báo điện tử TRÁCH NHIỆM do Khu Hội CTNCT Việt Nam Nam California chủ trương

*  hoạt động từ 26/4/2008  *


"Những thông tin trên trang web này thể hiện quyền tự do ngôn luận của người đưa tin; và quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ của người đọc."

Bài viết                                                           

 

 VIỆT NAM CỘNG H̉A

            CHÍNH PHỦ PHÁP ĐỊNH

 
LỜI KÊU GỌI ỦNG HỘ TT TRUMP CỦA LS LÊ TRỌNG QUÁT &  THƯ TỐI QUAN TRỌNG KÍNH GỬI TỔNG THỐNG HOA KỲ  


POWERFUL: VIETNAMESE Trump Supporter EXPLOSIVE Interview 8/14/19


Thông điệp Liên bang Hoa Kỳ 2020

 
GOD BLESS THE USA - Sonia Ohlala Cover - TRUMP 2020

***

 What do you want- [Lyrics Video official] Noy T...
click vào đây xem video

****

 Phạm Bá Hoa

 

 

Chín Mươi Năm

   Nh́n Lại Cuộc Đời
                                       1930-2020

                                                                             

                        ****** 

                        Tập 1/2

Lời nói đầu.

Thưa quí vị,

Tôi chào đời năm 1930 tại làng Đại Ngăi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Năm 1937, học sơ học tại Đại Ngăi, và học tiểu học tại Sóc Trăng.

Giữa năm 1945, theo Ba Má tôi dọn về quê Nội ở Nha Mân, Sa Đéc, v́ ngay sau thế chiến thứ hai th́ thực dân Pháp quay lại chiếm Việt Nam, và cộng sản Việt Nam dưới vơ bọc Việt Minh chống Pháp.

Đầu năm 1947 tôi lên Sài G̣n, vừa làm thợ may (sau 6 tháng học) vừa học trung học lớp đêm.

Năm 1949, Ba tôi bị Việt Minh cộng sản bắt, trong khi Má tôi và các em tôi vẫn ở Nha Mân. Năm 1952, Ba tôi được chúng thả về trong t́nh trạng kiệt sức.

Ngày 12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, hai tuần sau đó th́ Bộ Quốc Pḥng đưa lên học nhờ Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt v́ Trường Thủ Đức không đủ cơ sở. Học xong, trở về Thủ Đức dự lễ tốt nghiệp tại Sài G̣n ngày 1/2/1955 với cấp bậc Thiếu Úy.

Đơn vị đầu tiên là Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân đồn trú tại Vĩnh Long.

Tháng 11/1955, theo Tiểu Đoàn chuyển lên Cheo Reo (sau này là tỉnh Phú Bổn) trong chương tŕnh thành lập Trung Đoàn 35 trong hệ thống tổ chức Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.

Đầu năm 1956, Trung Đoàn 35 chuyển đến đồn trú cạnh đồn điền trà Catecka cạnh quốc lộ 19 bis Pleiku - biên giới Cam Bốt. Tôi được cử đi học khóa Đại Đội Trưởng tại Chi Nhánh Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt. Giữa năm 1956 măn khóa, trở về Tiểu Đoàn 2/Trung Đoàn 35/Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.

Đầu năm 1957, tôi được thăng cấp Trung Úy. Được cử giữ chức Tiểu Đoàn Phó.

Đầu năm 1958, Trung Đoàn 35 chuyển lên Kontum cũng là dăy Trường Sơn nhưng cao hơn Pleiku, cùng lúc tôi được chuyển lên Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 35 giữ chức Trưởng Ban 3 kiêm Trưởng Ban 5.

Tháng 3/1958, tôi về Vĩnh Long cưới vợ, và chúng tôi cùng sống bên nhau tại Kontum.

Tháng 4/1959, Sư Đoàn 12 Khinh Chiến -cũng như các Sư Đoàn Khinh Chiến khác- lần lượt giải tán để thành lập Sư Đoàn Bộ Binh. Tôi được chuyển đến Sư Đoàn 11 Khinh Chiến đồn trú tại Sa Đéc, và trách nhiệm Trưởng Ban Hành Quân/Pḥng 3 Bộ Tham Mưu Sư Đoàn.

Tháng 6/1959, Sư Đoàn 11 chuyển lên đồn trú tại Bến Kéo cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 6 cây số, và tiếp nhận Sư Đoàn 13 Khinh Chiến giải tán để thành lập Sư Đoàn 21 Bộ Binh từ ngày 1/7/1959.

Tháng 3/1960, Sư Đoàn 21 Bộ Binh chuyển trở lại Sa Đéc phụ trách hành quân an ninh các tỉnh bờ bắc Sông Tiền và các tỉnh Vĩnh Long Vĩnh B́nh Sa Đéc trên dăi đất cù lao giữa Sông Tiền với Sông Hậu.

Tháng 6/1960, tôi theo học khoá tham mưu tại Trường Đại Học Quân Sự, đồn trú trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài G̣n. Học xong, trở về Sư Đoàn 21 Bộ Binh vẫn chức vụ Trưởng Ban Hành Quân/Pḥng 3 Bộ Tham Mưu Sư Đoàn. Đầu năm 1961 Bộ Tham Mưu Sư Đoàn chuyển sang đồn trú tại thị xă Cần Thơ.

Tháng 11/1961 tôi được thăng cấp Đại Úy, và giữ chức Chánh Văn Pḥng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh.

Tháng 12/1962, tôi thuyên chuyển lên Bộ Tổng Tham Mưu và giữ chức Chánh Văn Pḥng Tham Mưu Trưởng Liên Quân.

Tháng 11/1963, được thăng cấp Thiếu Tá, giữ chức Chánh Văn Pḥng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Tháng 9/1965, được thăng cấp Trung Tá, vẫn giữ chức Chánh Văn Pḥng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

Tháng 12/1966, chuyển xuống Cần Thơ giữ chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh.

Tháng 4/1968, chuyển về Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu, trách nhiệm nghiên cứu và cải tổ về tổ chức và nhiệm vụ Đại Đội Hành Chánh Tiếp Vận của hơn 40 Tiểu Khu, thành Trung Tâm Hành Chánh Tiếp Vận Tiểu Khu với “bảng cấp số” có 5 loại A, B, C, D, E, tùy theo quân số Địa Phương Quân & Nghĩa Quân từng Tiểu Khu (A là quân số ít nhất, và E là quân số từ 10.000 người trở lên).

Tháng 6/1969 thăng cấp Đại Tá. Trách nhiệm Trưởng Ban Nghiên Cứu chuyển công tác quản trị các loại quân trang quân dụng toàn ngành Tiếp Vận bằng tay, sang công tác quản trị bằng máy computer từ năm 1971. Bắt đầu bằng máy computer IBM 360/20, rồi thay bằng máy computer IBM 360/40, và sau cùng là máy computer IBM 360/50.

Tháng 6/1970, theo học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp tại Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Đà Lạt. Sau khóa học, trở về Tổng Cục Tiếp Vận giữ chức Chánh Sở Kế Hoạch & Chương Tŕnh.

Tháng 2/1972, chuyển xuống Cần Thơ giữ chức Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận.

Tháng 6/1972, chuyển về Sài G̣n giữ chức Cục Trưởng Cục Măi Dịch.

Tháng 12/1974, giữ chức Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cho đến Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975, là ngày thứ 7.583 thời chiến tranh chống cộng sản Việt Nam.

Trong mọi trường hợp, vợ chồng tôi và các con chúng tôi luôn sống bên nhau.

Sau ngày 30/4/1975, tất cả quí vị Tướng Lănh và hầu hết sĩ quan các cấp cùng với viên chức hành chánh và Dân Biểu Nghị Sĩ, bị cộng sản Việt Nam đẩy vào các trại tập trung. Tất cả sĩ quan cấp Úy và cấp Tá bị giam tại trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh ngày 14/6/1975. Chuyển đến trại tập trung Tam Hiệp tỉnh Biên Ḥa ngày 24/10/1975.

Ngày 14 & 16/6/1976, sau khi sàng lọc hầu hết chúng tôi bị chuyển đến trại tập trung trên đất Bắc. Cấp Tướng và cấp Đại Tá di chuyển bằng phi cơ đến Yên Bái tỉnh Hoàng Liên Sơn, các cấp c̣n lại di chuyển bằng tàu vận tải đến các trại tập trung hầu hết các tỉnh vùng Tây Bắc và Tây Nam Hà Nội.

Tháng 4/1978, cấp Tướng và cấp Đại Tá bị chuyển xuống trại tập trung Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh, trại tập trung các tỉnh phía Nam và Tây Nam Hà Nội.

Sau cùng là ngày 9/9/1987, tôi trong số 91 tù chính trị cấp Tướng và Đại Tá ra khỏi trại Nam Hà và về đến nhà ở Sài G̣n lúc 6 giờ chiều ngày 12/9/1987 bằng xe lửa.

Sau thời gian làm thủ tục xuất ngoại, vợ chồng tôi đặt chân đến phi trường Houston tiểu bang Texas chiều ngày 5/4/1991 trong đợt H.O.5. Suốt thời gian tôi bị giam trong trại tập trung, vợ tôi đă lần lượt t́m cách cho năm con chúng tôi vượt biển, tất cả đều an toàn và định cư tại Houston, Hoa Kỳ. Sau những năm "cực mà vui" vợ chồng tôi ổn định cuộc sống, lần lượt tôi viết được:

Quyển "Đôi Ḍng Ghi Nhớ". Tôi kể lại những lệnh mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, những ǵ mà mắt tôi thấy, và những ǵ mà tai tôi nghe, từ cuộc Đảo Chánh ngày 1/11/1963, Chỉnh Lư ngày 30/1/1964, Biểu Dương Lực Lượng ngày 13/9/1964, Đảo Chánh 19/2/1965, Quân Đội Lănh Đạo Quốc Gia từ ngày 19/6/1965, Khủng Hoảng Chính Trị từ ngày 9/3/1966, và năm cuối cùng của chiến tranh bảo vệ tổ quốc dân tộc cho đến Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975, khi quân cộng sản Việt Nam -tôi gọi là Việt Cộng- từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa theo chế độ cộng sản độc tài, tràn vào nhuộm đỏ toàn cơi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế do Liên Xô lănh đạo.

Do nhà sách Ngày Nay tại Houston ấn hành năm 1994, 1995, 1998, và nhà sách Tú Quỳnh tại Nam California ấn hành năm 2007. Mỗi lần ấn hành, đều có bổ túc thêm nội dung.

Quyển "Kư Sự Trong Tù". Trong một góc độ nào đó, tôi cố gắng ghi lại nét nh́n của tôi khi quân cộng sản từ ngoài rừng tràn vào thủ đô Sài G̣n trưa ngày 30/4/1975, với nội dung chính được dựng lại một số góc cạnh xă hội của nước Việt Nam, đă và đang bị các nhóm lănh đạo cộng sản Việt Nam biến thành một xă hội mà mọi người bị họ bịt mắt bịt tai bịt miệng trong nghèo đói. Riêng hằng nửa triệu gia đ́nh công dân Việt Nam Cộng Ḥa chúng tôi mà cộng sản gọi là “ngụy quân ngụy quyền”, càng bị đối xử khắc nghiệt trong xă hội đó.

Do nhà sách Tú Quỳnh tại Nam California ấn hành năm 2008.

Quyển "Quê Hương & Quân Ngũ". Quê Hương, cho dù bất cứ người Việt Nam nào chưa hề leo núi qua đèo đến tận Ải Nam Quan cực bắc, cũng chưa hề băng đồng lội ruộng hay xuôi ḍng sông rạch đến tận Mũi Cà Mau cực nam, nhưng từng tấc đất tấc biển thân thương vẫn trong ḷng mỗi người Việt Nam chúng ta, v́ đó là Quê Hương Việt Nam. Càng xa đất nước, chúng ta càng thấm thía sâu sắc hai chữ Quê Hương để mà thương mà nhớ! Bởi, quê hương đất nước của ḿnh là cái ǵ mà ḿnh không chọn lựa, nhưng là dăi đất mà tổ tiên ông bà cha mẹ ḿnh chào đời cũng là nơi an nghĩ vĩnh cửu, cho nên ḿnh yêu thương trân quí một cách tự nhiên. Trong một khoảnh khắc yên ắng nào đó, bất chợt quí vị nhận ra t́nh cảm của ḿnh dù đang là công dân bản xứ, nhưng rơ ràng là ḿnh có yêu thương đất nước bản xứ đến đâu đi nữa, cũng khó ḷng mà thương như thương dăi đất quê hương Việt Nam nghèo khổ của ḿnh!

Quân ngũ, với tôi là trường học tốt cho tuổi thanh niên. Đây là tổ chức qui mô nhất, chặt chẽ nhất, là một trong những hợp phần gộp lại biểu thị quyền lực quốc gia. “Trường học trong quân ngũ” là những mái trường đào tạo từ người quân nhân thấp nhất đến cao nhất, đào tạo từ khả năng tổng quát đến chuyên môn, từ tổ chức Tiểu Đội, Trung Đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, đến Trung Đoàn, Sư Đoàn, Quân Đoàn. Chính những mái trường quân sự, từng bước tạo cho Người Lính chẳng những có căn bản vững chắc về quân sự, mà c̣n trang bị cho Người Lính một căn bản về tổ chức và quản trị trong phong cách Người Lính trong quân ngũ, lẫn phong cách Người Quản Trị trong các ngành sinh hoạt quốc gia. Hơn hết, là t́nh đồng đội tiêu biểu “trái tim thứ hai trong Người Lính”, bởi trên chiến trường súng nổ đạn bay, đồng đội này ngă xuống đồng đội khác tiến lên, lúc ấy bất cứ Người Lính nào cũng sẳn sàng cứu giúp đồng đội mà không hề nghĩ đến tính mạng của ḿnh, cho dù đă có biết bao trường hợp Người Lính cứu đồng đội nhưng chính ḿnh hi sinh!

Quyển "Tôi Là Một H.O." Tôi là một thành viên nhỏ bé li ti trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại nói chung (khoảng 3.000.000 người), và tại Hoa Kỳ nói riêng (trên dưới 2.000.000 người), tôi kể lại cuộc đời tị nạn rất cực nhưng rất vui của vợ chồng tôi trong những năm đầu trên đất Hoa Kỳ. “Rất cực” v́ trong những năm đầu chúng tôi phải cặm cụi làm việc ban ngày lẫn ban đêm. “Rất vui” v́ được cùng các con sống trong một xă hội dân chủ pháp trị được xem là bậc nhất của thế giới. Trong điều kiện an cư lạc nghiệp đó, tôi tham gia sinh hoạt Cộng Đồng và sinh hoạt trên hệ thống internet, trong mục đích góp phần dân chủ hóa Việt Nam.

Quyển "Bằng Hữu Gần Xa” tập 1, tập 2, tập 3. Từ năm 1998, tôi có nhiều cơ hội liên lạc với các đồng môn dưới những mái trường xưa, với các bạn đồng đội suốt chiều dài 21 năm phục vụ quân ngũ trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc dân tộc, với các bạn đồng tù trong một số trại tập trung của cộng sản, và những bằng hữu trên các diễn đàn mà tôi chưa một lần tay bắt mặt mừng, cùng nhau trao đổi:

Những tài liệu trong nội dung quyển "Đôi Ḍng Ghi Nhớ" và quyển "Kư Sự Trong Tù".

Những tin tức thời sự Việt Nam và thế giới.

Những quan điểm chính trị và nhiều vấn đề trong sinh hoạt Cộng Đồng.

Những tâm t́nh của người dân Việt trong đời sống lưu vong.

Và ước vọng góp phần vào công cuộc dân chủ hóa chính trị trên quê hương Việt Nam.

Quyển “Thời Sự Việt Nam 2001-2006”, với nội dung chọn lọc trong số 312 bài mà tôi viết và diễn đọc trên làn sóng đài phát thanh TNT từ năm 2001 đến 2006. Mỗi tuần một bài 15 phút trong năm thứ nhất, và từ năm thứ hai trở đi th́ mỗi bài dài 30 phút, xoay quanh chủ đề “Những Vấn Đề Hôm Nay” bao gồm bốn lănh vực:

Lănh đạo cộng sản Việt Nam.

Dân chủ và nhân quyền.

Xă hội xă hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thành công của Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại.

Trong cùng thời gian, tôi tham gia Ban Phát Thanh "Tiếng Chuông Tĩnh Thức" từ tháng 4/1998 đến tháng 1/2008. Trưởng Ban là Anh Vơ Minh Thế, một cư sĩ tu tại nhà. Mỗi tuần phát thanh một show trên đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam, gọi tắt Anh ngữ là VOVN. Tôi đă đọc 98 bài của các vị Tỳ Kheo Tây Tạng, Ấn Độ, Tích Lan, Trung Hoa, ..v..v..

Từ năm 2010 cũng là năm tôi vào tuổi 80, tôi không tham gia tổ chức nào nữa -ngoại trừ Hội đồng hương Vĩnh Long Vĩnh B́nh Sa Đéc- v́ tôi e rằng đến lúc nào đó bản thân tôi không kiểm soát được sự suy nghĩ cũng như lời nói của ḿnh, sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt của tổ chức. Nhưng, tôi tự hứa là vẫn sinh hoạt với tính cách cá nhân, cho đến khi không thể. Thật ra th́ tôi đă chuẩn bị cho sinh hoạt cá nhân khi nhận lời cộng tác với:

- Đài VAN TV 55.2 với chương tŕnh “Tản Mạn Lịch Sử 1954-1975” trong những năm 2009 – 2011. Hai tuần một show 30 phút.

Sau đó, tôi cộng tác với:

- Đài SGN TV 51.3 trong những năm 2011 - 2014 với chủ đề "Nh́n Lại Trang Quân Sử". Hai tuần một show 30 phút.

- Và đài ABTV 55.4 (Năm 2020 chuyển sang channel 15.2) từ tháng 1/2015 với chủ đề "Chuyện Ngày Tháng Cũ". Đến nay -tháng 6/2020- là show thứ 280 và vẫn tiếp tục, trong mục đích góp phần triệt tiêu chế độ cộng sản độc tài trên quê hương Việt Nam. Mỗi tuần một show 30 phút.

Thêm nữa, từ tháng 11/2011, tôi bắt đầu viết thư gởi người lính cộng sản Việt Nam trong mục đích giúp họ nhận ra tội ác của các nhóm lănh đạo Việt Cộng, đồng thời cuốn họ về phía đồng bào để lật đổ chế độ cộng sản độc tài tàn bạo với dân, nhưng vô cùng khiếp nhược với Trung Cộng. Mỗi tháng ít nhất là một lá thư dài 7 hoặc 8 trang, và tùy theo t́nh h́nh Việt Nam mà tháng nhiều nhất là bốn lá thư. Những lá thư thứ hai thứ ba trong tháng, kèm mẫu tự a, b, c, theo sau số thứ tự của thư. Thí dụ: Tháng 5/2014 là Thư số 31, th́ thư thứ 2 thứ 3 trong tháng 5/2014 là Thư số 31a, Thư số 31b. Tháng 6/2020 là Thư số 104, với tổng số  lượng đến nay là 210 Thư. Và vẫn tiếp tục...

Trên đây là suốt chặng đường 90 năm -1930 đến 2020- mà tôi lưu giữ được gấn 5.800 tấm h́nh gia đ́nh từ năm 1955 đến năm 2000, cùng lúc cố gắng dựng lại những lời viết trên trang giấy, lời kể trên đài truyền thanh Audio, lời thuật trên đài truyền h́nh Video, cùng với những video sinh hoạt trong gia đ́nh, và những video du lịch qua từng thời gian, với hy vọng đây là bài học kinh nghiệm giúp các Con các Cháu chúng tôi và thân nhân thân quyến chúng tôi -trong mức độ nào đó- hiểu được quan niệm sống trong mái ấm gia đ́nh, hiểu được trách nhiệm thành viên trong xă hội, và hiểu được bổn phận công dân đối với quê hương đất nước, nhất là quê hương đất nước trong thời chinh chiến của vợ chồng tôi.

Xin mời quư vị vào nội dung ....

****

              Nội Dung

                                                                                                                                               

              Phần Một

       NỀN TẢNG QUAN NIỆM SỐNG                             

 

1. Tôi chào đời năm 1930                                                      11

2. Quê tôi làng Đại Ngăi                                                         13

3. Lời dạy của Sư Ông chùa Vạn An                                       19

4. Quan niệm sống của vợ chồng tôi                                        27

5. Đôi lời với từng cháu trước khi bước vào xă hội                   31

6. Ước mơ cuối đời của vợ chồng tôi                                       41     

     

 

            Phần Hai

                                    VIỆT NAM QUA D̉NG LỊCH SỬ                            

 

7. Tổ quốc Việt Nam                                                                 45

8. Việt Nam thời dựng nước và mở nước 39 – 1857                          49

9. Việt Nam thời bị Pháp cai trị 1858 - 1945                              77

10. Chiến tranh Pháp-Việt Minh cộng sản 1945 - 1954                       81

11. Quân Đội Quốc Gia Việt Nam 1950                                              87

12. Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức 1954                                      91

13. Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân 1955 (Vĩnh Long-Cheo Reo)             105

14. Trung Đoàn 35 Bộ Binh 1956-1959 (Pleiku-Kontum)           125

15. Sư Đoàn 21 Bộ Binh 1959-1962 SaĐéc-CầnThơ)                         143

16. Bộ Tổng Tham Mưu 1962 – 1966 (SàiG̣n)                                  159

17. Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng 1966 – 1968 (CầnThơ)                 275

18. Tổng Cục Tiếp Vận 1968 = 1971 (SàiG̣n)                                    295

19. Cục Măi Dịch/Tổng Cục Tiếp Vận 1972 – 1974 (SàiG̣n)             309

20. Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ TTM 1974 -1975 (Sài G̣n)             321

21. Giờ Thứ 25 ngày 30/4/1975                                                         355  

             Phần Ba

                                 TRẠI TẬP TRUNG CỦA VIỆT CỘNG                

22. Trước ngày vào trại tập trung 30/4 - 13/6/1975                             365

23. Trại tập trung Long Giao 14/6 - 10/1975                              379

24. Trại tập trung Suối Máu 10/1975 - 15/6/1976                       399

25. Trại tập trung (Yên Bái) 16/6/1976 - 28/4/1978                             419

26. Trại tập trung (Phủ Lư) 28/4/1978 - 8/9/1987                       467

27. Ra khỏi trại tập trung sau 4.444 ngày tù chính trị 9/9/1987  569

             Phần Bốn

                  TỊ NẠN VIÊT CỘNG & GÓP PHẦN CHỐNG VIỆT CỘNG         

 

Tị Nạn Việt Cộng.

28. Thủ tục rời khỏi Việt Nam 13/9/1987 - 29/3/1991                          581

29. Đến Hoa Kỳ tị nạn ngày 5/4/1991 (Houston)                       585   

30. Bước đầu hội nhập xă hội                                                   589

31. Du lịch đó đây 2002-2006                                                    599                      

32. Niềm vui không đợi                                                             607

Góp Phần Bảo Tồn Văn Hoá.

33. Nh́n lại Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa 1954-1975              611

34. Tưởng niệm những vị tự sát ngày 30/4/1975                       653

35. Dựng lại quốc kỳ Việt Nam tại hải ngoại 1984-2020             659

36. Tham gia phim tài liệu Vietnam Film Club                                     715

Viết phim bản Hồn Việt Quốc Kỳ Quốc Ca Việt Nam 2012       

Cùng viết phim bản HTS Nghĩa Trang Quân Đội BH 2016

37. Phỏng vấn lịch sử truyền miệng  2011                                817

Góp Phần Chống Việt Cộng

38. Hôm nay suy nghĩ cho ngày mai                                         827

39. Những bài viết đưa lên internet 2002-2011                                   855

40. Trao đổi tâm t́nh & quan điểm với bằng hữu 2001-2012               987 - 1362

                       Hết tập 1/2

                             *****

                         Tập 2/2

41. Tóm lược tội ác lănh đạo Việt Cộng 1945-2020                            9

42. Thư gởi Người Lính Quân Đội Nhân Dân VN 2011-2020              93 (khoảng 1500 trang)

 

****                                                   

Lời nói cuối.       

 

Thưa quí vị,

Vậy là quí vị vừa đọc xong ..... trang giấy mà tôi trích ra từ hai quyển sách đă ấn hành và tám quyển sách không ấn hành, cùng với những loạt bài góp phần dân chủ hóa Việt Nam phổ biến trên internet, gói ghém 90 năm cuộc đời của tôi và gia đ́nh tôi, giúp tôi học được những bài học kinh nghiệm qua từng giai đoạn trong cuộc sống, và vợ chồng tôi ứng dụng vào sinh hoạt gia đ́nh và xă hội. Dưới đây là bốn bài học kinh nghiệm:

Giai đoạn 1930 -1954, với bài học từ Ông Bà Cha Mẹ tôi như sau: “Con phải làm người tử tế trong xă hội. Nhưng, trước khi Con tử tế với xă hội, Con phải tử tế với gia đ́nh. Nhưng, trước khi Con tử tế với gia đ́nh, Con phải tử tế với bản thân của Con. Đó là nền nếp căn bản giúp Con làm người tử tế trong xă hội”.

Giai đoạn 1954-1975, với bài học trong 21 năm phục vụ quân đội, như sau: “Quê hương cho tôi đất sống. Lịch sử cho tôi nguồn sống. Dân Tộc cho tôi nếp sống. Quân ngũ cho tôi cách sống. Quân ngũ cũng cho tôi t́nh yêu. T́nh yêu quê hương, t́nh yêu con người, t́nh yêu quân ngũ. Và t́nh yêu, đă cho tôi ư nghĩa cuộc đời”.

Giai đoạn 1975-1991, với bài học trong trại tập trung của Việt Cộng và trong xă hội xă hội chủ nghĩa Việt Nam, như sau: “Nhóm lănh đạo Việt Cộng với bản chất độc tài + dối trá + tự cao, họ sử dụng người dân như một loại phương tiện đa dụng để phục vụ họ. V́ vậy mà chiến lược giáo dục của họ chỉ đào tạo những tầng lớp thần dân để tuân phục họ, chớ họ không đào tạo những thế hệ công dân để xây dựng đất nước. Với lịch sử, đây là tội ác kinh hoàng nhất trong các loại tội ác mà các nhóm lănh đạo Việt Cộng tự xưng là “đỉnh cao trí tuệ” gây ra cho dân tộc”.

Giai đoạn 1991-2020, với bài học khi tham gia Ban Phát Thanh "Tiếng Chuông Tĩnh Thức" trong 10 năm, cộng với những ǵ học được khi tham gia sinh hoạt Cộng Đồng trên hệ thống internet, như sau: “Tôi tin chắc rằng, không một ai trong thế giới này có thể nh́n thấy thiên đường và địa ngục, v́ thiên đường với địa ngục chỉ là một trạng thái tâm hồn. Hăy thử cảm nhận. Khi ḿnh làm điều tốt th́ ḿnh cảm thấy nhẹ nhàng thanh thản với đôi mắt sáng lên, với nụ cười tươi tắn, đó là lúc tâm hồn ḿnh lơ lững ở trạng thái thiên đường, c̣n khi ḿnh làm điều ǵ xấu th́ ḿnh cảm thấy ray rức, ân hận, giằng xé, thậm chí là đau đớn, đó là lúc tâm hồn ḿnh rơi vào trạng thái địa ngục”.

Cả bốn bài học kinh nghiệm gộp lại cho tôi quan niệm rằng: “Trong gia đ́nh cũng như trong xă hội, bản thân mỗi người là chánh, v́ không một ai -dù là người thân của ḿnh- cũng không thể làm thay cho ḿnh những ǵ liên quan trực tiếp đến bản thân ḿnh trong cuộc sống từ khi vào tuổi thành niên, mà chỉ có thể trợ giúp ḿnh khi ḿnh thật sự cần giúp”.

Thực tế là:

Không ai ăn giùm ḿnh khi ḿnh đói.

Không ai đi học giùm ḿnh khi ḿnh muốn có kiến thức.

Không ai luyện tập giùm ḿnh khi ḿnh muốn có một cơ thể lành mạnh.

Không ai đi làm giùm ḿnh khi ḿnh muốn có đồng lương để chi phí cho cuộc sống.

Không ai uống thuốc giùm ḿnh khi ḿnh muốn hết bệnh.

Không ai bước giùm ḿnh khi ḿnh muốn đi về phía trước.

Không ai tạo dựng hạnh phúc giùm ḿnh khi ḿnh muốn được sống trong mái ấm gia đ́nh.

Không ai đứng dậy giùm ḿnh khi ḿnh vấp ngă và muốn tiếp tục cuộc sống để phụng sự xă hội.

Và ..v..v...

Đó, chính là ḿnh thương bản thân ḿnh, rèn luyện bản thân ḿnh trở thành người tử tế. Khi ḿnh có tử tế với chính ḿnh, th́ ḿnh mới tử tế được với gia đ́nh. Và từ đó, ḿnh sẽ tử tế với mọi người khi ḥa ḿnh vào sinh hoạt xă hội”.

“Nhưng, tại sao ḿnh phải tử tế với xă hội? Bởi, khi chào đời ḿnh đă mang ơn xă hội, từ khu bệnh viện rộng lớn khang trang đến những vật dụng trang bị cần thiết, từ vị Bác Sĩ, cô Y Tá, giường nằm mền đắp, nước tắm khăn lau, sữa uống kem thoa, đến chuyên viên nấu ăn và công nhân dọn dẹp vệ sinh,..v..v.... Đến tuổi cắp sách đến trường, mang ơn xă hội từ mái trường sân rộng, bàn viết ghế ngồi, đến Giáo Viên Giáo Sư truyền đạt kiến thức + đạo đức + nghị lực, cùng với những phương tiện khoa học kỹ thuật trợ giúp bài học thêm phần thực tiễn. V́ vậy mà khi bước vào xă hội với hành trang kiến thức, hăy miệt mài phụng sự xă hội. Thực tế là ḿnh làm việc có lănh lương với cuộc sống ổn định, cũng chính là lúc ḿnh trả ơn xă hội dù không ai nhận ra điều đó, đồng thời ḿnh góp phần làm cho xă hội ngày càng tốt hơn dù không ai hiểu được điều đó, lại là những việc mà chính ḿnh cảm nhận niềm vui khi làm được những việc mà ḿnh mong muốn”.

“Thêm nữa, guồng máy sinh hoạt xă hội vận hành và phát triển thích ứng theo từng giai đoạn, là do mọi thành viên trong xă hội chung sức chung ḷng mà không phân biệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, giáo dục cao hay thấp, nghiên cứu bằng đầu óc hay làm việc bằng tay chân, ngành nghề chuyên môn hay những dịch vụ trong đời sống. Cũng không phân biệt từng công việc mà mỗi người trách nhiệm, dù là trách nhiệm lănh đạo hay chỉ huy, quản trị hay điều hành, cầm súng trong quân đội hay cày bừa trồng trọt trên ruộng đồng nương rẫy, miệt mài trong các công ty hăng xưởng hay những công tŕnh kiến trúc mỹ thuật, quét dọn đường phố nắng nóng hay trong hầm mỏ lạnh lẽo trong ḷng đất, ..v..v..., đều là nhu cầu cần thiết cho guồng máy xă hội vận hành và phát triển”.

Với quan niệm đó, cộng với hoàn cảnh của Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản, giúp tôi quan niệm rằng: “Mỗi người đều có bổn phận góp phần vào sự phát triển xă hội nơi ḿnh đang sống, đồng thời góp phần nối tiếp ḍng lịch sử oai hùng Việt Nam, bảo tồn văn hoá Việt Nam thích nghi qua từng thời đại, bảo vệ ngôn ngữ Việt Nam, và ǵn giữ lá quốc kỳ truyền thống Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ đến khi có Quốc Hội Lập Hiến sau thời cộng sản quyết định”.

Kết luận.

“Tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu măi trong sử sách và truyền măi trong dân gian là do mỗi người tạo nên, bắt nguồn từ thời thơ ấu đến tuổi thành niên và trước khi bước vào xă hội, luôn nh́n lại túi hành trang vào đời để biết chắc là ḿnh đă sẳn sàng Kiến Thức + Ḷng Nhân Ái + Sự Kiên Nhẫn.

Và hăy nhớ rằng: Kiến thức không phải giữ trong năo bộ, mà là vận dụng để phục vụ xă hội sau khi phân biệt phải trái đúng sai. Ḷng nhân ái không phải để trong tim, mà là ḥa ḿnh vào cuộc sống với những rung cảm của t́nh người. Sự kiên nhẫn là động lực giúp vượt qua khó khăn trở ngại. Và một tâm hồn phụng sự quốc gia dân tộc. Rồi từ đó, không ngừng học hỏi kinh nghiệm, vừa góp thêm vào hành trang những ǵ đang có, vừa thích ứng với mọi hoàn cảnh xă hội qua từng giai đoạn trong cuộc sống”.

Kính chào quư vị./.

****

Các phụ bản này chỉ có trong hardwrite cho các con: (trong sách sẽ in th́ không có)

Phụ bản 1: H́nh gia đ́nh 1955-2020 với 5.750 tấm h́nh

Phụ bản 2: Video gia đ́nh sinh hoạt và video du lịch với 52 files

                   Video góp phần dân chủ hóa Việt Nam lần lượt trên 3 đài TV 2009-2020 với 340 files

Phụ bản 3: Audio các cuộc phỏng vấn và hội luận với 259 files

Phụ bản 4: Bộ sách gia đ́nh

Phụ bản 5: Sưu tầm trên internet tài liệu lịch sử về nhiều lănh vực trên thế giới.

                                                          *********

 

   

 

 

 

 

Những bài viết trước của tác giả Phạm Bá Hoa:

Phạm Bá Hoa: Thư gởi Người Lính QĐND VN

 

 

 


Sách của Đỗ Văn Phúc có bán trên Amazon

Phim

Phim tài liệu ( 27 phút) của hăng NFSA _ Úc Đại Lợi ,nói về miền Nam Việt Nam ( Việt Nam Cộng Ḥa ) thời chiến tranh.......!!!

 

85 năm đời ta có đảng!

Nguyên Thạch (Quanlambao)


85 năm đời ta có đảng!
 Để giờ đây qui Hán thuộc Tàu

85 năm đầy dẫy niềm đau

85 năm Cùng Nhau Xuống Hố!.

Nước ngàn năm vua Hùng đất tổ

Đă sản sinh một lũ ngố đê hèn

Chúng giành giựt

Chúng bon chen

Chúng mụ mị...ép dân sống quen đời trâu ngựa!.

Đảng cộng sản?

Cá mè một lứa

Tâm điêu ngoa của những đứa lộng hành

Chúng ăn chơi, lầu tía, gái xanh

Tự xưng là lănh đạo nhưng học hành chưa hết lớp!.

 

Tài sản của chúng là những lâu đài choáng ngợp

Xe pháo ngông nghênh lớp lớp đàn em

Nh́n chúng xa hoa trong khi dân đói dân thèm

Của thừa mứa nhưng với dân được xem là của quí.

Chúng thủ đoạn

Chúng gian manh

Chúng lừa mị

Mở mồm ra là trân quí Độc Lập Tự Do

Nhưng đến khi thực hành, dân phải lạy xin th́ chúng mới cho

Không đút lót th́ lần ḥ chờ măi.

85 năm có đảng, đời ta tê tái!

Nam lao nô

Nữ đi làm gái nuôi thân

85 năm đảng rất ân cần

Lột dân sạch hết từ chân đến tóc
 

85 năm vinh quang nói dóc

85 năm nô bộc thiền triều

85 năm sống với ma quỉ tinh yêu...

Ôi đau đớn!

85 năm tiêu điều đời ta có đảng.

Nguyên Thạch