[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 3.

BỘ TỔNG THAM MƯU VÀ QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM BẮT ĐẦU THÀNH H̀NH VÀ KHỞI SỰ HOẠT ĐỘNG.

picindntt3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ảnh trên chụp trong một dịp Truyền Tin Hội ngộ mùa Thu, tại Hội quán Lạc Hồng của Tâm’s Beauty College do Bồ câu Nguyễn văn Diễm làm chủ, trên đường Westminster, thành phố Garden Grove, Nam California, Hoa Kỳ.

Từ trái sang phải: Nguyễn văn Vượng, Nguyễn-Huy Hùng, Bùi Trọng Huỳnh, và Nguyễn Đ́nh Hoà.

 

Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) đáng lẽ được thành lập sớm từ đầu năm 1952, nhưng v́ có sự bất đồng ư kiến trong việc chỉ định người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, giữa Quốc trưởng Bảo Đại và ông Letourneau Bộ trưởng các Quốc gia Liên hiệp của chính phủ Pháp, nên măi tới cuối tháng 5 năm 1952 mới có Nghị định ban hành quy định ngày thành lập chính thức kể từ ngày 1-5-1952. Thiếu tướng Nguyễn văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng, và Trung tá Trần văn Minh làm Tham mưu trưởng.

Tổng nhân số Bộ TTM, lúc khởi đầu hoạt động gồm khoảng 150 người cả Pháp lẫn Việt Nam, trong đó Sĩ quan và Hạ sĩ quan người Pháp đă chiếm con số 36. Tổ chức Bộ TTM cũng rất đơn giản như sau:
-Tổng Tham mưu trưởng và Văn pḥng (trong đó có Sở Mật Mă).
-Tham mưu trưởng.
-3 Tham mưu phó: -TMP Tổ chức và Nhân viên, -TMP Hành quân và Huấn luyện, -TMP Tiếp vận.

 

-Chỉ huy trưởng Viễn Thông.
-4 Pḥng Tham mưu chính: Pḥng 1, Pḥng 2, Pḥng 3, Pḥng 4. (Sau này theo tổ chức Quân đội Hoa Kỳ, Pḥng 4 cải tổ thành Tổng cục Tiếp vận.)
-Nha An ninh quân đội. (Sau này là Cục An ninh quân đội, trực thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị.)
-Ban Không quân.
-Ban Hải quân.
-Trung tâm công văn và công điện (trong đó có 1 Trung tâm Truyền tin).
-4 Nha trực hệ: -Nha Nhân Viên, -Nha Quân Nhu, -Nha Quân Y, -và Nha Quân Cụ (trong đó có Sở Vật liệu Truyền Tin).
-Ngoài các tổ chức trên, c̣n có Bộ Chỉ huy Tổng hành dinh, và Đại đội Tổng hành dinh để lo các dịch vụ yểm trợ Hành chánh, Tiếp liệu và An ninh cho Bộ TTM.

Ít tháng sau lại có thêm một số cơ sở nữa là:
-Ban tác động Tinh thần (Section Morale Action), sau đó cải danh thành Pḥng 5, và sau cùng P5 tách ra khỏi Bộ TTM sát nhập vào Bộ Quốc Pḥng với danh xưng “Nha Chiến Tranh Tâm Lư”.
-Ban Tổng nghiên cứu (Section Études Générales).
-Nha Quân Trường (Direction des Écoles). Về sau Nha Quân trường và Ban Tổng nghiên cứu nhập làm một với danh hiệu Pḥng Quân Huấn, và sau cùng lại cải danh thành Tổng Cục Quân Huấn.
-Pḥng 6 (Sixième Section) lo về Gián điệp.
-Các Ban Không quân, Ban Hải quân, được đổi thành Pḥng Không quân, Pḥng Hải quân để chuẩn bị thành lập các Bộ Tư lệnh Không quân và Bộ Tư lệnh Hải quân sau này.

Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ TTM là Thiếu tá Richard, có nhiệm vụ phối hợp với Chỉ huy trưởng Truyền Tin Bộ Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp về mọi vấn đề liên quan tới dịch vụ Truyền Tin trong QĐQGVN, chỉ huy các Bộ Chỉ huy Viễn thông tại các Bộ Tư lệnh Quân khu Việt Nam, và một số Đơn vị Truyền Tin đă chuyển thuộc quyền quản trị của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.

Ngày Bộ TTM mới thành lập, Sở Mật Mă tại Bộ TTM và các Ban Mật Mă Quân khu không nằm trong hệ thống chỉ huy của các Bộ Chỉ huy Viễn thông (BCH/VT). Tôi không quan tâm t́m hiểu nên không biết trong BCH/VT có những ai là Sĩ quan VN? Chỉ nghe nói có Trung úy Lương Thế Soái, nhưng chưa bao giờ có dịp gặp, kể cả trong giờ giải khát nửa buổi sáng tại Câu Lạc Bộ Sĩ quan, ngay sát cạnh trụ sở Bộ TTM, nơi mà các Sĩ quan Việt, Pháp thường tới ăn uống, tṛ chuyện, làm quen nhau. Ở Trung tâm Truyền Tin th́ có Thiếu úy Quới, Tôi thường có dịp gặp. Riêng bên Nha Quân Cụ, Tôi biết có Trung úy Lê văn Hiền Trưởng Pḥng Vật liệu Truyền Tin, chúng tôi đă quen nhau từ hồi Tôi mới ở Pháp về vào giữa năm 1951, làm việc chung tại Bộ Quốc pḥng.

Sở Mật Mă Bộ TTM, là một bộ phận độc lập trực thuộc Văn pḥng Tổng Tham mưu trưởng, nên Tôi phải tham dự các buổi họp Tham mưu hàng ngày dưới sự Chủ tọa của Tham mưu trưởng. Nhờ vậy, Tôi có dịp quen Thiếu tá Richard Chỉ huy trưởng Viễn Thông, và biết được ông này tốt nghiệp Trường Polytechnique Versailles, trước khi làm Sĩ quan Truyền Tin, nên ông ta có thái độ kiêu ngạo, coi thường các Chỉ huy trưởng Viễn Thông tại các Bộ Tư lệnh Quân khu, cũng là Sĩ quan Pháp nhưng chỉ tốt nghiệp Trường Truyền Tin Montargis. Ông ta rất thích truyện tṛ tâm sự với Tôi, để t́m hiểu về chiến trường Việt Nam, v́ ông ta biết Tôi mới học Montargis về, và trước kia Tôi đă từng chỉ huy đơn vị Bộ binh tham gia hành quân tại vùng Trung Du và Đồng bằng Bắc Việt.

Cuối năm 1952 qua đầu 1953, các Tiểu đoàn Bộ binh, Trung đoàn Vệ binh, Liên đoàn Bộ binh, Sư đoàn VN, các Đơn vị Hành chánh, Tiếp vận, Trung Tâm Huấn luyện được xúc tiến thành lập ồ ạt, Tôi phải thường xuyên theo dơi để cải tiến gia tăng các Hệ thống Mật Mă, cho hợp nhu cầu. Nhờ thế biết được đại khái về truyền Tin như sau:

1.-Về Khai thác, ở Bộ TTM có BCH/VT Bộ TTM và tại mỗi Quân khu có một BCH/VT Quân khu. Trực thuộc mỗi BCH/VT này đều có một Trung tâm Truyền Tin, làm việc trong Hệ thống Truyền Tin Diện địa của các Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Saigon và các Địa phương, cùng một số Đại đội Truyền Tin do Sĩ quan Pháp chỉ huy hoạt động tại các miền Việt Nam như sau:
-QK I (miền Nam) có ĐĐ6TT ở Gia định, và ĐĐ1TT ở Cần Thơ.
-QK II (miền Trung) có ĐĐ2TT ở Huế.
-QK III (miền Bắc) có ĐĐ5TT ở Hà Nội, và ĐĐ3TT ở Nam Định.
-QK IV (Cao nguyên Trung phần) có ĐĐ4TT ở Banmêthuôt.

Qua năm 1953, có thêm 5 Đại đội TT cho 5 Sư đoàn mới thành h́nh (mỗi Đại đội có khoảng 150 người). Đến năm 1954 lại lập thêm một số Phân đội Truyền Tin (Détachement de Transmissions). Mỗi Phân đội có khoảng 60 người, do Sĩ quan Việt Nam chỉ huy, trực thuộc các Bộ Chỉ huy Trung đoàn Ngự Lâm quân, Liên đoàn Bộ binh (Groupement d’Infanterie = G.I), Liên đoàn Bộ binh Sơn Cước (Groupement d’Infanterie de montagne = G.M.I), Liên đội Vệ binh, Trung đoàn Vệ binh, và Liên đoàn Nhẩy Dù (G.A.P= Groupement aéroporté).
Các loại máy Truyền tin thông dụng là: SCR 399, SCR 193, SCR 694, SCR 300, SCR 536, AN/VRC/1 (để liên lạc với máy bay).

2.- Về Tiếp liệu và Sửa chữa Vật liệu Truyền Tin, th́ mọi đơn vị và cơ sở đều nằm trong Hệ thống chỉ huy của Quân Cụ y như tổ chức bên quân đội Viễn chinh Pháp. Tại trung ương Saigon, có Pḥng Vật liệu TT nằm trong Sở Quân Cụ (Service du Matériel), và tại các Quân khu có các thành phần phụ trách về Vật liệu TT nằm trong các Trung tâm Tổ chức Quân Cụ (Centre d’organisation du service du matériel). Đến đầu năm 1953, Pḥng Vật liệu TT thuộc Sở Quân Cụ tại Saigon được tách ra và cải tổ thành Nha Vật liệu TT Trung ương (Direction centrale du service du matériel des transmissions). Tại các địa phương các thành phần phụ trách về Vật liệu TT trong các Trung tâm Quân Cụ cũng được tách ra để cải biến thành các Cơ Sở Vật liệu Truyền Tin địa phương (Etablissement régional du service du matériel des transmissions). Qua năm 1954 có thêm 4 Chi nhánh Cơ xưởng Sửa chữa và Tiếp liệu Tồn trữ Vật liệu TT, tại 4 nơi: Nam Định, Hải Pḥng, Đà Nẵng và Nha Trang, để nới rộng tầm yểm trợ. Trung tá Lê văn Hiền được chỉ định làm Giám đốc Nha Vật liệu TT đầu tiên, từ khi Pháp bàn giao cho Việt Nam.

Cuối năm 1955, sau khi anh Nguyễn Khương được chỉ định về làm Chỉ huy trưởng Viễn thông Bộ TTM, th́ anh Hiền bị thuyên chuyển ra khỏi Binh chủng TT.  Thiếu tá Khổng văn Tuyển, phụ trách tiếp liệu TT tại Huế được đưa vào thay thế anh Hiền. Đến sau cuộc Nhẩy Dù đảo chính Tổng thống Diệm vào ngày 11-11-1960 không thành, anh Tuyển được đưa sang chỉ huy Nha Viễn thông Bộ Nội vụ, cho đến 30-4-1975 Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, bị đi học tập cải tạo, rồi chết trong trại tập trung ngoài miền Bắc Việt Nam.

3.- Về Huấn luyện chuyên viên TT, tại mỗi Quân trường và Trung tâm Huấn luyện, đều có Ban phụ trách hướng dẫn cho khoá sinh biết cách xử dụng các máy Truyền Tin loại nhỏ, thông dụng trong các đơn vị Bộ binh như: SCR 694, SCR 300, SCR 536, AN/VRC/1, các máy điện thoại và Tổng đài Dă chiến. Riêng phần đào tạo các chuyên TT như: Hiệu thính viên, Viễn ấn tự, Tổng đài viên, trải dây… (cho cả Binh đoàn lẫn Binh chủng TT) đều do các Trung tâm Huấn luyện Kỹ thuật Truyền Tin (TTHL/KTTT) đảm trách. 

Tính đến tháng 9 năm 1952, có cả thẩy 4 TTHL/KTTT được thành lập, tại Gia Định CITTR1, Huế CITTR2, Hà Nội CITTR3, và Banmêthuột CITTR4. Qua năm 1955, các CITTR3 và CITTR4 bị giải tán. Sau cùng vào cuối năm 1956 các CITTR1 và CITTR2 lại bị giải tán nốt để thành lập một Trung tâm Huấn luyện TT duy nhất tại Vũng Tầu, phụ trách việc đào tạo Hạ sĩ quan và Binh sĩ chuyên TT cho các đơn vị TT thuộc Binh đoàn Bộ binh (không thuộc quân số Binh chủng TT), và đơn vị TT thuộc Binh chủng TT. Các chuyên viên sửa chữa và tiếp liệu và tồn trữ các Vật liệu TT, được đào tạo tại Trường Truyền Tin, trong Liên trường Vơ khoa Thủ Đức.

Việc đào tạo Sĩ quan Truyền Tin Binh đoàn và Binh chủng TT tại Việt Nam được khởi đầu từ năm 1953 tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. V́ nhu cầu Sĩ quan bổ sung cho các đơn vị Bộ binh và các đơn vị Binh chủng Truyền Tin, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Quân Cụ, Thông Vận Binh, và Hành chánh Tài Chánh cho toàn Quân đội đang được thành lập ồ ạt, nên bắt đầu từ Khoá 2 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức trở đi, chương tŕnh huấn luyện được chia thành 2 giai đoạn: -Giai đoạn 1, sinh viên sĩ quan học căn bản về Bộ binh; -Giai đoạn 2, những sinh viên sĩ quan được dự trù bổ sung cho Binh chủng chuyên môn nào th́ học chuyên biệt chuyên môn của ngành đó. V́ thế, nhân viên thuộc Khoa Huấn luyện TT tại Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức được tăng cường, để lo việc huấn luyện chuyên nghiệp Giai đoạn 2 về TT cho các Sinh viên Sĩ quan sẽ được bổ dụng về Binh chủng TT sau khi măn khoá. Đồng thời cũng phụ trách luôn việc tổ chức các khoá bổ túc căn bản TT cho các Sĩ quan đang phục vụ trong các đơn vị thuộc Binh chủng TT, để điều chỉnh chuyên nghiệp, và các khoá căn bản TT cho Sĩ quan TT Binh đoàn (không thuộc quân số riêng của Binh chủng TT).

Năm 1957, tại đồi Tăng Nhân Phú, Thủ Đức, vốn là cơ sở riêng của Trường Sĩ quan Trừ bị, được biến thành Liên trường Vơ khoa Thủ đức. Ngoài Trường Sĩ quan Trừ bị Bộ binh vốn có từ ngày thành lập năm 1952, nay có thêm các Trường Chuyên nghiệp của các Binh chủng trong Quân đội. Nhân viên ṇng cốt dậy các khoa chuyên môn của Trường Sĩ quan Trừ bị được tách ra, tăng cường thêm quân số để thành lập các Trường Truyền Tin, Trường Công Binh, Trường Pháo Binh. Trường Thiết Giáp, Trường Quân Cụ, và Trường Hành chánh Tài chánh.

Trường Truyền Tin phụ trách tổ chức huấn luyện các Khoá: -Sĩ quan TT Binh chủng Truyền Tin, -Sĩ quan TT Binh đoàn, -Sĩ quan Tiếp liệu và Tồn trữ các Vật liệu TT, và -Chuyên viên sửa chữa các loại vật liệu TT.

Vào giữa năm 1958, sau khi Tôi theo học liên tiếp 2 khoá: -Sĩ quan TT cao cấp, và Sĩ quan Yểm trợ Tồn trữ Vật liệu TT cấp Chiến trường, tại Trường truyền Tin Lục quân Hoa Kỳ ở Fort Mounmouth, Tiểu bang New Jersey về nước, được chỉ định làm Giám đốc Trường Truyền Tin Liên Trường Vơ khoa Thủ Đức cho tới cuối năm 1960, bàn giao lại cho Đại úy Vơ Trịnh Trọng, phó của Tôi lên thay. Tôi về làm Chỉ huy phó Viễn Thông cho đến sau đảo chánh Tổng thống Diệm 1-11-1963 th́ ra khỏi Binh chủng Truyền Tin.

Đầu năm 1961, Liên trường Vơ Khoa Thủ Đức giải tán, các Trường chuyên môn Binh chủng được tách riêng, và thống thuộc 2 hệ thống chỉ huy, với Tổng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tam Mưu về kế hoạch huấn luyện và ngân khoản huấn luyện, với các Chỉ huy trưởng Binh chủng liên hệ về quân số, kỷ luật và chuyên môn. Trường Trường Tin di chuyển xuống Vũng Tầu, nhập chung với Trung tâm Huấn luyện TT Vũng Tầu, để cải biến thành một Trường Truyền Tin duy nhất, trách nhiệm huấn luyện tất cả các loại khoá chuyên môn về Khai thác và Tiếp liệu, Sửa chữa vật liệu TT cho Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ thuộc Binh chủng TT và thuộc các Binh đoàn trong toàn quân đội. Các khoá Mật Mă cũng được đào tạo tại đây.

Thiếu tá Nguyễn đ́nh Tài, nguyên Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện TT Vũng Tầu giải tán, được thuyên chuyển đến Trường Đại học Quân sự tại Đà Lạt, phụ trách khóa hướng dẫn các Sĩ quan khoá sinh học các khoá Tham mưu và Chỉ huy, làm Phụ bản Truyền Tin của các loại Lệnh Hành Quân cấp Trung đoàn và Sư đoàn. Thiếu tá Nguyễn văn Chuân được chỉ định làm Giám đốc Trường Truyền Tin cho đến sau biến cố đảo chánh 1-11-1963, bị thuyên chuyển ra khỏi Binh chủng TT cùng một lượt với Tôi.

Kể từ năm 1953, ngoài số Sĩ quan TT được đào tạo ở trong nước, Bộ chỉ huy Viễn thông Bộ TTM c̣n được tổ chức thi tuyển một số sĩ quan đang phục vụ trong các đơn vị TT thuộc Binh chủng TT, hoặc mới tốt nghiệp các Trường Vơ bị Quốc gia Đà Lạt, và Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, có khả năng và Văn bằng chuyên môn Điện tử, Vô tuyến điện… gửi đi tu nghiệp tại Trường Truyền Tin Montargis bên Pháp, để về làm huấn luyện viên và chuyên viên ṇng cốt cho các lănh vực chuyên nghiệp trong Binh chủng TT.

Hồi đó ngành Mật Mă không lệ thuộc Bộ Chỉ huy Viễn thông, nên Tôi không quan tâm tiếp xúc với các Sĩ quan TT, mặc dù anh Nguyễn Khương và Tôi là 2 người được Bộ Quốc pḥng Việt Nam gửi đi học về TT tại Montargis niên khoá 1950-51, từ khi Bộ TTM chưa ra đời. Nhưng đến cuối năm 1953, rập khuôn theo tổ chức mới của Bộ Tư lệnh Tối cao quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương, Sở Mật Mă do Tôi trách nhiệm sát nhập vào Bộ Chỉ huy Viễn thông Bộ TTM với danh hiệu mới là Pḥng Mật Mă Trung Ương, nhu cầu liên kết hoạt động với các Sĩ quan TT, buộc Tôi phải t́m đến với các bạn đồng môn từ Montargis về. Nhờ thế Tôi biết được những ai đă theo học Montargis và vào những niên khoá nào? Tổng số không đông lắm so với tập thể Sĩ quan TT trong Binh chủng. Nếu trí nhớ già nua cằn cỗi hiện tại không phản bội Tôi, th́:

-Niên khoá 1950-51, có Thiếu úy Nguyễn Khương và Tôi (Thiếu úy Nguyễn-Huy Hùng).

-Niên khoá 1951-52, chỉ có một ḿnh Trung úy Nguyễn Khương học thêm năm nữa về chuyên môn ǵ không ai biết, v́ anh Khương không tiết lộ về tên khoá học này.

-Niên khoá 1952-1953 có các Thiếu úy Nguyễn tài Lâm, Lê Phú Phúc, Nguyễn Hữu Mai, Nguyễn văn B́nh, và Trần Xuân Đức.

-Niên khoá 1953-1954, có các Thiếu úy Nguyễn hữu Chi, và Nguyễn cao Quyền (tốt nghiệp Khoá 1 sĩ quan Trừ bị Thủ Đức- Nam Định, được gửi qua Pháp theo học bổ túc năm thứ 2 (ESMIA) tại Trường Vơ bị Lục quân Saint Cyr, rồi theo học năm thứ 3 về chuyên môn TT trước khi về phục vụ trong các cơ sở hoặc đơn vị TT, như các Thiếu úy Pháp vừa tốt nghiệp), Ngô văn Minh, Paul Huê, và một người nữa không nhớ tên.

-Niên khoá 1954-55, có các bạn Ngô qúy Thiều, Phạm ngọc Gia, Dương thiệu Hiểu, và Nguyễn văn Toàn.

-Niên khoá 1955-56, có các bạn Đặng văn Phi, Lữ phúc Bá, Châu ngọc Xuân, Mai viết Triết, Nguyễn văn Liêm, Trần phát Ngọc, Lê văn Trọng, và 4 bạn theo học khoá Kiểm tra viên công tŕnh điện khí cơ hành (Contrôleur des installations électromécaniques) tại Paris, là Nguyễn hải Châu, Phan hy Dung, Cổ tấn Hổ, và Lê xuân Sơn.

Từ cuối năm 1952 qua năm 1953, được coi là thời bộc phát mạnh của QĐQGVN. Ngoài số 30 Tiểu đoàn đă có, phải tổ chức thêm 80 Tiểu đoàn các loại: Bộ binh, Khinh binh, Nhẩy Dù, Ngự Lâm quân, Pháo binh, Công binh, Vận tải (Thông vận binh), Thám Thính, và khoảng 6 Bộ chỉ huy Liên đoàn Bộ binh, và 7 Bộ Tư lệnh Sư đoàn VN. Do đó ngành Mật Mă cũng phải chuyển ḿnh bành trướng theo để đáp ứng cho kịp nhu cầu đ̣i hỏi. Nhân số Sĩ quan, Hạ sĩ quan Mật Mă được gia tăng và cần huấn luyện cấp tốc. Các Văn kiện Căn bản quy định rơ ràng chi tiết về tổ chức, điều hành, huấn luyện, tiếp vận, ấn loát, an ninh liên quan tới nhân viên, phương tiện và cơ sở làm việc của các Mật Mă viên, cần được xúc tiến ban hành khẩn cho mọi cấp Chỉ huy đơn vị Quân đội thi hành, đồng nhất, nhằm bảo đảm sự an toàn cho các Hệ thống Mật Mă được toàn hảo trong toàn Quân đội.

Mọi việc đă được xúc tiến mau lẹ, tốt đẹp, và mùa Xuân năm 1953 Tôi đă được thăng cấp Đại úy Đặc cách. Ngày ấy Tôi vừa tṛn 23 tuổi, là Đại úy trẻ tuổi nhất trong Bộ TTM. Sau khi gắn cấp hiệu Đại úy (3 vạch kim tuyến vàng chói) lên 2 cầu vai áo của Tôi, Thiếu tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham mưu trưởng nhoẻn miệng cười, quay sang nh́n Trung tá Trần văn Minh Tham mưu trưởng, và nói: “Oh, Mon Dieu! Qu’il est si jeune! Je veux le voir aux premiers Cours Tactiques le mois prochain à Hanoi, pourqu’il deviendra Commandant d’un de nos nouveaux Bataillons.” (Trời ơi, Anh ta trẻ quá! Tôi muốn thấy anh ta ở khoá Chiến thuật đầu tiên tại Hà Nội vào tháng tới, để anh ta trở thành Chỉ huy trưởng của một trong các Tiểu đoàn mới.) Trung tá Minh đă hăng hái trả lời: “Bien, mon Général.” (Vâng, xin tuân lệnh Thiếu tướng.) Nhưng v́ nhu cầu tối cần của Ngành Mật Mă đang bành trướng, nên Tôi đă không được gửi theo học khoá Chiến thuật tại Hà Nội. Nếu Trung tá Minh Tham mưu trưởng cho Tôi theo học khoá Chiến thuật như lời chỉ thị của Thiếu tướng Tổng Tham mưu trưởng, th́ chắc chắn đời binh nghiệp của Tôi đă khác hẳn, và hôm nay chẳng có ǵ để viết về “Duyên nợ Truyền Tin” cho các bạn đọc.

Nhưng có điều an ủi bất ngờ đă đến với Tôi là, muà Xuân 1954 Tôi được đền bù bằng thăng cấp Thiếu tá Đặc cách. Bốn vạch kim tuyến bóng loáng nằm dài trên 2 vai áo của Tôi, đă làm cho uy thế của Ngành Mật Mă được mọi cấp Chỉ huy trong toàn Quân đội quan tâm, ưu tiên lo lắng trợ giúp kịp thời mọi đ̣i hỏi cần thiết.

Vào năm 1954, Quân Đội Quốc Gia VN có 3 vị Tướng: Trung tướng Nguyễn văn Hinh (Tổng Tham mưu trưởng tại Saigon), Thiếu tướng Nguyễn văn Vĩ (Chánh Vơ pḥng Quốc trưởng Bảo Đại, trên Đà lạt), và Thiếu tướng Nguyễn văn Vận (Tư lệnh Quân khu 3, tại Hà Nội); 10 Đại tá; 12 trung tá; và khoảng 30 Thiếu tá (Tôi là 1 trong 30 vị này).

Một Lịch tŕnh Thanh tra Chỉ huy Mật Mă, đến mọi cấp đơn vị nằm trong các Hệ thống Mật Mă trong toàn Quân đội, được thực hiện liên tục trong muà Hè 1954. Mục đích thứ nhất là để giải thích cho các vị Tư lệnh và Chỉ huy trưởng các đơn vị, hiểu rơ về vai tṛ quan trọng của Mật Mă, kiểm soát tại chỗ và yêu cầu hoàn chỉnh ưu tiên những biện pháp bảo vệ an ninh vật chất cần thiết cho nhân sự và cơ sở Mật Mă trực thuộc. Mục đích thứ hai để hướng dẫn bổ túc về kỹ thuật, tổ chức điều hành các xưởng Mă cho các Sĩ quan Mật Mă và Mật Mă viên. Đợt thanh tra quy mô này được thực hiện với danh nghiă Đại diện Tổng Tham mưu trưởng, được minh thị bằng một Sự vụ văn thư do chính Tổng Tham mưu trưởng kư tên ban hành. Nhờ thế, Tôi đă được tất cả các cấp Chỉ huy Lănh thổ và Đại đơn vị hỗ trợ đặc biệt. Kết quả thâu đạt rất mỹ măn, khiến Tôi rất phấn khởi, và hăng say tổ chức, điều hành, cải tiến ngành Mật Mă ngày một tốt hơn.

Dĩ nhiên sau đợt thanh tra, có những Đơn vị trưởng nhận được Giấy Khen của Tổng Tham mưu trưởng, nhưng cũng có người nhận được Giấy Khiển trách hoặc Giấy Phạt kỷ luật. Tôi đă làm việc với công tâm không hề thiên vị, và cũng không e ngại những trường hợp lẻ tẻ trả thù sau này. Nhờ vậy, Tôi đă tạo cho Sĩ quan Mật Mă và Mật Mă viên niềm vinh dự và hănh diện về nghiệp vụ mà họ được giao phó, cũng như làm cho tất cả các cấp Chỉ huy trong Quân đội thấy rơ sự quan trọng, và cần phải làm ǵ để bảo vệ Ngành Mật Mă, v́ đây là Huấn lệnh Quân đội bắt buộc mọi người phải triệt để tuân hành.

Qua đợt thanh tra này, Tôi cũng rút được nhiều kinh nghiệm chiến trường, để cải tiến tổ chức cho Ngành Mật Mă ngày một hữu hiệu hơn. Tôi đă tŕnh Tổng Tham mưu trưởng cho phép tiếp xúc mật thiết hơn với Sở Mật Mă Bộ Tư lệnh Tối cao Quân viễn chinh Pháp ở Saigon, để yêu cầu trợ giúp về phương diện huấn luyện, và tiếp trợ các phương tiện kỹ thuật Mật Mă (máy Mă Converter). Do đó Sở Mật Mă Pháp đă hỗ trợ mở khoá huấn luyện Sĩ quan Mật Mă VN học chương tŕnh của Mật Mă Pháp tại Bộ TTM QĐQGVN ở Saigon. Khoá học đầu tiên này gồm có các anh: Lư Thái Vượng, Nguyễn Bỉnh Thiều, Trịnh Xuân Minh, Nguyễn Thành Nghiệp, Triều Lương Chế, Đỗ văn Thân, Văn hữu Trạng, Huỳnh văn Cảnh, Phan Xuân Thế, Nguyễn Ngọc Phan, Trương văn Tàng. (Không biết Tôi nhớ có thiếu ai không? Nhờ các bạn ghi trên đây bổ túc giùm nếu có.) Măn khoá học anh em được bổ nhiệm đi các nơi như sau: Nguyễn Thành Nghiệp (Trưởng Pḥng Mật Mă QK1, tại Saigon), Lư Thái Vượng (Trưởng Pḥng MM/QK2, tại Huế), Nguyễn Bỉnh Thiều (Trưởng Pḥng MM/QK3, tại Hà Nội), Nguyễn Ngọc Phan (Trưởng Chi nhánh MM khu Nam QK3, tại Nam Định), Triều Lương Chế (Trưởng Pḥng MM/QK4, tại Banmêthuôt), Trương văn Tàng (Trưởng Chi nhánh MM khu Duyên hải QK4, tại Nha Trang), số c̣n lại phục vụ tại Pḥng Mật Mă Trung Ương tại Saigon.

Đến đầu năm 1955, anh Thế có nhu cầu cần chăm sóc cha mẹ già tại Huế, nên Tôi đưa ra thay anh Lư Thái Vượng đang ở Huế, cũng có nhu cầu cần vào Saigon, ổn định gia đ́nh đông con và Cha già phải di cư từ Bắc vào cuối năm 1954 không hợp phong thổ miền Huế, mùa Đông lạnh, mùa Hè mưa và lụt lội. Anh Vượng là Sĩ quan Trừ bị tốt nghiệp Khoá 1 Nam Định, làm Phó trưởng pḥng giúp Tôi cho đến đầu năm 1957 được thăng cấp Đại úy, rồi giải ngũ v́ gia đ́nh đông con. Anh Trương văn Tàng Trưởng Chi nhánh MM tại Nha Trang, cũng mới được thăng cấp Đại úy, được điều động về thay thế anh Vượng. Đến giữa năm 1957, Tôi đi Hoa Kỳ học Khoá Truyền Tin tại Fort Mounmouth, Tiểu bang New Jersey, th́ anh Tàng lên thay Tôi làm Trưởng Pḥng MMTU Bộ Chỉ huy Viễn thông Bộ TTM.

Sau khoá Sĩ quan MM nêu trên, Sở Mật Mă Pháp yểm trợ cho QĐQGVN các máy Mă (Converter) sản xuất bên Đức, và phụ giúp Pḥng MMTU mở các khoá huấn luyện Hạ sĩ quan chuyên viên sửa chữa máy Mă. Ngoài ra Nha Mật Mă và Mă Thám Pháp tại Paris, cũng dự trù cấp 2 học bổng cho Sĩ quan Mật Mă VN đi học khoá Mă Thám 2 năm tại Paris vào niên khoá 1955. Tổng Tham mưu trưởng đă chấp thuận cho anh Lư Thái Vượng và Tôi tham dự khoá này. Nhưng “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, Hiệp định Genève đ́nh chiến ra đời vào tháng 7 năm 1954, vai tṛ của Pháp chấm dứt kể từ 1955 để Mỹ chuẩn bị thay thế làm Cố vấn, nên học bổng nêu trên bị hủy bỏ. Mộng lớn về tương lai h́nh thành một ngành Mật Mă Mă Thám quy mô, cho QĐQGVN và hệ thống Tùy viên Quân sự bên các Toà Đại sứ VN nơi hải ngoại của Tôi gặp trục trặc.

Đợt Thanh tra Chỉ huy Mật Mă năm 1954, đă là dịp cho Tôi đặt những viên đá đầu tiên, xây dựng nền móng vững chắc cho niềm hănh diện của ngành Mật Mă trong QĐQGVN, cho “t́nh huynh đệ chi binh” thắm thiết giữa các chuyên viên Mật Mă trong toàn Quân đội (không phân biệt Binh Chủng, Binh Đoàn), cho nghiă t́nh Mật Mă keo sơn, ngay từ trong thời kỳ mới thành h́nh của ngành Mật Mă trong QĐQGVN.

Hôm nay, 42 năm sau ngày rời ngành Mật Mă, đọc đoạn văn mở đầu bài “Ân t́nh Mật Mă” của chiến hữu Nguyễn văn Riễm, nguyên Trưởng Pḥng MM Lục quân Cục Truyền Tin, trong Bản Tin Trần Nguyên Hăn số 2, Tôi rất xúc động, sung sướng và hănh diện, v́ không ngờ cái việc làm mộc mạc, chân t́nh, thiện chí ban đầu của Tôi đối với ngành Mật Mă quân đội Việt Nam, đă được các chiến hữu đến sau duy tŕ, và làm tăng trưởng lũy tiến hiện đại theo kỹ thuật của quân đội Hoa Kỳ mặc dầu không c̣n sự hiện diện của Tôi.

Sự kiện này cũng làm Tôi nhớ lại một kỷ niệm về “Ân t́nh Mật Mă” trong một cuộc vui Xuân của nhóm anh em Pḥng Mật Mă Trung Ương và Quân khu 1, tại chợ Thủ Đức vào đầu năm 1956. Hôm đó có Lư Thái Vượng, Nguyễn Bỉnh Thiều, Trịnh Xuân Minh, Trịnh văn Phát (sau sang Không quân), Trịnh Xuân Lạng (sau là Trung tá Chỉ huy trưởng đơn vị 15), Nguyễn Thành Nghiệp (Trưởng Pḥng MM/QK1) và Tôi. Chúng tôi thường lợi dụng những buổi họp vui thân thiện như vậy, để bàn luận và chia sẻ với nhau những kinh nghiệm, sai lầm cần sửa chữa, những dự án trong tương lai, những khó khăn gia đ́nh của riêng mỗi anh chị em trong đơn vị, để mọi người cùng tham gia hỗ trợ giúp đỡ nhau vượt qua cách nào êm dẹp, thực tế và hữu hiệu nhất. V́ chúng tôi quan niệm rằng gia đ́nh có được chăm lo đầy đủ, ổn định, th́ tinh thần mới được thơ thới minh mẫn để hết ḷng lo nhiệm vụ, cũng như không bị mua chuộc rơi vào cạm bẫy phản bội Quân Đội và Dân Tộc. Buổi vui đó có rượu, có gà quay, có xôi chiên phồng, có nem chua… và men nồng hứng khởi đă khiến anh Thiều, anh Vượng và Tôi, làm một bài thơ “liên ngâm, tứ tuyệt” lưu niệm. Riêng Tôi vẫn nhớ chẳng bao giờ quên. Xin ghi lại ra đây để các bạn cùng thưởng thức.

Men nồng sưởi ấm những ḷng son,
Việc nước chung lo khó chẳng sờn.
Dâu biển Thế thời dù biến đổi,
Nghiă t́nh Mật Mă vẫn keo sơn.

Ghi chú: 2 câu đầu do Tôi khởi xướng, 2 câu sau do các anh Thiều và Vượng tiếp thêm cho trọn vẹn ước mong của anh em.

Xin xem tiếp Duyên Nợ Truyền Tin 4

VO DAI Khoi tham Cali

Nhân dịp Ái hữu Truyền Tin họp mặt Xuân Ất Dậu 2005, sau 30 năm lưu vong tại hải ngoại, Vơ Đại Khôi cựu Chỉ huy Trưởng Viễn Thông thời 1960 từ miền Đông Hoa Kỳ về tham dự, ghé thăm vợ chồng Nguyễn-Huy Hùng cựu Chỉ huy phó Viễn Thông tại tư gia ở thành phố Fountain Valley, Nam California, Hoa Kỳ.

 

 

 

 


Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN