Xin trích 3 đoạn:

“..... Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà tôi được Tổng Thống giao phó là phải t́m cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là “trại cải tạo”. Tôi cũng được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa Kỳ sẳn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng gia đ́nh họ sang Hoa Kỳ”.

“Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, chúng tôi không hi vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều mang danh “chiến dịch nhân đạo” -Humanitarian Operations- gọi tắt Anh ngữ là H.O. Do vậy mà danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt - Mỹ sử dụng, để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ.  

“Riêng với tôi, H.O. là biểu tượng của ḷng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và ḷng hi sinh. Tất cả những ai được gọi là H.O. đều là những anh hùng thực sự trong thời đại chúng ta”.

Tôi đưa lá thư của cựu Đại Tướng John W. Vessey vào đây, để quí độc giả thấy rơ sự dối trá của lănh đạo Việt Cộng khi họ huênh hoang rằng: “Với chính sách khoan hồng nhân đạo, lănh đạo nhà nước trả tự do cho ngụy quân ngụy quyền về với gia đ́nh, sau khi họ học tập cải tạo tốt” (trích trong Wikipedia).

Trong khi chính xác là lănh đạo Việt Cộng sử dụng tù chính trị chúng tôi, trao đổi với chánh phủ Hoa Kỳ để mong được thiết lập bang giao, và hy vọng được Hoa Kỳ giúp đỡ nền kinh tế Việt Nam suy sụp.       

Tóm tắt. V́ rập khuôn hệ thống trại tập trung của Liên Xô -cộng sản quốc tế- nên giam giữ mà không cần ṭa tuyên án hằng mấy trăm ngàn tù chính trị, như thể thế giới này không có ngành tư pháp trong hệ thống công quyền. Đến tháng 4/1992, hơn trăm người tù cuối cùng mới ra khỏi trại tập trung. Đúng là bản chất hận thù của cộng sản.  

Số 16. Tội ác “biệt giam 16.000 anh hùng tử sĩ VNCH dưới mộ”.

Năm 1965, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa được thành lập, trên diện tích 125 mẫu tây. Các công tŕnh xây dựng trên mô h́nh Con Ong, như sau:

(1) Trên lưng Con Ong là Nghĩa Dũng Đài, cao 43 thước. Phần dưới là Vành Khăn Tang. Từ Vành Khăn nh́n xuống triền đồi thoai thoải, sẽ là những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối, và tất cả đều giống nhau.

 (2) Chung quanh thân mà phần đuôi dài ra trông như h́nh quả trứng, chia làm 8 Khu theo h́nh nan quạt, đủ chỗ cho khoảng 30.000 ngôi mộ, là nơi an táng những anh hùng tử sĩ của dân tộc.

(3) Giữa đầu Con Ong là Đền Tử Sĩ, với ngôi mộ Chiến Sĩ Vô Danh.

(4) Trước đầu Con Ong là Cổng Tam Quan. Trước Cổng Tam Quan là con đường, biểu tượng cho Cây Kim của Con Ong thẳng ra xa lộ.

(5) Ngay đầu cây kim tại xa lộ, là Tượng Đài Thương Tiếc cao 5 thước, biểu tượng Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa, trong tư thế ngồi nghỉ trên bệ đá cao 3 thước, vẫn túi hành quân trên lưng, hai tay trên cây súng gác ngang bắp chân, với đôi mắt u buồn, nh́n xa xa phía trước ...

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng “quẵng ra đường”  hằng chục ngàn Thương Phế Binh Quân Lực VIệt Nam Cộng Ḥa từ trong hệ thống Quân Y Viện, và Họ phải lê lết xin ăn! Hơn 16.000 đồng đội đă an nghĩ trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, bị lănh đạo Việt Cộng "biệt giam" một cách nghiêm ngặt, không nén nhang hương khói! Một hàng rào kẻm gai bao bọc, với tấm bảng "khu quân sự, cấm lai văng, cấm chụp h́nh". Tương tự như 28 vị Tướng và 362 Đại Tá trong số nửa triệu Quân Nhân, Viên Chức, và các vị Dân Cử Việt Nam Cộng Ḥa, “bị đày đọa” trong hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực nam đến trại Cổng Trời biên giới cực bắc, quanh năm với bo-bo thay gạo! 

Ngày 27/11/2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng kư Quyết định 1568/QĐ bàn giao khu đất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa, với tên gọi là Nghĩa Địa B́nh An cho tỉnh B́nh Dương. Lúc ấy diện tích chỉ c̣n 58 mẫu tây, v́ Việt Cộng cướp đất của người dưới mộ để xây cất nhiều cơ sở lấn vào nghĩa trang, thậm chí vào sát chân Nghĩa Dũng Đài. Họ trồng rất nhiều Cây Sao, Cây Hắc Hương, Cây Muồng, chen lẫn giữa các ngôi mộ, để khi lớn lên th́ rễ của nó sẽ vào bên trong các ngôi mộ để giết người trong mộ thêm lần nữa!

Năm 2010, Hội Việt Mỹ (Vietnamese American Foundation) cố gắng vận động nhà cầm quyền Việt Nam trong công tác tu bổ nghĩa trang. Năm 2013, ông về Việt Nam theo lời mời của ông Lê Thành Ân, Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ tại Sài G̣n. Hai ông cùng lên B́nh Dương, nêu yêu cầu họ về những bậc thang lên Nghĩa Dũng Đài, tráng xi măng lối đi, và xây bàn thờ tại Nghĩa Dũng Đài, để những ai muốn cầu nguyện có chỗ để lễ vật, và có lư hương cắm nhang.

Trong khi thực hiện lời yêu cầu, th́ Việt Cộng lại tung tin là nghĩa địa này sẽ bị giải tỏa. Điều đáng quan tâm, là ngôi mộ nào đă bốc hài cốt đi th́ nhà cầm quyền tách khu đất đó ra khỏi nghĩa trang, v́ vậy mà khi có khoảng 3.000 ngôi mộ do thân nhân đưa về quê cải táng, th́ diện tích nghĩa trang đến cuối năm 2015 chỉ c̣n lại khoảng 29 mẫu tây!

Liệu, bao nhiêu năm nữa th́ họ sẽ công bố giải tán khu "Nghĩa Địa Nhân Dân B́nh An" với lư do không c̣n ngôi mộ nào để triệt tiêu chứng tích tội ác của họ đánh chiếm Việt Nam Cộng Ḥa để nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của Đệ Tam Quốc Tế?

 

Số 17. Tội ác về tiêu hủy văn hóa phẩm truyền thống (source: Wikipedia).

Sau khi nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam ngày 30/4/1975, nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản (= Việt Cộng) ra lệnh đ́nh chỉ mọi hoạt động văn hóa, gồm: “Rạp hát, rạp chiếu phim, nhà xuất bản , nhà in, và báo chí phải  ngưng hoạt động và chờ lệnh. Thêm nữa, tất cả tác phẩm của 800 tác giả như Doăn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, ..v..v.. bị cấm lưu hành. Các tác phẩm có nội dung chống cộng sản đều bị loại bỏ. Theo lệnh của lănh đạo Việt Cộng, tất cả phương tiện truyền thông ở Việt Nam đều là tiếng nói của đảng cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam,  nên có nhiệm vụ chánh là quảng bá đường lối và chính sách của đảng, và việc đưa tin là phụ.

Ngày 20/8/1975, Bộ Thông Tin Văn Hóa ra thông tri 218/CT75, ra lệnh cấm lưu hành các loại sách phản động. Tháng 9/1975, họ qui định danh mục sách bị cấm lưu hành, buộc các nhà bán sách báo và các nhà xuất bản thời chế độ cũ phải đem đốt tất cả. 

Tháng 5/1977, Việt Cộng Sài G̣n ra thông tri 1230/STTVH/XB, bắt dân chúng phải tiêu hủy hoặc mang nộp toàn bộ các ấn phẩm văn hóa thời Việt Nam Cộng Ḥa, trong khi Công An mở chiến dịch càn quét truy lùng sách báo cũ, chặn bắt người mua bán, thậm chí họ c̣n được lệnh vào nhà dân lục soát tịch thu bất cứ lúc nào họ muốn.

Tháng 6/1981, trong cuộc truy lùng càn quét của Công An, đă tịch thu khoảng 3.000.000 (3 triệu) ấn phẩm sách và báo. Riêng tại Sài G̣n, tịch thu được 60 tấn sách vở các loại theo tường tŕnh của tạp chí cộng sản. 

Tất cả có năm chiến dịch ở Miền Nam vào cuối 1975, đầu 1976, giữa 1977, giữa 1981, và giữa 1985. Ai lưu trữ ấn phẩm thời Việt Nam Cộng Ḥa đều bị truy tố dưới điều luật 82, trong đó ghi rằng: “Việc làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống chế chế độ xă hội chủ nghĩa là "trọng tội", có thể bị tù từ 10 năm đến 20 năm”.

Ngoài ra, c̣n có những trường hợp tiêu hủy sách một cách vô cớ như vụ đốt sách ở Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Chăm ở Phan Rang năm 1978, do Giám Đốc Thư Viện tỉnh ra lệnh. Hàng trăm tấn sách biến thành đống tro. Một số học giả cố vớt vát nhưng chẳng được bao nhiêu.

Các văn nghệ sĩ Miền Nam cũng bị bắt. Tính đến năm 1980, đă có 200 nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc, trước năm 1975 đă bị đẩy vào các trại tập trung cải tạo.

Lệnh của Bộ Văn Hoá Thông Tin Việt Cộng buộc mọi người phải tiêu hủy toàn bộ văn hoá phẩm thời Việt Nam Cộng Ḥa mà họ gọi là văn hóa phẩm đồi trụy và phản động. Họ mở chiến dịch truy lùng bắt giữ những ai tàng trữ, buôn bán, bắt giữ, và truy tố ra “ṭa án nhân dân”. Chính sách này giống chính sách của vua Tần Thỉ Hoàng thời Trung Hoa phong kiến, và thời Mao Trạch Đông cộng sản trong Cách Mạng Văn Hóa vậy.

Từ cuối thập niên 1980, sau cuộc "cởi trói" văn nghệ sĩ có nhiều tác phẩm được phép xuất bản nhưng ngay sau đó bị thu hồi. Trước tiên là cuốn tiểu thuyết Ly Thân của Trần Mạnh Hảo. Sách vừa in ra th́ có lệnh cấm ngay. Tiếp theo là sách của Dương Thu Hương với tác phẩm Những Thiên Đường Mù, tác phẩm Bên Kia Bờ Ảo Vọng, và Tiểu Thuyết Vô Đề. Bà Dương Thu Hương mạnh mẽ phản đối chính sách kiểm duyệt tại Đại Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1982. Kết quả là lănh đạo Việt Cộng ra lệnh cấm mọi tác phẩm của bà không được in hay bán trong nước. Năm 1989 bà bị đuổi khỏi đảng, và bị bắt giam năm 1991. Năm 2006, nhà văn Dương Thu Hương lưu vong tại Pháp.

Năm 2001, có lệnh tịch thu và tiêu hủy tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn

Năm 2002 Bộ Thông tin Văn hóa Việt Nam ra lệnh tịch thu và thiêu hủy những tác phẩm:

1. “Suy tư và ước vọng” của Nguyễn Thanh Giang. 

2. “Đối thoại năm 2000 và Đối thoại năm 2001” của Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân

3. “Gửi lại trước khi về cơi” của Vũ Cao Quận.

4. “Nhật kư rồng rắn: của Trần Độ.

Năm 2006 cuốn “Tranh luận để đồng thuận” của nhà xuất bản Tri thức, có in lại bài b́nh luận của Vơ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, và Nguyễn Đức B́nh, nhưng v́ có nội dung chỉ trích chánh phủ nên có lệnh cấm phát hành.

Đối với cuốn tiểu sử Ho Chi Minh: a Life của tác giả William Duiker, lănh đạo Việt Cộng cũng đ̣i xóa bỏ những đoạn liên quan đến người vợ Tăng Tuyết Minh trong bản dịch sang Việt ngữ. Tác giả phản đối, không chấp nhận việc cắt xén khiến cuốn sách bị trở ngại không được lưu hành. Cuốn The Spy Who Loved Us của Thomas Bass xuất bản năm 2009, viết về điệp viên Phạm Xuân Ẩn qua phiên bản tiếng Việt, đă bị cắt xén sau 5 năm kiểm duyệt khiến tác giả phải than phiền. Những đoạn bị cắt bỏ là phần viết về cuộc Cải Cách Ruộng Đất trên đất Bắc vào giữa những năm 1950.

Năm 2014 cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh, xuất bản ở ngoại quốc và bán qua <Amazon.com> khi gửi qua bưu điện về Việt Nam th́ bị giữ lại. Người mua phải viết giấy "từ chối nhận hàng vi phạm" v́ không đúng với luật xuất bản 2012. Bưu Cục c̣n ghi rơ sách bị cấm v́ "có nội dung nói xấu chế độ, xúc phạm lănh đạo Việt Cộng, không được nhập cảng. Lệnh cấm có khi chỉ là chỉ thị truyền miệng mà không có văn bản như cuốn “Petrus Kư Nỗi oan thế kỷ” của học giả Nguyễn Đ́nh Đầu. Sách đă được Cục Xuất Bản cấp lưu chiểu, nhưng đến hôm ra mắt sách vào đầu năm 2017 th́ được lệnh hủy bỏ v́ sách bị cấm lưu hành.

Ngay cả sách giáo khoa càng siết chặt hơn. Trong chiến tranh chống Trung Cộng hồi tháng 2/1979, theo Giáo Sư sử học Vũ Dương Ninh, người phụ trách bên soạn sách giáo khoa sử học lớp 12, đă thu gọn trong 4 trang, cũng bị cắt bỏ chỉ c̣n vỏn vẹn 11 ḍng. C̣n t́nh trạng mất một số Đảo và Đá Ngầm trên Biển Đông, cho đến năm 2016 cũng không có một trang nào, thậm chí không có một ḍng nào trong sách giáo khoa môn sử cả. Theo blogger Phạm Viết Đào, giới sử học chỉ được viết môn sử trong bản thảo sách giáo khoa, c̣n xuất bản như thế nào là quyền của Ban Tuyên Giáo trung ương và nhà xuất bản.

Số 18. Tội ác trong đổi tiền 1975-1978-1985 (source: Wikipedia).

Sau khi chiếm Việt Nam Cộng Ḥa ngày 30/4/1975, lănh đạo Việt Cộng ngụy trang bộ máy cầm quyền dưới tên gọi Chánh Phủ Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam. Lúc ấy, tổng số tiền giấy lưu hành là 615 tỷ đồng, và tồn trữ trong Ngân Hàng Quốc Gia hơn 1.000 tỷ đồng. Trong khi toàn bộ các ngân hàng bị niêm phong ngay chiều 30/4/1975. Và ngày hôm sau -1/5/1975- cộng sản ra lệnh quốc hữu hóa toàn bộ ngân hàng.    

Ngày 6/6/1975, cộng sản thành lập ngân hàng Quốc Gia Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam, và thông qua danh nghĩa này để thừa kế vai tṛ hội viên của Ngân Hàng Quốc Gia thời Việt Nam Cộng Ḥa trong các tổ chức tài chánh quốc tế.

Ngày 22/9/1975, tiền giấy Việt Nam Cộng Ḥa đang lưu hành với mệnh giá từ 50 đồng trở lên bị cấm lưu hành, và đổi sang tiền mới. Thời gian đổi tiền mới, từ 11 giờ sáng đến cuối 10 giờ tối ngày 22/9/1975, chỉ có 12 tiếng đồng hồ.

Có hai loại hối suất:

(1) Từ Đà Nẳng vào cực Nam, th́ 500 đồng Việt Nam Cộng Ḥa bằng 1 đồng tiền mới.

(2) Từ Huế ra cực Bắc, th́ 1.000 đồng Việt Nam Cộng Ḥa bằng 3 đồng tiền mới.

Căn bản:  Mỗi gia đ́nh, cứ 100.000 đồng Việt Nam Cộng Ḥa đổi được 200 đồng tiền mới. Nếu là tiểu thương, cứ 200.000 đồng tiền cũ đổi được 400 đồng tiền mới.  Và nếu hảng xưỡng, cứ 500.000 đồng tiền cũ, đổi được 1.000 đồng tiền mới.. 

  Trong số tiền đem đến đổi tiền mới theo căn bản nói trên, nếu số tiền c̣n lại tối đa là 100.000 đồng tiền cũ của mỗi gia đ́nh, và tối đa là 1.000.000 đồng tiền cũ đối với mỗi hảng xưỡng, bắt buộc kư thác vào ngân hàng. Nhưng sau khi nhận tiền kư gởi số tiền c̣n lại th́ ngân hàng đóng cửa. Đầu năm 1976, ngân hàng mở cửa lại, nhưng mỗi tháng gia đ́nh chỉ được rút tối đa là 30 đồng tiền mới, nhưng phải làm đơn gởi cho nhà cầm quyền địa phương và chờ cứu xét. Nhưng, đến cuối năm 1976, gia đ́nh cũng như hảng xưỡng, dù c̣n bao nhiêu tiền trong ngân hàng đều vuột khỏi nắm tay, v́ tất cả thuộc tài sản của lănh đạo Việt Cộng.

Về tỷ giá hối đoái với đồng mỹ kim lúc ấy:  1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim.

Ngày 3/5/1978, lại đổi tiền. Lần này đổi tiền trên toàn cơi Việt Nam, theo căn bản: 1 đồng tiền cũ miền Bắc đổi được 1 đồng tiền mới. 1 đồng tiền mới năm 1975 của miền Nam đổi được 0.80 đồng tiền mới cả nước.   

Tiêu chuẩn số tiền tối đa được đổi tiền như sau:

Thành phố: 100 đồng cho gia đ́nh 1 người. 200 đồng cho mỗi gia đ́nh 2 người. Gia đ́nh 3 người, th́ người thứ 3 trở lên, mỗi người được 50 đồng. Tối đa cho mỗi gia đ́nh là 500 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Miền quê: 100 đồng cho gia đ́nh 2 người. Gia đ́nh trên 2 người, th́ mỗi người từ người thứ 3 trở lên được đội 30 đồng. Tối đa cho mỗi gia đ́nh là 300 đồng, bất kể số người là bao nhiêu.

Số tiền được đổi, nếu trên mức tối đa phải khai báo và bắt buộc gởi ngân hàng, khi cần sử dụng phải xin phép nếu có lư do chính đáng. Một điều kiện bắt buộc, người dân phải chứng minh số tiền trên mức tối đa là do đâu mà có.

Năm 1985, đổi tiền lần thứ 3. Cứ 10 đồng tiền của năm 1978, đổi được 1 đồng tiền mới năm 1985.

Tóm tắt. Qua lần đổi tiền 1975, cộng sản đă nhân danh nhà cầm quyền mà cướp một khoản tiền của người dân Việt Nam Cộng Ḥa cũ, khi bắt buộc gởi vào ngân hàng. Nhưng chỉ cho rút tiền rất giới hạn mà lại phải có lư do gọi là “chính đáng” trong đơn xin, và một năm sau tổng số tiền của đồng bào c̣n lại trong ngân hàng đều biến mất. Đúng là bản chất cướp đoạt của cộng sản.

Về tỷ giá hối đoái. Năm 1975, sau khi đổi tiền, th́ 1.51 đồng tiền mới, đổi được 1 mỹ kim. Sau rất nhiều lần phá giá đồng bạc Việt Nam, đến ngày 11/2/2011, ngân hàng nhà nước Việt Nam ấn định tỷ giá mới là: 21.693 đồng Việt Nam, đổi được 1 Mỹ kim. Thử làm bài toán vể tỷ giá hối đoái giữa đồng bạc Việt Nam với đồng mỹ kim Hoa Kỳ:

- Năm 1975: Sau khi đổi tiền th́ 1.53 đồng bạc Việt Cộng, bằng 1 mỹ kim.

- Năm 1985: Đồng bạc Việt Nam tự phá giá: 10 đồng của năm 1975, đổi được 1 đồng của năm 1985, tức đồng bạc 1975 mất giá đến 10 lần.

- Ngày 14/3/2019: 23.130 đồng bạc Việt Cộng bằng 1 mỹ kim.

 Số 19. Tội ác tịch thu tài sản của dân (source: tham khảo trên Wikipedia).

Ngày 4/9/1977, Quyết Định số 111/CP do Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Hùng kư. Ngày 16/2/1976, Đỗ Mười (về sau là Tổng Bí Thư) là Trưởng Ban Cải Tạo trung ương, trực tiếp chỉ huy chiến dịch dánh tư sản mại bản trong cả 3 đợt.   

Đợt 1. Tịch thu nhà cửa đất đai tài sản của người Việt Nam Cộng Ḥa cũ, trong đó có người Việt gốc Hoa, nhưng giấu kín đến ngày 11/9/1975 đồng loạt thực hiện tại 17 tỉnh từ Quảng Trị trở xuống đến Cà Mau, và thành phố Sài G̣n.

Đợt 2, năm 1976-1979, tịch thu toàn bộ tài sản của người Việt gốc Hoa, và bắt buộc những người bị cướp hết tài sản, phải đến sống tại các nơi mà Việt Cộng gọi là khu kinh tế mới.

Và đợt 3 năm 1979-1984, tịch thu toàn bộ tài sản của các tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ, cơ sở kỹ nghệ nhẹ, và các công ty giao thông đường bộ, đường thủy.

Trong chiến dịch này, số lượng người Sài G̣n sau khi bị cướp toàn bộ tài sản, c̣n bị cưỡng bức đi khu kinh tế mới vào khoảng 600.000 người, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài G̣n qua các thời kỳ trong ḍng sử Việt.

Tổng kết trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ, vào khoảng 950.000 người bị đẩy đến các khu kinh tế mới. Sức mạnh kinh tế Sài G̣n tự nhiên bị phá hoại đến kiệt quệ hoàn toàn. Hơn 14.000 cơ sở tiệu thủ công nghiệp bị lănh đạo Việt Cộng cướp, cùng lúc khoảng 270.000 công nhân vừa mất việc vừa trắng tay v́ bị đẩy đến các khu kinh tế.

Sau khi tịch thu nhà cửa của khoảng 950.000 người bị đẩy đến các khu kinh tế mới mà thực chất là họ cướp nhà và tài sản. Ngay sau đó, lănh đạo Việt Cộng đưa khoảng 150.000 cán bộ cùng gia đ́nh của họ, từ Hà Nội vào chiếm giữ hằng trăm ngàn ngôi nhà đó làm nhà của họ. Cướp giật kiểu ấy chỉ có lănh đạo Việt Cộng từ ngoài rừng vào mới làm được.

Riêng về tổng số vàng và nữ trang tịch thu từ các nhà tư bản tại Sài G̣n từ tháng 5/1977 đến tháng 2/1978, được truyền thông của đảng thừa nhận lên đến 4.000 lượng vàng. Tính chung số vàng và nữ trang tịch trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa cũ lên đến khoảng 35.000 lạng vàng. Cướp giật kiểu ấy chỉ có lănh đạo Việt Cộng từ ngoài rừng vào mới làm được. Ngoài rừng, được hiểu là người hoang dă.    

Tư sản mại bản ngă quỵ, kinh tế xă hội dẫn đến mức lạm phát lên 80%, cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, lănh đạo Việt Cộng sợ Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Cộng, trong khi người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu t́nh đ̣i giữ quốc tịch Trung Hoa. Hành động này làm cho lănh đạo Việt Cộng lo lắng đến nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài, v́ e ngại Trung Cộng can thiệp dưới danh nghĩa bảo vệ dân của họ.

Theo nhận định của các chuyên gia Liên Hiệp Quốc về kinh tế: “Việt Nam đang tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế sau chính sách đánh tư sản Việt Nam Cộng Ḥa cũ. Hiện nay, Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới năm 1985, tính từ cuối bảng lên trên”.

  Số 20. Tội ác khi chiếm toàn bộ đất đai toàn quốc 1978 (source: Wikipedia). 

Tháng 5/1978. Chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị, toàn bộ đt đai trên lănh thổ Việt Nam trở thành tài sản của lănh đạo Việt Cộng, người dân chỉ được cho phép sử dụng -sau khi xét đơn xin- dưới tên gọi “người sử dụng đất”. Vậy là, sau khi cướp tài sản của 18.000.000 dân Việt Nam Cộng Ḥa (cũ), lănh đạo Việt Cộng cướp cả một phần đất trên mặt địa cầu.

Khi có Hiến Pháp, th́ đất đai chánh thức thuộc về lănh đạo Việt Cộng, mà họ ghi là “quyền sở hữu của toàn dân, và không công nhận quyền sở hữu đất đai của tư nhân”.  Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị, người dân phải làm đơn xin sử dụng đất để cất nhà hay làm vườn làm ruộng, phải chờ nhà cầm quyền cứu xét, c̣n cho phép sử dụng hay không là tùy thuộc quyền lợi của họ, hoặc những lúc họ vui hay buồn.

Chính v́ Chỉ Thị 43 mà toàn bộ đất đai trên toàn cơi Việt Nam vào tay lănh đạo Việt Cộng, và sau đó Hiến Pháp hợp thức hóa, đă dẫn đến hằng chục ngàn thậm chí là hằng trăm ngàn Dân Oan sống lang thang ở các công viên, v́ lănh đạo Việt Cộng cưỡng bách thu hồi đất dem bán cho các công ty ngoại quốc đầu tư, nhất là các công ty từ Trung Cộng tràn sang.  

Riêng tại Sài G̣n, báo Tuổi Trẻ đă thừa nhận hơn 10.000 tiệm bán hàng hóa vật dụng, bị đóng cửa chỉ trorng một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí biểu tượng của cả Sài G̣n, cũng bị truyền thông Việt Cộng tại Sài G̣n lúc bấy giờ rêu rao là tư bản chó đẻcần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí đă từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc, cũng bị lănh đạo Việt Cộng cướp sạch.

Tháng 3/2013, khi Quốc Hội Việt Cộng đang trong thời gian sửa đổi Luật Đất Đai, th́ Tổ chức Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam nhấn mạnh rằng: "Đối xử công bằng giữa các thành phần sử dụng đất là rất quan trọng đối với tăng trưởng công bằng hơn, và phát triển con người ở Việt Nam.

Ngân Hàng Thế giới tại Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sửa đổi luật đất đai tại Việt Nam: “Điều quan trọng là sửa đổi Luật Đất đai cần tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho việc quản trị đất đai một cách hiệu quả, công bằng, và bền vững hơn về môi trường đối với nguồn tài nguyên đất đai khan hiếm."

 Số 21. Tội ác vụ nộp vàng không được vượt biển (source: Wikipedia).

Trong những năm 1978-1979, khoảng 250.000 người Việt gốc Hoa trở về Trung Hoa qua biên giới phía Bắc mà Trung Cộng gọi đây là vấn đề “nạn kiều”. V́ chế độ cai trị khắc nghiệt trong khi kinh tế vô cùng khóa khăn, người Việt gốc Hoa cùng với người Việt chính thống thời Việt Nam Cộng Ḥa cũ, đă vượt biên vượt biển đến quốc gia thứ ba để t́m đường sống cho tương lai các con các cháu.

Công An Việt Cộng lừa người Việt gốc Hoa để cướp vàng, bằng cách bảo mỗi người phải nộp vàng th́ Công An cho lên tàu chở ra biển chờ tàu buôn ngoại quốc nhận và chuyển tiếp đến nước thứ ba. Chỉ có những chuyến tàu đầu tiên là trót lọt, sau đó là họ đưa ra biển rồi hôm sau quay vào, và họ viện dẫn sắp có băo, hoặc nói tàu bị hư, ..v..v... Không đi được mà vàng đă nộp th́ mất trắng.

Chuyện là tháng 11/1978, “Bộ Công An trách nhiệm thực hiện lệnh của lănh đạo Việt Cộng, cho phép các Sở Công An tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần người Việt gốc Hoa, với 3 lượng vàng mỗi đầu người, nhưng thực tế th́ Công An bắt mỗi đầu người ghi tên vượt biển phải nộp cho họ 7 lượng vàng, hoặc hơn thế nữa. Lệnh này có mục đích vừa đẩy thành phần đó ra khỏi Việt Nam, vừa thu vàng bổ sung ngân sách. Từ năm 1978 đến năm 1982, Bộ Công An thu được 700.000 lượng vàng”.

Bản tin này tôi nhận trên internet do một tổ chức chính trị bên Germany phổ biến. E-mail cũng cho biết, tin tức này tiết lộ từ Bộ Công An Việt Cộng.

Vàng th́ họ thu khi ghi danh, c̣n bao nhiêu người thoát khỏi Việt Nam th́ không ai biết, chỉ có họ với Trời mới biết số vàng khổng lồ đó đi đâu.

 Số 22. Tội ác đă đẩy người dân phải vượt biên vượt biển 1976-1995.

Ngay sau ngày đánh chiếm Việt Nam Cộng Ḥa 30/4/1975, hằng chục ngàn thương phế binh Việt Nam Cộng Ḥa bị đẩy ra khỏi toàn bộ hệ thống quân y viện + Đày đọa nửa triệu quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa trong hệ thống trại tập trung suốt 17 năm + Đoạt 16 tấn vàng thoi mà nói láo là cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă đem ra ngoại quốc + Đổi tiền để cướp tiền của đồng bào + Chiếm đoạt cơ sở những nhà buôn bán mà họ gọi là “chiến dịch đánh tư sản” để biến toàn xă hội thành vô sản + Gia đ́nh quân nhân viên chức cũ bị đối xử  kỳ thị trong mọi sinh hoạt xă hội, rồi buộc gia đ́nh quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Ḥa vào các khu kinh tế mới để cướp đoạt nhà cửa tài sản, sau khi bắt chồng họ vào các trại tập trung, ..v..v.. đă quá đủ để người Việt Nam Cộng Ḥa cũ khẳng định là không thể sống dưới chế độ cộng sản độc tài tàn bạo. Vậy là, mọi người t́m mọi phương cách trốn khỏi quê hương để t́m đất sống tại các quốc gia tự do.          

H́nh ảnh và tin tức tràn lan trên báo chí ngoại quốc, giùp cho thế giới nh́n thấy t́nh cảnh hằng triệu người Việt Nam Cộng Ḥa cũ phải xuyên rừng rậm vượt biên giới bỏ xác giữa rừng sâu, phải vượt biển trên những chiếc tàu thuyền bé bỏng, đă để lại những ḍng sông đẫm máu và xác người nhấp nhô trên biển cả mênh mông, đến mức thế giới phải kinh hoàng trước sự can đảm tột cùng của người Việt Nam vượt lên sự chết để t́m sự sống dân chủ tự do, đồng thời góp vào hồ sơ tội ác để cảnh tỉnh nhân loại về chủ nghĩa cộng sản.

 Theo tài liệu của Liên Hiệp Quốc công bố hồi tháng 6 năm 2000, th́ từ năm 1975 đến năm 1995, đă có 839.200 người vượt biên vượt biển đến tị nạn chính trị tại 91 quốc gia tự do, và Liên Hiệp Quốc ước lượng khoảng 400.000 đến 500.000 người đă chết trên biển và trong rừng, trên đường chạy trốn cộng sản! Lại cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 2 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do. 

Xin nhắc lại là trong 300 ngày từ sau Hiệp Định Đ́nh Chiến 20/7/1954 có hiệu lực, đă có 868.672 người từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa chạy vào nước Việt Nam Cộng Ḥa dân chủ tự do tị nạn. Từ năm 1954 đến năm 1956, có thêm 102.861 người trốn khỏi phần đất cộng sản vào phần đất tự do Việt Nam Cộng Ḥa chúng tôi tị nạn. Cộng chung là 971.533 người. Đó là cuộc bỏ phiếu bằng chân lần 1 “bầu chọn” Dân Chủ Tự Do.

 

Số 23. Tội ác với quân lính của họ khi Trung Cộng tấn công đá Gạc Ma.

“Hải chiến Gạc Ma 1988” là nhóm chữ nói đến 64 quân lính của họ giữ Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa, khi bị Hải Quân Trung Cộng tấn công Đá Chữ Thập từ ngày 31/1/1988, Đá Châu Viên ngày 18/2/1988, Đá Ga Ven ngày 26/2/1988, Đá Tư Nghĩa ngày 28/2/1988, Đá Xu Bi ngày 23/3/1988.

Riêng Đá Gạc Ma + Đá Cô Lin + Đá Len Đao bị tấn công cùng ngày 14/3/1988. Bài “Hải chiến Gạc Ma + Cô Lin + Len Đao” trong Wikipedia, mô tả trận chiến đă xảy ra giữa Hải Quân Việt Cộng với Hải Quân Trung Cộng, cuối cùng th́ Việt Cộng có 3 chiến hạm bị ch́m và 64 chiến sĩ tử trận, nói cho đúng là quân lính Việt Cộng ôm súng để bị Trung Cộng bắn chết. Phía Trung Cộng hư hại 1 xuồng đổ bộ và 24 chiến sĩ thương vong. Trong số 64 lính Việt Cộng ôm súng để bị bắn chết, có 8 xác được đồng đội mang về đất liền.

Rồi 27 năm sau, Thiếu Tướng Việt Cộng Lê Mă Lương, anh hùng lực lượng vơ trang nhân dân, từng giữ chức Giám Đốc Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Cộng tường thuật trong cuộc hội luận nhân ngày kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma, do Trung Tâm Minh Triết tổ chức vào năm 2015 tại khách sạn Công Đoàn.

Hôm ấy, Tướng Lê Mă Lương tường thuật: “Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lănh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đă được ghi vào tài liệu mà ta đă rơ rồi là trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng? Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người, là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù. Ngài Bộ Trưởng Quốc Pḥng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đă ra cái lệnh như vậy.”

Ông Nguyễn Khắc Mai, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Minh Triết, nói về vai tṛ của Tướng Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ Trưởng Quốc Pḥng, người được xem là đă ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:Ngài Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh, đă ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mă Lương đă tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma, th́ bây giờ ta phải công khai cái này. Một Bộ Trưởng Quốc Pḥng thấy giặc nó xâm lấn bờ cơi của ḿnh mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người ḿnh để cho nó nă súng nó bắn!

Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Lê Đức Anh: “Tôi cho rằng, lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ Trưởng Quốc Pḥng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của ḿnh như là bia sống, th́ tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người t́nh báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài ǵ đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lư lịch rồi được ḷng ông Lê Đức Thọ, rồi ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ Trưởng Quốc Pḥng, sau này thành Chủ Tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau ḷng lắm, và cho là một nỗi nhục của đất nước. Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy, nhiều xác người vẫn c̣n nằm dưới biển, và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng Bí Thư lại nói rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ ông ta phải t́m cách vớt lên, và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ, th́ ông ta bảo để im...”

Số 24. Tội àc từ hội nghị Thành Đô 1990 sẽ sáp nhập Việt Nam vào Trung Cộng năm 2020.

Trước hội nghị Thành Đô.

Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đă công bố hằng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam, và Đỗ Mười Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện Việt Nam, với Giang Trạch Dân Tổng Bí Thư, và Lư Bằng Thủ Tướng, đại diện lănh đạo cộng sản Trung Hoa ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Hoa.  Wikileaks khẳng định, tin tức dưới đây nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài G̣n gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu này có đoạn ghi rơ:

“.... V́ sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Hoa giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết ḿnh để vun đắp t́nh hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt nam bảy tỏ mong muốn đồng ư sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Hoa để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Hoa đă từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Hoa đă đồng ư và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Hoa”.

Ông Nguyễn Văn Linh (Wikipedia - Nguyễn Văn Linh), tên thật là Nguyễn Văn Cúc, chào đời ngày 1/7/1915 tại Hưng Yên. Không thấy nói tŕnh độ giáo dục, nhưng năm 14 tuổi có tham gia Học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên lănh đạo. Ngày 1/5/1930, khi rải truyền đơn chống Pháp th́ bị bắt với án tù chung thân tại trại tù Côn Đảo. Năm 1936, chánh phủ Pháp thay đi lănh đạo và ông được trả tự do. Ông Linh vào đảng cộng sản tại Hải Pḥng.

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6, ông Nguyễn Văn Linh giữ chức Tổng Bí Thư Ban Chấp Hành trung ương. Trong đại hội 7 năm 1991 và đại hội 8 năm 1996, giữ chức Cố Vấn, Ban Chấp Hành trung ương. Ông chết ngày 27/4/1998.

Ông Trần Quang Cơ (trích trong Google.vn). Giữ chức Đại Sứ tại Thái Lan từ tháng 10/1982 đến tháng 10/1986. Giữ chức Thứ Trưởng Ngoại Giao từ tháng 1/1987 đến 1993 ông về hưu.

Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao và giới trí thức ở Việt Nam đă chuyền tay nhau tập hồi kư và suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ Trưởng Ngoại Giao. Tập hồi kư 82 trang viết từ năm 2001, hoàn tất tháng 5/2003, nhưng chưa được phép xuất bản. Tác giả cung cấp những tài liệu giá trị về những vấn đề Việt Nam trong giai đoạn nguy khốn nhất về hồ sơ chiến tranh Campuchia, và hồ sơ tái lập bang giao giữa hai nước đàn anh Trung Cộng với đàn em Việt Cộng.

Ngày 9/4/1987, Bộ Chính Trị quyết định thành lập “Tổ Nghiên Cứu Nội Bộ” để t́m giải pháp trong bang giao với Liên Xô- Trung Cộng - Camphuchia. Ông Trần Quang Cơ là một thành viên trong tổ nghiên cứu này.

Ngày 20/5/1988, Nghị Quyết 13 nhắm giải quyết vấn đề Campuchia trước năm 1990, và cố gắng tái lập bang giao với Trung Cộng. Ngày 14/3/1989, Bộ Chính Trị quyết định rút hết quân khỏi Campuchia vào cuối tháng 9/1989.

Ngày 13/6/1990, Đại Sứ Trung Cộng tại Việt Nam Từ Đôn Tín, đến gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch và nói: Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đă chuẩn bị ư kiến về bang giao hai nước Trung Quốc-Việt Nam”.  

Ngày 29/8/1990, Đại S Trung Cộng Trương Đức Duy gặp Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trao thông điệp của Tổng Thư Giang Trạch Dân, mời các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Cộng vào ngày 3/9/1990, để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia, và vấn đề b́nh thường hoá bang giao giữa Việt Cộng với Trung Cộng.

Điều lạ là ngày 24/8/1990, Trung Cộng đă bác bỏ việc bàn chuyện b́nh thường hóa, mà đ̣i phải giải quyết vấn đề Campuchia trước. Theo ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ Trưởng Ngoại Giao nhận định: “Sự thay đổi đột ngột của Trung Cộng là do họ Hoa Kỳ, Nhật Bản, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với Việt Nam nên họ muốn phá Việt Nam”.

Ngày 30/8/1990, Bộ Chính Trị họp thảo luận về việc gặp lănh đạo Trung Cộng. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chúng ta cần hợp tác với Trung Cộng để bảo vệ Chủ Nghĩa Xă Hội và chống đế quốc, đồng thời ḥa hợp giữa Phnom Penh với Khmer đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia”. Quan điểm của Đại Tướng Lê Đức Anh về hồ sơ Campuchia: “Phải bàn về ḥa hợp dân tộc thực sự ở Campuchia, v́ nếu không có Polpot th́ chiến tranh vẫn tiếp tục”.

Ngày 2/9/1990, Ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có ông Hồng Hà chánh văn pḥng trung ương, ông Hoàng Bích Sơn Trưởng ban đối ngoại, và ông Đinh Nho Liêm Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, nhưng  không có B Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch, v́ cho rằng quan điểm ông Thạch không thích hợp trong cuộc họp này.

Trong hội nghị Thành Đô.

Ngày 3/9/1990. Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lư Bằng của Trung Cộng, đón các vị lănh đạo  Việt Cộng là ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô.

Buổi họp đầu tiên chiều hôm nay 3/9/1990- ông Nguyễn Văn Linh nói đến nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, và đặt trọng tâm vào vấn đề b́nh thường hóa bang giao Việt-Trung.

Ngày 4/9/1990. Buổi sáng tiếp tục họp. Những vấn đề hội nghị thảo luân hầu như đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nên quyết định khởi thảo một bản kỷ yếu của Hội Nghị. Lúc 2 giờ 30 chiều, tại khách sạn Kim Ngưu, lănh đạo hai nước Việt-Trung cử hành nghi thức kư kết chánh thức. Hai bên riêng biệt do Tổng Bí Thư và Thủ Tướng kư. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử của bang giao hai nước Việt-Trung.

Điều lạ là tác giả hồi kư chỉ cho biết hai bên đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nhưng không một chi tiết nào cho thấy hai bên đạt được những ǵ. Vậy, phải chăng những chi tiết đó thuộc loại tối mật?

Trong cuốn sách “Mao Chủ Tịch của tôi” của tác giả Hà Cẩn, Viện Văn Học Trung Cộng đă được giới thiệu trong “Những sự thật không thể chối bỏ”, có đoạn viết: ”Việt Nam cuối cùng cũng đă xích lại gần hơn nữa với Trung Quốc. Những ǵ thuộc về quan hệ tốt đẹp của hai đảng từ thời Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch đă được Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn sau chiến tranh biên giới năm 1979. Không có ǵ có lợi hơn cho cả Việt Nam và Trung Quốc khi đứng chung nhau”.

Sau hội nghị Thành Đô.

Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  5 điểm là quan điểm của Trung Cộng giải quyết hồ sơ Campuchia mà lănh đạo Việt Cộng không có quan điểm nào cả.  2 điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có 1 điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Cộng - Trung Cộng mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Cộng đối với Việt Nam, nhưng không thấy nói lập trường cũ là như thế nào.

Ông Giang Trạch Giang nhấn mạnh: “Các nước phương Tây rất chú ư tới bang giao của chúng ta. Các đồng chí đến đây, các nước không ai biết. Chúng ta cảnh giác vấn đề này, họ cho rằng Việt Nam xă hội chủ nghĩa với Trung Quốc xă hội chủ nghĩa đều do đảng cộng sản lănh đạo, họ họp nhau làm ǵ đây” V́ vậy, chúng ta giữ kín chuyện này, v́ t́nh h́nh quốc tế hiện nay, nếu để họ biết hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.

Ông Trần Quang Cơ nhận định: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là một sai lầm hết sức đáng tiếc trong bang giao giữa hai nước.

Trong khi đó, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động rất lớn đến ông Nguyễn Văn Linh, và dẫn đến tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách cản ngăn, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc có bành trướng thế nào đi nữa th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Tóm tắt tài liệu. Những sử liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước và bán nước do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những ai thật sự lương thiện đă không theo cộng sản, hoặc nhận thấy cộng sản tồi tệ nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là dối trá là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài của cộng sản. Vậy th́, mỗi chúng ta hăy đem những sự thật này đến với nhân dân Việt Nam, v́ đó là con đường ngắn nhất để cứu nước trước thảm họa đang đến rất gần. Đấu tranh cho dân chủ, trước hết phải lật đổ Việt Cộng.

Trích nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng.

Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, bang giao Trung-Việt bế tắc. Tháng 12/1986, trước t́nh h́nh quốc tế thay đổi, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu tan ră. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh t́m kiếm chính sách b́nh thường hóa với Trung Quốc. Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ư hội nghị bí mật vào ngày 03-04/9/1990. Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười, chấp nhận đàm phán với các nhà lănh đạo Trung Quốc

“Ngày 27/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quantôi đă báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu B́nh. Cuộc họp này liên quan đến việc b́nh thường hóa bang giao song phương Trung-Việt điều đặc biệt hệ trọng, nên để bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được tổ chức tại Thành Đô.

“Ngày 30/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ đến Thành Đô, để đàm phán nội bộ với Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Việt Nam Đỗ Mười. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào.

Với ḍng chữ tôi tô đậm trên đây, rơ ràng là Trung Cộng xem Việt Cộng không ra ǵ cả.

“Ngày 02/9/1990. Lúc 3 giờ 30 chiều, tôi lên chiếc máy bay riêng và cất cánh từ ngoại ô Bắc Kinh. Khoảng 6 giờ chiều đến sân bay Thành Đô, và di chuyn bằng xe đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛). T tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tại đây. Trong khi đồng chí Giang Trạch Dân đáp chiếc bay khác và đến Thành Đô sau tôi. Lúc 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân, trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai.

Thành Đô, ngày 3/9/1990. Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam. Khoảng 2 giờ trưa, Tổng Bí Thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, và Cố Vấn ban chấp hành trung ương đảng Phạm Văn Đồng, cùng đến Kim Ngưu tân quán. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí Thư  Nguyễn Văn Linh, mặc veston màu cà phê, phong thái học giả. Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười, mái tóc bạc trắng, cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc.

Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu. Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên đọc bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ bày tỏ về nguyên tắc, c̣n trọng điểm là b́nh thường hóa bang giao Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ tối, và vào tiệc lúc 8 giờ 30 tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân, tiếp tục làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh”. Ngày 4/9/1990. Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lănh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, cùng quyết định soạn thảo bản "Kỷ yếu hội nghị". 

Với những chữ mà tôi tô đậm có thể làm cho người đọc nghĩ rằng, nội dung đàm phán do Trung Cộng soạn thảo và Việt Cộng chấp nhận nhanh chóng, và Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đạt được mục đích khi ông nói rằng: “ Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”, để phản bác ư kiến các “đồng chí của ông” có ư ngăn cản ông đưa Việt Nam ngă vào ṿng tay Trung Cộng.    

(Trong h́nh. Hàng trước, từ trái sang phải: Vị trí số 1 tận cùng bên trái là ông Hoàng Bích Sơn. Vị trí số 3 là ông Phạm Văn Đồng. Số 4 ông Nguyễn Văn Linh. Số 5 ông Giang Trạch Dân. Số 6  ông Lư Bằng. Số 7 ông Đỗ Mười. Và vị trí số 9 tận cùng bên phải là ông Hồng Hà).

“Lúc 2 giờ 30 chiều, trên tầng lầu 1 của nhà khách Kim Ngưu. Tổng Bí Thư và Thủ Tướng của hai bên Trung Quốc với Việt Nam cùng kư. Đây là bước ngoặc lịch sử trong bang giao Trung-Việt. (Hết trích).

Sau ngày hội nghị Thành Đô kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam, rằng: "Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đă dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Quốc".

Một chút so sánh tổng quát giữa hai nhật kư. Trung Cộng mời họp và Việt Nam chấp nhận, đến những diễn biến như địa điểm họp, ngày giờ họp, nội dung họp, soạn thảo Biên Bản mà hội nghị gọi là “kỷ yếu hội nghị”, và hai bên cùng kư, th́ nội dung nhật kư của Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Trần Quang Cơ với nhật kư của Thủ Tướng Trung Cộng Lư Bằng, đều giống nhau.

Nhưng nội dung của Biên Bản th́ nhật kư của ông Lư Bằng chỉ viết: “…. có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đă đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, làm cho người đọc hiểu là lănh đạo Việt Cộng nhanh chóng chấp nhận quan điểm của lănh đạo Trung Cộng.

Trong khi nhật kư của ông Trần Quang Cơ viết như sau: Sau 2 ngày họp 3 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên Bản” gồm 8 điểm. Trong đó:  Năm điểm là quan điểm của Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia. Hai điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có ǵ tranh căi. Chỉ có một điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Nam - Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Quốc đối với Việt Nam”.

 Điểm thứ 8 th́ ông Trần Quang Cơ viết như sau: Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầm trong quan hệ giữa hai nước”.

“Trong bối cảnh Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đă tác động đến tư tưởng của ông Nguyễn Văn Linh, tư tưởng phục tùng Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù trong thời gian chuẩn bị, các ông Nguyễn Cơ Thạch, Vơ Chí Công, Trần Xuân Bách ngăn cản, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xă hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”.

Nhận định.

Người lănh đạo như Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh kéo Trung Cộng lại để thay thế Liên Xô, chừng như ông ta không hiểu ǵ về lịch sử Việt Nam mà vua Trấn Nhân Tông từ nửa cuối thế kỷ 13 đă nh́n thấy, rằng: “Trung Hoa phong kiến là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam”. Vua Trần Nhân Tông c̣n nh́n thấy kẻ thù vừa thâm lại vừa độc, bất cứ lúc nào cũng sẳn sàng gậm nhấm Việt Nam trên từng tấc đất tấc biển. Ngay trong thời đương đại, chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979 mà ông Nguyễn Văn Linh cũng không hề quan tâm, khi sử dụng chủ trương “kéo Trung Cộng lại gần Việt Cộng”, mà thật ra làm sao ông Linh kéo được Trung Cộng lại, mà chính là ông Nguyễn Văn Linh và nhóm bán nước của ông chui vào tay áo của lănh đạo Trung Cộng, cho nên bây giờ người Việt Nam trong nước được nhóm lănh đạo hiện nay chuẩn bị cho vào cái tḥng lọng của Trung Cộng sau 3 năm nữa!  

Xin nhớ rằng, lănh đạo Trung Cộng tấn công các tỉnh dọc biên giới Việt – Trung từ ngày 17/2/1979 đến ngày 17/3/1979. Chỉ một tháng thôi, với sự tàn phá kinh hoàng các tỉnh biên giới mà Trung Cộng gọi là dạy cho Việt Cộng bài học. Với một lực lượng gồm 300.000 quân + 550 xe tăng + 480 khẩu đại bác + 1.260 khẩu súng cối, Trung Cộng cho rằng “đây là cuộc điều quân quân trong một cuộc chiến lớn nhất từ sau chiến tranh Triều Tiên 1950. Tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy tấn công Lạng Sơn và Cao Bằng, và Tướng Dương Đắc Chí chỉ huy tấn công vào Hoàng Liên Sơn.         

Sau 30 ngày, quân Việt Cộng và dân Việt Nam tổn thất theo bản tin của Trung Cộng th́ khoảng 50.000 người Việt Nam chết. Trong khi báo Times loan tin phía Việt Cộng khoảng 10.000 quân lính tử trận và 1.600 quân lính bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Người dân Việt Nam thiệt hại hết sức nặng nề: (1) Các thị xă Lạng Sơn + Cao Bằng + Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn. (2) Tất cả 320/320 xă + 735/904 trường học các cấp + 428/430 bệnh viện bệnh xá + 41/41 nông trường + 38/42 lâm trường +81 xí nghiệp + hầm mỏ + 80.000 mẫu tây hoa màu + 400.000 gia súc, tất cả bị hủy hoại hoàn toàn. (3) Khoảng 1.700.000 dân bị mất sạch nhà cửa + tài sản + phương tiện sinh sống.   

Vậy mà, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh vẫn cố gắng để được kẻ thù ôm vào vóng tay -ngang qua hội nghị Thành Đô- để được ngồi yên trên chếc ghế Tổng Bí Thư. Thật là ghê tởm với lănh đạo cái đảng cộng sản, một thứ rác phế thải của nhân loại!

Hậu quả của nó chưa hết. Quân Trung Cộng trong khi “dạy cho Việt Cộng bài học trong 30 ngày” đă có hằng chục ngàn người quân lính chết, dù ở sát biên giới nhưng họ nhất định chôn quân lính của họ ngay trên lănh thổ Việt Nam. Trong cùng thời gian, quân lính Việt Cộng chết cũng chôn trong một nghĩa trang riêng. Điều rất lạ, là lănh đạo Việt Cộng cấm quân lính của họ không được đến nghĩa trang làm lễ tưởng niệm hằng chục ngàn đă chết trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979, nhưng họ lại ra lệnh tu bổ nghĩa trang của quân lính Trung Cộng, và được lănh đạo Trung Cộng khen ngợi.  

Những tài liệu của Trung Cộng đă chứng minh nhóm dâng nước cho Trung Cộng do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những người Việt Nam tử tế đă không theo cộng sản, những người đi theo cộng sản nhưng khi nhận ra cộng sản độc tài tàn bạo nên đă ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là độc tài, là dối trá, là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài cộng sản, đến mức ông ta c̣n nói “dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, th́ Trung Quốc vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa”. Với trọng tâm của Biên Bản Thành Đô, ông Trần Quang Cơ nói là ”hết sức sai lầm” trong bang giao giữa hai nước, trong khi ông Lư Bằng nhấn mạnh là “bước ngoặc lịch sử”.   

Cho dù có phải hay không phải, th́ những sự kiện từ sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay, vẫn là một chuỗi sự thật trên quê hương Việt Nam mà lănh đạo Việt Cộng không thể phủ nhận, v́ chính họ đă và đang tiếp tay cho Trung Cộng thực hiện. Dưới đây là một số bằng chứng.

 

Số 25. Tội ác trong Ủy Hội Sông MeKong. 

Năm 1995, trong hội nghị trên lănh thổ Trung Cộng –nhưng Trung Cộng không tham gia- để thành lập Ủy Hội Sông MéKong, các nước tham dự đă thỏa thuận không phản ứng khi có bất cứ

quốc gia nào khai thác ḍng sông MéKong. Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là ông Nguyễn Mạnh Cầm, một trong bốn quốc gia hội viên trong hội nghị, mà không một lời tranh đấu cho quyền phản kháng của một quốc gia hạ nguồn, v́ bất cứ một đập nào trên thuợng nguồn cũng ảnh hưởng đến sự sống của người Việt Nam nói chung, và gần 20.000.000 người dân vùng đồng bằng Cửu Long nói riêng.

Trung Cộng không tham gia Ủy Hội Sông Mekong, nhưng đứng ra tổ chức hội nghị. Điều đó cho phép độc giả tin rằng, Trung Cộng đă “khuyên” các đại diện tham dự không được thảo luận đến “quyền phản kháng của các nước thành viên”. V́ không quốc gia nào có quyền phản đối, nên từ năm 2001, Trung Cộng bắt đầu xây dựng một hệ thống đập thủy điện trên phần thượng lưu sông Mê Kông (Trung Cộng gọi là Lạng Thương Giang) mà không tham khảo ư kiến các nước vùng hạ lưu, cũng không thông báo những tin tức về ḍng chảy của con sông này. Sáu đập lớn đă xong hoặc đang xây dựng, là:

(1) Đập Dacgaoshan, phiên âm là Đại Chiếu Sơn, hoàn thành năm 2003.

(2) Đập Manwan, phiên âm là Măn Loan, xong năm 2007.

 (3) Đập Jinghong, phiên âm là Cảnh Hồng, xong năm 2009.

(4) Đập Xiaowan phiên âm là Tiểu Loan, cao 300 thước, xong năm 2010.

 (5) Đập Nuozhadu, phiên âm là Nọa Trát Độ, cao 248 thước, dự trù xong vào năm 2017.

(6) Đập Gonguagao (không thấy phiên âm), dự trù xong vào năm 2020. Ngoài ra, c̣n 9 đập nhỏ cũng đang xây dựng. 

Theo sau Trung Cộng, là Lào với Cam Bốt cũng có 11 dự án xây dựng đập thủy điện trên ḍng sông Mê Kông trong phần lănh thổ của họ.

Lào với 9 dự án thủy điện là đập Pak Beng, Luang Prabang, Xayaburi, Pak Lay, Xanakham, Lat Sua, Ban Koum, đập Don Sahong, và đập Pak Chom.

Cam Bốt với 2 dự án thủy điện là đập Strung Treng và đập Sambor.

Năm 2012, Tổ chức Ủy Hội Sông Mê Kong nhận định: "Trước mắt, Việt Nam sẽ phải đối mặt với 4 vấn đề sau đây.

Về ḍng chảy, ảnh hưởng đến nông nghiệp và ngư nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long do mực nước ngày càng xuống thấp, và nước mặn từ biển xâm nhập vào những sông rạch vùng này sẽ gia tăng.

Về phù sa, khoảng 26 triệu tấn phù sa/năm hiện nay sẽ c̣n lại khoảng 7 triệu tấn/năm, dẫn đến suy giảm năng suất nông nghiệp, cùng lúc sẽ gia tăng hiện tượng sạt  lở bờ sông làm giảm dần diện tích đất liền.

 Về thủy sản, đồng bằng này sẽ thiệt hại khoảng 1 tỷ mỹ kim do tổn thất các loài cá trắng chiếm đến 65% lượng cá trên sông này. Trong khi đó, cá trắng lại là thức ăn của cá đen, chiếm 35% lượng cá c̣n lại, nên sự biến mất của cá trắng, cũng có nghĩa là cá đen cũng biến mất.

(H́nh của AFP. Vùng đồng bằng Cửu Long bị nước mặn tràn vào. Màu đỏ đậm là nước mặn, màu đỏ hồng là nước lợ)

Về mặt xă hội, khoảng 14 triệu nông dân và ngư dân sống dựa vào sản xuất nông nghiệp ngư nghiệp, sẽ bị ảnh hưởng nặng".

 Ủy Hội Sông Mê Kông nhận định tiếp: "Trong 17 đập thủy điện suốt chiều dài sông Mê Kông, không có đập thủy điện nào của Việt Nam, nhưng Việt Nam là quốc gia hạ nguồn gánh chịu mọi thảm họa từ các đập đó. Trong khi các đập thủy điện đó hoạt động sẽ đem lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia chủ nhà, nhưng Việt Nam sẽ mất đến 65% lượng cá, và hơn 100 loài sinh vật sẽ lâm vào cảnh giảm dần cho đến tuyệt chủng. Thiệt hại nông nghiệp do lũ từ những hồ chứa nước đổ xuống, ước tính vào khoảng 5 triệu mỹ kim mỗi năm. Lượng phù sa giảm trên đưới 65%, và nông dân ngư dân sẽ lâm vào t́nh cảnh thảm hại, tự nó sẽ tác động đến vấn đề xă hội".

Nay là năm 2016, người dân đồng bằng sông Cửu Long đang chết dần, v́ nước không lên đồng ruộng nên không thể trồng được lúa, ḍng nước Cửu Long cạn dần nên nước biển tràn sâu vào nội địa các tỉnh ven biển, từ G̣ Công, Mỹ Tho, Bến Tre, xuống Trà Vinh, Vĩnh Long, rồi Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, và ṿng qua Rạch Giá, cá nước ngọt cũng biến mất!

 26. Tội ác chấp nhận thực hiện tư tưởng của lănh đạo Trung Cộng.

Ngày 27/12/2014,  trên làn sóng đài BBC, Phó Giáo Sư Tiến Hoàng Ngọc Giao, Viện Trưởng Viện Chính Sách Pháp Luật và Phát Triển thuộc Vusta, lập lại đoạn cuối trong phần trả lời cuộc phỏng vấn của Tân Hoa Xă Trung Cộng, th́ ông Du Chí Thanh nói rằng: “.... Chuyến thăm này của tôi tại Việt Nam, là nhằm củng cố niềm tin, xây dựng sự nhất trí và thúc đẩy bang giao Việt - Trung đi đúng hướng".

Trong khi đó, tờ Thời Báo Hoàn Cầu ngày 5/1/2015, dẫn lời b́nh luận của thông tấn xă Trung Cộng về phát biểu của ông Du Chính Thanh tại Việt Nam, rằng: “Phải thúc đẩy quan hệ Việt - Trung phát triển đúng hướng mà phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt là tư tưởng chỉ đạo”.

Vậy, phương châm 16 chữ vàng xuất xứ từ Trung Cộng trước hay sau hội nghị Thành Đô? Tôi vào trang Google.vn t́m thấy như sau:

“Tháng 2/1999, khi hội đàm với Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Khả Phiêu, ông Tổng Bí Thư Trung Cộng là Giang Trạch Dân, đề ra phương châm 16 chữ vàng, là "n định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”, xác định tư tưởng chỉ đạo cho bước phát triển mới giữa hai nước, ông Lê Khả Phiêu vui vẻ nhận và đồng ư đưa vào bản Tuyên B Chung”.

Tháng 11/2000, khi ông Nông Đức Mạnh, Tổng Bí Thư mới của Việt Cộng sang thăm, ông Giang Trạch Dân lập lại 16 chữ vàng là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước”. Ngày 19/7/2005, khi hội kiến với ông Ôn Gia Bảo, Thủ Tướng Quốc Vụ Viện Trung Cộng, Chủ Tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương khẳng định rằng: “Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức ḿnh để thực hiện phương châm 16 chữ và quan hệ 4 tốt”. (hết trích)

Và lần này, liệu ông Du Chí Thanh có hướng lănh đạo Việt Cộng thực hiện bước nữa trên “hành tŕnh” tiến đến năm 2020 như nội dung Biên Bản Thành Đô chăng? Bước nữa, có nghĩa là Việt Cộng sử dụng “nhân dân tệ” trong toàn dân chăng? 

Vậy là, chính xác 16 chữ vàng là do Trung Cộng đưa ra sau hội nghị Thành Đô năm 1990, với nội dung là Trung Cộng lănh đạo và Việt Cộng thi hành. Vậy là, lănh đạo Trung Cộng giăng ra cái bẫy, và lănh đạo Việt Cộng vui vẽ chui vào đó để được Trung Cộng gọi là đúng hướng. V́ vậy mà mỗi khi họ thấy sai hướng, th́ họ sang dạy cho Việt Cộng bài học đúng hướng theo hội nghị Thành Đô.  

 

Số 27. Tội ác dâng cho Trung Cộng 789 cây số vuông biên giới.

Bác sĩ Trần Đại Sỹ, lúc ấy làm việc cho “Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu” (viết tắt của Pháp ngữ là CEF) và “Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa” (viết tắt của Pháp ngữ là CMFC). Ngày 9/1/2000 - tức 10 ngày sau ngày kư Hiệp Ước dâng đất biên giới- ông được hai người bạn Trung Hoa đang là kư giả cho ông biết chính xác là 789 cây số vuông thuộc hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng đă thuộc về Trung Cộng. Về mặt chính quyền, bộ Ngoại Giao Việt Cộng đă lặng lẽ sửa câu văn trong trang Web trên internet mà Các Anh gọi là mạng lưới thông tin toàn cầu, như sau: “Lănh thổ Việt Nam khởi từ Cây Số KHÔNG ở phía bắc”. Ông nói thêm: “Cây Số Không bây giờ lui vào nội địa Việt Nam 5 cây số”.

Năm 1999, tặng 789 cây số vuông biên giới.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang tại Hà Nội có bài viết như một lời than từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, rằng: “... Hiệp Ước bán phần đất biên giới chỉ được lănh đạo Vit Nam thông báo trong nội bộ đảng, như thể đất nước này là tài sản riêng của đảng cộng sản vậy. Thông báo chánh thức đó như thế này: Toàn bộ diện tích các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau khoảng 227 cây số vuông. Qua đàm phán, hai bên đă thỏa thuận khoảng 113 cây số vuông thuộc Việt Nam, và khoảng 114 cây số vuông thuộc Trung Hoa. Như vậy, diện tích được giải quyết cho mỗi bên xấp xỉ ngang nhau, hoàn toàn không có việc ta để mất một diện tích lớn như bọn phản động và bọn cơ hội chính trị bịa đặt”. Rồi ông Giang mỉa mai: Vậy là cái xấp xỉ đó có mất đất thật! Nhưng mất theo nguyên tắc nào? V́ sao Việt Nam chỉ có 320 ngàn cây số vuông lại phải xẽ cho Trung Hoa với diện tích 9 triệu 600 ngàn cây số vuông để họ có thêm 1 cây số vuông nữa? Cho dù Trung Hoa có 1 tỉ 300 triệu dân, nhưng đâu phải họ thiếu đất cho dân ở đến nỗi Việt Nam phải chia cho họ 1 cây số vuông?” .....  

Ông chợt nhớ đến cụ Đỗ Việt Sơn ngót 80 tuổi đời mà trong đó gần 60 tuổi đảng, cụ Sơn đă dơng dạc đề nghị không thông qua bản Hiệp Định biên giới Việt Nam-Trung Hoa, để rồi cụ phải chịu bao nhiêu sách nhiễu răn đe hỗn xược của Công An.

Ông Giang cũng nhớ đến Bùi Minh Quốc! Là nhà văn nhà thơ, thiên chức đó thôi thúc Bùi Minh Quốc không thể bàng quan, không thể nín lặng, anh đă lặng lẽ làm một cuộc hành tŕnh dọc biên giới phía Bắc, nơi mà hiệp định đă cắt một phần biên giới cho Trung Hoa, để rồi anh bị quản chế giam hảm tại nhà.

Lại đến nhà xă hội học Trần Khuê, cũng chung số phận hẩm hiu như Bùi Minh Quốc. Ông Giang khẳng định: “Trung Hoa là người láng giềng, sông liền sông núi liền núi, nhân dân hai nước sáng sớm cùng chung nghe tiếng gà gáy ó o, khi tắt lửa tối đèn cùng sống với nhau trong thân bằng quyến thuộc, nhưng Trung Hoa chưa bao giờ là người láng giềng tử tế cả, không chỉ không tử tế đối với Việt Nam chúng ta mà đối với các quốc gia lân bang cũng vậy ...”

Vậy là Ải Nam Quan từ trong lịch sử của chúng ta đă mất vào tay Trung Cộng! Nhưng nỗi đau của người dân Việt chúng ta là mất đất trong ḥa b́nh, mất đất trong cái gọi là 16 chữ vàng mà lănh đạo của Các Anh luôn rao giảng trong quân đội và buộc Các Anh phải tôn trọng”.

 

Số 28. Tội ác bán biển trong vịnh Bằc Việt 2000.

Sau khi lấn chiếm biên giới xong, Trung Cộng xoay qua Vịnh Bắc Việt. Ngày 31/12/1999. ông Tang Jiaxuan, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Cộng sang Hà Nội gặp riêng Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu bàn về biên giới trên Vịnh Bắc Việt.

Ngày 25/2/2000, Lê Khả Phiêu cử Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh cho biết là (lănh đạo Việt Cộng) đồng ư sẽ giao thêm phần biển trên Vịnh Bắc Việt.

Từ đó đến ngày 25/12/2000 -sau nhiều   quốc gia cộng sản- Chủ Tịch Trần Đức Lương sang Bắc Kinh gặp Chủ Tịch Giang Trạch Dân, và hai bên cùng kư Hiệp Ước. Theo đó, lănh đạo Việt Cộng bán một phần Vịnh Bắc Việt cho lănh đạo Trung Cộng với giá 2.000.000.000 mỹ kim (2 tỷ), và lănh đạo Trung Cộng trả cho lănh đạo Việt Cộng qua h́nh thức đầu tư.

Hăy nghe Lư Bằng nói với Trần Đức Lương tại Quảng Trường Nhân Dân ngày 26/12/2000 như sau: “Số tiền 2 tỷ mỹ kim để mua một phần Vịnh Bắc Việt là hợp lư”. Lư Bằng nói tiếp: “Trong thời gian chiến tranh, Trung Hoa đă giao cho Việt Nam vô số vũ khí để mua vùng đất Sapa, Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, ... của Việt Nam”.

Vậy là Trung Cộng đă chiếm đoạt 789 cây số vuông trên biên giới, và 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt mà Trung Cộng không tốn một mạng người, không tốn một viên đạn, không tốn một giọt xăng dầu, cũng không nhỏ một giọt mồ hôi, họ chỉ cần nhón 3 ngón tay cầm cây viết kư vào bản Hiệp Ước là xong!

 

Số 29. Tội ác cho Trung Cộng chiếm giữ nơi eo thắt miền Trung Việt Nam.

Năm 2006, Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng,  cấp phép cho công ty Formosa khai thác khu kỹ nghệ Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh. Thành lập tháng 4/2006 trên diện tích 22.781 mẫu tây, bao gồm 9 xă thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tỉnh. Toàn bộ dự án sẽ tiếp nhận 30.400 lao động, và bà Nguyễn Thị Hải Vân, Cục Trưởng Cục Việc Làm/Bộ Lao Động & Thương Binh Xă Hội, xác nhận số công nhân Trung Cộng tại đây là 10.000 người..

Dự án Formosa với khu gang thép và hải cảng Sơn Dương trên một qui mô lớn. Với vốn đầu tư trong giai đoạn 1 lên đến 7 tỷ 900 triệu mỹ kim, với công suất 7.500.000 tân thép/năm. Giai đoạn 2, vốn đầu tư lên đến 28 tỷ mỹ kim, với công suất 22.500.000 tấn/năm. Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải -nguời Việt gốc Tàu- đă ưu đăi cho phép họ được xây nhà để bán cho 15.000 công nhân X 4 mỗi gia đ́nh, cộng chung lên đến 60.000 người. Họ cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, lại được miễn giấy tờ nhập cảnh mà chỉ cần giấy chứng nhận của tỉnh Hà Tỉnh là đủ.

Khu kinh tế Vũng Áng, là một trong những vị trí chiến lược về mặt  quân sự, v́ lănh thổ Việt Nam với dạng h́nh cong chữ S theo chiều bắc nam khoảng 1.500 cây số tính theo đường chim bay, hai đầu ph́nh ra và eo thắt ở giữa. Bề ngang lănh thổ theo chiều Đông Tây: Nơi rộng nhất của Miền Bắc khoảng 600 cây số, từ A-pa-chài đến Móng Cái. Miền Nam rộng nhất khoảng 370 cây số từ Hàm Tân đến Hà Tiên. Nơi eo thắt ở Miền Trung là Đồng Hới, từ bờ biển vào đến biên giới Việt-Lào chỉ có 37 cây số. Đă eo thắt, lại là vùng núi non hiểm trở, nên người dân chỉ sinh sống trên dăi đất hẹp dọc theo bờ biển. Tại đây c̣n có hải cảng Sơn Dương phía nam Vũng Áng, vị trí này cùng vĩ tuyến 18 với cảng Tam Á phần cuối đảo Hải Namnơi có hạm đội nguyên tử của Trung Cộng.

Vị trí cảng Sơn Dương cũng nằm ngay chân phía bắc đèo Ngang, nơi có quốc lộ 1A với đường đèo và đường hầm qua núi. Độ sâu cảng Sơn Dương trên 16m, và sau khi xây đoạn đê dài 3.000 thước từ Mũi Ṛn đến Ḥn Sơn Dương để chắn gió, th́ hải cảng này có giá trị về quân sự lẫn kinh tế. V́ vậy, cảng Sơn Dương là vị trí chiến lược trên đất liền lẫn đường hàng hải ra vào vịnh Bắc Việt, kiểm soát đường biển và đường bộ từ Miền Nam và Miền Trung tiếp tế cho miền Bắc Việt Nam khi chiến tranh.

Ngày 4/4/2016, ngư dân Nguyễn Xuân Thành, 36 tuổi, khi lặn xuống biển “săn” cá, đă nh́n thấy một đường ống xả các chất thải rất lớn sâu dưới mặt biển. Đường ống này được chôn dưới đáy biển, phủ phía trên là một lớp đất cùng nhiều đá hộc, chiều dài của đường ống khoảng 1 cây số rưỡi, và đường kính 1 thước 10 phân. Một đầu của đường ống nối từ khu vực dự án Formosa, đầu kia nối liền với 3 đoạn đường ống nhỏ, mỗi đoạn dài khoảng 2 thước, với đường kính khoảng 40 phân. Lúc tôi nh́n thấy đường ống này đang phun nước rất mạnh. Nước phun từ đường ống ra có màu vàng đục, nhừa nhựa, rất hôi thúi, làm cho tôi cảm thấy như nghẹt thở”.

.Ngày 6/4/2916, vùng biển khu kinh tế Vũng Áng bỗng dưng cá chết trôi dạt vào bờ trắng xóa dọc băi biển Hà Tĩnh, rồi băi biển Quảng B́nh ngày  10/4/2016, đến băi biển Quảng Trị và Thừa Thiên ngày 19/4/2016, như một thảm họa của loài cá sống ở đáy biển, cũng là thảm họa của người dân 4 tỉnh này -nhất là ngư dân- rất lo ngại về sự sống của họ, bởi trọng lượng cá chết đă vớt lên khoảng 30 tấn trong những ngày đầu tiên.

Ngày 21/4/2016, ông Phạm Khánh Ly, Vụ Phó Vụ Nuôi Trồng Thủy Sản/Tổng Cục Thủy Sản, trả lời phỏng vấn, rằng: "Với tư cách là cơ quan quản lư hàng dọc, chúng tôi đến làm việc với Sở Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn tỉnh Hà Tĩnh, được xác nhận "Đoàn công tác không vào kiểm tra khu Vũng Áng được, v́ đây là Khu kỹ Nghệ có yếu tố nước ngoài, nên cần thành lập đoàn công tác liên ngành, nhưng phải có lệnh của Thủ Tướng mới tiến hành kiểm tra được"  Ông cũng xác nhận là có một ngư dân Hà Tĩnh tŕnh báo là đă nh́n thấy một đường ống rất có thể là hệ thống xả nước thải từ khu gang thép Formosa ra biển

Vậy mà, hai tuần sau đó, Tổng Bí Thư Việt Cộng là ông Nguyễn Phú Trọng đến thăm công ty Formosa, ông ta hết lời ca tụng những thành công của công ty này tại địa phương và trên toàn quốc. Ông Trọng không đến thăm một người dân, cũng không xem một tấc biển đầy cá chết, thậm chí không một lời nào nói về thảm họa này!

Có những lúc tôi dừng tay viết, tôi nghĩ: “Không biết cái ông Trọng này có phải là người Việt Nam hay không, mà lại vô cảm đến như vậy?” Rồi tôi nhớ lại và tự mĩa mai ḿnh, v́ lănh đạo Việt Cộng làm quái ǵ có trái tim máu đỏ, mà là họ chỉ có trái tim với ḍng màu đen thủi đen thui thôi, mà khi ḍng máu đen luân lưu trong người họ th́ họ chỉ có hận thù với những ai không phải là Việt Cộng, thậm chí khi đă là Việt Cộng với nhau, họ vẫn thù hận nhau, nêu không cùng phe theo Tàu, không cùng nhóm lợi ích”. 

Nay là giữa năm 2017, lănh đạo Việt Cộng vẫn chưa giải quyết ổn thỏa cho ngư dân trong vùng đang vô cùng khốn khổ, kể cả 500.000.000 mỹ kim do công ty Formosa đă bồi thường. V́ vậy mà những cuộc biểu t́nh mạnh mẽ phản đối Formosa có lúc lên đến hơn ngàn người tham gia, thậm chí đ̣i nhà nước hủy hợp đồng với công ty này. Lănh đạo Việt Cộng không hề lên tiếng về yêu cầu của người dân biểu t́nh, trong khi lặng lẽ cho ŕnh rập và dùng mọi mánh khóe để sách nhiễu hoặc bắt giữ những người mà họ cho là xách động biểu t́nh.  

 Số 30. Tội ác cho Trung Cộng chiếm giữ nóc nhà Tây Nguyên.

Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng đă kư Quyết Định số 167/2007, về thăm ḍ khai thác quặng Bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than & Khoáng Sản quốc doanh Việt Nam thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Cộng khai thác.

Dự án này sẽ khai thác tại Nhân Cơ tỉnh Đắc Nông và Tân Rai tỉnh Lâm Đồng, tổng mức đầu tư ước tính đến năm 2019 sẽ 190.000 đến 250.000 tỷ đồng. Trong dự án cần xây đoạn đường sắt dài 270 cây số để vận chuyển hang xuống cảng Kê Gà ở B́nh Thuận.

Ngày 10/3/2009 (TuanVietNamNet online)., Thiếu Tướng Việt Cộng Nguyễn Trọng Vĩnh trả lời báo chí, rằng: “Cha ông ta từ xưa đă nhận định vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức nếu ai chiếm được Tây Nguyên th́ coi như đă làm chủ được Việt Nam và Đông Dương. Sau này người Pháp, người Mỹ, và thế giới cũng nhận thức được vị trí yết hầu của khu vực này với câu nói nổi tiếng: “Đây là nóc nhà của Đông Dương”. Vùng đất này là ngă ba Đông Dương, cho nên khi chiếm được khu vực này th́ cũng dể dàng chiếm được 3 nước Đông Dương”.

Ngày 3/4/2009 (Đối thoại online). Thiếu Tướng Công An Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến Lược & Khoa Học Bộ Công An, phân tách về địa thế của Tây Nguyên như sau: “Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đă có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đă thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri, sát biên giới tỉnh Dak Nông với thời gian 99 năm, và họ đă làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-tô-pơ, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngă ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia.

Tác động đối với nguồn điện năng. Việc khai thác bauxite sử dụng rất lớn điện năng, gây trầm trọng thêm sự thiếu điện hiện nay, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân và các ngành kinh tế khác.

Tác động đối với môi trường sinh thái. Về mặt môi trường với lượng nhôm sản xuất hàng năm từ năm 2015, mỗi năm hai dự án này thải ra 10 triệu tấn bùn đỏ, và hết đời của dự án này là thải ra 1 tỷ 500 triệu tấn, như những quả bom bùn treo trên cao, thượng nguồn đồng bằng miền Nam và miền Trung. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, thường xuyên có những trận mưa rất lớn, nước vẫn có thể tràn qua đập, cuốn theo nó những chất thải độc hại xuống những vùng đất, sông, suối ở hạ du, gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng. Theo báo VnExpress, th́ "Thà đền tiền đầu tư cho Trung Cộng, c̣n hơn là lúc nào cũng lo sợ thảm họa xảy ra." 

Ngày 16/6/2016, hồ chứa titan của công ty CP đầu tư khoáng sản & thương mại tại xă Thuận Quư, quận Hàm Thuận Nam, tỉnh B́nh Thuận, bị vỡ, nước cuốn theo bùn đỏ ra đường nhựa

chung quanh. Nhiều nhân chứng nh́n thấy ḍng nước bùn đỏ chảy rất mạnh, kéo 3 xe gắn máy trôi theo nhưng người lái xe đă nhanh chân thoát được. Báo Tuổi Trẻ ghi nhận bùn đỏ tràn lan khắp nơi dọc theo ḍng chảy của nó, tràn vào nhà dân, biến các hồ ao quanh nhà dân trở thành màu đỏ nhầy nhụa. Nước bùn đỏ chảy từ phía trong công ty cuốn theo nhiều vật dụng khai thác bằng kim loại nằm ngổn ngang trên đường. Một trụ điện phía trong công ty bị ngă đổ. Lượng bùn đóng trên mặt đường ngập đến đầu gối.

   Do lượng bùn đỏ đổ ra quá lớn, tràn sang các khu rừng thông và đi vào nhiều resort đang được xây dựng tại khu vực giáp ranh giữa huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết. Nước bùn đỏ chảy từ công ty hầu hết là tràn nhiều đường nhựa và đổ thẳng ra phía biển. Đây mới là một trong thảm họa đáng kể đối với người dân đang sống chung quanh công ty, và sống dọc theo con đường mà mỗi khi bùn đỏ tràn ra là nó chảy dọc theo con đường ra hướn biển! 

Ảnh hưởng xă hội. Theo bài phóng sự của Việt Hà ngày 25/11/2017, th́ số công nhân Trung Cộng tại hai công trường ở Lâm Đồng và Đắc Nông là hơn 10.000 người, và họ mướn phụ nữ Việt Nam làm việc nhà. Trong 10 năm qua (2007-2017), họ đă kết hôn với những phụ nữ Việt Nam mà họ mướn, và đă cho chào đời hơn 3.000 trẻ em hai gịng máu Việt - Trung.  

 

Số 31. Tội ác không kiện Trung Cộng giành chủ quyền Biển Đông. 

Năm 2009, Trung Cộng trưng ra tấm bản đồ Biển Đông với h́nh chữ U thường gọi là “đường lưỡi ḅ” để giành chủ quyền hơn 80% diện tích biển này. Đến đầu năm 2010, Trung Cộng lên tiếng lưu ư Hoa Kỳ rằng, Biển Đông thuộc lợi ích cốt lơi của họ, và họ quyết định sẽ điều động hàng không mẫu hạm đến vùng này để bảo vệ quyền lợi của họ. Trung Cộng tự công bố bản đồ BIển Đông với h́nh “đường lưỡi ḅ” và giành quyền làm chủ đến 80% diện tích Biển Đông.

Năm 2011, Philipines đệ đơn kiện Trung Cộng tại ṭa án trọng tài quốc tế, nhưng Việt Nam khước từ lời kêu gọi của Philipines tham gia vụ kiện.

Ngày 18/10/2011. Blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh tự hỏi trong sự hoảng hốt: “Mất nước rồi ư?” Rồi Cô tự trả lời: “Có lẽ thế thật!.Bởi trong lịch sử 1.000 năm trước dân tộc này không thể bị đồng hóa bằng h́nh thức xâm lấn, thống trị… th́ nay đă có những h́nh thức ngoại giao tinh vi hơn, buộc cả dân tộc phải tự đồng hóa ḿnh, phải cam chịu v́ lép vế, đớn hèn im lặng, chấp nhận cúi đầu mà quên đi truyền thống quật cường của cha ông để lại. Có lẽ thế thật. V́ nếu không, thì tại sao Trung Cộng ngang nhiên phủ nhận đặc quyền khai thác dầu khí của Việt Nam trên thềm lục địa nước Việt trong khi ông Nguyễn Phú Trọng đang thăm viếng Bắc Kinh?”

 

Số 32. Tội ác cho Trung Cộng trúng thầu đến 90% dự án

Đài BBC online ngày 26/8/2010 có bản tin: “Bộ Công Thương đưa ra con số vào tháng 7/2009, theo đó đă có 30 doanh nghiệp Trung Cộng trúng thầu EPC hoặc trực tiếp đầu tư trong 41 dự án ở Việt Nam. Tất cả 41 dự án này là kinh tế trọng điểm, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia và an ninh quốc pḥng”.

Trang Bauxite online ngày 26/9/2010, ông Dương Danh Hy, cựu Tổng Lănh Sự Việt Cộng tại Trung Cộng, nhắc đến bài báo trích đăng của Giáo sư Bùi Huy Hùng, Viện Khoa Học Năng Lượng, nhận định rằng:  “Hiện nay có đến 90% dự án nhiệt điện + xi măng + hóa học do Trung Cộng trúng thầu, sẽ dẫn tới sự phụ thuộc có nguy cơ ô nhiễm môi trường, và nguy cơ mất an ninh năng lượng khi có tai nạn xảy ra, v́ khi đó chúng ta không có nguồn năng lượng dự bị nào khác”.         

Trên Đàn Chim Việt onine ngày 12/10/2010, “Trung Cộng đang giúp các nước làm cầu, làm đường nối vào hệ thống đường bộ đường sắt của họ. Trong 6 con đường đang làm tại Việt Nam, th́ 5 con đường là tại Hà Nội, Hải Pḥng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Sài G̣n, toàn bộ là vị trí trọng yếu trải rộng cả Việt Nam…Ta mới có hai con đường Lạng Sơn và Móng Cái nới vào đường của Trung Cộng đă thấy điêu đứng, nay có thêm 5 đường đi khắp nơi, sức đâu để bảo vệ kinh tế quốc pḥng. Thế có phải là một thể chế cho phép các hành lang này như khu nhượng địa trên khắp Việt Nam?

Số 33. Tội ác về thành lập Viện Khổng Tử. 

Đến cuối năm 2011, các trường Đại Học Dân Tộc, Đại Học Sư Phạm, và Đại Học Quảng Tây của tỉnh Quảng Tây (Trung Cộng), đă thành lập 6 Học Viện Khổng Tử tại Thái Lan, Lào, và Indonesia, trong mục tiêu của lănh đạo Trung Cộng là từ nay đến năm 2020, phải thiết lập Viện Khổng Tử tại 500 thành phố lớn trên thế giới.

Các quốc gia hủy bỏ Viện Khổng Tử (trích trong Google.vn).

Thụy Điển. Viện Khổng Tử thành lập tại trường đại học Stockholm, Thụy Điển, hồi năm 2005. Ông Lư Trường Xuân (Li Changchun), cựu B Trưởng Bộ Tuyên Truyền của Trung Cộng, ca ngợi là một phần quan trọng của hệ thống tuyên truyền ở hải ngoại của Trung Cộng, đă bị phát hiện có liên quan đến hoạt động gián điệp kinh tế tràn lan của người Trung Quốc ở hải ngoại. Có một thông tin được công khai nói rơ rằng những cơ quan chống t́nh báo Tây phương đă xác định, Viện Khổng Tử là những cơ quan gián điệp thuộc chánh phủ Trung Cộng điều hành. Cuối cùng, theo quyết định của trường đại học Stockholm ngày 20/12/2014, sẽ bỏ chương tŕnh tiếng Trung Hoa từ tháng 6/2015.

Hoa Kỳ. Sau khi giáo sư ngành nhân chủng học Marshall Sahlins thuộc đại học Chicago công bố một điều tra về t́nh trạng hoạt động của các Viện Khổng Tử tại giảng đường Mỹ vào tháng 10/2013, hơn 100 giảng viên của đại học này đă kư tên vào văn bản chánh thức phản đối sự hiện diện của Viện KHổng Tử trong khuôn viên đại học Chicago.Đầu tháng 11/2014, hai trường đại học Chicago và đại học Pennsylvania, tuyên bố ngưng hợp tác và đóng cửa Viện Khổng Tử, cơ quan giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc. Trả lời phỏng vấn tờ The Wall Street Journal, ông Henry Reichman, P Chủ Tịch Hiệp Hội Giáo đại học Mỹ, cho biết: “Tôi tin rằng, Chicago và Pennsylvania không phải là hai đại học duy nhất nhận ra rằng, hợp tác với một viện như kiểu Viện Khổng Tử là hoàn toàn không đáng”.

Ấn Độ. Chính phủ Ấn Độ đă từ chối, không cho lập những Viện Khổng Tử, cho đó là âm mưu của Trung Cộng để phát triển quyền lực mềm, dùng văn hóa để lan tràn ảnh hưởng.

Canada. Năm 2007, một báo cáo giải mật của cơ quan T́nh Báo cảnh báo: “Viện Khổng Tử như một nỗ lực của”.Đại học McMaster và Đại học Sherbrooke đă chấm dứt hợp tác với Viện Khổng Tử. Trước đó, tháng 12/2013, Hiệp Hội Giảng Viên Đại Học Canada, đă phổ biến bản kêu gọi các trường đại học Canada hủy bỏ các hợp đồng hợp tác với Viện Khổng Tử. (hết trích)

Vậy mà, lănh đạo Việt Cộng cho phép Trung Cộng thành lập Viện Khổng Tử như một thí điểm, dù gặp phải phản ứng mạnh mẽ của giới trí thức và dư luận xă hội trước những hành động của Trung Cộng xâm lấn Biển Đông, nhưng lănh đạo Việt Cộng cứ như không nghe không biết, và vẫn thực hiện.

Ngày 5/12/2014, qua đài BBC Luân Đôn, Giáo sư Trần Ngọc Thêm, từ đại học quốc gia tại Sài G̣n, nhận định: Để đạt được những mục tiêu chiến lược của ḿnh, Trung Quốc không ngần ngại kết hợp hai loại sức mạnh -sức mạnh cứng và sức mạnh mềm- với mưu đồ cho thấy khá rơ qua mạng lưới các Viện Khổng Tử mở ra tại hàng trăm quốc gia... “Kinh nghiệm ở Mỹ cho rằng, cái đó không bảo đảm tự do học thuật trong môi trường đại học, ở phạm vi của các Viện Khổng Tử trong các trường đại học, rơ ràng đó là một hệ thống rất thống nhất với nhau và có mục tiêu rất rơ ràng... Họ sẽ không ngần ngại mà kết hợp cả sức mạnh cứng quân sự, và sức mạnh mềm là áp đặt kinh tế hoặc mua chuộc về kinh tế, cộng với sức mạnh mềm qua ngỏ ngoại giao văn hóa ngang qua những Học Viện Khổng T.

Ngày 27/12/2014, Ông Nguyễn Thiện Nhân, Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, cùng với ông Du Chí Thanh, Chủ Tịch Ủy Ban toàn quốc hội nghị hiệp thương chính trị (gọi tắt là chính hiệp) của Trung Cộng, dự lễ gắn biển "Học Viện Khổng Tử" tại  trường đại học Hà Nội (trích Google.vn).

V́ lănh đạo Việt Cộng ôm chặt 16 chữ vàng và 4 tốt do Trung Cộng trao cho, v́ vậy mà trong khi các quốc gia khác hủy bỏ các Viện Khổng Tử th́ Việt Cộng lại vui vẽ tiếp nhận một thứ vũ khí chính trị của Trung Cộng.

 

Số 34. Tội ác về hệ thống nhiệt điện than.

Năm 2011, chánh thức thành lập hệ thống nhiệt điện than trên toàn quốc dưới tên gọi “Quy Hoạch Điện VII”. Khi thành lập th́ có 19 nhà máy hoạt động, dự trù đến năm 2020 có 48 nhà máy, và năm 2030 có 80 nhà máy. 

Ngày 24/10/2016, Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Viện Trưởng Viện Năng Lượng thuộc Bộ Công Thương, trả lời báo Tiền Phong, rằng: "Hiện nay, nguồn thủy điện hầu như khai thác hết, trữ lượng khí đốt cũng cạn dần, nên cách lựa chọn phát triển nhiệt điện là đúng nhất để bảo đảm năng lượng cung cấu đủ cho nhu cầu... Trong Quy Hoạch Điện VII điều chỉnh, đến năm 2020, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than giảm 5,3% so với Quy Hoạch Điện VII, c̣n chiếm khoảng 42,7% tổng công suất nguồn giảm 5.3% so với trước, sau khi loại bỏ 18 dự án nhiệt điện than. Nhưng nh́n chung, nhiệt điện than trong Quy Hoạch VII Điều Chỉnh, vẫn là nguồn cung cấp chính....". Như vậy, đến năm 2030 tổng số nhà máy nhiệt điện than sẽ là 62 (thay v́ 80 như dự trù lúc đầu) tại các tỉnh: Quảng Ninh, Hải Pḥng, Thái B́nh, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng B́nh, Quảng Trị, Khánh Ḥa, B́nh Thuận, Long An, Trà Vinh, Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang, Cà Mau. Với ngần ấy nhà máy nhiệt điện than -mà là than dơ từ Trung Cộng- đă đủ ô nhiễm cả bầu không khí trên toàn cơi Việt Nam, và nạn nhân chính là dân tộc Việt Nam.   

  Về nguyên liệu. Hệ thống nhà máy nhiệt điện than phụ thuộc vào nguồn than nhập cảng. Theo ước tính từ năm 2020, mỗi năm Việt Nam phải nhập cảng 46 triệu 700 ngàn tấn than, và từ năm 2030 th́ mỗi năm phải nhập cảng 157 triệu tấn than để sản xuất điện. Nhưng, trở ngại là khả năng tài chánh chỉ có thể nhập cảng 50 triệu tấn mỗi năm mà thôi, chưa biết sẽ phải xoay sở ra sao. Với lại quốc gia cung cấp chỉ có Trung Cộng nên giá cả khó ổn định. Bên cạnh đó có thể mua từ Nhật Bản, nhưng có thể có rắc rối từ Trung Cộng.

Về ô nhiễm. Phát triển nhiệt điện than đồng nghĩa với việc chấp nhận gia tăng ô nhiễm môi trường, và điều này gây áp lực rất lớn đối với xă hội, ít nhất là hai điểm:

"Điểm 1. Giải quyết tro xỉ do các nhà máy thải ra.

Và điểm 2. Việc làm cho nông dân địa phương sau khi đất canh tác của họ bị thu hồi". Với 19 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành (năm 2015), mỗi năm thải ra môi trường khoảng 10 triệu tấn tro xỉ. Từ lâu nay, nguồn tro xỉ này là một vấn đề nan giải của các nhà máy và các cơ quan liên quan. Chỉ tính riêng nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả, mỗi năm phải tốn một khoản 70 tỉ đồng để thuê băi chứa tro xỉ than.

Ô nhiễm bầu không khí và ô nhiễm nước, là hai nguyên nhân trong các nguyên nhân chính dẫn đến t́nh trạng người dân bị ung thư tại Việt Nam ngày càng gia tăng mạnh. Theo Bộ Y Tế Việt Nam, tính đến cuối năm 2007 Việt Nam có 51 làng ung thư tại 22 tỉnh. Ngày 2/9/2009, Tiến sĩ Nguyễn Đại B́nh cho biết: "Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu về ung thư tại Việt Nam, th́ trung b́nh mỗi ngày có 250 người chết v́ bệnh ung thư. (trích trong Phylamin.vn).

Rằng

Tóm tắt.

Hệ thống nhiệt điện than theo Quy Hoạch Điện VII năm 2011, th́ năm 2010 có 19 nhà máy hoạt động, đến năm 2020 sẽ là 43 nhà máy, và đến năm 2030 tổng số sẽ là 80 nhà máy nhiệt điện than. Sau đó, Quy Hoạch Điện VII được điều chỉnh từ tháng 3/2016, th́ số lượng nhà máy nhiệt điện than giảm 18 nhà máy, nhưng tổng công suất nhiệt điện than vẫn chiếm 42.7% trong tổng công suất. Nói chung, nhiệt điện than vẫn giữ vai tṛ chính trong ngành điện, ít nhất là từ nay đến năm 2030. Lư do:  Chi phí thấp, đầu tư không cao, thời gian xây dựng không lâu, nguồn nguyên liệu dồi dào, và giá thành sản xuất thấp, chỉ khoảng 7 xu của đồng mỹ kim/1 kwh.

Nhưng về ô nhiễm môi trường, th́ hiện nay các nhà máy thải ra khoảng 3.000.000 tấn tro xỉ mỗi năm, và từ năm 2030 cả hệ thống nhiệt điện than sẽ thải ra khoảng 25.000.000 tấn tro xỉ mỗi năm. Đó là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân sống chung quanh khu vực rộng lớn có nhà máy nhiệt điện than, v́ đây là một trong các nguyên nhân chánh dẫn đến t́nh trạng bệnh nhân ung thư ngày càng gia tăng đáng sợ tại Việt Nam! 

 

Số 35. Tội ác sử dụng tiền Trung Cộng trên một phần lănh thổ Việt Nam.

Theo Tiến Sĩ Phan Minh Ngọc, th́ ngày 21/5/2014,Ngân Hàng Nhà Nước đă có Quyết định số 11 ngày 21/5/2014, chỉ cho phép sử dụng Nhân dân tệ một cách hạn chế trên lănh thổ Việt Nam”.

Ngày 5/1/2015, “Hiệp hội doanh nghiệp Trung Cộng tại Việt Nam, và Ngân Hàng Công Thương Trung Cộng (ICBC), gởi đề nghị đến Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, đ̣i được thanh toán nhân dân tệ trực tiếp tại Việt Nam”.

Pḥng Thương Mại Công Nghiệp Việt Nam đă chuyển đến Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Theo đó, phía Trung Cộng viện lư lẽ rằng:  “Việc giao dịch và thanh toán bằng “nhân dân tệ” trực tiếp tại Việt Nam xuất phát từ nhu cầu khá lớn và tăng lên rơ rệt theo đà phát triển không ngừng của thương mại Việt - Trung”.  Họ lập luận rằng: “Đến cuối năm 2013, ước tính kim ngạch thanh toán bằng “nhân dân tệ” đă đạt khoảng 15 tỷ USD. Tuy nhiên, đa số giao dịch thanh toán biên mậu bằng nhân dân tệ nói trên được thực hiện ở Việt Nam thông qua con đường không chính ngạch”.

Phản ứng của giới trí thức và báo chí: 

(1) Nhà báo Đào Tuấn, thẳng thắn viết trên báo Lao Động là cần một câu dứt khoát: “Đề nghị giao dịch chánh thức bằng Nhân Dân Tệ phải được hồi đáp ngay bằng cái lắc đầu dứt khoát, nếu chúng ta c̣n tôn trọng đồng bạc Việt Nam, một sự tôn trọng cần thiết như tôn trọng độc lập quốc gia”.

(2) Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, khi trả lời phỏng vấn của báo Một Thế Giới, đă khẳng định: “Lời đề nghị thanh toán trực tiếp bằng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền của Việt Nam”.

Với lư lẽ của phía Trung Quốc nói rằng, trong năm 2013  giao dịch bằng Nhân Dân Tệ tại vùng biên giới Việt–Trung lên đến 15 tỷ mỹ kim là bằng con đường không chính ngạch, ông Doanh nêu câu hỏi: "Ngân Hàng Nhà Nước và các tỉnh biên giới, cần phải có một câu trả lời rơ ràng là tại sao lại có thể có giao dịch lên đến 15 tỷ mỹ kim bằng đồng Nhân Dân Tệ ở biên giới được? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm về việc này? “Phải kiểm soát rất rơ ràng chứ không thể nào dùng đồng Nhân Dân Tệ lưu hành ở Việt Nam như một đồng tiền thứ hai, không một nước nào có thể cho phép như vậy. Đây chính vi phạm chủ quyền lănh thổ và chẳng khác ǵ việc cho phép đồng Nhân Dân Tệ thao túng đồng tiền của Việt Nam”

(3) Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước: “Việc sử dụng đồng Nhân dân tệ trong giao dịch thanh toán Việt Nam - Trung Quốc cần được xem xét dưới nhiều góc độ, một là độ tin cậy và sức mạnh của đồng Nhân dân tệ, và hai là sức đề kháng của kinh tế Việt Nam.  Bao giờ đồng Nhân dân tệ có thể chuyển đổi được ra vàng hay mỹ kim, hay đồng EURO, lại là chuyện khác. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, Nhân dân tệ chưa làm được điều đó nên chúng ta sẽ phải chờ thêm”.

(4) Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, Chủ Tịch Hội N Báo độc lập, cho rằng: Đây không phải là vấn đề mới, v́ Ngân ng N ớc đă có quy định rơ ràng. Nhưng phải thận trọng, v́ đây có thể là chủ trương trong chính sách gặm nhấm Việt Nam của Trung Quốc. 

(5) Phạm Chi Lan: “Nếu cho thanh toán trực tiếp bằng Nhân n T là hành động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, bởi nó tương tự như việc treo cờ, chỉ có thể là cờ của nước ta chứ sao có thể là cờ của nước khác được?

Khi tôi đưa vào bảng tổng hợp tội ác này là tháng 7/2017, nhóm lănh đạo Việt Cộng hoàn toàn im lặng, trong khi giới trí thức và nhà báo rất lo ngại v́ cho rằng Trung Cộng t́m cách đưa đồng nhân dân tệ vào lũng đoạn thị trường Việt Nam, biến đồng nhân dân tệ thành đồng tiền song hành với đồng bạc Việt Nam, đây là điều không thể chấp nhận được, v́ vi phạm chủ quyền Việt Nam. Nhưng then chốt của vấn đề là âm mưu của Trung Cộng, mà theo nghi ngờ của Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, th́ đề nghị sử dụng “nhân dân tệ” tại Việt Nam rất có thể là trong chính sách gậm nhấm của Trung Cộng.

Tính đến tháng 5/2014, đồng “nhân dân tệ” của Trung Cộng trở thành đồng tiền thương mại vào hàng thứ 7 trên thế giới. (trích trong Google.vn).

 Số 36. Tội ác để Trung Cộng quân sự hóa Biển Đông 2014-2017.

Điều 60 của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, không có quy chế cho các đảo nhân tạo (Artificial islands), như sau: "Các đảo nhân tạo, các thiết bị và công tŕnh không được hưởng quy chế của đảo. Chúng không có lănh hải riêng, và sự có mặt của chúng không có tác động ǵ đối với việc hoạch định ranh giới lănh hải, vùng đặc quyền kinh tế, hoặc thềm lục địa. Với điều Luật trên, hành động của Trung Cộng bồi đấp các đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa, là không giá trị.

V́ vậy mà ngày 24/9/2014 tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York, Tổng Thống Philippines Benigno Aquino III, đă tố cáo hành động cải tạo các băi đá ngầm thành đảo nhân tạo của Trung Cộng.

Ngày 8/10/2014, đài Á Châu Tự Do trích  bản tin của Tân Hoa Xă, theo đó th́ Trung Cộng đă hoàn thành một sân bay trên đảo Phú Lâm trong Nhóm Đảo An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa, với đường băng dài 2.000 thước.  Bài báo Tân Hoa Xă viết rằng: “Đường băng mới hoàn thành tại đảo Phú Lâm là đảo lớn nhất của Hoàng Sa, sẽ nâng cao khả năng quốc pḥng của Trung Cộng ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Ngày 13/7/2015, h́nh do vệ tinh của công ty DigitalGlobe chụp và công bố: "Trung Cộng đang mở rộng hai đảo Phú Lâm và Quang Ḥa thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đường băng cũ trên đảo Phú Lâm, nay là đường băng mới dài khoảng 3.000 thước, đủ sức tiếp nhận các loại máy bay quân sự của Trung Cộng. Các bức ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Cộng đang xây nhiều cơ sở để chứa máy bay chiến đấu tại đây.... Trong khi đó, trên đảo Quang Ḥa có một doanh trại quân đội mới xây xong. Cùng lúc, đảo Duy Mộng mà Trung Quốc chiếm đóng gần đó, các ṭa nhà mới cũng xây cất xong (trích trong Wikipwdia).

Ngày 16/3/2015, Đá Vành Khăn (Anh ngữ là Mischief Reef) là rạn san hô "nửa ṿng cung" thuộc Cụm B́nh Nguyên, sâu từ 18,3 đến 29,2 thước về phía đông của cụm Gạc Ma. Đá Vành Khăn là nơi tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Phi Luật Tân, và Trung Cộng, nhưng Trung Cộng đă kiểm soát đảo Đá này từ tháng 2/1995. Tên Mischief là do nhà làm bản đồ Henry Spratly đặt vào năm 1791 khi ông đi qua vùng quần đảo Trường Sa (trích trong Wikipedia).

Ngày 26/5/2015, h́nh Đá Gạc Ma do IHS Janes chụp và Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) giải đoán cơ sở nơi đây như sau: "Một hải cảng nhỏ có khu vực neo đậu, 2 trạm chất hàng, 2 băi đáp trực thăng, 3 hệ thống có thể là ăng ten liên lạc vệ tinh, 1 cơ sở đa nhiệm lớn, 2 tháp radar đang xây dựng, có thể là 6 tháp giám sát dành cho vũ khí, 4 tháp vũ khí, 1 hải đăng, 1 trạm năng lượng mặt trời với 44 tấm pin và 3 tuabin gió" (trích trong Tiềnphong online 27/5/2015).

Ngày 28/6/2015, bản tin trên báo Washington Post, cho thấy Trung Cộng gần như hoàn tất việc xây dựng một đường băng dài khoảng 3.000 thước trên đảo  Đá Chữ Thập. H́nh mới nhất do Digital Globe chụp ngày 2 và 13/7/2015, cung cấp cho Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á (AMTI) tại Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Tế & Chiến Lược (CSIS) có trụ sở tại Washington DC. Theo AMTI, việc xây dựng căn cứ Không Quân vẫn c̣n tiếp tục với việc "lát mặt bằng, đánh dấu đường băng,  xây thềm đế máy bay, hệ thống cảm biến, và bổ sung các cơ sở yểm trợ”. H́nh ảnh chụp Đá Chữ Thập c̣n cho thấy một chiến hạm neo đậu tại đó (trích trong VNEXPRESS 28/7/2015).

Đá Subi. H́nh chụp ngày 6/2/2015, và h́nh chụp ngày 17/4/2015. Hai h́nh với độ phân giải cao, cho thấy chỉ trong 10 tuần lễ mà Trung Cộng đă biến đảo nổi Subi có dạng một phi trường trên diện tích khoảng 2,65 cây số vuông. The Diplomat đưa tin: "Kích thước và h́nh dạng dải đất phù hợp một đường băng dài 3.300 thước, tương đương với độ dài đường băng trên đá Chữ Thập".

Ngày 18/7/2015, với h́nh Đá Subi mà Trung Cộng bồi đấp do Victor Robert Lee chụp, giúp giải đoán như sau: "Chiều rộng của Đá Subi sau khi bồi đấp, đủ để thực hiện đường băng cùng một đường song song cho máy bay ra đường băng. Tấm h́nh bên trái do vệ tinh chụp, cho phép giải đoán là Trung Cộng đang xây một đường băng lớn cho phi cơ sử dụng, v́ tổng số xe chở bê tông là 34 chiếc, tức là thêm 14 chiếc so với ảnh vệ tinh chụp ngày 5/6/2015. Riêng tàu nạo vét bồi đắp quanh Subi chỉ c̣n 3 chiếc vẫn tiếp tục, tức là giảm 11 chiếc so với 6 tuần lễ trước đó. Được hiểu là công tác bồi đấp sắp hoàn tất, trong khi công tác xây cất dồn dập hơn trước" (trích trong VNEXPRESS 28/7/2015).

Năm 2015, hoàn tất 3 phi trường với phi đạo dài 3.000 thước trên Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn, và Đá Su Bi. Năm 2016, khi phán quyết của ṭa án trọng tài quốc tế bác bỏ chủ quyền Trung Cộng trên Biển Đông, th́ Trung Cộng nhanh chóng hoàn tất các cơ sở chứa hỏa tiễn, và các cơ sở phục vụ quân sự trên các Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, và Đá Châu Viên.

Tóm tắt. Như vậy, các căn cứ của Trung Cộng trên các đảo thiên nhiên và đảo nhân tạo từ các Đá Ngầm thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cộng với căn cứ Hải Quân và Không Quân trên đảo Hải Nam, đă tạo nên một chuỗi căn cứ quân sự theo chiều Bắc Nam trên Biển Đông, đủ mạnh cho Trung Cộng khống chế nhóm lănh đạo Việt Cộng dưới dạng nào đó. Cũng với sức mạnh đó, vào lúc nào mà Trung Cộng cho là thuận lợi, rất có thể họ sẽ tuyên bố "vùng nhận dạng pḥng không" để kiểm soát cả không phận lẫn hải phận phần lớn Biển Đông, trừ khi Hoa Kỳ mạnh mẽ can dự vào để bảo vệ, ít nhất cũng là bảo vệ đường hàng hải và hàng không.    

Số 37. Tội ác cấp chứng minh nhân dân theo mẫu của Trung Cộng.

Từ ngày 7/12/2015, Pḥng cảnh sát quản lư hành chánh về trật tự xă hội Công An thành phố HCM, và công an các quận/huyện bắt đầu cấp phát hoặc đổi mới Chứng Minh Nhân Dân 12 số. Những thẻ CMND c̣n trong hạn sử dụng không cần đổi, cho đến khi hết hạn.

Tại sao thẻ CMND của Việt Nam phải 12 số? Ngày 15/6/2017, dân số Việt Nam là 95.367.378 người (VietNam Population), trong khi thẻ CMND với 9 số đă sử dụng tại Việt Nam từ lâu nay rất hợp lư. Với 9 con số, vẫn sử dụng đến khi dân số lên đến 999 triệu 999 ngàn 999 người mới cần thêm 1 con số nữa, tức là đến con số tỷ. Nhưng liệu bao nhiêu thế kỷ nữa th́ dân số Việt Nam mới lên đến con số tỷ mà lănh đạo Việt Cộng lại sử dụng 12 con số ngay từ năm 2015?

Với hàng số đỏ trên thẻ chứng minh nhân dân mẫu bên cạnh, đọc là 1 tỷ 0 trăm 98 triệu lẻ 6.114 người. Vậy, bao giờ dân số Việt Nam lên đến con số ấy?

Tướng Công An Việt Cộng Trần Vệ, Phó Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Cảnh Sát quản lư hành chánh về trật tự an toàn xă hội, giải thích: "Mục tiêu đặt ra là xây dựng được một hệ thống thu nhận và quản lư dữ liệu đăng kư CMND trên mạng máy tính được nối mạng giữa trung ương và địa phương.  Sản xuất và cấp phát CMND mới trên hệ thống dây chuyền công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn thẻ quốc tế phục vụ nhu cầu giao dịch của công dân và phục vụ công tác bảo vệ an ninh, an toàn xă hội. Sử dụng công nghệ nhận dạng sinh trắc học hiện đại để quản lư và nhận dạng trong thời gian thu thập dữ liệu, cấp phát và quản lư CMND, tránh làm giả, nâng cao độ bền. Mỗi công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên đều được cấp CMND, với một số CMND duy nhất cho người đó, không cho phép một người có nhiều CMND, hoặc nhiều người có số CMND giống nhau. Giai đoạn 1 trong khoảng 5 năm, sẽ cấp thẻ Chứng Minh Nhân Dân cho 24.000.000 người".

Ông Tướng Công An này giải thích rằng: “Máy tính cùng với máy móc hiện đại, công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế", vậy là Công An Việt Cộng sử dụng máy computer mà trong nước gọi là "vi tính" để ghi nhận dữ kiện, và từ đó cấp phát thẻ CMND th́ làm sao một người có nhiều CMND được? Làm sao nhiều thẻ CMND lại trùng những con số được? V́ khi tên người, địa chỉ, hay số CMND vào máy, mà khi trùng với họ tên, địa chỉ hoặc số CMND của người đă được cấp trước đó, th́ lập tức những dữ kiện trùng hợp này sẽ hiện lên màn ảnh nhỏ, lúc ấy người sử dụng máy phải nhận biết có trùng dụng th́ đâu có cấp phát. Phải chăng, lời giải thích của Tướng Trần Vệ chỉ là sự quanh co tránh né sự thật?

Vậy, với ba số 000 tận cùng bên trái trên thẻ CMND đă và đang cấp phát cho người dân Việt Nam, có phải là cách chuẩn bị để năm 2020 Việt Nam sáp nhập vào nước Tàu theo Biên Bản Hội Nghị Thành Đô ngày 4/9/1990 chăng? V́ dân số của họ lúc 2 giờ 21 phút chiều (giờ UTC) ngày 12/7/2017 là 1.379.027.710 người (trích trong US and World Population Clock) mới cần 12 số.

 Số 38. Tội ác thỏa thuận tiếp tay Trung Cộng chuẩn bị sáp nhập.

Tổng Bí Thư Việt Cộng Nguyễn Phú Trọng sang thăm Chủ Tịch Trung Cộng Tập Cận B́nh, từ ngày 12 đến 15/1/2017. Ngay chiều 12/1/2017, đă kư 15 căn kiện soạn sẳn. Rất có thể khi thấy tân Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump nhắm vào Trung Cộng e sẽ có trở ngại, nên ông Tập Cận B́nh gọi ông Nguyễn Phú Trọng sang kư các văn kiện này, để cán bộ Trung Cộng chánh thức sang làm việc chung với cán bộ Việt Cộng mà không cần chờ đến khi sáp nhập.    

(1). “Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa lănh đạo Việt Cộng với lănh đạo Trung Cộng”.

Sẽ không bao giờ có chuyện "hợp tác song phương”, mà phải hiểu là “chỉ có hợp tác một chiều”. Tin rằng, hành động vội vàng này cho thấy Trung Cộng chuẩn bị nhân sự cho cuộc sáp nhập êm thắm.

(2)Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh Tế trung ương Việt Cộng với TrungTâm Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Vụ Viện Trung Cộng”.

Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của lănh đạo Việt Cộng, sẽ là một phần trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung Cộng. Liệu có phải những kế hoạch kinh tế của Việt Cộng từng bước đi vào kế hoạch của Trung Cộng chăng?  

(3) ”Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Pḥng”.

Khi một dự án nằm trong lănh thổ Việt Nam được đưa vào "văn kiện hợp tác", có nghĩa là Trung Cộng đang biến lănh thổ Việt Nam từng bước trở thành lănh thổ Trung Cộng.

(4) “Tuyên bố tầm nh́n chung về hợp tác quốc pḥng giữa Bộ Quốc Pḥng Việt Cộng với Bộ Quốc Pḥng Trung Cộng đến năm 2025”.

Vậy là, hai Bộ Quốc Pḥng chỉ là một trên một lănh thổ mở rộng.   

(5) “Hiệp định khung hợp tác cửa biên giới đất liền giữa Bộ Quốc Pḥng Việt Cộng và Tổng Cục Hải Quan Trung Cộng”.

Quan thuế cũng theo kế hoạch chung do Trung Cộng lănh đạo.

(6) “Kế hoạch hợp tác du lịch Việt Cộng-Trung Cộng giai đoạn 2017-2019”.

Bắt đầu “tập dượt” cho những bước để người Việt Nam và người Tàu quen dần với văn hóa Tàu ngang ngược, thô lổ sơ khai, dần theo thời gian sáp nhập vào nước Tàu từ năm 2020. 

(7) “Thỏa thuận hợp tác giữa nhà xuất bản Sự Thật của Việt Cộng với nhà xuất bản Nhân Dân của Trung Cộng giai đoạn 2017-2021”.

Đây là bước phối hợp giữa nhà xuất bản Sự Thật tại Hà Nội với nhà xuất bản Sự Thật của Trung Cộng trở thành một hệ thống.

(8)Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền h́nh chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam - sức lôi cuốn của Trung Hoa” giữa đài truyền h́nh Việt Cộng và đài truyền h́nh Trung Cộng.

Sự hợp tác này giống như hợp tác về xuất bản.

(9) “Thỏa thuận hợp tác giữa Đài Phát Thanh trung ương của Việt Cộng và Đài Phát Thanh trung ương của Trung Cộng”.

Sự hợp tác về phát thanh, cũng trong trường hợp hợp tác về truyền h́nh.

******

Quí độc giả có nghĩ rằng: “Liệu chuỗi tội ác mà tôi tổng hợp từ 1945 đến 1990 là lănh đạo Việt Cộng thi hành lệnh của Quốc Tế Cộng Sản, và từ 1990 đến 2018 này có phải là trong kế hoạch từng bước đưa Việt Nam sáp nhập vào nước Tàu không? Chữ “từng bước” không phải do tôi nghĩ ra, mà là tôi trích nguyên văn đoạn cuối trong Biên Bản Thành Đô ngày 4/9/1990, là: “... Phía Trung Quốc đă đồng ư và chấp nhận đề nghị nói trên, cho Việt Nam trong thời hạn 30 năm (1990-2020) để đảng cộng sản Việt Nam giải quyết từng bước êm thắm cho việc gia nhập đại gia đ́nh các dân tộc Trung Hoa”.

Cho dù có phải hay không phải, rơ ràng là từ khi Cộng Sản Việt Nam có mặt trên quê hương Việt Nam năm 1945 đến nay đă hơn 70 năm, ông Hồ Chí Minh và tiếp nối bởi các nhóm lănh đạo Việt Cộng, đă t́m mọi cách để xóa bỏ ḍng lịch sử dân tộc Việt Nam và thay vào đó là lịch sử Việt Cộng do họ dựng lên, song song với sự đẩy lùi nền văn hóa nhân bản dân tộc, và thay vào đó là “con người mới văn hóa mới xă hội chủ nghĩa do họ xây dựng”. Và kết quả mà họ đạt được là một xă hội vô cảm, một xă hội mà mọi người sống với nhau bằng dối trá, đến mức ngày nay chỉ có dối trá là sự thật trong xă hội!      

******

Ngày 4/3/2017, bài viết “Trên Dường Hán Hóa” của Kư Thiệt, như sau: “Theo tài liệu tối mật về Hội Nghị Thành Đô năm 1990, chỉ c̣n 3 năm nữa th́ Việt Nam trở thành 1 tỉnh nhỏ của Trung Cộng. Từ khi những bí mật của Thành Đô bị phơi bày ra ánh sáng, th́ mọi người Việt Nam đều kinh hăi và bàn tán rất nhiều trong dân gian, về việc lănh đạo Việt Cộng lén lút kư tên giao nước Việt Nam cho Trung Cộng, mà miệng của họ vẫn chối lia lịa. Nhiều sử gia trong nước cũng như tại hải ngoại nhận định rằng: “Tội bán nước của Việt Cộng là sự thật ít nhất cũng đến 90%”. Quí vị hăy kiểm lại những sự kiện trong thực tế 30 năm qua, sẽ nhận ra điều này. Nếu 94 triệu dân trong nước không đứng lên giành lại quyền làm chủ đất nước, th́ năm 2020, người dân sẽ ra sao?

ngày 6/3/2017 với bài viết “Khi Trở Thành Khu Tự Trị Của Trung Cộng” của Giáo sư Trần Đ́nh Sử, và là nhà giáo nhân dân, th́ việc ǵ xảy ra: “Trước hết, tên nước Việt Nam bị xóa mất. Tiếp theo là dân Tàu tràn sang nước ta. Chữ Hán sẽ là ngôn ngữ chánh, văn hóa Việt, tiếng Việt, sẽ biến mất theo thời gian. Người Việt sẽ bị di dời tản mác trên lănh thổ mênh mông của Tàu, và dân số sẽ giảm dần, dù dăi đất h́nh cong chữ S vẫn c̣n đó!”

 

Số 39. Tội ác biến phụ nữ Việt Nam thành món hàng bán sang Trung Cộng.

Bài viết “Món hàng đàn bà Việt Nam” của tác giả Phan Nguyên Luân tường thuật bài phóng sự chiếu trên đài truyền h́nh “France Television/France 2” tháng 10/2017. Bài phóng sự do đặc phái viên của Pháp thực hiện, đă làm phẫn nộ đồng bào Việt trong nước lẫn hải ngoại. Trước hết, người xem có cùng cảm xúc trái tim bị co thắt lại v́ xót xa cho phận đàn bà Việt Nam sống dưới chế độ Việt Cộng. Chúng ta hăy nh́n lại ḍng lịch sử Việt Nam, chưa có một triều đại nào từ thời lập quốc Việt Nam của Vua Hùng Vương đến ngày nay mà Phụ Nữ Việt Nam bị khinh rẻ một ccáh nhục nhă đến như vậy!

  Một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ, người Phụ Nữ cũng không bị bán thân, đẩy ra hải ngoại làm tôi tớ như món hàng. Gần một trăm năm bị giặc Pháp đô hộ, phụ nữ vẫn b́nh yên sống. Những năm phát xít Nhật xâm chiếm, phụ nữ Việt Nam cũng không bần cùng. Hai mươi mốt năm chiến tranh trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, phụ nữ Việt Nam, chẳng những không bị khinh miệt, mà c̣n nâng cao vị trí phụ nữ trong xă hội. Thế th́… tại sao Việt Nam sau 42 năm không c̣n tiếng súng, ḥa b́nh trên khắp quê hương, mà người Phụ Nữ bị rao bán một cách nghiệt ngă tang thương? Như vậy, chúng ta khẳng định Việt Cộng là thủ phạm bán nước, hại dân, đẩy đồng bào ra nước ngoài làm lao công để trừ nợ, và rao bán phụ nữ cho ngoại bang một cách tinh vi để thủ lợi riêng.

Sau đây là bài phóng sự được chiếu trên đài truyền h́nh quốc gia Pháp, nói về chuyện tổ chức bán đàn bà Việt Nam cho dân Trung Cộng. Thú thực, tôi không dám coi  hết, như không có đủ can đảm nh́n vết thương nhầy nhụa trên thân thể ḿnh.

Phóng sự chiếu trên TV cùng ngày với đám tang ông Stéphane Hessel do Tổng Thống Pháp chủ tọa ), tác giả cuốn Indignez-vous ! (Hăy Nổi Giận ).. Nếu cùng với việc bán nước, chuyện bán đàn bà cho người Tàu không làm chúng ta nổi giận, chắc chúng ta sẽ chấp nhận bất cứ sự sỉ nhục nào.

Trước đây đă nhiều nhà báo viết về nạn buôn phụ nữ Việt Nam bán sang Tàu, như trên tờ Wall Street Journal đă kể câu chuyện một cô quê ở Nam Định bị bán sang Quảng Đông. Cô phải sống ở một làng miền núi, bị gia đ́nh chồng và cả hàng xóm của họ canh giữ nghiêm ngặt không cho trốn đi. Sau cố lén gửi được thư cho gia đ́nh tại Việt Nam, rồi một người anh trai lặn lội đi t́m được làng cô ở và bày mưu cứu cô về. Năm 2004 hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer viết cuốn sách tiếng Anh mang tựa đề “Bare Branches,” Cành Trụi, dịch sát hai chữ Quang Côn, tŕnh bày t́nh trạng nhiều đàn ông Trung Cộng ế vợ, do nhà xuất bản Đại Học MIT in.

Bản tin loan báo chương tŕnh Quang Côn, Les Branches esseulées, cho biết những “cô dâu” được “nhập cảng” qua Trung Cộng , trên nguyên tắc để làm vợ cho các “quang côn” -những cành cây trụi lá- nhưng họ được đem bán như bán nô lệ. Sớm muộn họ sẽ chạm mặt với thực tế phũ phàng, khác hẳn những ǵ được ông chồng tương lai hứa hẹn. Họ sẽ lao động cực nhọc ở các làng quê hẻo lánh, ngoài việc lo sinh đẻ. Nhiều cô dâu đă t́m đường trốn đi, nhiều cô đành chịu đựng số phận.

Hai nhà báo Patricia Wong và Gaël Caron bắt đầu chương tŕnh với cảnh mua vợ của Xiao Lu tại vùng phụ cận Sài G̣n. Các “quang côn” được tập trung tại một khách sạn, họ bị ngăn cản không cho đi đâu, v́ bọn lái buôn đă tịch thâu giấy thông hành của họ. Rồi họ được đi xem mặt hàng, là các cô gái Việt Nam tuổi ở 20. Một chuyến đi mua vợ như vậy tốn khoảng 5.000 đồng Euro, vào khoảng 8.000 mỹ kim, những cô c̣n trinh được trả giá cao hơn. Giống như các siêu thị và cửa hàng bách hóa lớn ở Mỹ, khách tiêu thụ không hài ḷng với các “món hàng” này có thể đem đổi lấy món hàng khác tương đương,“échangeable” trong nguyên văn. Bọn buôn người gồm cả người Tàu và người Việt.

Trong gian pḥng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên là Thu Yến, một cô gái quê sợ sệt, nhút nhát. Hai người không thể nói chuyện ǵ với nhau cả v́ ngôn ngữ bất đồng. Tất nhiên, không ai mở miệng nói đến chữ “yêu.” Mấy ngày sau, họ về làng của cô gái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làm lễ cưới, một nghi lễ không có giá trị pháp lư. Sau đám cưới, bà mối người Tàu tên là bà Vương (Wang) đưa cho Thu Yến thông hành với visa nhập cảnh Trung Cộng. Mấy ngày sau, Thu Yến về đến nhà chồng, ở một làng trong một thung lũng hẻo lánh, mọi người chung quanh nói thứ tiếng cô không hiểu được.

Chương tŕnh ti vi trên đài France 2 chắc sẽ làm các khán giả người Pháp kinh ngạc. Nhưng đối với khán giả người Việt Nam là điều sỉ nhục. Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có cảnh phụ nữ được đem bày hàng để bán, với điều kiện “không hài ḷng th́ đổi” để tận t́nh phục vụ người tiêu thụ. Chỉ dưới chế độ “ưu việt” kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa hiện nay mới biến các cô gái thành hàng hóa xuất khẩu như vậy. Nhưng sau khi cảm thấy tủi nhục, người Việt Nam c̣n lo ngại nữa. Kiếp đàn bà của dân tộc Việt chúng ta dưới chế độ cộng sản, bị khinh bỉ rẻ rúng đến như vậy. Nhóm lănh đạo Việt cộng đă làm cho tổ quốc mục ruỗng, và dân tộc trở thành nô lệ của họ!

*****                                                                

Với tôi, bản chất gian trá của lănh đạo Việt Cộng giữa lời nói với hành động trong giai đoạn lịch sử từ năm 1954 đến nay là năm 2019, như sau:

Nói giải phóng, nhưng thật sự họ là xâm lăng, v́ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa xua quân àn sang đánh chiếm nước Việt Nam cộng Ḥa, phải nói là xâm lăng chớ sao gọi là nội chiến?

Nói thống nhất, nhưng họ đă nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế.

Nói nhân dân là chủ, cán bộ là đầy tớ”, nhưng thật ra nhân dân chỉ là một phương tiện lót đường cho họ nắm quyền lực mà thâu tóm tài sản.

Nói độc lập, nhưng họ quy lụy Trung Cộng.

Nói tự do, nhưng họ là độc tài chuyên chính.

Nói hạnh phúc, nhưng toàn dân như bị họ nhốt trong cái lồng.

Nói tự do ngôn luận, nhưng mọi người bị họ bịt mắt bịt tai bịt miệng.

Nói giáo dục khoa học, nhưng chỉ đào tạo những thế hệ thần dân để tuân lệnh đảng, và chết cho đảng. Mở miệng ra là khoa học kỹ thuật, nhưng sử dụng côn đồ và luật pháp rừng rú đàn áp người dân yêu nước chống Tàu lấn chiếm biển đảo.

Nói từ khi có đảng đến nay không c̣n người bóc lột người, câu này th́ đúng. Rất đúng, v́ không có người bóc lột người, mà hơn 40 năm qua chỉ có đảng bóc lột người dân một cách tàn tệ và toàn diện thôi. Không phải chỉ dân bị bóc lột, mà tổ quốc Việt Nam cũng bị họ bóc lột, đến nỗi da đầu của tổ quốc lỡ loét nhăn nhúm v́ Việt Cộng tặng 789 cây số vuông dọc biên giới cho Tàu, bên trái măng da đầu cũng bị Việt Cộng cắt đi 11.362 cây số vuông trên Vịnh Bắc Việt cho Tàu, và toàn thân Mẹ Việt Nam th́ loang lỗ như tấm da beo, bởi lănh đạo Việt Cộng cho dân Trung Cộng lập những làng mạc riêng biệt trên khắp lănh thổ Việt Nam.”

Và khi lănh đạo Việt Cộng nói đến quê hương dân tộc, th́ họ nhân danh lănh đạo để ngồi trên đầu Tổ Quốc với Nhân Dân.

*****

Với hai chữ độc tài trong xă hội xă hội chủ nghĩa: 

Độc tài chính trị, duy nhất chỉ có đảng cộng sản lănh đạo, để chỉ phục vụ quyền lợi của cộng sản quốc tế, và quyến lợi của riêng họ, mà không hề phục vụ nguyện vọng người dân.

Độc tài trong cầm quyền, sử dụng giáo dục và công an, tạo nên một xă hội theo mục tiêu của đảng, rồi đảng với nhà nước cùng nhau thao túng xă hội.

Độc tài trong Quốc Hội, v́ gần 90% là những cấp lănh đạo từ Bộ Chính Trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước đều là Đại Biểu, nên những luật ban hành hoàn toàn theo lệnh đảng để phục vụ đảng với nhà nước.

Độc tài trong truyền thông, nên không có tiếng nói của sự thật từ người dân. Hơn thế nữa, bất cứ ai suy nghĩ khác hay hành động khác với đảng và nhà nước, sẽ bị ghép tội và bị bắt, v́ vậy mà mọi người trên toàn cơi Việt Nam không hề biết sự thật nằm ở đâu, v́ hệ thống truyền thông của đảng suốt ngày đêm phun ra toàn dối trá, sai lạc sự thật.

Độc tài trong luật pháp, v́ tất cả viên chức từ cơ quan điều tra đến viên chức trong phiên ṭa đều là đảng viên cộng sản, nên bản án được đảng quyết định trước đối với những “bị can” mà đảng thấy là bất lợi cho họ. Dù vậy, năm 2014 Bộ Chính Trị ban hành Chỉ Thị 25 loại tối mật. Theo đó th́ Bộ Công An muốn điều tra bất cứ cán bộ nào, phải tŕnh lên Bộ Chính Trị quyết định.   

Độc tài sở hữu đất đai, v́ chỉ có đảng cộng sản là chủ nhân toàn bộ đất đai, v́ vậy mà lănh đạo các cấp toàn quyền cướp đoạt tài sản của dân liên quan đến đất đai vườn ruộng.

Và độc tài kinh tế tài chánh, v́ nền tảng trong lănh vực này toàn là quốc doanh dưới tên gọi “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Do không có cạnh tranh nên không thể phát triển thích ứng với nền kinh tế thị trường thế giới tự do.

*****

Nhớ lại ḍng lịch sử suốt chiều dài gần 5.000 năm, dân tộc ta trải qua những biến đổi đau thương do các triều đại phong kiến Trung Hoa cai trị tàn bạo nghiệt ngă!:

(1) Lần thứ nhất, từ năm 111 trước tây lịch đến năm 39 sau tây lịch = 150 năm.

(2) Lần thứ hai, từ năm 43 đến năm 544 = 501 năm.

(3) Lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939 = 336 năm.

(4) Lần thứ tư vào thế kỷ 15, từ năm 1.414 đến năm 1.427 = 13 năm.

Cộng chung cả 4 thời kỳ bị trị đến 1.000 năm, hay là 40 thế hệ Việt Nam bị d́m sâu dưới chính sách cai trị nghiệt ngă tàn bạo của vua quan phong kiến Trung Hoa! Nhưng từ trong nghiệt ngă đó, chúng ta phải cúi đầu khâm phục tổ tiên và dân tộc ta trong lịch sử, chẳng những đă không bị Trung Hoa đồng hóa, mà lại xây dựng và bảo vệ tṛn vẹn một nền văn hoá trong sáng để lại cho chúng ta.

Nhưng từ khi đất nước lần lượt vào tay các nhóm lănh đạo cộng sản Việt Nam đến nay, th́ những ǵ tồi tệ nhất, xấu xa nhất, hèn hạ nhất, nhục nhă nhất, trong xă hội xă hội chủ nghĩa đều có tất cả! Đó là nỗi đau của cả dân tộc, cũng là nỗi đau của ḍng lịch sử Việt Nam!

*****

Và đây là vài nhân vật trong nước nhận định về cộng sản:

Giáo Sư Trần Phương, đương nhiệm Chủ Tịch Hội Khoa Học & Kinh Tế Việt Nam, chủ tọa hội thảo g̣p ư dự thảo các văn kiện Đại Hội XI của đảng cộng sản Việt Nam. Sau khi diễn giải từng đoạn, ông nhấn mạnh: (1) Chúng ta tự lừa dối chúng ta, và chúng ta lừa dối người khác. (2) Chủ nghĩa cộng sản đă thất bại, v́ nó chỉ là ảo tưởng.

Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét “căn bệnh giả dối là nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất”, đang hoành hành xă hội Việt Nam, khiến “người ta thật sự không c̣n tin vào bất cứ điều ǵ nữa. Thậm chí, lănh đạo đảng với nhà nước toàn là người vô càm”.

Bài viết "Hoang Tưởng” của tác giả Metamorph từ trong nước: “.... Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta thường mang cái quá khứ ra để tự ru ngủ, mong cái men chiến thắng của cha ông để trấn áp những cái nan giải trong hiện tại. Chúng ta cứ nhắc đến cái chiến thắng giặc Hán, giặc Pháp, giặc Mỹ mỗi ngày, nhưng tuyệt nhiên không hề nhắc đến cái nạn đói 1975-1990 do sai lầm của chúng ta, một nạn đói có thể tránh được nếu chúng ta đừng quá say men chiến thắng đến mức không quan tâm đến đời sống người dân ngày càng tụt hậu, đói khổ. Chúng ta cũng không hề lo nghĩ ǵ về nền giáo dục suy đồi, không lời than nào về một xă hội băng hoại gần như phá sản về đạo nghĩa! … Từ đó,chúng ta bị sa lầy ở Cam Bốt suốt 10 năm, và đói nghèo suốt 15 năm. Tệ hại hơn là xă hội Việt Nam lùi lại, trong khi các quốc gia láng giềng vượt lên với mức phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, văn hoá giáo dục, kinh tế xă hội… Trong khi đó, chúng ta quay lui lại thời xe hơi chạy than, xe ḅ, xe ngựa, c̣n lương thực th́ bo-bo thay gạo, quần áo th́ vá víu lem nhem, dùng phân xanh như thời trung cổ.... Tại v́ lănh đạo chúng ta vẫn cứ hoang tưởng là cả thế giới đều ngưỡng mộ, và thế giới cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ......”

Nhật Kư Rồng Rắn của Tướng Trần Độ viết từ năm 2000 mà đến nay là 2017 vẫn nguyên giá trị, rằng: .... Cho đến nay đă gần 30 năm (năm 2000) rồi mà ngày đêm vẫn phất cờ đánh trống, ngày đêm ḥ hét biểu dương, và cũng ngày đêm vơ vẽ các thành tựu nhân dân ta làm ra, rồi dồn vào cái túi sáng suốt, cái túi tài t́nh của đảng cộng sản. Lúc nào cũng bắt dân tung hô, chào mừng, ca ngợi. Chào đón mùa Xuân cũng phải chào mừng đảng. Kỷ niệm nông dân phụ nữ thanh niên, cũng biểu dương đảng, và tung hô đảng là nguyên nhân của thắng lợi. Ngày hội tưởng nhớ tổ tiên cũng phải biểu dương đảng, chào mừng đảng. Đám cưới đám ma cũng phải tưởng nhớ và chào mừng đảng. Có câu ca dao tuyệt vời đủ nói lên chân lư của thời đại: “Mất mùa th́ tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài đảng ta! Thật ra, mỗi người cộng sản có lương tâm phải biết xấu hổ về cái chân lư đó”...

 Với nhà văn nữ Dương Thu Hương: “..... Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài G̣n năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười, th́ tôi lại khóc. V́ tôi thấy tuổi xuân của tôi đă hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp lắm v́ nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà v́ tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do. Tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè. Và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ở miền Bắc, tất cả mọi báo chí, đài phát thanh, sách vở đều do nhà nước quản lư. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi, và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. C̣n toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể, có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ v́ nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam, người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, đài Pháp, đài Anh, đài Mỹ, nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đă thua một chế độ man rợ (cộng sản). Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải". (trích trong Dân Luận online 21/4/2012)

Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu gọi văn hóa xă hội chủ nghĩa là thứ văn hóa lộn ngược. Ông giải thích: “Nghe nó “ngược” nhưng chắc ǵ đă “ngược”. Chẳng hạn như cả một bộ máy đảng bộ máy nhà nước “bị” làm đầy tớ của nhân dân th́ sướng đến tột đỉnh, trong khi nhân dân “được” làm chủ trong các ngành sinh hoạt xă hội chủ nghĩa th́ thất điên bát đảo, chạy gạo chạy cơm chạy tiền học cho con cho cháu đủ điên đầu. Khi người “được” làm chủ mà có việc phải đến với những người “bị” làm đầy tớ, th́ từ đầu chí đuôi luôn bị hạch sách hoạnh hẹ đến mức phải vét tiền và kính cẩn “tự nguyện” đưa cho đầy tớ mới xong việc.  Điều này rất thực, không ai phủ nhận được cả. Thế mới biết, trong một không gian đảo lộn thật giả giả thật, th́ nói ngược chính là nói xuôi đó! Vậy, chính xă hội chủ nghĩa đă tạo nên nhu cầu nói ngược, rồi theo thời gian nhu cầu nói ngược đó trở thành một nếp khác trong đời sống văn hóa; nếp sống nói ngược nhưng là xuôi”.

Nhà thơ xă hội chủ nghĩa Phan Huy, sau khi từ thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa vào đến thủ đô Sài G̣n,  đă tận mắt nh́n thấy đời sống vât chất lẫn nếp sống văn hóa của người Việt Nam Cộng Ḥa cũ, tác giả đă viết bài thơ bằng cả tâm hồn của con người vừa thức tĩnh, "Cảm Tạ Miền Nam", như sau: 

Tôi đă vào một xứ sở thần tiên.

Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền.

Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đă ngạc nhiên với ḷng thán phục.

 Mở mắt to nh́n nửa nước anh em.

đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền.

Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động.

 Đất nước con người dân chủ, tự do.

Tôi đă khóc ṛng đứng giữa thủ đô.

Giận đảng, giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”.... 

Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt.

Tôi chẳng biết ǵ ngoài bác, đảng "kính yêu".

hội sơ khai, tẩy năo, một chiều.

Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng.

Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh.

Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin.

Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng.

hội thụt lùi người kéo thay trâu.

Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu.

Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.” ..

“Trên đường về, đất trời như sụp đổ.

Tôi thấy ḿnh tội lỗi với miền Nam.

Tôi thấy ḿnh hổ thẹn với lương tâm.

Tôi đă khóc, cho ḿnh và đất nước"......

******

Năm 1976, tù chính trị cấp Tướng và cấp Đại Tá chúng tôi bị Việt Cộng chuyển từ các trại tập trung trong Nam ra Bắc. Các cấp khác bị gắn cho cái tội t́nh báo, chiến tranh chính trị, cùng các đảng chính trị, và những vị bên hành chánh hoặc do dân cử vào Quốc Hội, cũng bị chuyển ra Bắc. Đa số chuyển lên vùng rừng núi Tậy Bắc Hà Nội và vùng biên giới Việt - Trung. Tôi, trong số tù chính trị bị giam trong trại tập trung vùng rừng núi Tây Bắc, khoảng 6 cây số phía Nam thị xă Yên Bái. Họ tổ chức chúng tôi thành từng Đội, tôi cùng trong Đội với Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa. Sau đại hội 4 của đảng cộng sản, Trung Úy Việt Cộng tên Khảm là “quản giáo” Đội chúng tôi.

Một hôm, trong lớp học chính trị, tên Khảm lớn tiếng mạnh miệng với chúng tôi: “Trong đại hội 4, tổng kết thiệt hại trong chiến tranh lên đến 4.000.000 thanh niên miền Bắc .Tại v́ bọn ngụy các anh ôm chân đế quốc Mỹ cho nên chiến tranh kéo dài, làm cho thanh niên miến Bắc chúng tôi thiệt hại nhiều đến thế.” Hắn nói với giọng hằn học, như thể lỗi do chúng tôi chớ không phải do cái đảng cộng sản của hắn xâm lăng chúng tôi nên phải trả cái giá tương xứng theo qui luật trong cuộc sống”.

Xoay quanh con số đó, nhà văn nữ cộng sản Dương Thu Hương th́ cho rằng, số thiệt mạng của miền Bắc là 10.000.000 người, con số của Trung Úy Việt Cộng tên Khảm là 4.000.000 người chết, năm 1998 th́ Bộ Thương Binh & Xă Hội Việt Cộng công bố số người miền Bắc chết trong chiến tranh là hơn 3.000.000 người. Thôi th́, cho dù 10 triệu, 4 triệu, hay 3 triệu Việt Cộng chết, đó cũng là cái giá phải trả trả khi xua quân xâm lăng Việt Nam Cộng Ḥa chúng tôi theo qui luật cuộc sống mà: “Làm điều ǵ th́ nhận lại điều đó” là lẽ đương nhiên. Nói rơ hơn, là làm điều tốt sẽ nhận lại điều tốt, làm điều xấu sẽ nhận lại điều xấu.

Tổn thất của Việt Nam Cộng Ḥa chúng ta gồm cả quân và dân trong chiến tranh, cùng với quân của đồng minh, tổng cộng thiệt mạng khoảng 500.000 người. Sau chiến tranh, khoảng hơn 100.000 người Việt Nam Cộng Ḥa cũ bị chết thảm khốc tại các khu kinh tế mới do lănh đạo Việt Cộng đuổi người dân vào đó để chúng cướp nhà cướp tài sản, và tù chính trị chết trong hơn 200 trại tập trung khắc nghiệt. Và theo tài liệu của Cao Ùy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, ước tính trong 20 năm từ 1975 đến 1995, trong số người vượt biên vượt biển có khoảng 400.000 đến 500.000 người đă chết mất xác trong rừng sâu và trên biển cả, khi chạy trốn Việt Cộng đi t́m cuộc sống tự do cho bản thân và cho thế hệ tương lai!

Số 40. Tội ác về giáo dục 1975-2019.

 “Giáo dục nền tảng trang bị con người về nhân cách và kiến thức”.

Nhân cách, cần kiến thức hậu thuẫn những lư lẽ để tránh bị lợi dụng vào mục đích không tử tế. Kiến thức, cần nhân cách trợ giúp biến kiến thức trở thành những dự án những công tŕnh hữu ích trong cuộc sống, đồng thời tạo môi trường cho con người gần gủi nhau hơn, bởi ngày nay mọi sinh hoạt đều tương quan tác động lẫn nhau, ngay cả sinh hoạt từ thiện cũng vậy.

Giáo dục, bao gồm: “Giáo dục gia đ́nh, giáo dục học đường, và giáo dục xă hội”. (a) Giáo dục gia đ́nh, do bẩm sinh, huyết thống, và cung cách sống của các thành viên trong gia đ́nh, nhất là ông bà cha mẹ. (b) Giáo dục học đường, do chính sách của chánh phủ, hệ thống tổ chức, biên soạn sách  giáo khoa, chính sách hỗ trợ nhà  giáo, hỗ trợ học sinh sinh viên, phương pháp giảng dạy, cung cách của thầy dạy. (c) Giáo dục xă hội, do những chính sách cùng hệ thống điều hành của chánh phủ, những sự kiện phát sinh và những phương cách giải quyết trong các lănh vực sinh hoạt xă hội.

Giáo dục, thể hiện đường lối của lănh đạo thực hiện mục tiêu quốc gia. Muốn đất nước phát triển như thế nào, chánh phủ phải hoạch định chính sách chiến lược như thế ấy: (a) Các ngành, căn cứ vào khung chiến lược đó mà soạn thảo những chính sách dài hạn và những kế hoạch ngắn hạn để thực hiện, và cung cấp nhu cầu chuyên viên chuyên gia theo từng giai đoạn cho ngành giáo dục. (b) Ngành giáo dục, đào tạo chuyên viên chuyên gia thích ứng cho nhu cầu đó. Đồng thời liên tục đào tạo và phát triển đội ngũ sư phạm về đạo đức lẫn kiến thức, cải tiến và phát triển sách giáo khoa phục vụ cho nhu cầu chiến lược, cải tiến dụng cụ trợ giáo, phương thức giảng dạy, cơ sở và trang bị, ..v..v...  

Tóm tắt. “Giáo Dục” trang bị cho những thế hệ về phẩm chất làm người trong khuôn thước văn hoá dân tộc, về khoa học kỹ thuật của thời đại thích hợp với mục tiêu quốc gia, về tinh thần trách nhiệm với cộng đồng dân tộc, và bổn phận công dân đối với tổ quốc.

Giáo dục xă hội chủ nghĩa.

Nhớ lại rằng, những sự kiện từ giữa thế kỷ 20 đến nay, đă chứng minh lănh đạo đảng cộng sản với nhà nước Việt Nam chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng chớ không phục vụ nguyện vọng người dân, mà quyền lợi của đảng lại đồng nghĩa với quyền lợi riêng tư của lănh đạo các cấp trong các ngành sinh hoạt xă hội. Để tạo được một xă hội như vậy, chế độ giáo dục học đường và giáo dục xă hội chủ nghĩa đặt trên nền tảng “xin và cho”, là một chính sách giáo dục vô cùng hiểm độc, v́ chỉ đào tạo những thế hệ không được vận dụng khối óc cá nhân để phát minh sáng kiến, mà tôi gọi là những thế hệ thần dân -hay ngu dân- để tuân phục, chớ không đào tạo những thế hệ công dân để xây dựng đất nước, nhưng lại được lồng trong cái tủ kính trưng hàng “con người là vốn quí” hay “trăm năm trồng người” của nhân vật lănh đạo tàn độc nhất trong lịch sử Việt Nam là ông Hồ Chí Minh, và những nhóm lănh đạo tàn độc tiếp nối đến nay.

Một số công dân xă hội chủ nghĩa đă vượt khỏi chính sách giáo dục thần dân, cố gắng làm những việc tử tế cho xă hội mà trước mắt là giành lại những quyền căn bản của con người được qui định trong Hiến Pháp nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCN/VN), lại bị lănh đạo Việt Cộng qui trách những công dân đó vào tội h́nh sự để bắt vào tù hoặc giam lỏng tại nhà dài hạn. Nếu muốn được tự do, phải chấp nhận sống lưu vong hải ngoại. Cách hành sử này trong chính sách siết tḥng lọng vào cổ người dân, đến khi cần dối trá với quốc tế th́ nới ra đủ cho nhân viên truyền thông ăn lương nhà nước rao giảng cái gọi là chính sách “khoan hồng nhân đạo”. Tất cả, do nền giáo dục xă hội chủ nghĩa = giáo dục Việt Cộng tạo nên.

Năm 1989. Trích bài viết của Vũ Hạnh đăng trong báo Công An ngày 31/05/1989 tại Sài G̣n, cho thấy giáo dục như thế nào trong hội nghị tại Viện Nghiên Cứu Giáo Dục miền Nam.

(1) Nhà giáo Tôn Thuyết Dung tŕnh bày: “Sách giáo khoa đang sử dụng đă lỗi thời v́ nó được soạn ra trong thời kỳ chiến tranh, và chỉ nhắm vào lớp trẻ sống ở nông thôn miền Bắc. Tất cả chỉ phục vụ mà không quan tâm đến đạo đức, chuyên chở những chủ đề mà tầng lớp thanh thiếu niên không dễ ǵ cảm nhận được chứ nói ǵ đến học hỏi. Sách giáo khoa lại tham lam khi đề cập nhiều vấn đề, nội dung phản lại giáo dục ở điểm trưng dẫn những sự kiện xấu mà không chỉ dạy cách sửa đổi. Sách không đào tạo con người trước khi nói đến chủ nghĩa cộng sản. Về các câu hỏi để học sinh trả lời không nhắm vào chủ đề rơ rệt, không giúp học sinh phát huy nhận thức, trái lại g̣ ép học sinh trả lời một cách dối trá”.

(2) Ông Xuân Diệu nhận xét thật ngắn nhưng rất sâu sắc: “Một trong những thiếu sót quan trọng là giáo dục không đào tạo con người, nên rốt cuộc xă hội chúng ta chỉ có thần dân mà không có công dân”.

(3) Một nhận thức sâu sắc khác: Giáo dục phải nhắm mục đích đào tạo con người dân chủ từ bé, phải chống lại sự tha hóa lớn nhất hiện nay là sự quanh co dối trá, sự thiếu thành thật giữa con người với nhau…”.

Năm 2000. Trung Tướng cộng sản Trần Độ lúc đương thời, có viết tập nhật kư “Rồng Rắn” ngày 7/12/2000, có đoạn liên quan đến giáo dục như sau:

Bộ máy quản lư xă hội đă thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính.  Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ ṇng cốt là “những lưu manh tư tưởng. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ ǵ, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lư bảo thủ giáo điều.

Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết hào hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lư lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lư phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái ǵ bí và hiểm”. (có lẽ ông Trần Độ muốn nói “người cao nhất” cũng phải tuân phục lănh đạo Trung Cộng mà ông gọi là bí và hiểm chăng?. PB Hoa).

Nói chung, nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là một tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thủy Hoàng cùng các vua quan tàn bạo của Trung Hoa phong kiến, cộng với tội ác của các chế độ độc tài phát xít. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Suy cho cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. V́ không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà nó c̣n hủy hoại đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng của cả một dân tộc. Nó đang làm hại cả một ṇi giống”.

Năm 2004. (1) Giáo Sư Hoàng Tụy trong nhóm nghiên cứu giáo dục Hà Nội phát biểu: “Chương tŕnh giáo dục Việt Nam trong bao nhiêu năm qua vẫn trong t́nh trạng lạc hậu, thi cử nặng nề với phẩm chất (mà ông gọi là chất lượng) rất kém. Sách giáo khoa cũng không thích ứng với hoàn cảnh đất nước, nghĩa là những cải cách trước đây không đạt được hiệu quả so với nhu cầu đất nước. Những sự kiện gian dối trong giáo dục cũng như trong thi cử, làm xói ṃn niềm tin của tuổi trẻ lẫn của phụ huynh mà thành phần này luôn kỳ vọng vào nền giáo dục nước nhà, đă dẫn đến t́nh trạng ngày càng trở nên trầm trọng, thậm chí nó đánh mất niềm tin của mọi người trong xă hội”.

(2) Nhóm nghiên cứu giáo dục này cho biết thêm: “Ngày 23/2/2004 Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đă ban hành Quyết Định, bắt buộc sinh viên đại học toàn quốc phải học và thi tốt nghiệp các môn học chính trị, bao gồm triết học Mác-Lê, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xă hội khoa học, lịch sử đảng, và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 9/3/2004, và tất cả sinh viên không có quyền chọn lựa mà phải học theo giáo tŕnh chọn sẳn. Các môn học bắt buộc này chiếm đến 203 giờ, chiến khoảng 9% (?) thời lượng của chương tŕnh đại học”.

(3) Một chuyên viên giáo dục tại Hà Nội, ông Quốc Việt nhận định: “Việc Bộ Giáo Dục bắt buộc sinh viên phải học các môn vô bổ đó là một quyết định phản khoa học, không phù hợp với chuẩn mực giáo dục quốc tế. Đồng thời lăng phí thời gian học, lăng phí tiền thuế của đồng bào đóng góp cho ngân sách quốc gia, nhất là tước bỏ quyền chọn lựa môn học thích hợp của sinh viên”.

Trong hội thảo tại Hà Nội hồi tháng 7 năm 2004 tổng kết sau thời gian cải cách giáo dục, với số đại biểu trong ngành giáo dục tham dự lên đến gần 1.000 người do Thủ Tướng chủ tọa, cho thấy tầm quan trọng của ngành này. Ông Trần Hồng Quân, Bộ Trưởng Giáo Dục tŕnh bày diễn tiến và kết quả. Ông kết luận: “…Cuộc cải cách giáo dục trong thời gian qua là hoàn toàn thất bại. V́ cải cách theo quan niệm chắp vá chớ không cải cách toàn diện…”. Dựa theo kết luận đó, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu sử dụng câu nói của ông Phan Hiền để châm biếm cải cách giáo dục: “Sai đâu (th́) sửa đấy, sai đấy (nhưng) sửa (ở) đâu, (mà) sửa đâu (th́) sai đấy”.

Năm 2008. Tại Việt ISD Hà Nội vào ngày 6/6/2008, giáo sư Hoàng Tụy là một trong số ít trụ cột của nền giáo dục Việt Nam tŕnh bày một cách thẳng thắn. Trích vài đoạn: “…

 Nếu Việt Nam cô lập với thế giới bên ngoài th́ không đến nỗi lo lắng, nhưng nếu đặt giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và nh́n một cách khách quan và có trách nhiệm, không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục Việt Nam so với các nước chung quanh, và so với yêu cầu phát triển của xă hội... Thực tế, đất nước ngàn năm văn hiến này đang trả giá nặng nề cho sự suy thoái trầm trọng của giáo dục kéo dài suốt 30 năm qua... Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ... Đặt nặng quá mức thi cử và bằng cấp, nhà trường đă vô t́nh trút vào xă hội mọi thứ rác rưởi độc hại là bằng cấp giả, bằng cấp dỏm, học giả... ... Phẩm chất (GS Tụy gọi là chất lượng) giáo dục sa sút một thời gian dài nhất là ở bậc đại học, cao đẳng, và dạy nghề. Khối nhân lực đào tạo ra c̣n rất xa mới đáp ứng được đ̣i hỏi của thực tế về số lượng lẫn phẩm chất giáo dục, nó trở thành nhân tố cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế...Tư duy giáo dục xơ cứng mà mấy thập niên qua hầu như không thay đổi…”

 Vẫn theo Giáo sư Hoàng Tụy trên Vietnam Net ngày 7/6/2008 với bài “Nh́n thẳng vào khủng hoảng giáo dục Việt Nam”.

(a) Mở đầu với nhận định sắt bén: “Dù bảo thủ đến đâu, Bộ Giáo Dục & Đào Tạo cũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đă và đang làm đau đầu cả xă hội. Chỉ có nh́n thẳng, gọi tên đúng sự vật và chấp nhận thay đổi, coi cải cách là mệnh lệnh của cuộc sống mới có thể khắc phục t́nh trạng nguy kịch của ngành giáo dục Việt Nam. Chính Thủ Tướng Phan Văn Khải khi từ nhiệm đă thừa nhận chánh thức sự không thành công của giáo dục, dẫn đến thực trạng nghiêm trọng của giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Nhiều người có trách nhiệm vẫn tự ru ngủ ḿnh với những thành tựu thực và ảo của giáo dục...”.

(b) Trong đoạn khác, ông nhấn mạnh: “Những sai lầm trong giáo dục do tư duy xơ cứng mà không hề thay đổi. Vẫn cách nghĩ thiển cận, vẫn giáo điều thời bao cấp được biến tướng ít nhiều để thích nghi với xu hướng du nhập từ bên ngoài phù hợp với lợi ích riêng của từng nhóm. Nền giáo dục chân chính của quốc gia nào cũng có sứ mạng cao cả về giáo dục con người, đồng thời mỗi xă hội có nhiệm vụ và yêu cầu khác nhau cho nền giáo dục của ḿnh. Thêm nữa, con người sống trong xă hội lành mạnh cần cuộc sống trung thực và óc sáng tạo để góp phần phát triển đất nước. Nhưng tiếc thay, những điều đó đă không đuợc chú ư trong xây dựng nền giáo dục Việt Nam. Ngày nay, môi trường quốc tế đă biến đổi cực kỳ sâu sắc trong khi Việt Nam vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xă hội. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự giả dối lan tràn trong giáo dục tại Việt Nam”.

Tóm tắt bài viết “Giáo dục Việt Nam dưới nét nh́n của chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ” do ông Nguyễn Gia Thưởng chuyển ngữ, trích trong trang Web của nhóm Thông Luận ngày 23/8/2008. Nội dung bài này là đề tài thảo luận khi Thủ tướng cộng sản Nguyến Tấn Dũng gặp Tổng Thống Hoa Kỳ hồi tháng 6 năm 2008 tại Washington DC.

“Việt Nam đang đối mặt với cuộc khủng hoảng toàn diện về giáo dục: Viên chức không được đào tạo quản trị. Nhà giáo được đào tạo rất kém với đồng lương quá thấp. Cơ hội học đại học rất hạn hẹp v́ cơ sở không phát triển, số giảng viên giảng sư không gia tăng, bằng chứng là  năm 2007 các trường đại học chỉ tuyển 300.000 sinh viên trong tổng số 1.800.000 thí sinh. Mặt khác, số lượng sinh viên ghi tên vào ngành giáo dục chỉ 10%, trong khi Trung Hoa cộng sản 15%, Thái Lan 41%, Đại Hàn 89% (thống kê của Ngân Hàng Thế Giới).

Bằng tiến sĩ th́ mua, c̣n giáo sư th́ được đề cử qua thủ tục hành chánh chớ không do công tŕnh và sự nghiệp sư phạm. Nạn tham nhũng tràn lan chẵng khác bệnh ung thư trong ngành giáo dục.Việt Nam thua kém các quốc gia chung quanh về việc cung ứng hiểu biết và canh tân giáo dục, khi nh́n vào số lượng tập san khoa học do các trường đại học ấn hành.  Năm 2006, hai đại học lớn nhất Việt Nam là đại học quốc gia và đại học kỹ thuật Hà Nội ấn hành 34 tập san, trong khi đại học quốc gia Seoul (Đại Hàn) là 4.556 và đại học Bắc Kinh gần 3.000 tập san khoa học. Cũng trong năm 2006, về đơn xin bằng sáng chế của Việt Nam  chỉ nộp có 2 đơn, trong khi Trung Hoa cộng sản đến 40.000 đơn. Số sinh viên từ các trường đại học Việt Nam có tŕnh độ rất kém, bằng chứng là công ty Intel của Hoa Kỳ phỏng vấn 2.000 sinh viên Việt Nam vừa tốt nghiệp đại học được xem là giỏi nhất trong tổng số, kết quả là công ty này chỉ chọn được 40 thí sinh có tŕnh độ tối thiểu.

Công ty Intel nói đây là kết quả tồi tệ nhất mà công ty gặp phải tại bất kỳ quốc gia nào mà công ty đầu tư. Do t́nh trạng giáo dục Việt Nam trên đây, có thể phá hỏng những phát triển kinh tế trong nước và tiến tŕnh hội nhập thế giới”.

Năm 2009. Tham khảo và trích dẫn bài nghiên cứu của đại học Harvard Hoa Kỳ về “Hiện Trạng Gíáo Dục Bậc Cao Đẳng & Đại Học tại Việt Nam”.

(1) Mở đầu với nhận định sắc bén: “Thật khó mà phóng đại hơn nữa về mức độ nghiêm trọng của t́nh trạng suy sụp trong hệ thống giáo dục mà Việt Nam đang đối đầu. Nếu không có một công cuộc cải tổ cấp thời từ thể chế cho hệ thống giáo dục bậc đại học th́ Việt Nam sẽ thất bại hoàn toàn trong mục tiêu đạt đến các tiềm năng to lớn của quốc gia này. Sự phát triển kinh tế của vùng Đông Bắc Á và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa nền giáo dục với sự phát triển quốc gia, cho dù mỗi quốc gia trong vùng Đông Bắc Á như South Korea, Singapore, Taiwan, ... theo đường lối có phần riêng biệt, nhưng căn bản vẫn là từ giáo dục dẫn đến phát triển. Trong khi đó, v́ không đạt được sự xuất sắc trong giáo dục nên Thailand, Philippines, và Indonésia, tuy thành công trong sự phát triển nhưng chưa đạt được nền kinh tế tân tiến so với các quốc gia vùng Đông Bắc Á nói trên. Và điều chẳng lành cho tương lai Việt Nam do giáo dục của Việt Nam nhất là ở bậc đại học, c̣n sa sút đến mức đứng sau cả các quốc gia kém mở mang lân cận. ...

 (2) Nhận định về bậc đại học: “... Trong danh sách 100 trường đại học nổi tiếng của Châu Á, Việt Nam không có một trường nào cả, trong khi Nam Hàn có đến 16 trường, Trung Cộng có 14 trường, đảo quốc Đài Loan có 11 trường, Malaysia có 5 trường, Thái Lan có 5 trường, Nam Dương có 4 trường, Singapore có 2 trường, Phi Luật Tân có 2 trường, và tệ nhất là Pakistan cũng có được 1 trường trong danh sách đó. Điều này chứng minh là nền giáo dục Việt Nam nhất là giáo dục bậc đại học, bị tách biệt ra ngoài ḍng kiến thức khoa học kỹ thuật quốc tế. Một chứng minh rơ nét nhất là thống kê số lượng những công tŕnh nghiên cứu khoa học nói trên. V́ vậy mà không có ǵ phải ngạc nhiên, v́ học sinh sinh viên Việt Nam chỉ được trang bị hành trang giáo dục một cách tồi tệ, nên kết quả mà quốc gia mong đợi chỉ đến đó là cùng.  ....

(3) Bảng nghiên cứu nhận định về nguyên nhân: “Việt Nam trải qua giai đoạn bị Pháp cai trị từ nửa cuối thế kỷ 19 đến giữa thể kế 20, giai đoạn chiến tranh giữa cộng sản với tự do, tiếp theo là giai đoạn Việt Nam bị cai trị bởi chế độ độc tài xă hội chủ nghĩa với chính sách giáo dục mà bậc đại học lệ thuộc vào cơ quan quyền lực cấp trung ương, với sự kiểm soát cao độ. Nhà nước quyết định tất cả, các trường đại học không được quyết định bất cứ vấn đề hành chánh lẫn chuyên môn của trường, ngay cả vấn đề lương bổng và thăng thưởng cũng căn cứ trên lư lịch gia đ́nh, lư lịch chính trị, nhất là những móc nối cá nhân. Phát sinh kiến thức là một công tŕnh không biên giới, nhưng sinh viên Việt Nam thiếu hẳn mối liên hệ với quốc tế để học hỏi....

(4) Năm 2005, nhà nước ban hành Nghị Quyết 14 cải tổ giáo dục cao đẳng đến năm 2020 về những vấn nạn giáo dục, nhưng Nhà nước Việt Nam vẫn giữ quan niệm trọng tâm của mọi vấn đề cải tổ phải là nhà nước, mà lẽ ra phải là các học viện, trong khi hệ thống đại học Hoa Kỳ th́ các học viện là nhân tố chính c̣n nhà nước giữ vai tṛ rất hạn chế...(5) Về sinh viên du học, cũng là vấn đề gai góc: (a) Sinh viên Việt Nam du học ngoại quốc bắt đầu gia tăng từ năm 1986, nhưng chỉ là con em của những gia đ́nh cán bộ đảng viên, và những sinh viên may mắn nhận được học bổng. (b) Hiện nay, xă hội Việt Nam có sự chênh lệch quá xa về mức sống giữa người thành thị giàu sang tột đỉnh với người nông thôn nghèo khổ tột cùng. (c) Việt Nam không thể nào chỉ trông cậy vào số sinh viên du học mà không tạo nên một hệ thống giáo dục thích ứng với mục tiêu phát triển quốc gia, th́ các chuyên gia Việt Nam đào tạo từ đại học ngoại quốc vẫn tránh né nghề giảng huấn nếu phải trở về Việt Nam. Mặc khác, đại học danh tiếng quốc tế không bao giờ chấp nhận những sinh viên Việt Nam yếu kém, v́ như vậy sẽ gây tổn thương danh tiếng của họ.

6) Bản nghiên cứu kết luận: Cách duy nhất là Việt Nam phải cải tổ toàn bộ thể chế điều hành, đó là ch́a khóa cải tiến toàn diện hệ thống giáo dục cho xă hội Việt Nam tương lai.

Tiếp theo bản nghiên cứu nói trên, Giáo sư Hoàng Tụy nhận xét: “Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đây rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở VN, nhưng nếu muốn trưng ra th́ cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả ngh́n viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những bộ óc vĩ đại thế kỷ 21, nhiều nhân vật trí thức xuất chúng đến nỗi đang có kế hoạch phải dành 25 hecta đất vào thời buổi đất quư hơn vàng, để xây một Văn Miếu hiện đại mới đủ chỗ vinh danh bấy nhiêu bậc đại trí. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh?

Năm 2010. Trên <vietnamnet.vn/giaoduc ngày 26/05/2010, nhà văn Dạ Ngân (trong nước) dùng chữ “du học để tị nạn giáo dục” khi trả lời cuộc phỏng vấn. Thoạt nghe tưởng như đùa, nhưng thật ra là chuyện rất thật nếu chúng ta nh́n vào nền giáo dục Việt Nam ngày nay. Bà nhận định:

Các ông bố bà mẹ hiện đại ở các đô thị đang có xu hướng “ấn” con đi du học càng sớm càng tốt? Xu hướng này phản ánh điếu ǵ về tâm lư và sự thay đổi trong xă hội hiện nay? (Xin lỗi là tôi để nguyên chữ hiện đại và phản ánh trong nguyên văn. PBH) ... Nhưng tại sao có tâm lư đua nhau cho con đi sớm? Là v́ cung cách của nền giáo dục Việt Nam không thể nào làm cho bậc cha mẹ an tâm. Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức mà những người có tiền không dại ǵ để con ḿnh phải chịu đựng sự thể nghiệm măi của những nhà cải cách, và phải học theo kiều “nhồi sọ” ở trường, lại c̣n phải học thêm và học thêm măi”.

Năm 2011.  Nhà giáo Phạm Phúc Thịnh “kỹ sư tâm hồn xă hội chủ nghĩa”, giảng viên khoa ứng dụng tin học trường Đại Học Kinh Tế Kỹ Thuật B́nh Dương, tâm sự nhân “Ngày Nhà Giáo 20/11 Năm 2011”. Lời mở đầu của tác giả: “Nhà giáo đang cô đơn giữa cộng đồng”. Rồi ông nói thêm:

(1) Ngày 20/11 lại đến! Một ngày mà lúc đầu mang ư nghĩa tôn vinh những người làm công tác giáo dục. Nhưng, theo ḍng đời trôi nỗi, cùng với tác động của cơm áo gạo tiền, ngày ấy đă trở thành “ngày lễ thầy” với đúng nghĩa đen của nó. Thật vậy, cách tổ chức mừng ngày này tại các trường na ná giống nhau về h́nh thức. Các thầy cô giáo phải đến trường, nghe những lời huấn dụ phải thế này, thế kia... Điều quan trọng nhất là làm ǵ để cho vị thế của giáo viên trong xă hội được nâng cao, được tôn trọng, lại chia ở th́ tương lai với động từ “sẽ...” mà không biết bao nhiêu năm “sẽ...” đă trôi qua. Tại sao trong ngày này, giáo viên không được nghỉ ngơi thư giăn, đi chơi đâu đó để có thể đón nhận những niềm vui thật sự từ học tṛ, từ người thân, từ bạn bè...

(2) Có ngày 20/11 để làm ǵ, khi những món quà tặng thầy cô bị biến tướng thành phong b́, voucher quà tặng với 1 chữ số khác 0 đứng trước và đi kèm theo đó là 5 hoặc 6 chữ số 0. Để rồi sau đó, các phương tiện truyền thông và một bộ phận xă hội người dân nói những lời xúc phạm nặng nề đến nhân cách của giáo viên. Là giáo viên chân chính không ai muốn điều đó cả. Nhưng h́nh như mọi người quên rằng, có những phụ huynh thật sự có điều kiện về kinh tế, họ không được tặng cho người thầy cô mà con cái họ yêu quư những món quà có giá trị lớn sao? Và giáo viên nhận những món quà này có ǵ sai chăng?

(3) Có ngày 20/11 để làm ǵ, khi mỗi ngày trong cuộc sống, giáo viên đang là những cố gắng giáo dục cho học tṛ viết đúng tiếng Việt, tôn trọng những chuẩn mực đạo đức của xă hội, tuân thủ luật pháp. Trong khi hàng loạt “Cối Xay Gió” kiểu “Sát Thủ Đầu Mưng Mủ” lại in vào đầu các em những câu văn vô nghĩa, những câu nói vớ vẩn mà một số người lớn lại biện minh đó là “sự sáng tạo của tiếng Việt hiện đại”. Những hành động vô cảm trước hoạn nạn của người khác, thậm chí c̣n hưởng lợi từ sự thiếu may mắn của người khác. Để rồi đến một ngày khi đám trẻ trở thành sát thủ, giải quyết mọi mâu thuẫn bằng bạo lực, mọi nguyên do lại được quy về “không biết thầy cô dạy dỗ như thế nào?”

 (4) Có ngày 20/11 để làm ǵ, khi có những phụ huynh v́ không nh́n thấy cái sai của quư tử nhà ḿnh, sẵn sàng hành hung giáo viên, hả hê khi thấy giáo viên bị kỷ luật chỉ v́ không kiềm chế được trong lúc nóng giận đă lỡ quất vào mông của quư tử đó một roi. Chưa thời nào mà nhà giáo lại là người dễ bị “bắt nạt” như thời bây giờ, nhà giáo bị phụ huynh hành hung, bị học sinh tấn công th́ mọi chuyện sẽ không có ǵ ầm ĩ. Nhưng chỉ cần nhà giáo có một hành động ǵ đó không đúng chuẩn mực lắm th́ ngay lập tức hàng loạt "cơn mưa đá" sẽ trút xuống nhà giáo rất tội nghiệp, mà h́nh như mọi người ném đá lại quên mất rằng nhà giáocũng có đầy đủ hỷ nộ ái ố của một con người b́nh thường.

(5) Khi cuộc sống đời thường của người giáo viên quá nghèo khổ th́ bị nh́n với cặp mắt thương hại. Nhưng khi người giáo viên vươn lên thoát nghèo bằng chính nghề nghiệp của ḿnh th́ bị xă hội mỉa mai gọi là “bán chữ”, thậm chí c̣n bị xem đó là hành vi phạm tội, lập ra đội chống dạy thêm để hạch sách. Xă hội đ̣i hỏi giáo viên phải sống thanh bạch như những “nhà giáo ngày xưa“ trong làng xă, nhưng quên mất rằng những “nhà giáo ngày xưa“ chỉ chăm lo việc dạy, c̣n cuộc sống được dân trong làng đảm bảo không để thầy phải bận tâm về cơm áo gạo tiền. Những người thầy mẫu mực được gọi là “vạn thế sư biểu” trong lịch sử như Chu Văn An, Khổng tử... đều có một cuộc sống đời thường thanh bạch giản dị nhưng không phải thiếu thốn những nhu cầu cần thiết...

(6) Có lẽ, rất nhiều giáo viên đều ước rằng, thay v́ một năm có một ngày 20/11 với đủ các lời chúc hoa mỹ, quà tặng, với những lo lắng “đua quà” của phụ huynh, th́ suốt cả năm cha mẹ hăy cùng chung tay với thầy cô trong việc giáo dục con em ḿnh trở thành những người có ích trong xă hội, nói đúng ngôn ngữ tiếng Việt..... Cả xă hội thay đổi cách nh́n, nâng cao vị thế và cuộc sống thực tế của giáo viên trong cuộc chiến chống lại những cái xấu, để giáo viên xuất hiện trước mắt học sinh thân yêu với h́nh ảnh đẹp và mẫu mực của một thầy cô giáo đúng nghĩa. Và kết thúc lời tâm sự của nhà giáo Phạm Phúc Thịnh: “Ước ǵ đừng có ngày 20/11 hằng năm!“

Tôi tóm lược vài đoạn trong bài viết “Văn Hoá Cà Chớn” của một nhà văn trong nước. Tháng 11/2011 vừa qua tại Sài G̣n mà Các Anh gọi là Hồ Chí Minh, Công Ty Văn Hóa Truyền Thông Nhă Nam phát hành tập truyện “Sát Thủ Đầu Mưng Mủ” (mà nhà giáo Phạm Phúc Thịnh đă nói ở trên). Cái tên rất ư là kỳ cục v́ nó không hàm chứa một ư nghĩa văn chương nào cả, nhưng lại là loại sách dành cho tuổi trẻ Việt Nam với nội dung gồm nhiều bức tranh vẽ vội nếu không nói là vẽ sơ sài, và dưới mỗi bức tranh có một thành ngữ được xếp vào loại “thành ngữ sành điệu”. Tất cả có khoảng 120 câu thành ngữ thông dụng của tuổi trẻ hiện nay, chẳng hạn như: “Ngất ngây con gà tây - Phi công trẻ lái máy bay bà già - Thuận vợ thuận chồng con đông mệt quá - Tào lao bí đao - Tự nhiên như cô tiên - Xấu nhưng biết phấn đấu - Đói như con chó sói - Một con ngựa đau cả tàu được thêm cỏ - Một điều nhịn chín điều nhục - Cái khó ló cái ngu -  ....”

 Dưới nét nh́n của bất người Việt Nam nào c̣n quan tâm đến văn hoá dân tộc cũng tự hỏi: “Đây có phải là văn hoá mới xă hội xă hội chủ nghĩa không? Hỏi, cũng là trả lời: “Đúng vậy”. Câu trả lời này gợi lại chính sách của lănh đạo cộng sản Việt Nam khi chiếm được Việt Nam Cộng Ḥa đă ra lệnh tịch thu toàn bộ văn hoá phẩm trong xă hội dân chủ tự do, để thay vào bằng văn hoá mới xă hội chủ nghĩa, một thứ văn hoá “sáng tạo” ra một xă hội gian trá, một xă hội dối gạt, lưu manh, nói chung nó là thứ văn hoá của một xă hội độc tài đảng trị. Tác giả cũng cho biết rất nhiều ư kiến phản đối dữ dội, v́ cho rằng đây là một cuốn sách nhảm nhí, xuyên tạc thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.

Chị Thanh Hà, một nhân viên ngân hàng tức giận: “Tôi không hiểu v́ sao một cuốn sách nhảm nhí như vậy lại được nhà nước cho xuất bản. Những câu thành ngữ tục ngữ Việt Nam đă bị cải biên xuyên tạc một cách trắng trợn. Thử hỏi, khi các cháu học sinh sinh viên sẽ học được điều ǵ trong sách? Với câu “Có chí th́ ghê”, đă xuyên tạc ư nghĩa giáo dục tinh thần của câu “Có chí th́ nên” của ông cha ta bao đời để lại cho con cháu noi theo. Nh́n chung, loại sách như vậy là phản lại truyền thống đạo đức Việt Nam.

Ngày 13/6/2012, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành Nghị Quyết chiến lược phát triển giáo dục 2010-2020, trong đó có đoạn: “Tăng cường sự lănh đạo của đảng, sự quản lư của nhà nước, nâng cao vai tṛ các tổ chức, đoàn thể chính trị, xă hội, xây dựng nền giáo dục có tinh thần nhân dân, tiên tiến, hiện đại xă hội chủ nghĩa Mác-Lénin và tư tưởng của con người tàn độc nhất trong lịch sử Việt Nam là Hồ Chí Minh làm nền tảng..”

Và cuối năm 2012 "Luật Giáo Dục Đại Học Việt Nam" ban hành sau khi Quốc Hội thông qua ngày 18/6/2012, và có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Luật này có 73 Điều trong 12 Chương Xin trích những Điều liên quan:

Điều 13. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, đoàn thể và tổ chức xă hội trong cơ sở giáo dục đại học: (1) Tổ chức đảng cộng sản Việt Nam trong cơ sở giáo dục đại học được thành lập và hoạt động theo quy định của Điều Lệ đảng cộng sản Việt Nam, trong khuôn khổ Hiến Pháp, pháp luật. (2) Đoàn thể, tổ chức xă hội trong cơ sở giáo dục đại học được thành lập và hoạt động theo quy định của Hiến Pháp, pháp luật và điều lệ của đoàn thể, tổ chức xă hội. (3)  Cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm tạo điều kiện cho tổ chức Đảng, đoàn thể và tổ chức xă hội được thành lập và hoạt động theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 18. Hội đồng đại học. (1) Hội đồng đại học có nhiệm vụ quyền hạn phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đại học... (2) Thành viên hội đồng đại học gồm: Giám đốc, các phó giám đốc. Bí thư đảng ủy. Chủ Tịch Công Đoàn. Bí thư Đoàn Thanh Niên cộng sản HCM....

Kết quả của giáo dục xă hội chủ nghĩa.

Việt Nam đă đào tạo được bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp bậc đại học và trên đại học, gọi chung là "trí thức Việt Nam?"  Đồng thời cũng t́m hiểu xem sau thời gian ra trường, những nhà trí thức đó đă đóng góp thế nào vào sự phát triển quốc gia. Đây chỉ mới căn cứ trên bằng cấp chớ chưa nh́n vào phẩm chất giáo dục nhé, v́ phẩm chất của trí thức Việt Nam do giáo dục đại học Việt Nam đào tạo th́ không thể nào so sánh với trí thức Việt Nam hải ngoại, khác nhau ở điểm căn bản là giáo dục hải ngoại với đại học tự trị, trong khi giáo dục đại học xă hội chủ nghĩa trong tay lănh đạo đảng với chánh phủ Việt Cộng, mà lănh đạo Việt Cộng cai trị đất nước -trong đó có giáo dục- với chính sách độc tài toàn trị.

Trích bản Thống Kê ngày 8/11/2015 của Bộ Khoa Học & Công Nghệ, trên toàn quốc hiện có 24.300 Tiến Sĩ và 101.000 Thạc Sĩ. Riêng về Kỹ sư th́ thống kể của Bộ Giáo Dục cũng như Bộ Khoa Học & Công Nghệ không thấy nói đến, trong khi bảng xếp hạng của Forbes ngày 21/06/2015 như sau: "Việt Nam lọt vào danh sách 10 quốc gia có số lượng kỹ sư lớn nhất thế giới, với 100.390 Kỹ Sư tốt nghiệp mỗi năm.

Theo nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum - WEF) gồm:

(1) Nga với 454.436 Kỹ sư.

 (2) Hoa Kỳ với 237.826 Kỹ sư. (3) Iran với 233.695 Kỹ sư.

(4) Nhật Bản với 168.214 Kỹ sư.

(5) Nam Hàn với 147.858 Kỹ sư.

(6) Indonesia với 140. 169 Kỹ sư.

(7) Ukraine với 130.391 Kỹ sư.

(8) Mexico với 113.944 Kỹ sư.

(9) Pháp với 104.746 Kỹ sư.

(10) Việt Nam với 100.390 Kỹ sư.

Forbes nhận định: "Trong thời gian qua, một số quốc gia phát triển như Nhật Bản, Hoa Kỳ, là nơi có số lượng sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật đông nhất thế giới. Tuy nhiên, khuynh hướng này dường như đang thay đổi khi một lượng lớn sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kỹ thuật, sản xuất, và xây dựng, đến từ các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam".

Vậy là đến năm 2015, bậc giáo dục đại học Việt Nam đă "cung ứng" cho bộ máy sinh hoạt và phát triển quốc gia được:

Thứ nhất. Bậc đại học với 100.390 Kỹ Sư mỗi năm. Con số này chưa tính đến sinh viên tốt nghiệp với bằng cấp Cử Nhân. Dù không có thống kê về số Kỹ Sư tốt nghiệp những năm trước đó, nhưng tôi tạm dùng con số 100.390 của tổ chức Forbes, nhân cho 5 năm trước (2010-2011 đến 2014-2015) để có con số chung là 501.950 Kỹ sư.

Thứ nh́. Trên đại học với 24.300 Tiến Sĩ và 101.000 Thạc Sĩ. Cộng chung số lượng trí thức do đại học Việt Nam đào tạo, gồm: 501.950 KS + 101.000 TS + 24.300 TS = 627.250 trí thức. 

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 25/12/2015, trong tổng số tốt nghiêp bậc đại học trở lên, hiện có đến 225.000 trí thức trong t́nh trạng thất nghiệp với thời gian dài, trong khi nhiều doanh nghiệp t́m tuyển nhân viên có bằng đại học trở lên, lại không thể tiếp nhận những trí thức trong số ṇi trên.Vậy, câu hỏi nêu lên là "tại sao"? Và trong một góc độ nào đó, th́ đây là câu trả lời:

"Theo ông Cao Tiến Vị, Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Giấy Sài G̣n, là do nền giáo dục "thầy đọc tṛ chép", cộng với thời gian sinh viên thực tập chỉ là h́nh thức trong đại học của chúng ta. Chưa hết, tâm trạng của sinh viên từ học ở trường đến thực tập tại cơ quan, miễn sao đủ điểm là được mà không cần kiến thức của người được gọi là trí thức".

C̣n ông Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ Tịch Công Ty Tư Vấn Kinh Doanh Hội Nhập Toàn Cầu - GIBC, nhận định: "Chỉ khoảng 25 đến 30% trí thức đi xin việc là có khả năng, và hơn 70% c̣n lại cần phải tái đào tạo mới có thể hội nhập vào các công ty. Bằng cấp, tự nó không nói lên được kiến thức cũng như phẫm cách của người được gọi là trí thức. Trường hợp điển h́nh là công ty của ộng đăng tin tuyển chuyên viên kế toán, chỉ trong 5 ngày sau th́ nhận được 400 hồ sơ. Sau khi duyệt xét và phỏng vấn th́  công ty chỉ nhận tạo 10 người, và cuối cùng chỉ có 1 người trong số đó được xem là đúng tiêu chuẩn. Trong khi phỏng vấn, có vài em rất cần việc làm và sẳn sàng làm bất cứ việc ǵ. Thấy vậy, Công Ty đă nhận một số em có bắng Cao Đẳng và Đại Học vào làm những công việc kế toán tài chánh, và các em rất bằng ḷng. Điều đó cho thấy các em cũng nhận ra được khả năng thật sự của các em, chớ không phải bằng cấp nói lên khả năng".

Phó Giáo Sư Trần Xuân Nhĩ, nhận định: "Các C Nhân ra trường vẫn thất nghiệp, v́ kiến thức của họ không thích hợp với nhu cầu của xă hội, cho nên bản thân họ phải học lại để có kiến thức hữu dụng, t́m hiểu nhu cầu của xă hội, rèn luyện kỹ năng của bản thân để tự tạo cơ hội cho ḿnh".

 Bàn về phẩm chất của C Nhân, Thạc Sĩ, ông Nguyễn Minh Ngọc, Giám Đốc Gemslight Company Ltd, thẳng thắn nói rằng: “Về kiến thức th́ vứt cái tư duy ông C Nhân của Thạc Sĩ đi, v́ học xong trường đại học chỉ đủ cho các ông bà tḥ đầu lên khỏi mặt đất thôi, c̣n phải hít bụi hít đất chớ chưa đứng lên được để đi đâu".

Cuối bài báo, phóng viên Hưng Trần viết một câu ngắn, như một lời than dành cho giáo dục đại học Việt Nam, rằng "Thị trường nhân lực Việt Nam đúng là quá thừa, nhưng lại quá thiếu"!

Từ năm 2006 đến năm 2010, Việt Nam có 5 bằng sáng chế được ghi tên tại Hoa Kỳ, trung b́nh mỗi năm có 1 bằng sáng chế. Trong khi đó, năm 2011 không có bằng sáng chế nào cả. Số lượng bằng sáng chế là một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước. Số bằng sáng chế không chỉ nói lên thành tựu thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lư thuyết, mà c̣n nói lên tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế th́ xuất cảng những sản phẩm kỹ thuật cao, thu được nhiều lợi nhuận.

Bằng sáng chế là h́nh thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh. Trong bài viết này, chỉ đề cập bằng sáng chế lưu trữ tại Hoa Kỳ trong năm 2011, và được trích lục từ văn pḥng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu thập được lấy từ đài BBC. Số lượng bằng sáng chế của các quốc gia vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á, như sau:

1. Nhật Bản với 126 triệu dân, có 46.139 bằng sáng chế.

2. Nam Hàn với 48 triệu dân, có 12.262 BSC. 

3. Đài Loan với 23 triệu dân, có 8.781 BSC.

54. Trung Cộng với 1 tỷ 350 triệu dân, có 3.171 BSC.

5. Singapore với 4 triệu 800 ngàn dân, có 647 BSC. 

6. Malaysia với 27 triệu 900 ngàn dân, có 161 BSC.

7. Thái Lan với 68 triệu dân, có 53 BSC.

8. Philippines với 93 triệu dân, có 27 BSC.

9. Indonesia với 232 triệu dân, có 7 BSC.

10. Brunei với 407 ngàn dân, có 1 BSC.

11. Việt Nam với 89 triệu dân, không có bằng sáng chế nào.  

Chưa hết, ngày 6/9/2013, Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (gọi tắt bằng Anh ngữ là WEF) đă công bố bảng xếp hạng hệ thống giáo dục 8 quốc gia trong khối ASEAN. Theo đó th́ WEF ghi nhận Singapore, Malaysia, và Brunei Darussalam lần lượt đứng đầu, Campuchia đứng thứ 6, Việt Nam thứ 7, và Thái Lan ở cuối bảng. Lào và Miến Điện (Myanmar) không được WEF xếp hạng. Tổ chức WEF thành lập năm 1970, là tổ chức “phi lợi nhuận”, trụ sở tại Davos , Geneve, Thụy Sĩ. Chủ Tịch hiện nay của Diễn Đàn là Tiến Sĩ Klaus Schwab. Báo cáo cũng khẳng định rằng: “Tài chánh không phải là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm nền giáo dục tốt, và lương giáo viên cao không hẳn tạo ra khả năng giảng dạy thích hợp”.... (Tr. Lâm. Theo Bangkok Post)

Đây là nỗi nhục của giáo dục đại học Việt Nam xă hội chủ nghĩa, chẳng những không có một trường đại học nào trong bảng xếp hạng 500 trường đại học nổi tiếng trên thế giới, lại c̣n đứng ngay dưới đít Campuchia trong bảng xếp hạng giáo dục các quốc gia trong khối ASEAN không? Trong khi Thái Lan có 3 trường đại học, và Singapore chỉ hơn 4 triệu dân c̣n có được 2 trường đại học trong danh sách 500 trường đại học nổi tiếng. (Ranking Web of World Universities Distribution by Countries)  

Cũng v́ vậy mà Việt Nam nằm trong danh sách xếp hạng của các tổ chức quốc tế như sau:

(1) Tổ chức Human Development xếp hạng chỉ số thông minh, Việt Nam ở hạng 121/187, dưới trung b́nh.

(2) Theo tổ chức Intenational Property Rights Index, th́ Việt Nam ở hạng 108/130 trong bảng xếp hạng về giá trị trí tuệ.

(3) Tổ chức Transparency International xếp hạng tham nhũng, Việt Nam ở hạng 116/177.

(4) Theo chỉ số tự do ngôn luận (Frredom of Press), Việt Nam đứng hạng 174/180.

(5) Theo chỉ số phẩm chất đời sống xă hội (Quality of Life), th́ xă hội chủ nghĩa Việt Nam "được" xếp hạng 72/76 (cũng cao hơn 4 quốc gia!).

(6) Về thống kê chỉ số ô nhiễm môi trường, th́ Việt Nam đứng hạng 102/124 trên thế giới.

(7) Về chỉ số y tế và sức khỏe, th́ Việt Nam đứng hạng 160/190.

(1) Tổ chức Human Development xếp hạng chỉ số thông minh, Việt Nam ở hạng 121/187, dưới trung b́nh.

(2) Theo tổ chức Intenational Property Rights Index, th́ Việt Nam ở hạng 108/130 trong bảng xếp hạng về giá trị trí tuệ.

(3) Tổ chức Transparency International xếp hạng tham nhũng, Việt Nam ở hạng 116/177.

(4) Theo chỉ số tự do ngôn luận (Frredom of Press), Việt Nam đứng hạng 174/180.

(5) Theo chỉ số phẩm chất đời sống xă hội (Quality of Life), th́ xă hội chủ nghĩa Việt Nam "được" xếp hạng 72/76 (cũng cao hơn 4 quốc gia!).

(6) Về thống kê chỉ số ô nhiễm môi trường, th́ Việt Nam đứng hạng 102/124 trên thế giới.

(7) Về chỉ số y tế và sức khỏe, th́ Việt Nam đứng hạng 160/190.

Tại Diễn Đàn tổng kết 30 năm (1986-2015) đổi mới họp tại Hà Nội ngày 19/11/2015, ông Trần Đ́nh Thiên, Viện Trưởng Viện Kinh Tế Việt Nam, nhận định: "Tính từ năm 2015, Việt Nam phải mất lần lượt, 10 năm - 12 năm - 17 năm nữa, mới bằng Trung Hoa - Thái Lan - và Malaysia của năm 2011". Có lẽ hơi khó hiểu, xin tŕnh bày lại cho rơ hơn. Đem kinh tế Việt Nam năm 2015 so với kinh tế vài nước của năm 2011, th́: Việt Nam sau Trung Cộng 10 năm, sau Thái Lan 12 năm, và sau Malysia đến 17  năm.

Trong khi Tiến sĩ Nguyễn Quang Thái, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Kinh Tế Việt Nam, nhận định: "Không c̣n là nguy cơ nữa, mà chúng ta đă thật sự tụt hậu, và tụt hậu ngày càng xa hơn so với thế giới".

Và nhận định của ông Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ Tướng: " Người Việt chúng ta thích tranh luận loanh quanh nhóm chữ "kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa" mà 30 năm qua vẫn chưa ai hiểu là ǵ. Đến nhóm chữ "doanh nghiệp nhà nước chủ đạo" cũng 30 năm vẫn chưa kết thúc. Sẽ c̣n tranh luận dài dài, không biết bao giờ mới hiểu được nghĩa của nó là ǵ".

S 41. Tội ác bắt học sinh học tiếng Quan Thoại thay chữ quốc ngữ.

Học sinh lớp 1 trên toàn lănh thổ Việt Nam bắt đầu học “chữ Việt cải tiến” theo âm Quan Thoại và Bạch Thoại của Trung Cộng” từ năm học 2018-2019 này.

Ngày 24/11/2017, nhà xuất bản Dân Trí tại Hà Nội phát hành quyển sách "Ngôn ngữ ở Việt Nam, hội nhập và phát triển" tập 1. Sách dày 2.200 trang của ông Bùi Hiền, và ông gọi là "Chữ Việt cải tiến" mà cách viết rất xa lạ với chữ Việt truyền thống, và khi đọc lên với âm thanh tưởng như đang nghe đọc sách chữ Trung Hoa.  

Từ đó, chữ Việt cải tiến của ông Bùi Hiền đă dẫn đến sự phẫn nộ của toàn dân, chớ không riêng ǵ phụ huynh học sinh phẫn nộ.

Bởi v́ theo thời gian, tiếng Việt cải tiến của ông Bùi Hiền sẽ trở nên thông dụng trong xă hội, th́ toàn bộ những kho báu trong các bảo tàng viện lưu giữ sách viết về lịch sử quốc gia dân tộc, về văn học nghệ thuật, về mọi lănh vực sinh hoạt xă hội, ...v..v... trở thành đống giấy vụn, trong khi con người trong xă hội không c̣n biết ǵ về quá khứ của ḿnh, cũng không biết ǵ về cội nguồn của quốc gia, dân tộc của ḿnh. Lúc ấy, con người chỉ biết ḿnh hôm nay mà thôi, như thể đang cô đơn giữa sa mạc mênh mông vậy.

Bỗng dưng, vào tháng 3/2018, Bộ Giáo Dục thông báo năm học 2018-2019, hơn 800.000 học sinh lớp 1 -tức hơn 50%- chọn học theo cách của giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể của cố Tổng Bí Thư Lê Duẫn.

Nếu học chữ Việt cải tiến của ông Bùi Hiền th́ học tṛ học chữ Việt theo âm Quan Thoại và Bạch Thoại của Trung Hoa, trong khi sách học của ông Ngọc Đại th́ vẫn học chữ Việt đang sử dụng trong xă hội từ xưa đến nay, nhưng cách học th́ hoàn toàn khác. Khác ở điểm, học sinh học thuộc ḷng chữ trước bằng cách nh́n những h́nh tṛn, h́nh vuông, và h́nh ba góc trống rỗng mà tưởng tượng ra chữ, rồi học đánh vần sau.

Theo lời giáo sư Hồ Ngọc Đại, th́ cựu Bộ Trưởng Giào Dục Phạm Vũ Luận đă "lách luật", cho phép dạy "thí điểm" và gọi là tài liệu công nghệ giáo dục chớ không phải là sách giáo khoa. Sau nhiều chục năm thí điểm, bây giờ in hằng loạt sách lớp 1 dưới tên gọi "tài liệu công nghệ giáo dục".

Tại sao gọi là tài liệu công nghệ giáo dục, mà không phải sách giáo khoa?

"Sản phẩm của công nghệ -hay kỹ nghệ- là vật chất để phục vụ con người, phục vụ xă hội, trong khi giáo dục đào tạo những thế hệ công dân để xây dựng và phát triển con người, phát triển đất nước".  

Giáo dục, là chiến lược của lănh đạo thực hiện mục tiêu quốc gia theo nguyện vọng người dân. Muốn đất nước phát triển như thế nào, lănh đạo phải hoạch định chính sách chiến lược như thế ấy, chánh phủ thực hiện sách lược bằng cách điều hợp các ngành, căn cứ vào đó soạn thảo những chính sách dài hạn và những kế hoạch ngắn hạn để thực hiện.

Và ngành giáo dục, đào tạo chuyên viên chuyên gia thích ứng cho nhu cầu đó. Đồng thời liên tục đào tạo và phát triển đội ngũ sư phạm về đạo đức lẫn kiến thức, cải tiến và phát triển sách giáo khoa phục vụ cho nhu cầu chiến lược, cải tiến dụng cụ trợ giáo, phương thức giảng dạy, cơ sở và trang bị, ..v..v...   

Nói chung, “giáo dục” trang bị cho những thế hệ về phẩm chất làm người trong khuôn thước văn hoá dân tộc, về khoa học kỹ thuật của thời đại thích hợp với truyền thống và mục tiêu phát triển quốc gia, về tinh thần trách nhiệm với cộng đồng dân tộc, và bổn phận công dân đối với tổ quốc.

Dù là chữ Việt cải tiến, nó vẫn là một vấn đề vô cùng quan trọng, v́ nó biến đổi cả xă hội và lịch sử, và điều này có ghi trong Hiến Pháp. Vậy, phải có một đạo Luật qui định rơ ràng, và phải có những cuộc hội thảo mở rộng cho người dân tham gia ư kiến, chớ không thể bỗng dưng biến cả một dân tộc như thần dân dưới triều đại vua quan phong kiến ngày xưa.

Điều 5 khoản 3 trong Hiến Pháp Việt Cộng ghi rằng: "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ ǵn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục tập quán, truyền thống, và văn hoá tốt đẹp của ḿnh".   

Nhưng, tại sao phải vội vàng bắt học sinh lớp 1 phải học "chữ Việt lạ" như năm học 2018-2019 đang  xảy ra?

V́ theo tài  liệu của Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Hân, Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Biển Đông, cho biết: “Chữ Việt cải tiến mà ông Bùi Hiền nói là của ổng, là loại tiếng Việt đă Hán hoá, phiên âm theo tiếng Trung Hoa tổng hợp gồm đơn âm Quan Thoại và Bạch Thoại. Nói cho dễ hiểu hơn, đây là một kiểu chữ Trung Hoa áp dụng cho người Việt Nam vào những thập niên sắp tới, phiên âm từ tiếng Trung Hoa, nhằm địa phương hoá ngôn ngữ, tương tự như tiếng Tàu Quảng Đông, Tàu Hồ Nam, Tàu Tây Tạng, Tàu Tân Cương, Tàu Nội Mông ….trong thời gian t trị trước khi sáp nhập.

Nguồn gốc “Chữ Việt Cải Tiến” nầy hoàn toàn do “Cục Ngôn Ngữ Trung Cộng” soạn thảo xong hồi tháng 3/1998. Bây giờ đă đến lúc Lănh đạo Việt Cộng thi hành nhiệm vụ hướng dẫn người Việt đi từ từ vào con đường đồng hoá, cũng như hội nhập vào xă hội của Trung Cộng một cách nhẹ nhàng êm thấm, và tự nguyện dâng hiến đất nước của ḿnh trở thành một tỉnh lỵ của Trung Cộng!

Con trai trưởng của Uông Triệu Quang là Uông Dương, thân cận của Tập Cận B́nh, Uỷ Viên Thường Vụ Bộ Chính Trị , Phó Thủ Tướng Quốc Vụ Viện, kiêm luôn 5 chức vụ :

1. Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Tân Cương

2. Tỗ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Tây Tạng

3. Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Nội Mông

4. Tổ Trưởng Tổ Công Tác Điều Phối Đài Loan

5. Tổ Trường Tổ Công Tác Điều Phối Việt Nam.

Bộ sách dạy từ lớp 1 đến lớp 12 theo âm Quan Thoại và Bạch Thoại của Trung Hoa, do Trung Cộng trao cho ông Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 1/2017, rồi nó biến thành của ông Bùi Hiền. Theo đó th́ học sinh Việt Nam sẽ bắt đầu học từ năm học 2013-2014, để đến năm 2040 th́ hoàn thành, cũng là năm mà Việt Nam trở thành quốc gia thuộc trị của Trung Cộng. Nhưng lănh đạo Việt Cộng ra lệnh bắt đầu học từ năm học 2019-2020. Đến cuối năm 2017, lănh đạo Việt Cộng lại thay đổi, cho học sinh lớp 1 học ngay trong năm học 2018-2019.

Cho dẫu Việt Cộng tự tâng công bằng cách thực hiện sớm chương tŕnh học chữ theo âm của chữ Trung Cộng, hay Trung Cộng ra lệnh, rơ ràng là đằng sau hành động mà Bộ Giáo Dục Việt Cộng vội vàng đẩy phụ huynh lẫn học sinh vào cái thế "hoàn toàn bất ngờ", phải chăng hành động này có phải là lănh đạo Việt Cộng đẩy nhanh Việt Nam vào ṿng tay Trung Cộng", v́ một khi Trung Cộng yếu đi th́ rất có thể tuổi trẻ và đại đa số người dân Việt Nam -gồm cả thành phần trí thức và quân đội nhân dân- sẽ đứng lên lật đổ Nguyễn Phú Trọng và phe nhóm lănh đạo, đồng nghĩa với Việt Nam có cơ hội vuột khỏi  tầm tay của Trung Cộng chăng?   

Viện ngôn ngữ học vào cuộc.

Trích trên ViệtTimes ngày 5/9/2018. Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hiệp, Viện Trưởng Viện Ngôn Ngữ Học cho biết, Viện Ngôn Ngữ Học đă họp hội đồng khoa học mở rộng, và khẳng định rằng:

"Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ đă từng được bàn đến nhiều lần, v́ vậy mà cải tiến chữ Việt của Tiến sĩ Bùi Hiền không phải là một ư kiến mới trong giới ngôn ngữ học. Nhưng, ngôn ngữ nói chung và chữ viết nói riêng, là sản phẩm của cộng đồng dân tộc, phải do cộng đồng quyết định sự phát triển của chữ viết, chớ không thể bị chi phối bởi ư chí hay nguyện vọng của một cá nhân, và học sinh bị cưỡng bách thi hành bởi mệnh lệnh hành chánh. Chính v́ vậy mà những hội nghị về cải tiến chữ Quốc Ngữ với hàng loạt các đề nghị của nhiều nhà ngôn ngữ học, nhưng tất cả đều không được đưa vào thực tế.

"Cho đến nay, đại đa số các ư kiến đều cho rằng, mặc dù có những nhược điểm, nhưng chữ quốc ngữ vẫn là một loại chữ ghi âm rất tốt, và hiện nay vẫn là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam. Trong khi sách cải tiến chữ quốc ngữ mà Tiến sĩ  Bùi Hiền nêu ra rất lộn xộn, chắp vá, và hoàn toàn không mang tính khoa học. Điển h́nh qua các điểm sau đây:

(1) Đă là nghiên cứu khoa học th́ không thể diễn đạt mơ hồ như ” Tạm thống nhất ..”. Việc xác định tiếng nói vùng nào của Việt Nam làm chuẩn chính âm hiện chưa đươc khẳng định. Tiếng nói Hà Nội không phải là tiếng nói đại diện cho một diện mạo ngữ âm trung thực và khách quan của tiếng Việt. Như vậy, nếu dựa vào hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nội để làm cơ sở cải tiến chữ viết th́ không phản ánh trung thực và đầy đủ ngữ âm tiếng Việt.

(2) Tiến sĩ Bùi Hiền đi ngược lại khuynh hướng chung  các nước sử dụng chữ Latin. Không có bất cứ bộ chữ Latin nào sử dụng chữ cái “w” để ghi âm vị /ŋ/. Đề nghị dùng “w” thay cho “ng” sẽ phá vỡ tính hệ thống trong tương quan giữa âm và chữ, khiến người học rất khó. Và hơn hết, sẽ làm cho người ngoại quốc vốn quen với các chữ viết dạng Latin, sẽ không thể tiếp nhận chữ Việt cải tiến này ngang qua sách báo.

(3) Học tiếng Việt và viết chữ Việt, là quyền lợi và trách nhiệm của mọi công dân Việt Nam. Đề nghị cải tiến chữ quốc ngữ của Tiến sĩ  Bùi Hiền sẽ làm cho chữ quốc ngữ trở nên khác xa chữ viết của một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số, v́ thế gây cho khăn cho người dân tộc thiểu số.

Và hơn hết, là nếu áp dụng cải tiến chữ quốc ngữ của ông Bùi Hiền, sẽ làm vô hiệu hóa một kho văn liệu khổng lồ với các ấn phẩm được viết bằng chữ quốc ngữ, làm đứt gẫy sự liên tục văn hóa của cả một dân tộc. Nếu muốn lưu giữ và truyền tải khối tri thức, văn hóa của dân tộc cho các thế hệ sau, chúng ta sẽ phải tổ chức in ấn, chế bản lại. Đây là một việc làm cực kỳ tốn kém. Không chỉ có thế, sự thay đổi này c̣n ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xă hội, an ninh… do thay đổi toàn bộ hệ thống văn bản, giấy tờ, dữ liệu hiện hành đang được công nhận trên toàn thế giới.

Sau cùng, Viện Ngôn Ngữ Học cho rằng: "Hoàn toàn không nên và không cần thiết có bất kỳ cải tiến nào đối với chữ quốc ngữ hiện nay.

Quốc Hội vào cuộc.

Ngày 12/09/2018. Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội họp về dự án sửa đổi Luật Giáo Dục.. Điều 29 dự thảo luật quy định: "Mỗi môn học có một hoặc nhiều sách giáo khoa; thực hiện xă hội hóa việc biên soạn sách giáo khoa. Cơ sở giáo dục được lựa chọn sách giáo khoa để sử dụng ổn định trong giảng dạy và học tập".

Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu:

1. “Không thể để sách giáo khoa mà học sinh tự chọn như hiện nay tại Quảng Nam áp dụng bộ sách riêng. Chẳng lẻ để cho tỉnh này có hệ thống giáo dục riêng sao?"

2. Về sách công nghệ Giáo dục của Hồ Ngọc Đại, đă thực mấy chục năm rồi mà vẫn tiếp tục thực nghiệm là sao?"

3. Giờ đây, tôi thấy thương bọn trẻ con sao học hành khổ sở quá vậy. Ngày xưa chúng tôi đi học đâu đến mức vậy, mà từ tên núi, tên sông, tên cao nguyên, nh́n thấy trên bản đồ sẽ ở đoạn nào giờ vẫn không thể quên được. Lịch sử các trận đánh, các triều đại từ Lư, Trần, Tiền Lê đến giờ cũng vẫn nhớ nguyên. C̣n giờ hỏi bọn trẻ những thứ đó, hầu hết đều không biết. Tôi có người bạn là giáo viên, xem sách của cháu nội tôi học mà bảo rất khó, khác hẳn thời xưa ḿnh học. Sao không để cho học sinh được học hành một cách dễ dàng. Chúng ta làm khổ con em quá”.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển phát biểu: "Tại sao mỗi địa phương có quyền lựa chọn bộ sách giáo khoa riêng trong giảng dạy, trong khi phụ huynh học sinh không được quyền chọn mua sách học cho con họ? “Thời kỳ tôi và các anh chị ở đây đi học, 10 năm học phổ thông sách vẫn thế, vẫn học được, anh học xong sách có thể chuyển cho em, sách mang từ Hà Nội lên vùng cao hoặc ngược lại đều học được. Sao giờ lại thay đổi vậy? Chuyện này sẽ là sự tốn kém rất lớn cho xă hội mà học sách c̣n không chính thống nữa".

Phó Chủ Tịch Quốc Hội Đỗ Bá Tỵ nhận định: "Không thể quyết định cho mỗi trường một loại sách giáo khoa khác nhau, v́ nhự vậy làm cho chương tŕnh giáo dục bị phân tán, trong khi cần phải thống nhất một loại sách giáo khoa. Tôi gặp nhiều học sinh ngoại quốc, các cháu rất tự tin khi nói các cháu học ít nhưng hiểu biết nhiều, không như học sinh ở Việt Nam. Vậy là giáo dục của ta nặng về nhồi nhét, làm cho tuổi trẻ ngày nay cận thị hết cả".

Với sự phẫn nộ của đông đảo phụ huynh học sinh cùng với nhiều thầy giáo cô giáo, ngay cả Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam cũng bác bỏ hoàn toàn, ngang qua những bài viết trên báo online hoặc qua những video clip trên trang Youbube hay facebook, nhưng rất lạ là không một vị lănh đạo nào trong chánh phủ lên tiếng, cho dù lên tiếng chấp nhận hay không chấp nhận nền giáo dục hỗn loạn hiện nay. 

Trong phiên họp Quốc Hội post lên Youtube ngày 12/9/2018. Thứ Trưởng Giáo Dục & Đào Tạo Vũ Đức Đam trả lời câu hỏi của một đại biểu Quốc Hội về chữ Việt cải tiến, như sau: "Gần đây lại rộ lên sự phản đối tài liệu học tiếng Việt của giáo sư Bùi Hiền, th́ ngay lúc đó tôi đă nói là chánh phủ chưa có chủ trương thay đổi giáo dục. Hoàn toàn không có, và ông lập lại là chánh phủ chưa có chủ trương thay đổi giáo dục".

Nếu chánh phủ không ra lệnh th́ tại sao tất cả lớp 1 trên toàn cơi Việt Nam thay đổi hoàn toàn, bằng cách phải học theo chữ cải tiến, hoặc học theo cách học mới? Câu hỏi mà ông Đam không trả lời được.

Thêm nữa. Căn cứ theo Điều 422 Bộ Luật H́nh Sự Việt Cộng th́ lănh đạo Việt Cộng phạm "Tội chống loài người". V́ Điều 422 ghi thế này:

“Người nào trong thời b́nh hay trong chiến tranh mà thực hiện hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia hoặc một vùng lănh thổ độc lập, có chủ quyền, làm đảo lộn nền tảng của một xă hội nhằm phá hoại xă hội đó hoặc thực hiện hành vi diệt chủng khác hoặc thực hiện hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên, th́ bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử h́nh”.

Đây là bài đăng trên báo Ḥa B́nh với “chữ Việt cải tiến” mà ông Bùi Hiền nói là do ông nghiên cứu, và học sinh Việt Nam lớp 1 bắt đầu học năm 2018-2019.

 

Ban chí da̭w wê̒l zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng tâ̭p chung thư̭c hiḙ̂n nhiḙ̂m vṷ thew kể hwă̭ch dê̒ tha

Thử hal, 13/8/2018 | 4:22:57 Khwô̠ng     

(HBDT) – Khởm 10/8, Ban chí da̭w (BCD) wê̒l zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng Hwa̒ Bi̒nh tố chức ho̭p deẻnh zả kết kwá thư̭c hiḙ̂n nhiḙ̂m vṷ 6 khảng dâ̒w năm, fương hưởng nhiḙ̂m vṷ 6 khảng kuổi năm 2018. Dôô̒ng chỉ Ngwiển Văn Chương, Fỏ Chú ti̭ch UBND tính, Tlươ̒ng BCD chủ chi̒ hô̭i ngi̭. Tham za hô̭i ngi̭ ko̒n kỏ lảnh da̭w kác xớ, ban, nga̒nh tha̒nh viên BCD, lảnh da̭w kác wiḙ̂n Kim Bôi, Kaw Fong, Tân La̭c, La̭c Xơn.

6 khảng dâ̒w năm, kác tha̒nh viên tloong BCD thư̭c hiḙ̂n nhiḙ̂m vṷ ản zaw, kóp fâ̒n báw tô̒n va̒ fát hwi zi xán Mo Mươ̒ng ớ tính.. Tloong ri Ban Twiên zảw Tính wí tiếp tṷc dôn dốc kác Hwiḙ̂n wí, Tha̒nh wí tloong ính rố chức thư̭c hiḙ̂n Chí thi̭ xổ 08-CT/TU ngă̒i 20/1/2016 kuố BTV Tính wí wê̒l tăng kươ̒ng xư̭ lảnh da̭w kuố Dáng dỏi vởi kôông tác zư̭ zi̒n, báw tô̒n va̒ fát hwi zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng tlêênh diḙ̂ ba̒n tính Hwa̒ Bi̒nh. Ngiḙ̂m thu bô̭ kó chư Mươ̒ng va̒ ta̒i liḙ̂w ră̭i thiểng Mươ̒ng cho mo̭l zân tô̭c Mươ̒ng tlêênh diḙ̂ ba̒n tính Hwa̒ Bi̒nh. Xớ VH-TT&DL thư̭c hiḙ̂n dê̒ ta̒i ngiên kửw khwa ho̭c kấp tính Mo Mươ̒ng dớ chwấn bi̭ tải bán. Tố chức kháw xát zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng. Fổi hơ̭p pơ̭i Xớ KH&CN thư̭c hiḙ̂n dê̒ ta̒i ngiên kửw khwa ho̭c Báw tô̒n, fát hwi zả tli̭ zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng Hwa̒ Bi̒nh. Xớ KH&CN fổi hơ̭p pơ̭i kác ban, nga̒nh chức năng thư̭c hiḙ̂n kác dê̒ ta̒i ản zaw. Xớ Ta̒i chỉnh thư̭c ḙ̂n thấm di̭nh va̒ bố xung kinh fỉ cho BCD thư̭c hiḙ̂n nhiḙ̂m vṷ chung. Xớ Ngwa̭i vu̒ổi hơ̭p pơ̭i kác xớ, ban, nga̒nh, hwiḙ̂n, tha̒nh fổ ta̭w diê̒w kiḙ̂n cho kácể viên bảw chỉ nước wa̒i ản dêểnh ngiên kửw, kháw xát, thi̒m hiếw wê̒l zi xán. Xớ GD&ĐT hwa̒n thiḙ̂n dê̒ ản "Zảw zṷc Zi xán căn hwả Mo Mươ̒ng cho ho̭c xinh bơ̭c fố thôông tlêênh diḙ̂ ba̒n tính Hwa̒ Bi̒nh”. Xớ TT&TT fổi hơ̭p pơ̭i nga̒nh chức năng dấi meḙnh kôông tác tiên chiê̒n wê̒l zi xán. Kác kơ kwan bảw chỉ nhơ Bảw hwa̒ Bi̒nh, Bảw Nhân zân, Bảw Văn ngḙ̂, Da̒i PT-TH tính da̒ kỏ nhê̒w tin, ba̒i, foỏng xư̭ tiên chiê̒n wê̒l zả tli̭ Mo Mươ̒ng. Kác diḙ̂ fương ku̒ng da̒ kỏ nhê̒w hwa̭t dôô̭ng báw tô̒n va̒ fát hwi zi xán Mo Mương...

Ta̭i hô̭i ngi̭, kác tha̒nh viên BCD da̒ kóp ỉ kiển baw zư̭ tháw Dê̒ ản báw tô̒n, fát hwi zi xán Văn hwả Mo Mươ̒ng ớ tính Hwa̒ Bi̒nh zai dwa̭n 2018 2023. Tloong 6 khảng kuổi năm 2018, BCD da̒ dươ tha môô̭ch xổ nhiêm vṷ kṷ thế nhơ; Ban Twiên zaw Tính wí fổi hơ̭p ku̒ng Viḙ̂n Ngôn ngư̭ tố chức Hô̭i thaw bảw kảw kết kwá thư̭c hiḙ̂n dê̒ ản xâi zư̭ng bô̭ ta̒i liḙ̂w ră̭i, ho̭c chư Mươ̒ng. Xớ VN-TT&DL tiếp tṷc hwa̒n tha̒nh Dê̒ ản. Fổi hơ̭p ku̒ng wiḙ̂n Kaw Fong dê̒ xwất zư̭ ản Báw tô̒n khôông zan văn hwả Mo Mươ̒ng. Tham mưw cho UBND tính la̒ wiḙ̂c ku̒ng Bô̭ VH-TT&DL, Hô̭i dôô̒ng zi xán văn hwả kuốc za tiển ha̒nh xâi zư̭ng hô̒ xơ kấp nha̒ nước cho Zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng. Xớ KH&CN fổi hơ̭p tiếp tṷc chiến zaw Ta̒i liḙ̂w chơ Mươ̒ng cho kác xớ, ban, nga̒nh, diḙ̂ fương tiên chiê̒n, fố biển. Xớ TT&TT va̒ kác kơ kwan bảw chỉ tlêênh diḙ̂ ba̒n tiếp tṷc dấi meḙnh kôông tác tiên chiê̒n, kwáng bả wê̒l Mo Mươ̒ng...

Fát biếw ta̭i hô̭i ngi̭, dôô̒ng chỉ Ngwiển Văn Chương, Fỏ Chú ti̭ch UBND tính khắng di̭nh: Mo Mươ̒ng la̒ zi xán hết khức kwỉ bẩw. Zả tli̭ Mo Mươ̒ng da̒ ản kác nha̒ khwa ho̭c va̒ ngươ̒i zân tlêênh diḙ̂ ba̒n khắng di̭nh. Nhâ̭n thức ản tâ̒m kwan tloo̭ng kuố zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng, kôông tác lảnh da̭w, chí da̭w kuố Tính wí, UBND tính da̒ ản thư̭c hiḙ̂n kṷ thế bă̒ng kác văn bán. Twi nhiên wiḙ̂c dươ zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng thee̒nh zi xán kấp kuốc za vẩn ko̒n châ̭m. Dớ thcư̭ hiḙ̂n kác nô̭i zung dê̒ tha, dôô̒ng chỉ Fỏ Chú ti̭ch UBNF tính dê̒ ngi̭:

Tloong thơ̒i zan dêểnh kơ kwan thươ̒ng chư̭c Xớ VH-TT&DL tiếp thu ỉ kiển kác tha̒nh viên BCD dớ hwa̒n tha̒nh kác nô̭i zung kuố Dê̒ ản Báw tô̒n, fát hwi zi xán văn hwả Mo Mươ̒ng ớ tính Hwa̒ Bi̒nh. Bố xung thêm 2 zư̭ ản ớ wiḙ̂n Kaw Fong, Tân La̭c baw nô̭i zung kuố Dê̒ ản chi̒nh kấp thấm kwiê̒n fê zwiḙ̂t baw khảng 10/2018. Kôông tác tiên chiê̒n, kwáng bả wê̒l zi xán Mo Mươ̒ng kâ̒n hiḙ̂w kwá va̒ rôô̭ng ra̭i hơn nươ̭. Kác kơ kwan chwiên môn thư̭c hiḙ̂m kác nhiḙ̂m vṷ ản zaw thâ̭t khấn chương, khwa ho̭c, chách nhiḙ̂m, kóp fâ̒n báw tô̒n, fat hwi Zi xán Văn hwả Mo Mươ̒ng”. (hết)

 

Và dưới đây là bài thơ ngắn với “chữ Việt” và “chữ Việt cải tiến”.

Trăng sáng                                              CăQ sáQ

Sân nhà em sáng quá                        Sân Nà em sáq Kuá

Nhờ ánh trăng sáng ngời                   Nờ áN Kăq sáq Qời

Trăng tṛn như cái đĩa                        CăQ C̣n Nư kái đĩa

Lơ lững mà không rơi                         Lơ lữq mà Xôq rơi

Những hôm nào trăng khuyết             Nữq hôm nào Căq Xuyết

Trông giống con thuyền trôi                CôQ ZốQ con Wuyền Côi

Em đi trăng theo bước                       Em đi CăQ Weo bước

Như muốn cùng đi chơi.                     Nư muốn KùQ Di Cơi

 

Vậy là lănh đạo Việt Cộng đang xóa dần ngôn ngữ và tiếng nói Việt Nam, là một trong những cách chuẩn bị đẩy dân tộc Việt Nam sáp nhập vào Trung Cộng, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt mà Hoàng Đế Trần Nhân Tông để lại di chúc từ hơn 700 năm trước, nay th́ lănh đạo Việt Cộng hành động hoàn toàn trái ngược. Di chúc viết rằng:

"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo, v́ rằng họ cho ḿnh cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ đến chuyện khác lớn hơn, tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, th́ gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác “. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu.

Kẻ khác mà Hoàng Đế Trần Nhân Tông nói đến, là vua quan các triều đại phong kiến Trung Hoa ngày trước, và ngày nay là lănh đạo Trung Cộng.

 

Kết luận.

Lănh đạo Việt Cộng “đă thành công” trong mục tiêu đào tạo con người mới theo văn hóa mới xă hội chủ nghĩa, mà họ thực hiện ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà Việt Cộng nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam, rồi dâng công với cộng sản quốc tế là Nga Sô, sau đó là Trung Cộng, mà Tổng Bí Thư Việt Cộng Lê Duẫn đă nói rằng: “Ta đánh đây là đánh cho Nga Sô, đánh cho Trung Quốc”. 

Chiến tranh Việt Nam 1954-1975 do lănh đạo Việt Cộng thực hiện theo lệnh của Cộng Sản Quốc Tế Nga Sô, đă đẩy hằng chục triệu người Việt Nam vào cơi chết, là những con số thật kinh hoàng! Nhưng, c̣n kinh hoàng hơn nữa, đó là tội àc về giáo dục xă hội chủ nghĩa mà tôi gọi là “giáo dục Việt Cộng”. Nó  khác với thứ vũ khí giết người chết ngay tại chỗ trong chớp mắt, nó là thứ vũ khí vô h́nh của tội ác, thứ tội ác mà ḍng lịch sử truyền thống dân tộc Việt Nam chúng ta chưa bao giờ ghi nhận, cho đến thời Việt Cộng từ giữa thế kỷ 20 đến nay. Vâng. Nó chính là ... 

“Giáo dục xă hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nó là thứ vũ khí đục khoét dần trái tim người Việt Nam đến mức loại trừ ḷng nhân ái, và thay vào đó bằng sự vô cảm. Nó đục khoét dần khối óc người Việt Nam đến mức loại trừ ư tưởng phục vụ người dân, để tuân phục lănh đạo. Nó đục khoét dần tâm hồn người Việt Nam, đề biến thành tâm hồn dối trá của Việt Cộng với ḷng tham vô tận. Cũng từ thứ vũ khí giáo dục đó  đối với lănh đạo Việt Cộng các cấp, nó thay bằng trái tim Việt Cộng không hề rung động v́ gắn chặt vào tư tưởng Mác-Lê, thay bằng khối óc Việt Cộng với bản chất dối trá của chủ nghĩa Mác-Lê, và thay bằng tâm hồn Việt Cộng chỉ rung động với quyền lực và quyền lợi cá nhân của họ”. 

Sau 10 năm (1945-1954) trong các khu rừng Việt Nam, 20 năm (1955-1975) trên lănh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, và 43 năm (1975-2018) trên toàn cơi Việt Nam, giáo dục Việt Cộng đă nhận ch́m người dân trong một xă hội vô cảm, một xă hội dối trá mà nền giáo dục Việt Cộng là dối trá hơn tất cả. Đó là sự thành công của ông Hồ Chí Minh -con người tàn độc nhất trong ḍng lịch sử Việt Nam- và các nhóm lănh đạo tàn độc tiếp nối đến nay.

V́ vậy, xin quí độc giả thử tưởng tượng rằng: “Nếu ngày mai này, chế độ Việt Cộng tại Việt Nam sụp đổ hoàn toàn, nhóm lănh đạo lâm thời chủ trương dân chủ tự do lên cầm quyền sẽ cần thời gian 2 năm, 3 năm, thậm chí là 5 năm là ổn định xă hội, nhưng phải 20 năm, 30 năm, 40 năm, thậm chí là phải 50 năm (= 2 thế hệ), mới khôi phục được nếp sống văn hóa nhân bản và khoa học trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam. V́ vậy mà tôi cho rằng, giáo dục xă hội chủ nghĩa do các nhóm lănh đạo Việt Cộng chủ trương và thực hiện, là tội ác kinh hoàng hơn tất cả tội ác khác gộp lại đối với dân tộc Việt Nam hơn 70 năm qua!” 

V́ vậy mà ngày nào c̣n chế độ cộng sản độc tài toàn trị trên quê hương, th́ ngày ấy xă hội Việt Nam vẫn tiếp tục lún xuống tận đáy của suy đồi băng hoại. Cách duy nhất là phải triệt tiêu chế độ cộng sản Việt Nam, th́ toàn dân Việt Nam -trong nước và hải ngoại- mới có cơ hội cùng nhau xây dựng một chế độ phục vụ nguyện vọng người dân, từ đó khôi phục và phát triển quốc gia trên nền tảng văn hóa văn minh truyền thống dân tộc, thích ứng với phát triển khoa học kỹ thuật thế giới.  

                                                            Texas, tháng 03 năm 2018

                                                            Bổ túc tháng 3 năm 2019

Phạm Bá Hoa: Thư gởi Người Lính QĐND VN

 

 

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc
 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

Nguyên Thạch