[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


***

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 4.

 

CHIẾN CUỘC XOAY CHIỀU, PHÁP RA KHỎI MIỀN NAM VIỆT NAM.

                                                                     

http://www.geocities.com/ttqlvnch/pdntt42.jpgV́ tính cách Kỹ thuật chuyên biệt, các Sĩ quan và Hạ sĩ quan đă theo học khoá chuyên môn Mật Mă, và đang phục vụ tại các cơ sở Mật Mă, được phép đeo nơi phiá trên túi áo ngực bên phải bộ quân phục, một chuyên hiệu Mật Mă bằng kim khí, do Pḥng Mật Mă Trung Ương (MMTU) thực hiện và cấp phát. Mẫu chuyên hiệu Mật Mă do một Trung sĩ (họa sĩ) thuộc Pḥng MMTU phác thảo, tŕnh và được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, cấp ngân khoản cho phép tiếp xúc với hăng DRAGO chuyên sản xuất các huy hiệu quân đội ở bên Pháp, hoàn chỉnh và thực hiện. Chủ đề cấu tạo chuyên hiệu Mật Mă, gồm 3 h́nh tượng:
-NHÂN SƯ, con vật thần thoại Ai Cập (SPHINX), tượng trưng cho trí thông minh và bảo toàn bí mật.
-Vành (sắt lót) móng ngựa, dấu hiệu mang lại may mắn theo truyền thuyết của người Âu Châu, đồng thời cũng tượng trưng cho toà án lương tâm.
-Kiếm, tượng trưng cho danh dự, ḷng ngay thẳng, và ư chí can đảm bất khuất của người Hiệp sĩ.

Mầu sắc của chuyên hiệu cũng rất đơn giản mộc mạc, chỉ dùng có 2 mầu: Vàng và Bạc, 2 loại quư kim mà mọi người trên Thế giới từ Cổ chí Kim đều qúy trọng. Trong dân gian Việt Nam có nhiều ca dao, ngạn ngữ nói đến uy lực vô h́nh của Vàng và Bạc, chẳng hạn: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”, “Lá ngọc cành vàng”, “Tham vàng bỏ ngăi”, “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, … Một bức ảnh mẫu chuyên hiệu Mật Mă được phóng lớn, treo tại giữa các văn pḥng làm việc của Mật Mă viên, để nhắc nhở mọi người luôn nhớ tới trách nhiệm quan trọng ḿnh đang đảm nhiệm. Không biết kể từ giữa năm 1957 trở về sau, Tôi không c̣n ở trong Ngành Mật Mă, chuyên hiệu riêng của ngành Mật Mă có c̣n được tiếp tục công nhận nữa không?                                                                  

Đến đây, trước khi tiếp tục câu truyện về Truyền Tin và Mật Mă, Tôi nghĩ cũng nên lược qua về những sự kiện và lư do nào đă khiến cho Pháp, phải sốt sắng dồn mọi nỗ lực xây dựng Quân đội riêng cho các Quốc gia Liên kết Đông Dương, trong đó có Việt Nam của chúng ta. Những ghi nhận và suy luận sẽ tŕnh bầy dựa theo Chủ quan hiểu biết của Tôi, có thể phiến diện và thiển cận nếu đem so sánh với nhận định của các bậc cao minh. Vậy xin các Bạn vui ḷng miễn chấp và chỉ giáo thêm cho, Tôi cám ơn vô cùng.

Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó t́nh h́nh chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại Bắc Việt trở nên rất sôi động. Tháng 5 năm 1949, Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh sát t́nh h́nh, và nghiên cứu tŕnh một Kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước, Tướng Revers đề nghị rút bỏ Cao Bằng (Tỉnh cực Bắc ở biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:
1.- Gom quân pḥng thủ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn, Đồng Đăng, Đ́nh Lập, đến Tiên Yên;
2.- Củng cố b́nh định vùng đồng bằng Bắc Việt;
3.- Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của Chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái.

Chủ định thâm sâu của Pháp là tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới h́nh thức mới, nên không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng (chủ nhân ông mới của Trung Hoa Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt Minh Cộng sản, nên phải thun về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và t́m phương kế mới.
Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng v́ tại Đông Dương lúc đó, đang có sự bất đồng ư kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp) tại Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt), nên măi tới cuối tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức t́nh báo, Chính phủ Pháp, Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều biết rằng Kế hoạch Revers đă bị tiết lộ.

Phiá Việt Minh, không biết bằng cách nào đă ḍ biết được Kế hoạch Revers, nên Tướng Vơ Nguyên Giáp, với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn dược, huấn luyện quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đă ráo riết chuẩn bị mở màn thử thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.

Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và súng cao xạ bắn máy bay, đă khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê, rồi bao vây cô lập Cao Bằng. Sau đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng Sơn, kéo dài cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng, Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.

Trận đánh này đă làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần quân sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới Chính trị Pháp và Hoa Kỳ. Dân chúng Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến tranh sa lầy”, các Đảng phái chính trị Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các Chính phủ Pháp thay phiên nhau xụp đổ liên tục, làm cho t́nh h́nh tại cả bên chính quốc lẫn tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ Pháp cố gắng t́m một Tướng làm Tổng Tư lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương. Các Tướng Juin và Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước, sau khi đ̣i hỏi nhiều điều kiện quá đáng Chính phủ Pháp không thể thoả măn được. Sau cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn. Ông này nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta rộng quyền chỉ huy.

Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De Lattre lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để làm trụ cột giúp ông ta hoàn thành sứ mạng lớn lao đă nhận lănh. Trong suốt 9 tháng trời ṛng ră tiếp theo, ông ta đă chứng tỏ tài lănh đạo chỉ huy và hành quân táo bạo của ḿnh, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người con trai duy nhất là Trung úy Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Pḥng tuyến Bê tông De Lattre” để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Tŕ, Ninh B́nh, và “Pḥng Lũy Hải Pḥng”. Tướng De Lattre đă làm cho tinh thần Quân Sĩ được phục hồi, đồng thời tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng minh Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi,…

Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán bên Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Việt Minh, y như trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can thiệp, cũng có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn, nên Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp. Nhờ thế, Tướng De Lattre đă xin được Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là “Ngăn chặn sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á Châu”, mà Việt Minh là tay sai tiền phương của Liên Sô và Trung Cộng. Viện trợ chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết kèm theo là: “Pháp phải thành thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho các Chính phủ Quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, và xúc tiến nhanh chóng việc thành lập, huấn luyện, và trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ, tiêu diệt Cộng sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát triển kinh tế. Đặc biệt phải để cho các Quốc gia này có quyền Tự do Giao thương trực tiếp với tất cả các nước Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của Pháp.”

Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đă từ Manilla chở tới Saigon, rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại. Đồng thời, 30 Phóng pháo cơ B-26 do phi công Hoa Kỳ lái từ Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải Pḥng), trao cho Pháp trong âm thầm không kèn không trống. Mười hai (12) chiếc trong số phi cơ này đă được Hoa Kỳ biến cải thành loại máy bay soi sáng (Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến trường ban đêm, trong thời gian liên tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi cơ.

Hy vọng những sự kiện vừa kể trên, đă giúp cho những ai ít quan tâm đến thời cuộc đất nước Việt Nam trước đây, không c̣n thắc mắc tại sao măi đến cuối năm 1951 Quốc hội Pháp mới chấp thuận việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tiếp theo đó, ông Trần văn Hữu Thủ tướng Chính phủ Việt Nam mới công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng sản, ban hành Lệnh Tổng Động Viên, thành lập Bộ Tổng tham mưu QĐQGVN, các Trường Vơ bị Địa phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội trưởng, Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và Thủ Đức, để đào tạo Thiếu úy Trừ bị cung cấp cho Quân đội, ngoài số Thiếu úy Hiện dịch do Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt đang đào tạo. (Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn luyện Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động náo nhiệt để thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh và các đơn vị Binh chủng, Nha, Sở chuyên môn.

Phiá Quân đội Viễn chinh Pháp, ồ ạt xây dựng các doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị Hành chánh Tiếp vận Trung Ương, tại các vùng Tân Sơn Nhứt, G̣ Vấp, B́nh Lợi, Cát Lái (Gia Định), Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà… Theo dự tính của Tướng De Lattre, các Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp vận cho các Lực lượng Liên Hiệp Quốc, đến điều khiển chiến tranh ngăn cản Cộng sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á Châu, xử dụng khi cần.

Tháng 12-1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh sa lầy” không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội t́nh nước Pháp tiếp tục lục đục, chính phủ Queuille bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà B́nh vào cuối tháng 3-1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay, vẫn giữ chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ trưởng các Quốc gia Liên kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng 4-1952, và Tướng Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường xuyên hoạt động tại chính quốc, làm ǵ có thời giờ chạy qua chạy lại giữa Pháp và Đông Dương, nên Tướng Salan vô h́nh chung có được toàn quyền quyết định y như cố Đại tướng De Lattre thuở c̣n sinh thời.

Sở dĩ Tướng Salan được lựa chám chỗ chống của De Lattre, v́ ông ta đă từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi 1947, đă cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua đời, nên thông thạo lối đánh của Việt Minh. Ngoài ra, ông ta c̣n có được cái trí khôn của người Á Đông v́ lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền, Chùa, am tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương. Chiến công của Tướng Salan từ sau ngày thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà B́nh trong an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy NaSản” giữ được mặt trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng (10, 11, và 12-1952). C̣n t́nh h́nh toàn diện Đông Dương chẳng có ǵ khả quan hơn.

Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Ông này xào xáo lại các kế hoạch của các Tướng tiền nhiệm, rút tiả các kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch chiến thuật mới của ḿnh là:
1.- Pḥng thủ miền Bắc;
2.- B́nh định miền Nam;
3.- Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập trung quân của Địch (Việt Minh).

Kế hoạch được mở màn bằng cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11-1953, để hỗ trợ việc xây dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”, với mục đích:
a.- Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin rằng họ sẽ thắng v́ có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.
b.- Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ b́nh định Liên Khu V gồm các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của Trung Việt Nam một cách dễ dàng.
c.- Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt Bắc, nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông Hồng.

Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá nhiều. Việt Minh đă tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực lượng nhiều tới 100,000 quân. Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh c̣n kéo được cả súng Đại pháo qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nh́n thẳng xuống thung lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể tập trung quanh Điện Biên Phủ khoảng 20,000 quân là tối đa, và ḷng chảo Điện Biên Phủ không thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, v́ các Đại pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các dẫy núi quanh ḷng chảo, xa quá tầm tác xạ của súng.

Cuối tháng 11-1953, t́nh h́nh chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4) Sư đoàn Việt Minh kéo lên áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng 12-1953, Tướng Navarre phải cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc Thái, để tập trung về Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng thượng lưu sông MêKông để củng cố pḥng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao).

Đầu năm 1954, t́nh h́nh lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên toàn cơi Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ t́nh h́nh coi như đang có nhiều điều thuận lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng 2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin, Đức) được mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại Genève, bàn thảo t́m giải pháp cho vấn đề đ́nh chiến tại Đông Dương, đă khiến t́nh h́nh chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng Navarre bị ngỡ ngàng.

Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang (Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954, Việt Minh mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương (kể cả Điện Biên Phủ), nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo điều kiện thượng phong tại Hội nghị Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên không c̣n quân số tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”.

Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante” đánh vào Liên Khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại kết quả ǵ, nếu không muốn nói là uổng công vô ích. Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” đă phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất hoang mang, chia rẽ, tranh căi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải đưa Tướng Paul Ely Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre, với quyền hạn rộng răi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh tại Đông Dương, như đă dành cho Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng chẳng làm được ǵ hơn, là tiếp tục nhận lănh những thất bại chua cay, trong âm mưu tái lập thuộc địa lỗi thời của Pháp sau Thế chiến II.

Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương được giải quyết ngă ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội nghị Genève với một Hiệp Định đ́nh chiến, kư kết vào lúc 0100 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại Genève giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam từ khước không kư vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này, nước Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc, tại Vĩ tuyến 17, và ḍng sông Bến Hải được dùng làm ranh giới giữa 2 miền. Từ giữa ḷng con sông trở lên phiá Bắc thuộc quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu. Phần từ giữa ḷng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của Chính quyền Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lănh đạo.

Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong ṿng 300 ngày, cho hơn một triệu Dân Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền Bắc vào Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc gia ra khỏi Bắc Việt theo lối cuốn chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi HàNội trong thời hạn 80 ngày kể từ ngày kư Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho Hà Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Pḥng do đó ngày chót được ấn định là ngày 19-5-1955.

Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, nay đổi tên thành Dinh Độc Lập dành cho Quốc trưởng Bảo Đại. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại G̣ Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques Tôi nhớ có đúng không, bạn nào biết là sai xin vui ḷng chỉnh giùm, Tôi vô cùng cám ơn). C̣n rất nhiều Doanh trại, Căn cứ, và Cơ sở khác tại Saigon và tại các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam Vĩ tuyến 17, được Pháp trao lại cho Chính quyền Quốc gia miền Nam Việt Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.

Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm của Chính quyền Quốc gia Việt Nam, đă dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam. Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi v́, ngay từ khi mở Hội nghị Bá Linh bàn thảo việc thành lập Hội nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Hoa Kỳ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đ́nh Diệm (đang ở Mỹ) về làm Thủ tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp.

Ngày 7-7-1954 ông Ngô Đ́nh Diệm về tới phi trường Tân Sơn Nhất Saigon vào một buổi trưa trời nắng đẹp, được sự tiếp đón theo nghi thức thường lệ của Chính phủ tại pḥng Khách Danh Dự của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số Sĩ quan cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc pḥng và Bộ TTM/QĐQGVN (trong đó có Tôi), vài thân quyến ḍng họ Ngô-Đ́nh (có vợ chồng ông Ngô Đ́nh Nhu), cùng mấy Nhân sĩ ở ngoài Huế vào. Quốc trưởng Bảo Đại loan báo việc chỉ định ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng thay thế Thủ tướng Bửu Lộc trở về Pháp.
Ít ngày sau, thành lập và tŕnh diện Chính phủ xong, Thủ Tướng Diệm bắt đầu gặp nhiều khó khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:

1.-Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không kư trên Hiệp định Genève, nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến do Ấn Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản) và Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi trên lănh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến này có cả sự hiện diện của những người đại diện của Việt Cộng.

2.-Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương hỗ trợ phương tiện để di tản cả triệu người (Dân, Quân, Cán chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt Cộng tại miền Bắc Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.

3.-Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống cho những người này. V́ họ đă phải bỏ tất cả của cải đất đai hương hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền Nam với 2 bàn tay trắng.

4.-Hợp nhất các Lực lượng Vơ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp tạo dựng lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.

5.-Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ Quân, Vua một cơi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua thua Lệ Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp c̣n vương rớt lại, tại các tỉnh và ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.

6.-Loại bỏ các tổ chức reo rắc tệ đoan xă hội (khu bài bạc, các ổ chứa gái măi dâm công khai hoạt động có nộp thuế), do các tay Chính trị hoạt đầu, Doanh gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo trợ khích lệ của Thực dân Pháp đă tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.

7.-Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để làm kim chỉ Nam hướng dẫn quần chúng hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các hoạt động của cán bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn tại khắp mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh b́nh.

V́ thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, và PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA ra đời. Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đă từng phải tham gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đ́nh. Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm, chỉ trích tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc gia, để tiến tới việc tổ chức cuộc “Trưng cầu Dân ư truất phế Bảo Đại” vào ngày 23 tháng 10 năm 1955.

 

Sau đây là h́nh ảnh kỷ niệm anh em Hội Ái hữu Truyền Tin tham gia hoạt động xă hội tại quận Orange, Nam California, Hoa Kỳ.

Các Bồ Câu già và anh chị em gia đ́nh Hội Ái hữu Truyền Tin Nam California, tham gia cuộc “ĐI BỘ CHO QUYỀN TỴ NẠN” gây qũy giúp đồng bào Việt Nam tại các trại tỵ nạn Hồng Kông, do nhóm luật sư trẻ thuộc tổ chức LAVAS tổ chức tại Mile Square Park, thành phố Fountain Valley, quận Orange, Nam California, Liên Bang Hoa Kỳ, ngày 19-11-1994.
Hàng đầu từ trái qua phải: NGUYỄN-HUY HÙNG, ĐẶNG VĂN PHI cầm bảng ghi Hội Ái hữu truyền Tin, và BÙI TRỌNG HUỲNH.

 

                                                                     

http://www.geocities.com/ttqlvnch/pdntt42.jpg

 

 

 


Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN