[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 2.

LƯỢC TỔNG QUÁT VỀ QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM LÚC SƠ KHAI.

Quân đội Quốc gia Việt Nam chưa thành h́nh, nhưng lại thành lập các Bộ Tham mưu quân sự Miền hoạt động dưới quyền chỉ huy của Bộ Quốc Pḥng, nhằm mục đích quản trị quân số, yểm trợ quân trang dụng, và trả lương cho quân nhân các cấp thuộc các Tiểu đoàn Việt Nam. Việc điều động hành quân, chỉ định nơi đồn trú cho các Tiểu đoàn Việt Nam, đều tùy thuộc thẩm quyền quyết định của các Bộ Tư lệnh và Cơ quan chỉ huy Pháp tại mỗi Miền và địa phương Tỉnh, Quận nơi Tiểu đoàn đồn trú.

Các vị Chỉ huy Bộ Tham mưu quân sự Miền của Việt Nam hồi 1951 gồm:

-Tại miền Nam, có État Major du Sud Vietnam, do Trung tá Lê văn Tỵ làm Tham mưu trưởng (gốc Sĩ quan Lực lượng thuộc địa Pháp tại Đông Dương từ trước năm 1945 chuyển qua. Có một thời ông là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Danh Dự GAEH = Groupe Autochtone de l’Escadron d’Honneur, đóng tại Saigon);

-Tại miền Trung, có État Major du Centre Vietnam, do Trung tá Nguyễn Ngọc Lễ làm Tham mưu trưởng (nguyên là Đại úy Tư lệnh Lực lượng Việt Binh Đoàn ở Huế từ hồi 1947);

-Tại miền Bắc, có État Major du Nord Vietnam, do Trung tá Vũ văn Thụ làm Tham mưu trưởng (gốc Sĩ quan Lực lượng thuộc địa Pháp tại Đông Dương trước 1945. Có một thời ông là Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Việt Nam thành lập từ giữa năm 1949 tại Hà Nội. Hồi đó Tôi là Thiếu úy mới tốt nghiệp Khoá 1 Sĩ quan Việt Nam Trường Vơ bị Quốc gia được thuyên chuyển về Đại đội 2 của Tiểu đoàn).

 

Ngoài ba Bộ Tham mưu quân sự Miền Việt Nam vừa kể, tại miền Bắc Việt Nam c̣n có 2 Bộ Tham mưu quân sự khác không thuộc quyền chỉ huy của Bộ Quốc Pḥng Chính phủ Việt Nam cho tới đầu năm 1954, đó là:

-Bộ Tổng Tham mưu Bắc Thái, do ông Đèo văn Long làm thủ lănh, đóng tại vùng Sơn La, Lai Châu. Dưới quyền có một số đơn vị cấp Tiểu đoàn và Đại đội người Thái.
            -Bộ Tham mưu Nùng, do Đại tá Ṿng A Sáng (người Sắc tộc Nùng, gốc sĩ quan trong Lực lượng thuộc địa Pháp tại Đông Dương từ trước năm 1945) chỉ huy, tại vùng Moncay, Hải Ninh. Sau Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, các đơn vị Nùng thuộc quyền Đại tá Sáng được di tản vào Sông Mao, tỉnh Phan Thiết, lập thành Sư đoàn 6 Dă chiến Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) với sự tăng cường thêm một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Binh sĩ sắc tộc Kinh. Sau này Sư đoàn 6 được cải danh thành Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đại tá Sáng được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn, cho đến năm 1957, phải giải ngũ cùng đợt với một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan có thâm niên quân vụ trên 15 năm, theo kế hoạch trẻ trung hoá Quân đội của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Thực ra Kế hoạch này là biện pháp thanh lọc loại khỏi Quân đội Quốc gia, những Sĩ quan và Hạ sĩ quan già kém khả năng, đă được quân đội viễn chinh Pháp tuyển mộ, xử dụng, thăng cấp bừa băi v́ nhu cầu tăng cường quân số hành quân của họ, sau khi tái xâm lăng Việt Nam từ 1946.

Riêng tại miền Cao nguyên Trung phần Việt Nam (Banmêthuột, Pleiku, Kontum, Quảng Đức, Tuyên Đức tức là Đà Lạt, và Blao) là vùng lănh thổ được Quốc trưởng Bảo Đại coi là Hoàng Triều Cương Thổ, có Bộ Tham mưu Chỉ huy Miền Cao nguyên do Sĩ quan Pháp cấp Tướng chỉ huy, măi đến năm 1954 mới chuyển giao cho Sĩ quan Việt Nam đảm nhận. Vị Tư lệnh Việt Nam đầu tiên là Đại tá Linh Quang Viên (sắc tộc Tầy tức là Thổ, nguyên là Tri Huyện, con ông Tuần phủ Linh Quang Vọng tại Lạng Sơn, từ thời Pháp thuộc trước năm 1945. Tôi đă quen biết từ trước 1945, v́ là bạn học cùng lớp Tiểu học và Trung học với các em ruột của Đại tá Viên).

Từ giữa năm 1950, một số Tiểu đoàn Việt Nam (lực lượng Chủ lực quân) bắt đầu được thành lập, bằng cách tập hợp các Đại đội Bộ binh sẵn có do Pháp tuyển mộ, tổ chức, trang bị, huấn luyến, trả lương và xử dụng tại mỗi miền lănh thổ Việt Nam chuyển qua. Những đơn vị cấp Đại đội này có những tên gọi khác nhau. Ở miền Bắc là các Đại đội Vệ binh Bắc Kỳ (Garde Tonkinoise), Đại đội Vệ binh Duyên pḥng miền Đông Bắc Kỳ (Garde Frontalière de l’Est Tonkinois), Đại đội Biệt Kích (Commando), Đại đội Thân binh (Partisan), Đại đội Nùng, Đại đội Thái. Ở miền Trung là các Đại đội Việt Binh Đoàn. Ở miền Nam là các Đại đội Vệ Binh Nam Kỳ, và các đơn vị thuộc Lực lượng Giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, B́nh Xuyên quy thuận Pháp. Trên Cao Nguyên Trung phần là các Đại đội Sơn Cước (Compagnie Montagnarde).

Ngoài các Tiểu đoàn Việt Nam (đơn vị Chủ lực quân) tại mỗi miền Bắc, Trung, Nam, c̣n có các đơn vị Phụ Lực Quân địa phương, do các vị Thủ Hiến đại diện Quốc trưởng Bảo Đại tại mỗi miền, tự tuyển mộ, tổ chức, huấn luyện, cung cấp quân trang, quản trị nhân số và lương bổng, để xử dụng trong việc canh pḥng giữ an ninh cho các Cơ sở và Chức quyền Hành Chánh Tỉnh, Quận. Vũ khí đạn dược trang bị cho các đơn vị Phụ lực quân địa phương này cũng do quân đội Pháp yểm trợ cung cấp, y như đối với các Tiểu đoàn Việt Nam, nhưng là loại vũ khí cũ lạc hậu không c̣n dùng trong cấp số của các đơn vị Chủ lực.

Thi hành Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 kư kết giữa Pháp và Việt Minh Cộng sản, các đơn vị thuộc lực lượng Bảo Chính Đoàn tại Bắc Việt phải di chuyển vào miền Nam Vĩ tuyến 17, được cải danh là Bảo An Đoàn, đặt dưới quyền chỉ huy quản trị của một Nha Tổng Giám đốc trực thuộc Bộ Nội Vụ. Các đơn vị phụ lực quân này được chia về các Tỉnh để đảm trách việc đóng đồn, và hành quân duy tŕ an ninh địa phương, dưới quyền kiểm soát của các vị Tỉnh trưởng. Đến sau ngày Cách mạng 1-11-1963 lật đổ Tổng thống Diệm và nền Đệ Nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam, các đại đội Bảo An Đoàn được cải danh thành đại đội Địa Phương Quân, chuyển giao sang Bộ Quốc pḥng trách nhiệm. Nha Tổng Giám đốc Bảo An Đoàn bị giải tán để thành lập Bộ Tư lệnh Địa Phương Quân, sau lại cải danh thành Bộ Chỉ huy Trung ương Địa Phương Quân.

Cuối năm 1951, để chuẩn bị cán bộ cho Quân đội Quốc Gia Việt Nam (QĐQGVN) sẽ thành lập ồ ạt vào năm 1952, Bộ Quốc Pḥng được chỉ thị ban hành Lệnh Động Viên từng phần thanh niên thuộc lớp tuổi trên 20, có Tú Tài 2 hoặc Văn bằng cao hơn, nhẹ gánh gia đ́nh, phải nhập ngũ theo học các Khoá đào tạo Sĩ quan Trừ Bị tại Nam Định (miền Bắc) và Thủ Đức (miền Nam).

Đồng thời, 4 Sĩ quan người Việt quốc tịch Pháp, thuộc lực lượng Liên Hiệp Pháp được chuyển sang đặt thuộc quyền xử dụng của Bộ Quốc Pḥng chính phủ Việt Nam, để nghiên cứu tŕnh dự án thành lập Bộ Tổng Tham mưu cho QĐQGVN, biến cải các Bộ Tham mưu Miền thành các Bộ Tư lệnh Quân khu, mở thêm các Trường Vơ bị địa phương (École Militaire Régionale) nhằm tăng cường việc đào tạo các Chuẩn úy (Aspirant) làm Trung đội trưởng (ngoài Trường Vơ bị Liên Quân Đà Lạt đào tạo các Thiếu úy Hiện dịch, đă có từ năm 1948), thành lập các Trung tâm Huấn luyện Trung ương và Quân khu để đào tạo các Hạ sĩ quan, và Tân binh cho các Tiểu đoàn Khinh binh, Tiểu đoàn Dă chiến, các Bộ Chỉ huy Liên đoàn Chiến thuật (Groupement Tactique), và Trung đoàn Địa phương sẽ thành lập trong năm 1952 và những năm tiếp theo.

Bốn Sĩ quan này là Thiếu tá Trần văn Minh, Thiếu tá Lê văn Kim, Đại úy Trần văn Đôn, và Đại úy Nguyễn Khánh. Tôi đă có dịp gặp và làm quen các vị này trong một buổi tiếp tân của Toà Đại Sứ Việt Nam tại Paris, đầu năm 1951. Lúc đó các vị này học Trường Cao đẳng Quốc Pḥng (École Supérieure de Geurre) tại Paris, Tôi học Truyền Tin ở Montargis. Trong buổi gặp gỡ này Tôi c̣n được dịp làm quen với Trung úy Lâm văn Phát và Thiếu úy Vĩnh Lộc học Thiết Giáp tại Saumur, cũng về dự buổi tiếp tân của Đại Sứ Bửu Lộc nhân dịp Tết Nguyên đán Việt Nam. Đầu năm 1952, 4 vị Sĩ quan này được thăng lên một cấp. Đúng theo sự thỏa thuận giữa 2 Chính phủ Việt Nam và Pháp là, Sĩ quan thuộc quân đội Pháp hoặc trong Lực lượng Liên Hiệp Pháp chuyển qua phục vụ trong QĐQGVN, được đương nhiên thăng lên một cấp cao hơn cấp bậc họ đang mang.

Ngay từ ngày bắt đầu thành lập Bộ Tổng Tham mưu QĐQGVN, Trung tá Trần văn Minh được cử làm Tham mưu trưởng, ít lâu sau được thăng lên Đại tá rồi đi làm Chỉ huy trưởng Phân Khu Tiền Giang ở Mỹ Tho. Sau đó làm Tư lệnh Quân khu I đóng tại Cần Thơ, được thăng Thiếu Tướng ngày 9-5-1955. Sau cùng tham gia cuộc lật đổ Tổng thống Diệm được thăng lên cấp Trung tướng, có lúc làm Tổng Trưởng Quân lực trong chính phủ Trần văn Hương, sau cùng bị đưa ra khỏi Việt Nam đi làm Đại Sứ Việt Nam tại các Quốc gia bên Phi Châu.

Thiếu tá Trần văn Đôn làm Chánh Sở An Ninh Quân đội, ngày 1-7-1952 được thăng cấp Trung tá làm Giám đốc Nha tác động tinh thần (Morale action) gồm An Ninh Quân đội, và Pḥng 5 tại Bộ Tổng Tham mưu, rồi ngày 1-6-1953 thăng lên Đại tá thay Đại tá Trần văn Minh làm Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Sau được thăng cấp Thiếu tướng. Đến tháng 10-1963 được cử làm Quyền Tổng Tham Mưu trưởng thay Đại tướng Lê văn Tỵ nghỉ hưu. Ngày 1-11-1963 cùng Dương văn Minh, Lê văn Kim, và Trần Thiện Khiêm, đảo chính lật đổ Tổng thống Diệm, được thăng cấp Trung tướng. Qua đầu năm 1964 bị Tướng Nguyễn Khánh chỉnh lư đưa đi giam lỏng tại Đà Lạt. Tháng 9 năm 1967 đắc cử Thượng Nghị sĩ nền Đệ Nhị Cộng hoà. Đến tháng 3 năm 1975, làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng trong chính phủ Trần Thiện Khiêm, đến ngày 27-4-1975, ra trước Quốc Hội tŕnh bầy thực trạng quân sự để thuyết phục mọi người ủy nhiệm cho Tướng Dương văn Minh làm Tổng thống thay ông Trần văn Hương nguyên Phó Tổng thống lên thay Tổng thống Thiệu từ chức, rồi vào Toà Đại sứ Pháp tỵ nạn để sang Pháp.

Trung tá Lê văn Kim làm Chỉ huy trưởng Trường Chỉ huy Tham mưu, sau đó thăng cấp Đại tá. Cuối năm 1954, được giao phó trách nhiệm chỉ huy đoàn quân Quốc gia ra tiếp thu Quảng Ngăi và B́nh Định tại Trung Việt, từ tay Việt Minh rút đi ra Bắc theo quy định của Hiệp định Genève kư kết ngày 21-7-1954. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Lê văn Kim cùng Trần văn Đôn Quyền Tổng Tham mưu trưởng, Trần Thiện Khiêm Tham mưu trưởng Liên Quân, Mai Hữu Xuân và Dương văn Minh Tư lệnh Lục quân, triệu tập các Chỉ huy trưởng Binh chủng Nha sở Trung ương họp tại Câu Lạc Bộ Sĩ quan Bộ Tổng Tham mưu, trong Trại Trần Hưng Đạo, Tân Sơn Nhất, rồi bắt chẹt mọi người phải theo làm đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, thành công được thăng Thiếu tướng. Đầu năm 1964 mưu đồ ra làm Thủ tướng không thành. Ngày 30-1-1964 bị Nguyễn Khánh chỉnh lư đem giam lỏng tại Đà Lạt cùng Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính và Nguyễn văn Vỹ. Sau khi được tha, Tướng Kim đi vào ngành thương mại, làm Giám đốc Ngân hàng Quân đội.

Thiếu tá Nguyễn Khánh làm Trưởng pḥng Thông tin báo chí Bộ Quốc Pḥng. Ít lâu sau được chỉ định đi chỉ huy các đơn vị tác chiến. Có thời gian làm Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động (Groupement Mobile). Năm 1954 ngả theo ông Diệm, đến tháng 2-1955 được thăng cấp Trung tá Xử lư thường vụ Tỉnh Cần Thơ. Có lúc làm Tham mưu trưởng cho Dương văn Minh trong các Chiến dịch tảo thanh các Lực lượng giáo phái B́nh Xuyên, Hoà Hảo. Ngày 11-11-1960 vào Dinh Độc Lập bảo vệ Tổng thống Diệm chống phe Nhẩy dù Nguyễn Chánh Thi làm đảo chánh. Mọi việc yên xuôi được thăng Thiếu tướng và bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH. Tháng 12-1962 làm Tư lệnh Quân đoàn II tại Pleiku. Ngày 1-11-1963, ngả theo phe đảo chánh lật đổ Tổng thống Diệm xong, được cử làm Tư lệnh Quân đoàn I. V́ không được cử vào Hội đồng Quân nhân Cách Mạng, nên Khánh toa rập với Trần Thiện Khiêm Tư lệnh Quân đoàn III “chỉnh lư” nhóm Đôn-Kim-Xuân vào ngày 29-1-1964. Có sự can thiệp của Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge, Tướng Dương văn Minh được cử làm Quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm Thủ tướng. Từ ngày 19 đến 23-7-1964, Khánh và Nguyễn Cao Kỳ Không quân, vận động với Hoa Kỳ để Hoa Kỳ yểm trợ hành quân vượt biên giới và đánh bom Bắc Việt. Ngày 11-8-1964 Khánh thăng cấp cho Trần Thiện Khiêm lên Đại tướng, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Xứng, Chung Tấn Cang, Nguyễn Chánh Thi, Phạm văn Đỗng, Bùi Hữu Nhơn, Cao Hảo Hớn, Ngô Dzu lên Thiếu Tướng, và các Đại tá Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Albert Cao, Đặng văn Quang, Vĩnh Lộc, Lê Nguyên Khang, Hoàng Xuân Lăm, Nguyễn văn Kiểm lên Chuẩn tướng. Ngày 16-8-1964 Nguyễn Khánh Triệu tập một buổi họp các Tướng lănh tại Vũng Tầu, bầu Khánh làm Chủ tịch nước Việt Nam Cộng hoà. Đồng thời ban hành một Hiến Chương, theo đó Chủ tịch nước đồng thời là Quốc trưởng với nhiều quyền hành rộng răi, sẽ tổ chức một Quốc hội với 100 Đại biểu Dân sự và 50 Đại biểu Quân đội. Hội đồng Quân đội Cách mạng là trung tâm quyền lực tối cao.

Bắt đầu từ ngày 18-8-1964 trở đi, biểu t́nh liên miên chống đối Hiến chương Vũng Tầu của Khánh. Đến 25-8-1964, theo lời Cố vấn của Đại sứ Hoa Kỳ Taylor, Khánh xé bỏ Hiến chương Vũng Tầu. Ngày 27-8-1964, Thủ đô Saigon rối loạn v́ thù nghịch giữa giáo dân Ki-tô và Phật tử trước Bộ Tổng Tham mưu (6 Ki-tô hữu bị bắn chết), Hội đồng Tướng lănh lập “Tam đầu chế” Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh (Khánh làm Thủ tướng). Dương văn Minh được cử làm Chủ tịch Ủy Ban Lănh đạo Lâm thời Quốc gia và Quân đội. Thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia gồm 16 người: Phan Khắc Sửu, Nguyễn văn Huyền, Trần Đ́nh Nam, Trần Văn Văn, Trần văn Quế, Nguyễn văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Đ́nh Luyện, và Hồ Đắc Thăng, để dự thảo Hiến Pháp mới.

Ngày 24-10-1964 Ông Phan Khắc Sửu được bầu làm Quốc trưởng. Ngày 28-10-1964 Dương văn Minh bàn giao chính quyền cho ông Phan Khắc Sửu, Trần văn Hương được cử làm Thủ tướng. Ngày 24-11-1964, Giáo dân và Phật tử tiếp tục biểu t́nh chống đối, v́ chính phủ Hương dùng người thuộc nhóm Cần Lao cũ của Ngô Đ́nh Nhu. Nhóm Young Turks của Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Khánh chuẩn bị lật đổ Hương. Ngày 4-12-1964, các Tướng họp tại Đà Lạt lập Hội đồng Quân Lực. Đến ngày 7-1-1965 Hội đồng Tướng lănh quyết định trao quyền cho phe dân sự. Hương cải tổ Nội các có 4 Tướng trong thành phần Chính phủ: Nguyễn văn Thiệu làm Đệ Nhị Phó Thủ tướng, Trần văn Minh làm Tổng trưởng Quân lực, Linh Quang Viên làm Tổng trưởng Tâm lư chiến, và Nguyễn Cao Kỳ làm Tổng trưởng Thanh niên và Thể thao. Ngày 20-1-1965, các Thượng tọa Phật giáo Trí Quang, Tâm Châu, Pháp Tri, Thiện Hoa, và Hộ Giác tuyệt thực để chống đối.

Ngày 27-1-1965, Hội đồng Quân lực ra thông cáo quyết định nắm lại chính quyền, Khánh thành lập một Hội Đồng Quân Dân gồm 20 người. Lưu nhiệm Phan Khắc Sửu trong chức vị Quốc trưởng, Nguyễn Xuân Oánh quyền Thủ tướng. Đến ngày 16-2-1965, Khánh lại kư Nghị định cử Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Phan Huy Quát làm Thủ tướng. Phật giáo đồng ư chấm dứt tranh đấu. Có sự can thiệp của Mỹ, Hội đồng Quân lực quyết định cử Trần văn Minh làm Tổng Tư lệnh Quân đội thay Khánh, và buộc Khánh đi làm Đại sứ lưu động. Ngày 24-2-1965 Khánh rời Việt Nam bằng đường Hàng không, đă bốc một nắm đất tại phi trường Tân Sơn Nhất mang theo lúc ra đi.

Bộ Tổng Tham mưu QĐQGVN được bắt đầu thành lập hoạt động từ đầu năm 1952, nhưng đến tận tháng 6 mới có Nghị định quy định việc thành lập. Trung tá Không quân Pháp là Nguyễn văn Hinh (quốc tịch Pháp, có vợ Pháp, con Thủ tướng chính phủ Việt Nam Nguyễn văn Tâm) đang làm chánh vơ pḥng của Quốc trưởng Bảo Đại, được thăng lên cấp Thiếu tướng và bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng QĐQGVN. Thoạt đầu Bộ Tổng Tam Mưu đóng tại đường Trần Hưng Đạo gần Chợ Lớn, sau rời vào Camp Chanson (trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương chuyển giao) nằm sát phi trường Tân Sơn Nhất, quận Phú Nhuận, tỉnh Gia Định. Trại được đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo.

Các Bộ Tham mưu Miền được cải danh là Bộ Tư lệnh Quân Khu (Région Militaire), với Tư lệnh là Sĩ quan Việt Nam, nhưng phần lớn các Trưởng Pḥng trong Bộ Tham mưu đều là người Pháp tăng phái. Dĩ nhiên nhân viên Sĩ quan, Hạ sĩ quan, và Binh sĩ trong các Pḥng gồm cả Pháp lẫn Việt. Măi cho đến cuối năm 1954 qua đầu năm 1955 mới chuyển hết cho nhân viên Việt Nam trách nhiệm.

Các Vị Tư lệnh các Quân khu (QK) đầu tiên là: QK1 (miền Nam) Đại tá Lê văn Tỵ (nguyên Tham mưu trưởng Tham mưu Biệt bộ Bộ Quốc pḥng, Tôi đă có dịp làm việc dưới quyền với tư cách Trưởng Ban Mật Mă); QK2 (miền Trung) Đại tá Trương văn Xương (nguyên là Thiếu tá Tư lệnh lực lượng giáo phái Cao Đài tại Bến Tre quy thuận Pháp, năm 1951 ông là Trung tá Trưởng Pḥng 1 Bộ Tham mưu miền Nam, hàng ngày tới tŕnh việc lên Đại tá Tỵ, nên Tôi đă có dịp gặp và quen); QK3 (miền Bắc) Đại tá Nguyễn văn Vận (gốc Sĩ quan lực lượng Thuộc địa Pháp từ trước 1945, nguyên là Đổng lư văn Pḥng Bộ Quốc pḥng, thời Thủ tướng Trần văn Hữu kiêm nhiệm Tổng trưởng Quốc pḥng. Hồi Tôi mới du học Pháp trở về ông đă bổ nhiệm Tôi làm Trưởng Ban Mật Mă Bộ Quốc pḥng, sau đó mới chuyển qua Tham mưu Biệt bộ của Đại tá Lê văn Tỵ); Riêng QK4 (miền Cao nguyên Trung phần, thuộc Hoàng Triều cương thổ) Tư lệnh do một Tướng người Pháp đảm nhiệm. Tuy nhiên trong các Pḥng, Ban thuộc Bộ Tham mưu cũng có lẫn lộn cả Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ Pháp và Việt. Đến cuối năm 1954 mới chuyển giao qua tay Sĩ quan Việt Nam trách nhiệm làm Tư Lệnh Quân Khu.

Sau khi khái lược dông dài về bức họa chung của QĐQGVN, Tôi xin quay trở về lănh vực riêng của chúng ta là Truyền Tin và Mật Mă, từ khi Bộ Tổng Tham mưu được thành lập năm 1952, như thế nào?

Tại Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) cũng như tại mỗi Bộ Tư lệnh Quân khu, đều có tại mỗi nơi một Bộ Chỉ huy Viễn Thông, do Sĩ quan Truyền Tin Pháp chỉ huy, và một Trung Tâm Truyền Tin, nhân viên gồm cả Pháp lẫn Việt. Riêng Ban Mật Mă do Tôi phụ trách, được chuyển từ Tham mưu Biệt bộ Bộ Quốc pḥng, về Văn pḥng Tổng Tham mưu trưởng, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tham mưu trưởng Liên quân (Trung tá Trần văn Minh), với danh hiệu mới là Sở Mật Mă (Service du Chiffre) y như tổ chức của bên Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp. Tại mỗi Quân Khu có Ban Mật Mă trực thuộc Chánh văn pḥng Tư lệnh. Tại các Phân khu (Secteur, Subdivision), Chi khu (Sous Secteur, Arrondissement) và Tiểu đoàn và cấp đơn vị tương đương, th́ có Sĩ quan Mật Mă. Các Sĩ quan Mật Mă thường là Sĩ quan Truyền Tin kiêm nhiệm hoặc một Sĩ quan tham mưu được Đơn vị trưởng tín nhiệm đề cử, nhưng phải được Sở An Ninh Quân đội Trung Ương tại Saigon sưu tra, ra văn thư chính thức đồng ư mới được nhận lănh trách vụ Sĩ quan Mật Mă. Sở Mật Mă quản trị hồ sơ, theo dơi, và liên tục yêu cầu điều tra bổ túc theo định kỳ. Mật Mă là một hệ thống độc lập, dọc từ Bộ Tổng Tham mưu xuống thẳng cấp đơn vị nhỏ nhất là Tiểu đoàn, đơn vị cấp tương đương và ngược lại.

Sau khi thi hành Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954, các Đại đội Bảo An (Phụ lực quân) là lực lượng ṇng cốt để đóng đồn và hành quân b́nh định bảo vệ an ninh địa phương xă, ấp, và các cầu, phà, trục lộ giao thông, tại cấp Tỉnh (Tiểu khu), Quận (Chi khu), nên Sở Mật Mă đă được giao trách nhiệm tiếp tay hỗ trợ Nha Tổng Giám đốc Bảo An Đoàn, huấn luyện tổ chức một hệ thống Mật Mă riêng, để bảo mật các tin tức trao đổi giữa Nha Tổng Giám đốc Bảo An Đoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ xuống các Tỉnh đoàn Bảo An tại các Tỉnh (Tiểu khu) và Quận (Chi khu).

Việc huấn luyện Sĩ quan và Hạ sĩ quan chuyên viên Mật Mă trong Quân đội Quốc gia Việt Nam, đều do Sở Mật Mă trách nhiệm tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu và các Bộ Tư lệnh Quân khu tùy theo nhu cầu đ̣i hỏi. Nhân số chuyên viên Mật Mă gia tăng lũy tiến theo sự bành trướng của Quân đội. Riêng tại Bộ Tổng Tham Mưu, khi Sở Mật Mă sát nhập vào Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ TTM cuối năm 1953, có quân số gần 40 Sĩ quan và Hạ sĩ quan Nam Nữ, kể luôn cả chuyên viên thuộc xưởng Mă hoạt động bên Trung tâm truyền Tin Bộ Tổng Tham Mưu.

V́ lư do bảo mật, mặc dù nhân viên Truyền Tin chỉ là những chuyên viên lo chuyển vận các bản văn Mă hoá trao đổi giữa các cấp đơn vị trong Quân đội, nhưng v́ thường xuyên hoạt động mật thiết với nhân viên Mật Mă, nên bắt buộc phải có những giờ huấn luyện đặc biệt để giới thiệu tổng quát về nhiệm vụ của Mật Mă, cũng như nhu cầu bảo vệ chuyên viên và các phương tiện Mật Mă quan trọng như thế nào, cho các Sinh viên Sĩ quan học giai đoạn 2 chuyên môn Truyền Tin, các Sĩ quan khoá căn bản Truyền Tin Binh chủng và Truyền Tin Binh đoàn tại các Quân trường.

Trong những năm 1953, 54, và 55, các bài giảng huấn c̣n phải dùng Pháp ngữ, Tôi phải đích thân đảm trách các khoá giảng, nên đă ghi nhớ một kỷ niệm rất chân t́nh về một Sĩ quan khoá sinh cũng trạc tuổi Tôi, đến bây giờ vẫn chưa quên. Việc xẩy ra tại một trong các lớp học nơi Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Sĩ quan trẻ tuổi sau khi nghe Tôi thuyết giảng, đă đặt những câu hỏi rất sáng giá (Smart), chứng tỏ ông ta quan tâm thật sự đến ngành Mật Mă khác hẳn mọi người, đă khiến Tôi đặc biệt chú ư đến ông ta. Đặc điểm riêng của ông ta là thông minh, chững trạc mái tóc đen nháy nhưng lại có một nhúm sợi trắng phau, ngay bên đường rẽ ngôi phiá trước trán. Ngay lúc đó, Tôi nghĩ thầm, chắc v́ ông này gốc ngành mũ đen (Thiết Giáp) hào hoa phong nhă thích làm duyên với phái nữ, nên đă nhuộm một nhúm tóc “Bạch Kim” trước trán để gợi sự chú ư của các nàng tiên Trần gian cho vui vậy thôi. Nhưng không ngờ, sau này Tôi có nhiều dịp gặp lại ông ta ngoài các đơn vị Truyền Tin, thấy nhúm tóc “Bạch Kim” trước trán vẫn “trơ trơ cùng tuế nguyệt”, mới vỡ lẽ đó là cái đẹp tự nhiên “Thiên tạo” chớ không phải “Nhân tạo”.

Bây giờ gặp lại nhau trên “xứ lạ quê người”, tuổi gần bẩy chục, tóc của Tôi mới bắt đầu hoa râm, đặc biệt cũng có một nhúm “bạch kim” phiá trước trán y như của người Sĩ quan trẻ thuở nào Tôi đă gặp. Ngược lại, tóc ông ta bây giờ lại bạc đều toàn diện, không c̣n dấu vết của thời trẻ trung ấy nữa để mà phân biệt. Ông ấy là anh Bùi Trọng Huỳnh, Đại tá Cục trưởng Truyền Tin sau cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hoà trước 30 tháng 4 năm 1975. Tôi mới có dịp gặp lại tại miền Nam California, trong một buổi Hội ngộ Tân Xuân 1993 do Hội Ái hữu Truyền Tin tổ chức nơi Hội quán Lạc Hồng của anh Nguyễn văn Diễm.

Anh Diễm thuở xưa cũng là một Sĩ quan Truyền Tin trẻ từng làm việc tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ TTM thời Tôi làm Chỉ huy phó, và là anh em cột chèo với anh Đỗ Như Luận Tham mưu trưởng, sau được thuyên chuyển quan Truyền Tin bên Bộ Tư lệnh Hải quân, Tôi từng có rất nhiều cảm t́nh đặc biệt. Nay th́ anh Diễm đang là Hiệu Trưởng Tâm’s Beauty College ở thị xă Garden Grove, và c̣n là một doanh gia Việt Nam thành công trên đất Mỹ, được tổ chức doanh gia toàn Hoa Kỳ tuyên dương công nhận.

Sau đây là mấy bài thơ kỷ niệm các mùa Thu của người lính Truyền Tin già NGUYỄN-HUY HÙNG cựu tù chính trị, để các bạn cùng thưởng thức cho vui.
 
YÊN BÁI TRẮNG ĐÊM.

Sàn tre vật vă ẩm ê,
Lắng nghe giun dế tỉ tê nỗi niềm.
Lao xao chuột rúc bên thềm,
Ŕ rầm nước đổ, cú chêm nhịp buồn.
Trăng rừng lạnh lẽo cô đơn,
Sương khuya mờ ảo, gió luồn khe song.
Nhớ con thương vợ năo ḷng,
Chợ đời bạc bẽo long đong một ḿnh.
Thời gian hờ hững vô t́nh,
Không gian khoả lấp bao h́nh thân thương!

Liên trại 1, Việt Cường, Hoàng Liên Sơn.Thu 1976.

GIỮA L̉NG TRƯỜNG SƠN.

 

Gió đưa nhẹ lá vàng rơi,
Nghiêng nghiêng nắng ngả bóng đời vào Thu.
Lom khom ven núi đoàn tù,
Khua dao, múa cuốc, ngẩn ngơ vạn sầu.
Gió sương hun bạc mái đầu,
Rừng hoang chặn lối thấy đâu đường về.
Năo nề ngày tháng lê thê,
Mây ngàn thăm thẳm bóng quê mịt mù.
Xuyên trời vụt ánh chim cu,
Làm sao gửi gói ưu tư nghẹn ngào?

K2, Thanh Phong, Thanh Hoá.Thu 1981.

RỪNG LÁ HÀM TÂN.

Gió thoảng Thu vàng rụng khắp nơi,
Nắng xuyên Rừng Lá rách tơi bời.
Nước reo suối cạn, trơ hàng sỏi,
Vượn hót khe cao, vọng núi đồi.
Thế sự thăng trầm, tâm chẳng rúng,
T́nh đời xoay chuyển, chí càng nuôi.
Thất thời nuốt hận âm thầm đợi,
Vận tới khoa gươm cứu giống ṇi.

Trại Z30D, Hàm Tân, Thuận Hải. Thu 1987.

NHỚ THUỞ THANH B̀NH.

Không gian bàng bạc sóng trăng mơ,
Vạn vật miên man ảo ảnh mờ.
Đèn giấy long lanh vờn bóng nguyệt,
Sáo diều vi vút thả hồn thơ.
Bánh chay, lài toả hương d́u dịu,
Trà mạn, sen dâng ư dật dờ.
Thấp thoáng quân cù quay tán gió (1),
Dập d́u trai gái thả t́nh thơ (2).

Garden Grove, quận Orange, Nam Cali. Thu 1994.

(1) Miền Bắc gọi là đèn kéo quân, miền Nam gọi là đèn cù.
(2) Vào dịp đêm Trung Thu ngoài Bắc, thường trai gái hay tụ tập ở sân Đ́nh hoặc ở những băi cỏ trống gần chợ, gần điếm canh nơi đầu làng, dùng những câu hát ví trao đổi tâm t́nh với nhau công khai trước mọi người, gọi là Hát Trống Quân hay Hát Đúm. Sau những dịp hát như vậy, có nhiều cặp trước lạ sau quen, (bị cú sét ái t́nh) trở thành t́nh nhân, rồi kết hôn.

                Xin xem tiếp Duyên Nợ Truyền Tin -3.

 

Ái hữu Truyền Tin họp mặt Xuân Mậu Tư 2008 tại khu Little Saigon Nam California.

Trong h́nh từ trái sang phải: Nguyễn-Huy Hùng, Chu Xuân Viên (miền Đông Hoa Kỳ), Lư trường Thọ,Trần văn Khang (Texas), Bùi Trọng Huỳnh, Đỗ Linh Quang, Lê Đ́nh Thạch, Nguyễn văn Vượng, Tạ Thái B́nh, Đan Đ́nh Cận, Lê văn Ngôn.

 

 


Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN