[Bài Viết - Article]
                                                                               

 

 

HỒI KƯ

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN

 

 

NGUYỄN-HUY HÙNG

Cựu Chỉ huy phó Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.


***

 DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 5.

 ÔNG NGÔ Đ̀NH DIỆM VỚI NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG KẾ HOẠCH CẢI TIẾN XĂ HỘI TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 21-7-1954.

 

Top of Form

Trước khi Hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 được kư kết, Quốc trưởng Bảo Đại đă rời Đà Lạt (Việt Nam) sang Pháp cư ngụ cùng vợ và các con tại biệt thự riêng ở vùng Cannes miền Nam nước Pháp, gọi là để tiện giao tiếp vận động Thế giới Tự do Tư bản yểm trợ cho Việt Nam tái thiết sau chiến tranh. Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm được ủy thác toàn quyền giải quyết mọi vấn đề nội trị, và đương đầu với t́nh h́nh chính trị mới của Quốc gia đối với Pháp và Hoa Kỳ.

Với thành tâm thiện trí, kiên cường nhẫn nại, và tinh thần yêu nước quyết xả thân v́ Quốc gia Dân tộc Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă can đảm giải quyết lần hồi tất cả mọi khó khăn, để tạo cho miền Nam Việt Nam hậu chiến tranh có được một bộ mặt mới, một vị trí quan trọng trong Thế giới đang khởi đầu một cuộc tranh chấp mới: “Chiến tranh Lạnh” giữa hai Thế lực chính trị quốc tế, Tư Bản do Hoa Kỳ đứng đầu và Cộng sản do Liên Xô Nga lănh đạo.

Việc cải tổ hệ thống Hành chánh từ Trung ương xuống Địa phương, và thay đổi nhân sự không gặp nhiều khó khăn. Nhưng, việc bài trừ các tổ chức reo rắc tệ đoan xă hội, các con buôn bất lương thao túng nền kinh tế quốc gia, và đặc biệt việc giải tán các Lực lượng vơ trang Giáo phái để sát nhập vào Quân đội Quốc gia, đă gặp nhiều rối rắm. Phải mất cả năm trời thương thuyết ôn hoà vẫn không xong. Sau cùng phải xử dụng biện pháp bạo lực, dùng Quân đội đánh dẹp mới giải quyết được êm xuôi. Các ông Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Trần văn Đôn, Đỗ Cao Trí, và một số người khác đă thi hành đắc lực các kế hoạch hành quân dẹp yên B́nh Xuyên tại Saigon Chợ Lớn, vùng Rừng sát, và Hoà Hảo tại miền Tây Nam phần.

Riêng phần Quốc trưởng Bảo Đại, chắc cũng đă tiên đoán được việc ǵ sẽ xảy ra cho tương lai tước vị Quốc trưởng của ḿnh, nên đă tinh khôn lánh sang Pháp chờ coi t́nh h́nh chính trị Quốc gia chuyển biến ra sao, và điều hành đất nước bằng điện văn và văn bản trao đổi qua hệ thống đặc sứ liên lạc viên chớ không ở trong nước để đích thân giải quyết tức thời tại chỗ.

Sau thời gian 300 ngày tiếp theo việc kư kết Hiệp định đ́nh chiến tại Genève lúc 0100 giờ ngày 21-7-1954, việc thi hành Hiệp định được cả 2 bên Pháp và Việt Minh hoàn tất xuông sẻ. Hơn 1 triệu người (Quân, Dân, Chính) đang cư trú tại Bắc Việt không muốn sống dưới quyền cai trị của Cộng sản, được di cư vào miền Nam. Và khoảng hơn vài chục ngàn quân Việt Cộng đang hoạt động tại miền Nam phải tập trung di chuyển tập kết ra Bắc. Thủ tướng Diệm mới chính thức khởi sự yêu cầu Pháp chuyển giao các quyền hành về quân sự, từ trước tới nay vẫn do Pháp nắm giữ trên toàn cơi miền Nam Việt Nam. Nhưng, Pháp tŕ hoăn bằng cách chỉ chuyển giao lần lần theo kế hoạch riêng của họ, với âm mưu mua thời gian để có cơ hội xúi giục tạo những chống đối gây lủng củng nội bộ Việt Nam, nhằm mục đích loại ông Diệm ra khỏi chức vị Thủ tướng.

Nhưng ông Diệm nhờ có hậu thuẫn mạnh mẽ của Hoa Kỳ, và sự yểm trợ đắc lực của “Đảng Cần lao Nhân vị” và một số Chính khách Nhân sĩ miền Trung tạo dựng được “Phong trào Cách mạng Quốc gia”, thâm nhập vào Quân đội, vào các Cơ quan Hành chánh, vào quảng đại quần chúng để hậu thuẫn, nên không những chức vị Thủ tướng không bị lung lay mà c̣n được củng cố mạnh mẽ hơn bao giờ hết. 

Ngoài viện trợ của Hoa Kỳ, hậu thuẫn của Đảng Cần lao và Phong trào Cách Mạng Quốc gia, Thủ tướng Diệm c̣n cần phải nắm được toàn quyền chỉ huy Quân đội đang do Quốc trưởng nắm giữ, th́ mới có đầy đủ sức mạnh, thực hiện ước vọng to lớn là vận động toàn dân truất phế Quốc trưởng Bảo Đại, để xây dựng một nước Việt Nam mới theo một Chính thể Dân chủ mô thức Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, dưới sự lèo lái của chính ḿnh với chức vị Tổng Thống, vào ngày 23 tháng 10 năm 1956.

Do đó, Thủ tướng Diệm bắt đầu bằng quyết định loại Trung tướng Nguyễn văn Hinh (người của Quốc trưởng Bảo Đại và Pháp đặt để) đang làm Tổng Tham mưu trưởng QĐQGVN, và thay đổi một số cấp Chỉ huy Đại đơn vị tác chiến, Quân khu, Tiểu khu, và Chỉ huy trưởng các đơn vị chuyên môn tại Saigon bằng những người được “Đảng Cần lao Nhân vị” tin tưởng tiến cử. Việc làm này đă gây nhiều bất măn trong Quân đội, và là tiền đề cho hậu quả làm băng hoại kỷ cương quân đội bằng chính trị, và làm suy giảm tinh thần phục vụ của nhiều quân nhân có tâm huyết t́nh nguyện gia nhập Quân đội từ bấy lâu nay, để bảo vệ Quốc gia Dân tộc trước nạn xâm lăng của Cộng sản. Binh chủng Truyền Tin là một thành phần của Quân đội, nên cũng không thoát khỏi thảm trạng này trong một thời gian dài.

Trong lúc đó, tại Hoa Kỳ, từ ngày 27 đến 29-9-1954, Ngoại trưởng Mỹ và Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại họp bàn, thảo luận về viện trợ và huấn luyện quân sự cho các Quốc gia Đông Dương, đă đi đến kết luận là kể từ đầu năm 1955, Hoa Kỳ sẽ viện trợ thẳng cho các Quốc gia Đông Dương, không qua trung gian của Pháp như trước nữa. Phái bộ M.A.A.G. (Military Assistance Advisory Group) ra đời tại Đông Dương từ ngày 23-12-1950, được đổi tên thành Phái bộ T.R.I.M. (Training Relation Instructiom Mission) kể từ 20-1-1955.

Ngày 9-10-1954, Thủ tướng Diệm kư Nghị định cử Trung tướng Nguyễn văn Hinh đương kim Tổng Tham mưu trưởng QĐQGVN sang Pháp công cán trong thời gian 6 tháng. Tướng Hinh biết là ḿnh bị hất cẳng, nên đă viện cớ là chức vụ của ông ấy do Quốc trưởng bổ nhiệm, hiện nay t́nh h́nh đất nước đang nghiêm trọng, ông ta không thể vắng mặt để Quân đội không ai chỉ huy, nên không thể thi hành lệnh của Thủ tướng. Rồi dựa vào hậu thuẫn của Pháp, Tướng Hinh thường xuyên liên lạc thẳng với Quốc trưởng Bảo Đại xin can thiệp (lúc đó Tôi là Thiếu tá Chánh Sở Mật Mă của Bộ TTM, được Tướng Hinh chỉ thị phải đích thân đặc trách việc Mă Hoá và Giải Mă những điện tín “Tối mật” trao đổi giữa Tướng Tổng tham mưu trưởng Nguyễn văn Hinh và Quốc trưởng Bảo Đại). Đồng thời, Tướng Hinh giao cho Trung Tá Trần Đ́nh Lan (Trưởng Pḥng 6, Cơ quan phản gián điệp của Bộ Tổng Tham Mưu) tập họp một số Sĩ quan Cao cấp thân tín tại Bộ TTM và các Đơn vị Trung ương, lập một nhóm chống đối, dùng đài phát thanh Quân đội phản kích lại Thủ tướng Diệm. Nhưng Tướng Hinh đă không dám mạo hiểm làm đảo chánh lật đổ Thủ tướng Diệm, v́ không được sự ủng hộ của đại diện Hoa Kỳ đang có mặt tại Saigon. Đồng thời Tướng Hinh nhận được lời cảnh cáo là, nếu cứ làm liều th́ Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ không nhận được viện trợ trang bị vũ khí đạn dược như Hoa Kỳ đă hứa.

T́nh h́nh căng thẳng giữa Tướng Hinh và Thủ tướng Diệm kéo dài tới ngày 29-11-1954, th́ có sự dàn xếp ổn thoả từ bên Pháp. Quốc trưởng Bảo Đại ra Sắc lệnh ngưng chức Tổng Tham Mưu Trưởng của Tướng Hinh, triệu ông này qua Pháp công cán, đồng thời chỉ định Thiếu Tướng Nguyễn văn Vỹ (đă từng làm Chánh Vơ pḥng của Quốc trưởng tại Đà Lạt) đang làm Tổng Thanh tra Quân đội lên đảm trách chức Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Tướng Hinh.

Tướng Vỹ nhận được lệnh đến yết kiến Thủ tướng Diệm tại Dinh Độc Lập để nhận chức. Nhưng khi tới nơi, th́ gặp lúc Thủ tướng Diệm đang tiếp mấy Tướng thuộc Lực lượng Giáo phái Cao Đài ủng hộ ông Diệm, cũng đang có mặt tại đó. Mấy Tướng này làm áp lực, nên Tướng Vỹ đă phải rút lui, ra về cùng với người đă hộ tống ông vào Dinh Độc Lập là Trung Tá Trần Đ́nh Lan (Trưởng Pḥng 6-phản gián điệp của Bộ TTM), rồi đáp máy bay rời Việt Nam qua Pháp.

Nhờ thế, Thủ tướng Diệm đă cấp tốc chỉ định Thiếu tướng Lê văn Tỵ (đang làm Tư lệnh Quân khu I tại Saigon) làm Tổng Tham Mưu Trưởng, đem Đại Tá Trần văn Minh (đang làm Chỉ huy trưởng Phân khu Tiền Giang tại Mỹ Tho) về làm Tư lệnh Quân khu I thay thế Tướng Tỵ. Về sau, ông Trần văn Minh được lần lượt vinh thăng Thiếu Tướng, rồi Trung Tướng đi làm Đại Sứ Việt Nam Cộng hoà tại các nước bên Phi Châu.

Cũng trong khoảng thời gian này, tại miền Nam Trung Việt, Thiếu Tá Thái Quang Hoàng Tiểu khu trưởng Ninh Thuận (Phan Rang), đă đem khoảng 700 quân (phần lớn thuộc Tiểu đoàn 83 VN của ông ấy, số c̣n lại thuộc các Tiểu khu Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, và khoảng 50 Bảo Chính Đoàn, cùng một số Công An của ông Nguyễn văn Hay Trưởng Ty Công An Phan Rang) rút vào vùng rừng núi cách thành phố Phan Rang khoảng 10 cây số để lập chiến khu chống Tướng Hinh, ủng hộ Thủ tướng Diệm. Về sau, ông Thái Quang Hoàng được Thủ tướng Diệm tin dùng, cất nhắc thăng cấp nhanh chóng lên đến Trung Tướng.

Khi Thiếu tá Hoàng tại Phan Rang rút quân ra lập chiến khu chống Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, Đại Tá Trương văn Xương Tư lệnh Quân khu II ở Huế, ra lệnh cho Chỉ huy trưởng Phân khu Duyên hải Nha Trang phải mở cuộc hành quân để chiêu hồi Thiếu tá Hoàng. Phân khu trưởng Nha Trang đă tổ chức điều hành cuộc hành quân, không những chẳng đem lại kết quả nào, mà đa số nhân viên thuộc Bộ chỉ huy hành quân c̣n bỏ hàng ngũ chạy theo Thiếu tá Hoàng (trong đó có Thiếu tá Nguyễn Khương Sĩ quan Truyền Tin của Bộ Chỉ huy Phân khu Duyên Hải Nha Trang, và một số quân nhân thuộc Đại đội 7 Truyền Tin). Về sau, Thiếu tá Nguyễn Khương được đem về Saigon làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ TTM, và được thăng lên đến cấp Đại tá. Sau vụ Nhẩy Dù đảo chánh Tổng Thống Diệm hụt vào ngày 11-11-1960, Đại Tá Khương có dính líu nên bị cất chức Chỉ huy trưởng Viễn Thông. Không rơ nhờ đâu, lại được đưa đi làm Tùy viên Quận Lực tại Toà Đại Sứ Việt Nam Cộng hoà bên Hoa Kỳ.

Lúc đó Thiếu tá Đỗ Mậu đang làm Chỉ huy phó Phân khu Duyên hải Nha Trang, tỏ ư chống đối lệnh của Quân Khu và bí mật lập một Phong trào ủng hộ Thủ tướng Diệm, nên về sau được Thủ tướng Diệm đem về làm Giám đốc Nha An ninh Quân đội tại Saigon, và được thăng lên đến cấp Đại tá. Ngày 1-11-1963, Quân đội lật đổ Tổng thống Diệm thành công, Đại tá Đỗ Mậu là người đă tích cực tham gia và được coi như có công lớn trong Hội đồng đảo chánh, nên được Tướng Dương văn Minh người cầm đầu cuộc đảo chánh thăng cho lên cấp Thiếu Tướng.

Đầu tháng 12-1954, một sự kiện khác lại xẩy ra tại miền Nam Trung Việt (cũng thuộc lănh thổ Quân khu II), Trung tá Nguyễn Quang Hoành Tiểu khu trưởng B́nh Thuận kiêm Tỉnh trưởng Phan Thiết, đă dùng quân thuộc quyền, ngăn cản không cho một đoàn xe bọc thép của Pháp, di chuyển ngang qua lănh thổ Tiểu khu về Saigon theo lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu QĐQGVN. Khi Bộ TTM biết tin này, gửi điện văn hỏi th́ Trung tá Hoành trả lời là: “Thi hành lệnh của Chính phủ, không được để bất cứ đoàn quân nào di chuyển qua lănh thổ do ông phụ trách về Saigon, nếu không phải là lệnh của chính Thủ Tướng Diệm”.

Thúc thủ, Bộ TTM chỉ c̣n cách tŕnh lên Bộ trưởng Quốc Pḥng xử lư. Nhưng vô ích, v́ chẳng bao giờ được hồi âm, v́ Bộ Trưởng Quốc Pḥng là người thân tín của Thủ Tướng Diệm đang nắm giữ. Kể từ đó Bộ Tư  lệnh Pháp và Bộ TTM/QĐQGVN cảm nhận được rằng, Thủ Tướng Diệm đă thực sự nắm được một số cấp chỉ huy trong Quân đội, đặc biệt tại miền Trung Việt Nam.

Sau vụ này, Trung tá Nguyễn Quang Hoành được Thủ tướng Diệm thăng cho cấp Đại Tá, đồng thời bổ nhiệm lên làm Tư lệnh Quân khu II, thay thế Đại tá Trương văn Xương bị ngưng chức và giải ngũ. (Ông Xương gốc thuộc Lực lượng Giáo phái Cao Đài, được Pháp gắn cấp bậc Đại úy và giao cho làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 VN tại Bặc Liêu, Nam Việt, một trong 3 Tiểu đoàn VN đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Quốc gia thành lập vào ngày 1-10-1949. Tất cả quân sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 này cũng gốc Lực lượng Giáo phái Cao Đài như ông Xương.)

Vào cuối năm 1954, Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ TTM/QĐQGVN (Thiếu tá Richard) bắt chước theo sự cải tổ các cơ cấu chỉ huy TT của Bộ Tư Lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương, đề nghị sát nhập Sở Mật Mă Bộ TTM do Tôi phụ trách vào Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ TTM, với danh hiệu mới là PH̉NG MẬT MĂ TRUNG ƯƠNG. Nhưng Pḥng MMTU chỉ trực thuộc Chỉ huy trưởng Viễn thông (lúc đó là Thiếu tá Richard, sau này được thay thế bởi Trung tá Platwet Roundil) về phương diện quản trị Quân số và Hành chánh mà thôi, c̣n về phương diện Tổ chức, Kỹ thuật, và Chỉ huy điều hành các Hệ thống Mật Mă, Trưởng Pḥng MMTU vẫn trực thuộc thẳng Tổng Tham Mưu Trưởng. Do đó hai vụ việc kể trên tại miền Trung có ảnh hưởng quan trọng đến các Hệ thống Mật Mă trong toàn Quân đội, nên Đại tá Trần văn Đôn Tham mưu trưởng Bộ TTM, đă chỉ thị Tôi phải đích thân ra Nha Trang thanh tra để có những biện pháp tức thời tại chỗ. Đồng thời, ông cũng chỉ thị Tôi thâu lượm các tin tức chính xác về tinh h́nh và tinh thần quân sĩ trong các đơn vị tại địa phương, về báo cáo lên Trung Tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tham Mưu Trưởng.

Khoảng tháng 3-1955, khi Pháp khởi sự chuyển giao các Chức vụ Chỉ huy các Cơ quan đầu năo Trung ương và Địa phương cho Sĩ quan Việt Nam đảm nhận, th́ tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ TTM, Trung tá Platwet Roundil đang làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông. Ông Platwet Roundil nguyên là Huấn luyện viên ngành Hữu tuyến tại Trường Truyền Tin Montargis hồi năm 1950 (năm mà anh Khương và Tôi cùng theo học khoá Sĩ quan Truyền Tin, cùng với các Thiếu úy Bộ binh Pháp mới tốt nghiệp Trường Vơ bị Lục quân Saint Cyr “Khoá Général Frère” từ Coetquidan chuyển đến). Do đó đối với Tôi, ông Platwet Roundil có cảm t́nh nhiều v́ là Thầy Tṛ cũ, nên trong việc điều hành Ngành Mật Mă bị sát nhập vào Bảng Cấp số các đơn vị Truyền Tin, Tôi không phải vất vả đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho nhân viên Mật Mă, như hồi c̣n Thiếu tá Richard làm Chỉ huy trưởng Viễn thông trước ông Platwet Roundil.

Trước khi Sở Mật Mă Bộ TTM bị sát nhập vào Bộ Chỉ huy Viễn thông, Tôi đă được Bộ Quốc Pḥng yêu cầu giúp Nha Đổng lư, thiết lập một Hệ thống Mật Mă đặc biệt để liên lạc giữa Bộ Quốc Pḥng và các Tùy viên Quân lực tại các Toà Đại sứ Việt Nam trên toàn Thế giới, và hướng dẫn cho các Tùy viên Quân lực biết cách xử dụng. Nhân đó, Tôi đă tŕnh Tổng Tham Mưu Trưởng một Dự án thành lập Sở Mật Mă và Mă Thám (MM và MT) trực thuộc Bộ Quốc Pḥng. Theo dự án này, tương lai sẽ có các Pḥng Mật Mă riêng biệt cho: -Tùy viên Quân lực, -Lục quân, -Không quân, -Hải quân, và các Pḥng này sẽ nằm thẳng dưới quyền Chỉ huy trực tiếp về kỹ thuật, và tuyển dụng huấn luyện chuyên viên, của Sở MM và MT Bộ Quốc Pḥng. Trước khi Dự án chuyển tŕnh lên Bộ Quốc Pḥng, Trung tá Platwet Roundil Chỉ huy trưởng Viễn thông Bộ TTM đă được Tham mưu trưởng Bộ TTM hỏi ư kiến, và ông ta đă nhiệt liệt hỗ trợ Dự án của Tôi. Nhận được Dự án, ông Đổng lư Bộ Quốc Pḥng đă mời Tôi lên để tŕnh bầy và thảo luận chi tiết về lập Bảng Cấp Số cho Sở MM và MT đề nghị này. Sau này, ngay khi anh Khương được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Viễn thông (thay Trung tá Giả định (grade fictif) Lương Thế Soái) cũng đă được Bộ Quốc Pḥng yêu cầu cùng với Tôi lên tŕnh bầy thêm chi tiết về Dự án. Trước mặt ông Đổng lư Bộ Quốc Pḥng, anh Khương cũng đă nhiệt liệt tán thành Dự án do Tôi đệ tŕnh từ trước. Rất tiếc không hiểu v́ sao, về sau Dự án bị lăng quên trong im lặng.

Để chuẩn bị bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Viễn thông Bộ TTM cho sĩ quan Việt Nam, trước nhất ông Platwet Roundil t́m lựa một người giữ chức Tham mưu trưởng cho Bộ Chỉ huy.

Làm như mỗi người đều có những chu kỳ vận hạn cơ may riêng run rủi sao đó, nên đúng thời gian ấy, anh Nguyễn Hữu Chi vừa măn khoá Sĩ quan Truyền Tin ở Montargis bên Pháp về tŕnh diện, Tôi có dịp tiếp xúc trao đổi chuyện tṛ, thấy anh ấy người cao ráo đẹp trai, dáng bộ tinh thần hăng hái tốt bạn. Nhờ thế, trong một dịp tiếp xúc bàn thảo công việc với Trung tá Platwet Roundil tại văn pḥng, ông ấy hỏi ư kiến Tôi về việc muốn chỉ định anh Chi làm Tham mưu trưởng, Tôi nhiệt liệt tán thành ngay.

Về chức vụ Chỉ huy trưởng Viễn Thông, Trung tá Platwet Roundil có đưa ư kiến muốn giao cho Tôi, nhưng Tôi đă từ chối không nhận, và đề nghị giao cho Thiếu tá Nhiệm chức (Commandant fonctionnel) Lương Thế Soái đang làm việc tại Bộ Chỉ huy Viễn thông bấy lâu nay. Hai lư do khiến Tôi từ chối không nhận là:

1.- Vụ các đơn vị tại miền Nam Quân khu II, họp nhau ly khai chống Tướng Hinh Tổng Tham Mưu trưởng, Tôi đă được cử ra Thanh tra về Mật Mă và t́m hiểu t́nh h́nh tại chỗ, đă ghi nhận được là Phong trào ủng hộ Thủ tướng Diệm do Thiếu tá Đỗ Mậu cầm đầu, có dự tính đề bạt Thiếu tá Nguyễn Khương (Sĩ quan Truyền Tin Phân khu Duyên Hải Nha Trang, trong cuộc hành quân chiêu hồi Thiếu tá Thái Quang Hoàng, đă bỏ hàng ngũ đi theo Thiếu tá Hoàng vào chiến khu) về làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông. Ngoài ra, tin tức của Trưởng Ban Mật Mă Phân khu Duyên Hải Nha Trang (Trung úy Trương văn Tàng) c̣n cho biết thêm là, anh Khương sẽ đem theo một số Sĩ quan và chuyên viên Truyền Tin thuộc Đại đội 7 Truyền Tin về làm việc với ḿnh tại Saigon.

2.- Tôi đă tŕnh Dự án thành lập Sở Mật Mă và Mă Thám tại Bộ Quốc Pḥng, đang có nhiều triển vọng thuận lợi thành tựu, nên muốn tiếp tục phát triển cái Ngành Chuyên Môn mà ḿnh đă có công xây dựng cho Quân đội bấy lâu nay.

Do đó, Tôi không nhận lời, nên Trung tá Platwet Roundil đă đề nghị cho Thiếu tá Lương Thế Soái được mang cấp bậc Trung tá Giả định (Lieutenant Colonel fictif, mang lon nhưng không được ăn lương và thâm niên của cấp bậc) và nhận lănh chức Chỉ huy trưởng Viễn Thông Bộ TTM đầu tiên cho Ngành Truyền Tin của QĐQGVN.

Đúng như ước đoán của Tôi, sau khi vụ Trung Tướng Nguyễn văn Hinh được giải quyết xong, Tổng Tham Mưu Trưởng mới (Tướng Lê văn Tỵ) được an vị, Thiếu tá Nguyễn Khương được đưa về Bộ TTM, và mang theo về Saigon một số Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ Truyền Tin bấy lâu nay ủng hộ anh Khương tại Nha Trang.

Trong thời gian chưa có lệnh chính thức bổ nhiệm, anh Khương ghé tới nhà thăm xă giao Vợ Chồng tôi, với tư cách bạn cũ tốt nghiệp cùng Khoá Sĩ quan, lại được qua Pháp học Truyền Tin cùng một niên khoá. Trong câu truyện t́nh cảm bạn bè, anh Khương ngỏ lời nhờ Tôi hướng dẫn đến thăm Cơ sở Pḥng 6 (6ème Section), do Trung tá Trần Đ́nh Lan chỉ huy, ở gần chợ Bà Chiểu (Gia Định). Tôi có hỏi tại sao? Th́ anh ấy trả lời là “Ở Trên” muốn anh ấy làm Trưởng Pḥng 6, nên muốn có cơ hội đến thăm thú trước. Tôi hỏi thêm, là Sĩ quan Truyền Tin tại sao không làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông, mà lại đi nhận làm công tác “phản gián điệp”? Anh ấy cũng trả lời là “Ở Trên” chỉ thị nên phải thi hành. Hồi đó từ lóng “Ở Trên” thường được mấy anh theo nhóm ủng hộ Thủ tướng Diệm dùng để ám chỉ Thủ tướng Diệm, sau này lại đổi là “Cụ dạy, Cụ chỉ thị, Cụ muốn…” Tôi đă giúp anh ấy thực hiện được ư muốn, bằng cách dẫn anh ấy đi theo Tôi trong đoàn thanh tra cơ sở Mật Mă tại Pḥng 6.

Nhưng trong thâm tâm, Tôi nghi rằng anh ấy muốn nhờ Tôi giúp sức, để làm lạc hướng “đối thủ” chính của anh ấy tại Bộ Chỉ huy Viễn Thông yên tâm không đề pḥng, sẽ bị bất ngờ không xoay sở kịp để phá rối làm tŕ hoăn việc ban hành lệnh bổ nhiệm anh ấy về làm Chỉ huy trưởng Viễn thông mà thôi.

Sự nghi ngờ của Tôi quả không sai. Mấy ngày sau, khi lệnh bổ nhiệm Thiếu tá Nguyễn Khương làm Chỉ huy trưởng Viễn thông Bộ TTM được chính thức ban hành, th́ Trung tá (Giả định, fictif) Lương Thế Soái bị bắt giam điều tra và cho giải ngũ. Chắc hẳn đây là miếng đ̣n phủ đầu, anh Khương muốn dùng để dằn mặt những ai, trong tương lai có ư không chịu tuân phục uy quyền của anh ấy trong chức vụ Chỉ huy trưởng Binh chủng Truyền Tin QĐQGVN.

Sau khi chính thức ngồi vào ghế Chỉ huy trưởng Viễn thông Bộ TTM, anh Khương lập tức đề nghị bổ nhiệm Trung úy Hà Quang Giác từ Đại đội 7 TT ở Nha Trang về làm Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy, thay anh Nguyễn Hữu Chi mới được đặt ngồi vào ghế này chưa bao lâu. Trong khi chờ đợi đi nhận lănh nhiệm vụ khác, anh Chi được lưu dụng tại Bộ Chỉ huy để giúp cho anh Giác làm quen với chức vụ quan trọng mới của ḿnh. Một số Trưởng Pḥng trong Bộ Chỉ huy cũng được thay thế, bằng những Sĩ quan do anh Khương và anh Giác đem về theo.

Sau khi được mang cấp bậc Trung tá nhiệm chức ( grade fonctionnel) và ngồi vào ghế Chỉ huy trưởng Viễn thông, anh Khương mới chính thức mời Tôi diện kiến tại văn pḥng Chỉ huy trưởng, để hỏi thăm về t́nh h́nh công việc và nhân sự Mật Mă tại Trung ương và các Địa phương. Trong dịp này, anh Khương cho biết là sẽ dẫn đoàn tham mưu của Bộ Chỉ huy thực hiện một ṿng Thăm viếng Chỉ huy các Cơ quan và Đơn vị Truyền Tin trên toàn Quốc, và yêu cầu Tôi cùng tháp tùng. Dĩ nhiên Tôi không có lư do ǵ để từ chối. V́ đây là dịp tốt duy nhất, để Tôi giới thiệu các Sĩ quan Mật Mă tại các Đơn vị Truyền Tin với Tân Chỉ huy trưởng Viễn Thông, và bản thân Tôi có dịp gặp gỡ làm quen với các Đơn vị trưởng Truyền Tin trong toàn Quân đội, một sự tiếp xúc xă giao vô cùng cần yếu cho những quan hệ giao dịch tham mưu trong tương lai.

Qua cái gương của Trung tá Giả định Lương Thế Soái, nên trong lần gặp gỡ chính thức công vụ đầu tiên này, Tôi đă thực ḷng nói với anh Khương là Tôi có ư định nộp đơn xin ra khỏi Ngành Truyền Tin, để tránh cho anh Khương những trường hợp khó xử sau này có thể làm xứt mẻ t́nh bạn đồng Khoá, v́ những hành động không đẹp có thể xẩy ra, do các cộng sự viên đàn em của anh ấy trong công vụ hàng ngày đối xử với Tôi.

Anh Khương đă nghiêm trang nói rằng, là Chỉ huy Trưởng anh ấy sẽ không bao giờ dung túng đàn em làm bậy, do đó chắc chắn sẽ không thể nào có những trường hợp như vậy xẩy ra. Anh Khương c̣n khẩn khoản yêu cầu Tôi, v́ t́nh anh em đồng Khoá, lại từng được xuất ngoại du học cùng một Ngành Chuyên môn với nhau, cùng có những ưu tư của tuổi trẻ muốn xây dựng trẻ trung hoá Quân đội…, nên hăy ở lại trong Binh chủng để anh em tiếp tay nhau củng cố vun đắp cho Ngành Truyền Tin mau vững mạnh. Anh ấy cũng nói là sẽ tŕnh qua hệ thống Quân ủy riêng của Phong trào, để xin tŕnh lên “Cụ” về kế hoạch lập Sở Mật Mă và Mă Thám tại Bộ Quốc Pḥng do Tôi đệ tŕnh, sớm được duyệt xét thành lập. Anh ấy có dẫn Tôi vào thăm xă giao Thiếu tá Huỳnh văn Cao, đang làm việc tại Vơ pḥng Phủ Thủ tướng. Ngoài ra, Anh ấy c̣n nhắc lại những kỷ niệm cũ, anh em đồng khoá đă chia sẻ suốt thời gian sống trong Trường Vơ bị bên bờ sông Hương, và những buổi chiều Thu Đông xa xứ ngồi bên nhau ngắm lá vàng rơi bàn luận về thời cuộc đất nước tại Montargis bên Pháp… để muốn gián tiếp chứng minh rằng, anh ấy không thuộc loại người “giầu đổi vợ, sang đổi bạn”. Tôi yêu cầu cho thời gian 2 ngày để suy nghĩ lại, trước khi trả lời dứt khoát.

Tôi đă về thảo luận với anh em trong Pḥng MMTU. Ai cũng muốn Tôi ở lại để tiếp tục bảo vệ và phát triển Ngành Mật Mă và Mă Thám, mà chúng tôi đă cùng nghiên cứu tŕnh lên Bộ Quốc Pḥng, đang có nhiều triển vọng được thành tựu.

Chiều thứ bẩy không làm việc, nghỉ ở nhà, Tôi mở Album gia đ́nh xem các ảnh kỷ niệm về thời gian ở Trường Vơ bị. Những bức ảnh đen trắng ghi các sinh hoạt trong lớp học, trong nhà ăn, trong những khu rừng làng xóm nơi thao luyện tác chiến, những pha tranh đấu thể thao tại sân trường, bơi lội tắm giặt trong ḍng sông Hương… có anh Khương, có Tôi cùng hơn sáu chục bạn khác cùng Khoá. Ngoài những tấm h́nh này, c̣n có mấy tấm chỉ có anh Khương và Tôi chụp chung, trên chiếc tầu biển Cyrénia của Hy Lạp chở chúng tôi đi từ Saigon qua Marseille Pháp, trên bến cảng Pyrée và bên các lâu đài cổ xây bằng đá khối của Thủ đô Athène nước Hy Lạp (nhờ tầu Cyrénia ghé cho thủy thủ đoàn thăm gia đ́nh 48 tiếng, nên chúng tôi có may mắn được thăm viếng, ngoài chương tŕnh dự trù cho cuộc hải hành chính thức), tại sân trường Truyền Tin Montargis đứng bên các chồng bia đá hoa cương vuông ghi tên và năm của từng khoá Sĩ quan Saint Cyr tốt nghiệp đă theo học.

Ngoài những tấm ảnh, c̣n có một trang giấy nhỏ ghi bài thơ, có chữ kư của anh Khương và chữ kư của Tôi. Đây là những vần thơ cảm tác liên ngâm, và ghi lại lúc chúng tôi cùng ngồi bên nhau trong pḥng ngủ, nh́n qua khung cửa sổ kính rộng, ngắm cảnh thác lá vàng lià cành, theo từng đợt gió, trút xuống phủ đầy mặt đất, vào một buổi chiều Thu sang Đông cuối năm 1950, tại khu Cư xá Sĩ quan độc thân của Trường Truyền Tin, xây dựng bên rừng cây phiá sau nhà Ga xe hoả Montargis.

Bây giờ những vật lưu niệm quư giá đó không c̣n trong tay Tôi nữa, v́ 30-4-1975 Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, gia đ́nh Tôi cư ngụ trong Cư xá Sĩ quan Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, nên tất cả gia sản, giấy tờ, h́nh ảnh đều bị tước đoạt hết chẳng c̣n ǵ. Nhưng trí nhớ của Tôi th́ không ai có thể tước đoạt được, ngoại trừ t́nh trạng lẩm cẩm của tuổi già bệnh hoạn. Lúc này Tôi vẫn c̣n nhớ rơ mấy vầy thơ đó, xin ghi ra đây để các Bạn cùng chia sẻ.

Tựa bài thơ là “Chiều viễn xứ”. Tôi khởi xướng 4 câu đầu, anh Khương làm tiếp 4 câu sau :
Thác lá vàng rơi một bóng ngồi,
Nắng Thu tàn rụng vạn tia trôi.
Ngổn ngang trăm nỗi sầu non nước,
Canh cánh ngàn thương nhớ bạn đời…
*****
Bạn ơi, có nuối tiếc chớ nhớ người cô phụ.
Dặm đường dài đang c̣n lắm chông gai.
Hăng hái lên Ta xây dựng tương lai.
Dệt mộng lớn thanh niên huy hoàng rực rỡ…
(Xin lưu ư là hồi đó Tôi mới cưới vợ chưa đầy một năm th́ phải đi du học, c̣n anh Khương đă lập gia đ́nh từ trước thời gian theo học Khoá Sĩ quan tại Trường Vơ bị tại Huế năm 1948-1949.)

Sau bữa cơm tối, Tôi thủ thỉ nói chuyện với Vợ tôi về những thay đổi trong Sở làm, và hỏi ư kiến xem nên ở hay nên ra khỏi Ngành Truyền Tin. V́ khi mới vào Saigon, anh Khương có đến nhà thăm chúng tôi, và Tôi quan niệm rằng các Bà thường được Trời phú cho cảm tính bén nhậy về việc nhận xét người đối diện chính xác hơn đàn ông. Vợ tôi đă góp ư rằng: “Cái anh bạn người Trung mới tới thăm bữa trước, thấy qua cung cách cử chỉ và lời nói, th́ không phải là người không biết trọng t́nh nghiă bạn bè đâu. Có thể tin cậy cộng tác được.”

Do đó, sáng thứ Hai, sau buổi chào cờ sáng đầu tuần tại Bộ Tổng Tham Mưu (mọi người phải tham dự), Tôi đă vào văn pḥng Chỉ huy trưởng gặp anh Khương để trả lời bằng ḷng ở lại trong Binh Chủng cộng tác với anh ấy. Ngay dịp này, anh Khương đă đưa ư kiến, yêu cầu Tôi dùng nhân viên Pḥng Mật Mă Trung Ương giúp anh ấy thực hiện một số công việc ngoài kỹ thuật, gồm:

1.- Tiếp tay vận động lập “Phong trào Cách Mạng Quốc gia” trong các Đơn vị Truyền Tin tại trung ương.

2.- Phụ trách thực hiện giờ “Tiếng nói Truyền Tin” hàng tuần trên làn sóng Đài Phát thanh Quân đội.

3.- Thực hiện một bản Thông tin Nội bộ Truyền Tin định kỳ, gồm đủ các mục kỹ thuật, chính trị, văn hoá xă hội, để phổ biến đến các đơn vị Truyền Tin và các Binh chủng khác trong Quân đội nhằm giới thiệu về ngành Truyền Tin. Bản Thông Tin này đă được đặt cho một cái tên rất hay “SÓNG VIỆT”.

Dĩ nhiên là Tôi phải nhận, v́ hầu như mọi người tại Bộ Chỉ huy Viễn thông Bộ TTM cũng như các BCH Viễn thông Quân khu đều biết rằng, Pḥng MMTU lúc bấy giờ là một khối “đoàn kết huynh đệ chi binh thiệt t́nh” trong công vụ cũng như ngoài công vụ, và gồm một số anh em có ít nhiều khả năng về đủ mọi bộ môn cần yếu, để tiếp tay trong các dự án cách mạng to lớn của anh ấy. Việc học tập chính trị trong Quân đội, trong các Cơ quan Hành chánh, trong quảng đại quần chúng, lúc bấy giờ được thực hiện theo chỉ thị của Thủ tướng Diệm, muốn thực hiện một cách đại quy mô chương tŕnh giáo dục cho toàn dân tinh thần “chống Cộng bài Phong” để cách mạng hoá xă hội, chuẩn bị thay đổi thể chế chính trị tại miền Nam Việt Nam.

Anh Khương cũng đă giới thiệu với Tôi, 3 người cộng sự mà anh ấy đem theo từ Nha Trang về, thường xuyên tiếp xúc với Tôi để giải quyết những việc cần yếu, đặc biệt là việc thành lập “Phong trào Cách mạng Quốc gia” và làm sao cho mọi người hăng say tham gia ư kiến trong các buổi “học tập chính trị xây dựng tinh thần chống Cộng bài Phong” hơn các Binh chủng khác.

1.- Người thứ nhất được anh Khương giới thiệu với Tôi và anh em thuộc Pḥng MMTU, là Trung úy Nguyễn văn Thành (cháu gọi Trung úy Nguyễn Bỉnh Thiều đang làm việc tại Pḥng MMTU bằng Chú). Anh Thành là một người trẻ trung, hăng say nhiệt huyết, cho đến bây giờ Tôi vẫn c̣n có cảm t́nh đặc biệt. Sau này, mặc dù Tôi đă ra khỏi Binh chủng Truyền Tin, mỗi lần gặp Tôi anh Thành vẫn có thái độ qúy mến thân thiện như người vẫn c̣n trong cùng Binh chủng. Một kỷ niệm không bao giờ Tôi quên được về anh Thành là, sau 30-4-1975 anh Thành và Tôi cùng phải đi học tập cải tạo nhưng khác nơi. Măi đến năm 1983, chúng tôi mới gặp nhau tại Trại Hàm Tân Z30C, trong tỉnh Thuận Hải thuộc miền Đông Nam phần. Chúng tôi ở 2 Đội khác nhau, nhưng ở chung một dẫy nhà giam nên gặp nhau hàng ngày, và anh Thành lại nấu cơm ăn chung với Chú của anh ấy là Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, người cùng một Đội cải tạo với Tôi. Anh Thành được tha ra khỏi Trại giam trước chúng tôi. Qua đầu năm 1984, anh Quỳnh và cả Đội Tù Đại Tá chúng tôi bị chuyển sang Trại Thủ Đức Z30D. Vợ anh Quỳnh đến trại thăm nuôi anh ấy, có chuyển cho Tôi 200 đồng bạc Cụ Hồ, do anh Thành nhờ đem vào tiếp tế cho Tôi “bồi dưỡng”, v́ trong thời gian đó Ban Chỉ huy Trại giam làm ngơ cho Cán bộ Quản giáo mua giùm Tù các loại thực phẩm ngoài chợ như: đậu phụ, lạc (đậu phộng), trứng sống. (Từ bồi dưỡng là của Cộng sản dùng cho cả người và súc vật, có nghiă là ăn uống thêm các thực phẩm để bồi bổ sức khoẻ.)

2.- Người thứ hai, là Thiếu úy Đỗ như Luận (thân thích của Đại tá Đỗ Mậu mới được Thủ tướng Diệm đem từ Nha Trang về làm Giám đốc Nha An ninh Quân đội) chẳng xa lạ ǵ đối với Tôi. V́ hồi năm 1953 anh Luận làm Sĩ quan Truyền Tin kiêm Sĩ quan Mật Mă tại Khu Truồi tỉnh Thừa Thiên (khoảng giữa đường từ Huế đi Đèo Hải Vân), Tôi đă có dịp đến thanh tra để hướng dẫn về kỹ thuật, về các quy luật an ninh nhân viên, bảo vệ tài liệu và cơ sở Mật Mă.

Cái kỳ gặp gỡ anh Luận lần đầu tiên ấy, đă lưu lại trong Tôi một kỷ niệm khó quên. Anh Luận hướng dẫn chúng tôi đi thăm một đơn vị đóng sát bờ biển vùng Lăng Cô, nhân đó ghé thăm căn Nhà Mát dành riêng cho quư vị cao cấp trong Chính quyền Saigon mỗi lần ra công tác nghỉ ngơi đổi không khí. Thường Quư vị ấy ra bằng trực thăng, nhưng chúng tôi th́ đi bằng xe jeep quân đội. Đường đi thật là vất vả, phải băng qua vùng cát trắng nóng như sa mạc. Xe phải gài cần hiệu chỉnh dùng cả 4 bánh, và tốc độ chạy không quá 4 dặm (miles) 1 giờ. Không khí bốn bề quanh xe, bị mặt trời đốt cháy hiện ra long lanh như một lồng kính bao quanh xe chúng tôi. Máy xe nóng và bốc khói. Chúng tôi phải cố gắng chịu đựng lết măi mới tới một khu nhà có người ở (tu viện nhỏ của các Nữ Tu Công giáo) giữa vùng sa mạc nhỏ. Qua cung cách cư xử, cho thấy h́nh như các D́ phước ở đây quen thân với anh Luận, đă vồn vă tiếp đón và cho chúng tôi uống những ly “hột ké” ngâm nước mưa. Cổ họng đang khô rang, được nuốt một hơi những “hột ké” trắng đục nở tṛn xoe trong nước như những hột thạch, với cái vị chua chua nhơn nhớt man mát, làm cho sảng khoái tinh thần hết chỗ nói. Thật là tuyệt diệu, lúc đó tưởng chừng trên trái đất này không có món giải khát nào ngon hơn thế.

Một sự kiện thứ hai, xẩy ra vào cuối năm 1960, đă khiến t́nh “huynh đệ chi binh” giữa anh Luận và Tôi trở nên thắm thiết hơn. Số là vào đêm 11-11-1960, nhóm các ông Nguyễn chánh Thi, Vương văn Đông mưu lật đổ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm không thành, lúc đó Tôi đang là Thiếu tá Giám đốc Trường Tin tại Liên trường Vơ khoa Thủ Đức. Đến sáng ra, Tướng Lê văn Nghiêm vu cho Tôi là tiếp tay với Tiểu đoàn Nhẩy dù đóng tại Quận lỵ Thủ Đức vào chiếm Liên trường, để ngăn cản không cho quân Liên trường do ông ấy chỉ huy đem về Saigon cứu nguy Tổng Thống Diệm. Tướng Nghiêm đă phạt Tôi 10 ngày trọng cấm, trả về Bộ Tổng Tham mưu với yêu cầu đưa ra Hội đồng kỷ luật Bộ Quốc Pḥng xét xử cùng lượt với những người trong nhóm đảo chánh đă bị bắt. Đồng thời Tướng Nghiêm cử ngay Đại úy Vơ Trịnh Trọng (Phó Giám đốc, đă từng là tay em tại miền Trung trước kia của Tướng Nghiêm) lên thay Tôi. Lễ bàn giao phải được tổ chức cấp tốc dưới sự chủ tọa của Tướng Nghiêm trong ṿng 24 giờ. Ngay sau buổi lễ bàn giao chức vụ, nhân viên của Pḥng 1 Bộ chỉ huy Liên trường đến trao Sự vụ lệnh cho Tôi phải tŕnh diện Bộ Chỉ huy Viễn Thông Bộ Tổng Tham Mưu vào ngày hôm sau.

Tướng Nghiêm trước kia làm Tư lệnh Quân Khu II, bị Tổng Thống Diệm thất xủng cất chức Tư lệnh Quân Khu đưa về coi Liên trường Vơ khoa Thủ Đức từ mấy năm qua. Nay nhờ dịp Nhẩy dù làm đảo chính, Đại úy Trọng (người thân tín của Tướng Nghiêm từ hồi c̣n ở Quân Khu, v́ Thiếu úy Trọng được Tướng Nghiêm gọi đến nhà hàng ngày để kèm ngoại ngữ cho các con ông ấy) đang làm việc tại Trường Truyền Tin nhưng v́ Liên Trường chưa có cư xá gia binh để cấp cho cư ngụ trong Liên Trường, nên hằng đêm Tôi kư giấy cho phép cho về Saigon ở với gia đ́nh thay vị buộc phải ngủ tại pḥng các sĩ quan độc thân của Liên trường, nhờ thế theo dơi được t́nh h́nh thực tế của cuộc đảo chánh tại Saigon đang gặp khó khăn, nên nửa đêm đă vội vă chạy lên Liên Trường vào báo cáo thằng cho Tướng Nghiêm biết. Tướng Nghiêm lập tức giao cho Đại úy Trọng làm sĩ quan Truyền Tin phụ trách việc dùng hệ thống truyền tin của Liên Trường liên lạc với Phủ Tổng Thống để bầy tỏ ḷng trung thành với Tổng Thống. Nhờ thế nên sau vụ đảo chính hụt này của phe các ông Thi và Hồng Nhẩy Dù, Tướng Nghiêm được tin dùng trở lại, cho lên làm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô Saigon để bảo vệ Tổng thống.

Trong Binh chủng Truyền Tin, ai cũng biết tiếng anh Vơ Trịnh Trọng là vua đảo chánh tại các đơn vị Truyền Tin miền Trung, khi Tướng Nghiêm c̣n làm Tư lệnh Quân Khu. Sau khi theo học khoá Truyền Tin tại Hoa Kỳ trở về, không ai chịu nhận vào đơn vị của họ, lại không có chỗ cho anh Trọng làm đơn vị trưởng, nên anh Khương Chỉ huy trưởng Viễn Thông đă điện thoại về Trường mời Tôi lên gặp, tŕnh bầy sự thật và khẩn khoản nhờ Tôi nhận về Trường làm huấn luyện viên. Để giúp anh Khương giải quyết khó khăn, Tôi đồng ư nhận, và khi Đại úy Trọng về tŕnh diện tại Trường, Tôi đă đề nghị lên Tướng Lê văn Nghiêm Chỉ huy trưởng Liên trường cử anh Trọng làm Phó Giám Đốc.

Tôi đến tŕnh diện Bộ Chỉ huy Viễn thông vào đúng lúc đang diễn ra tiệc rượu do anh em tổ chức để chia tay Đại tá Nguyễn Khương bị cất chức, bàn giao cho Trung tá Khổng văn Tuyển đang làm Chánh Sự vụ Sở Vật liệu Truyền Tin kiêm nhiệm. Đại úy Nguyễn Bá Di, Phụ tá tại Sở Vật liệu TT cũng được Trung tá Tuyển mang sang làm Tham mưu trưởng thay thế Thiếu tá Hà Quang Giác cũng bị cất chức đưa ra khỏi Binh chủng Truyền Tin như Đại tá Khương. Thiếu tá Nguyễn văn Tiến Chỉ huy phó Viễn thông th́ bị An ninh Quân đội bắt giữ điều tra.

Trong buổi tiệc chia tay đơn sơ này, có cả sự tham gia của Đại úy Đỗ Như Luận, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn TT Bộ TTM. Thấy Tôi, anh Luận mừng rỡ hỏi thăm vồn vă, tưởng Tôi cũng được mời về cùng anh em tham dự tiệc chia tay Đại tá Khương và gặp mặt Chỉ huy trưởng mới. Tôi đă th́ thầm kể riêng cho anh Luận nghe vụ việc của Tôi. Sau khi hiểu rơ đầu đuôi, anh ấy đă hứa là sẽ tiếp xúc với Đại tá Đỗ Mậu coi ngay hồ sơ của Tôi, để giải nạn giùm nếu đúng thật là bị vu khống oan trái. Vài ngày sau, anh Luận cho Tôi biết không có ǵ phải lo, những người ngay thẳng sẽ có Trời giúp.

Quả đúng vậy, ít ngày sau, Đại úy Vơ Đại Khôi Chánh Sự vụ Sở Viễn Thông Bảo An (em rể Trung tá Kỳ quang Liêm con cưng của Cụ, đang làm Giám đốc Nha Nhân viên Bộ Quốc Pḥng) sau vụ đảo chánh hụt được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức, được bổ nhiệm về làm Chỉ huy trưởng Viễn Thông với cấp bậc Trung tá Giả định. Trung tá Tuyển chấm dứt sự kiêm nhiệm, tiếp tục làm Chánh Sở Vật liệu. Đại úy Đỗ Như Luận (thân thích của Đại tá Đỗ Mậu Giám đốc Nha An ninh Quân đội) làm Tham mưu trưởng, vẫn kiêm nhiệm cả chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn TT Bộ TTM, thay Đại úy Nguyễn Bá Di đi làm Quận trưởng G̣ Vấp. Tôi cũng được Bộ Quốc Pḥng ban hành Nghị định bổ nhiệm làm Chỉ huy phó Viễn Thông.

Tôi giữ chức vụ này (năm 1961 đổi là Cục Phó Cục Truyền Tin) cho đến Cách mạng 1-11-1963 vừa xong, th́ bị loại ra khỏi ngành Truyền Tin cùng một lượt với Thiếu tá Phan văn Chuân Giám đốc Trường Tin Vũng Tầu.

Năm 1961 có cuộc cải tổ lớn trong Quân lực. Ngành Truyền Tin thành lập các Pḥng 6 phụ trách điều hành việc khai thác các Hệ thống liên lạc TT từ Trung ương xuống địa phương. Bộ Chỉ huy Viễn thông Bộ TTM và Sở Vật liệu TT sát nhập thành Cục Truyền Tin. Các Bộ Chỉ huy Viễn thông Quân khu cải thành Pḥng 6. Các Tiểu đoàn Khai thác Truyền Tin và các Tiểu đoàn Yểm trợ Tiếp liệu TT tại các địa phương họp thành các Liên đoàn Truyền Tin. Tại G̣ Vấp có Căn Cứ 60 Tiếp vận TT do Đại úy Phùng Ngọc Sa làm Chỉ huy trưởng, và Trung tâm điện ảnh nằm trong doanh trại kế bên do anh Sương (Tôi không nhớ Họ) chỉ huy. Liên trường Vơ khoa Thủ Đức giải tán, trả các Trường chuyên môn đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Cục Quân Huấn Bộ TTM, nhưng trực thuộc các Binh chủng Nha sở liên hệ về kỹ thuật và bổ sung nhân viên. Trường Truyền Tin tại Thủ Đức di chuyển xuống Vũng Tầu, giải tán Trung Tâm Huấn luyện TT giao các phần trách nhiệm của Trung tâm phụ trách xưa nay cho Trường Truyền Tin luôn, Thiếu tá Phan văn Chuân làm Chỉ huy trưởng. 

Tháng 12 năm 1963, anh Chuân và Tôi gặp nhau tại Khoá 9 Chỉ huy và Tham mưu tại Trường Đại học Quân sự Đà Lạt. Lúc đó Thiếu tá Nguyễn Đ́nh Tài đang là Huấn luyện viên hướng dẫn làm Phụ bản Truyền Tin cho các loại Lệnh Hành Quân. Măn khoá vào đầu năm 1964, Tôi đậu Thủ khoa, Tướng Nguyễn Khánh Thủ tướng Chính phủ đến Chủ tọa buổi lễ, trao bằng tốt nghiệp cho Tôi. (Anh Nguyễn Đ́nh Tài nguyên là Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Truyền Tin Vũng Tầu phải đổi lên đây, sau khi Trung tâm bị giải tán để nhập với Trường Truyền Tin.)

3.- Người thứ ba được giới thiệu tiếp xúc với Tôi, là một Hạ sĩ tên Hà (Tôi không nhớ Họ của anh ấy). Anh Hà tuy thuộc hàng binh sĩ nhưng có khả năng văn hoá khá, rất thông minh và xông xáo. Theo nhận định của Tôi, th́ anh Hà là người có vai vế và rất được tin dùng trong hệ thống Cán bộ chính trị “Cần Lao Nhân vị” và “Phong trào Cách mạng Quốc gia”, đưa về theo anh Khương để hoạt động tại Saigon. Trong khoảng thời gian 1957, Tôi đi học 2 Khoá Truyền Tin liên tiếp (Sĩ quan TT cao cấp, và Sĩ quan Tiếp liệu bảo tŕ Vật liệu TT) tại Trường Truyền Tin Fort Monmouth, Tiểu Bang New Jersey, có nghe nói anh Hà được thăng lên hàng Hạ sĩ quan, rồi sau đó lại được học Khoá Sĩ quan đặc biệt, theo kế hoạch đào tạo cấp tốc của Bộ Tổng Tham Mưu, nhằm giải quyết nhu cầu thiếu hụt Sĩ quan cho các Binh chủng chuyên môn.

Những ngày kế theo buổi gặp mặt chính thức giữa anh Khương Chỉ huy trưởng Viễn Thông mới nhậm chức và Tôi đề cập trên đây, mọi kế hoạch chương tŕnh thực hiện những ước vọng của anh Khương đă được toàn thể anh em thuộc Pḥng Mật Mă Trung Ương chúng tôi lo toan rất chu đáo toàn hảo. Anh Khương và nhóm thân tín về theo anh ấy rất vui mừng và hănh diện v́ được “Ở Trên” tin tưởng khen thưởng rất hậu hĩ về tinh thần đi tiên phong quảng bá rầm rộ hoạt động của Binh chủng Truyền Tin cả về kỹ thuật lẫn chính trị.

Nhưng một điều đáng buồn là chỉ mấy tháng sau, từ khi tạo được uy tín vững vàng xong, th́ anh Khương và nhóm đàn em bắt đầu có những hành động độc đoán, cài người để bắt đầu thanh lọc những người giỏi chuyên môn nhưng không chịu cong lưng ngoan ngoăn tuân theo mệnh lệnh của anh ấy. Từ đó trong Binh chủng Truyền Tin bắt đầu có sự rạn nứt “t́nh huynh đệ chi binh”.

 

DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN – 4.

 

CHIẾN CUỘC XOAY CHIỀU, PHÁP RA KHỎI MIỀN NAM VIỆT NAM.

                                                                     

http://www.geocities.com/ttqlvnch/pdntt42.jpgV́ tính cách Kỹ thuật chuyên biệt, các Sĩ quan và Hạ sĩ quan đă theo học khoá chuyên môn Mật Mă, và đang phục vụ tại các cơ sở Mật Mă, được phép đeo nơi phiá trên túi áo ngực bên phải bộ quân phục, một chuyên hiệu Mật Mă bằng kim khí, do Pḥng Mật Mă Trung Ương (MMTU) thực hiện và cấp phát. Mẫu chuyên hiệu Mật Mă do một Trung sĩ (họa sĩ) thuộc Pḥng MMTU phác thảo, tŕnh và được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, cấp ngân khoản cho phép tiếp xúc với hăng DRAGO chuyên sản xuất các huy hiệu quân đội ở bên Pháp, hoàn chỉnh và thực hiện. Chủ đề cấu tạo chuyên hiệu Mật Mă, gồm 3 h́nh tượng:
-NHÂN SƯ, con vật thần thoại Ai Cập (SPHINX), tượng trưng cho trí thông minh và bảo toàn bí mật.
-Vành (sắt lót) móng ngựa, dấu hiệu mang lại may mắn theo truyền thuyết của người Âu Châu, đồng thời cũng tượng trưng cho toà án lương tâm.
-Kiếm, tượng trưng cho danh dự, ḷng ngay thẳng, và ư chí can đảm bất khuất của người Hiệp sĩ.

Mầu sắc của chuyên hiệu cũng rất đơn giản mộc mạc, chỉ dùng có 2 mầu: Vàng và Bạc, 2 loại quư kim mà mọi người trên Thế giới từ Cổ chí Kim đều qúy trọng. Trong dân gian Việt Nam có nhiều ca dao, ngạn ngữ nói đến uy lực vô h́nh của Vàng và Bạc, chẳng hạn: “Chữ trinh đáng giá ngàn vàng”, “Lá ngọc cành vàng”, “Tham vàng bỏ ngăi”, “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”, … Một bức ảnh mẫu chuyên hiệu Mật Mă được phóng lớn, treo tại giữa các văn pḥng làm việc của Mật Mă viên, để nhắc nhở mọi người luôn nhớ tới trách nhiệm quan trọng ḿnh đang đảm nhiệm. Không biết kể từ giữa năm 1957 trở về sau, Tôi không c̣n ở trong Ngành Mật Mă, chuyên hiệu riêng của ngành Mật Mă có c̣n được tiếp tục công nhận nữa không?                                                                  

Đến đây, trước khi tiếp tục câu truyện về Truyền Tin và Mật Mă, Tôi nghĩ cũng nên lược qua về những sự kiện và lư do nào đă khiến cho Pháp, phải sốt sắng dồn mọi nỗ lực xây dựng Quân đội riêng cho các Quốc gia Liên kết Đông Dương, trong đó có Việt Nam của chúng ta. Những ghi nhận và suy luận sẽ tŕnh bầy dựa theo Chủ quan hiểu biết của Tôi, có thể phiến diện và thiển cận nếu đem so sánh với nhận định của các bậc cao minh. Vậy xin các Bạn vui ḷng miễn chấp và chỉ giáo thêm cho, Tôi cám ơn vô cùng.

Giữa năm 1949, Trung Cộng thắng thế ở Trung Hoa Lục địa, do đó t́nh h́nh chiến trận tại Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, đặc biệt là tại Bắc Việt trở nên rất sôi động. Tháng 5 năm 1949, Chính phủ Pháp phải cử Tướng Revers sang thanh sát t́nh h́nh, và nghiên cứu tŕnh một Kế hoạch đối phó. Sau khi công cán về nước, Tướng Revers đề nghị rút bỏ Cao Bằng (Tỉnh cực Bắc ở biên giới Việt Nam-Trung Hoa) để:
1.- Gom quân pḥng thủ Quốc lộ 4 từ Lạng Sơn, Đồng Đăng, Đ́nh Lập, đến Tiên Yên;
2.- Củng cố b́nh định vùng đồng bằng Bắc Việt;
3.- Lấn chiếm cô lập khu Việt Bắc của Chủ lực Việt Minh gồm các tỉnh Thái Nguyên, Lào Kay, Tuyên Quang, và Yên Bái.

Chủ định thâm sâu của Pháp là tái lập Thuộc địa Đông Dương dưới h́nh thức mới, nên không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Do đó Pháp e ngại Trung Cộng (chủ nhân ông mới của Trung Hoa Lục địa) xua quân can thiệp hỗ trợ cho Việt Minh Cộng sản, nên phải thun về thủ vùng đồng bằng để bảo toàn lực lượng, và t́m phương kế mới.
Kế hoạch của Tướng Revers đề nghị, được Chính phủ Pháp chấp thuận cho thi hành vào cuối năm 1949. Nhưng v́ tại Đông Dương lúc đó, đang có sự bất đồng ư kiến giữa Tướng Carpentier (Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp) tại Saigon và Tướng Alexandri (Tư lệnh đoàn quân tại Bắc Việt), nên măi tới cuối tháng 8 năm 1950 mới thực hiện, mặc dù qua tin tức t́nh báo, Chính phủ Pháp, Cao ủy Đông Dương Pignon, và Tướng Carpentier, đều biết rằng Kế hoạch Revers đă bị tiết lộ.

Phiá Việt Minh, không biết bằng cách nào đă ḍ biết được Kế hoạch Revers, nên Tướng Vơ Nguyên Giáp, với sự trợ giúp trang bị vũ khí đạn dược, huấn luyện quân sĩ, và cố vấn hành quân của Trung Cộng, đă ráo riết chuẩn bị mở màn thử thách khả năng chiến đấu của bộ đội Việt Minh.

Ngày 18-9-1950, các đơn vị Việt Minh được sự yểm trợ của Pháo binh và súng cao xạ bắn máy bay, đă khởi tấn công và chiếm được đồn Đông Khê, rồi bao vây cô lập Cao Bằng. Sau đó thừa thế tiếp tục khai triển mặt trận Cao Bằng-Lạng Sơn, kéo dài cho tới ngày 7-10-1950. Pháp thất bại nặng nề, phải rút bỏ Cao Bằng, Thất Khê, Na Chầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, và Lao Kay.

Trận đánh này đă làm tăng uy thế cho Việt Minh, rúng động tinh thần quân sĩ Pháp tại Đông Dương, cũng như các giới Chính trị Pháp và Hoa Kỳ. Dân chúng Pháp bắt đầu gọi cuộc chiến tại Đông Dương là “Chiến tranh sa lầy”, các Đảng phái chính trị Pháp cấu kết với nhau làm áp lực chính trị, khiến các Chính phủ Pháp thay phiên nhau xụp đổ liên tục, làm cho t́nh h́nh tại cả bên chính quốc lẫn tại Đông Dương ngày một rối rắm thêm. Để gỡ rối, Chính phủ Pháp cố gắng t́m một Tướng làm Tổng Tư lệnh mới thay thế Tướng Carpentier tại Đông Dương. Các Tướng Juin và Tướng Koenig được tham khảo, nhưng 2 ông này từ khước, sau khi đ̣i hỏi nhiều điều kiện quá đáng Chính phủ Pháp không thể thoả măn được. Sau cùng, Tướng Jean Marie Gabriel De Lattre De Tassigny được lựa chọn. Ông này nhận lời ngay với một điều kiện duy nhất là phải cho ông ta rộng quyền chỉ huy.

Ngày 7-10-1950, Đại tướng De Lattre được đề cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Đúng 10 ngày sau, Tướng De Lattre lên đường nhậm chức, mang theo cả một Bộ Tham Mưu hùng hậu để làm trụ cột giúp ông ta hoàn thành sứ mạng lớn lao đă nhận lănh. Trong suốt 9 tháng trời ṛng ră tiếp theo, ông ta đă chứng tỏ tài lănh đạo chỉ huy và hành quân táo bạo của ḿnh, qua các trận Vĩnh Yên giữa tháng 1-1951 (chết mất người con trai duy nhất là Trung úy Bernard), trận Mạo Khê cuối tháng 3-1951, trận “Bờ Sông Đáy” cuối tháng 5-1951, và đặc biệt là kế hoạch xây dựng “Pḥng tuyến Bê tông De Lattre” để bảo vệ đồng bằng Bắc Việt trong Vùng Tam Giác: Moncay, Việt Tŕ, Ninh B́nh, và “Pḥng Lũy Hải Pḥng”. Tướng De Lattre đă làm cho tinh thần Quân Sĩ được phục hồi, đồng thời tạo được sự tin tưởng của Chính phủ Pháp và các Đồng minh Hoa Kỳ, Anh Cát Lợi,…

Giữa tháng 9-1951, Tướng De Lattre được Chính phủ Pháp cho đi công cán bên Hoa Kỳ xin viện trợ. Có lẽ nhờ trận Việt Minh tấn công quân Pháp tại vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, có sự hiện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Việt Minh, y như trận Bắc Hàn tấn công Nam Hàn mà Mỹ và Đồng minh phải can thiệp, cũng có sự hiện diện của quân Trung Cộng trong hàng ngũ quân Bắc Hàn, nên Hoa Kỳ thay đổi thái độ đối với Pháp. Nhờ thế, Tướng De Lattre đă xin được Mỹ viện trợ cho Pháp tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương, dưới nhiệm vụ mới là “Ngăn chặn sự bành trướng của Quốc tế Cộng sản ở vùng Đông Nam Á Châu”, mà Việt Minh là tay sai tiền phương của Liên Sô và Trung Cộng. Viện trợ chỉ được chấp thuận với một điều kiện tiên quyết kèm theo là: “Pháp phải thành thực trao trả quyền Độc Lập, Tự do, cho các Chính phủ Quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, và xúc tiến nhanh chóng việc thành lập, huấn luyện, và trang bị quân sự cho các Quốc gia này có đủ khả năng tự vệ, tiêu diệt Cộng sản địa phương, bảo đảm an ninh cho dân chúng phát triển kinh tế. Đặc biệt phải để cho các Quốc gia này có quyền Tự do Giao thương trực tiếp với tất cả các nước Tư bản, ngoài khối Liên Hiệp Pháp, không phải qua trung gian của Pháp.”

Ngày 28-9-1951, hai ngày sau chuyến công du của Tướng De Lattre chấm dứt, chiếc tầu biển Eartham Bay của Hoa Kỳ đă từ Manilla chở tới Saigon, rất nhiều vũ khí nhẹ và đạn dược đủ loại. Đồng thời, 30 Phóng pháo cơ B-26 do phi công Hoa Kỳ lái từ Phi Luật Tân qua, đáp xuống phi trường Cát Bi (Hải Pḥng), trao cho Pháp trong âm thầm không kèn không trống. Mười hai (12) chiếc trong số phi cơ này đă được Hoa Kỳ biến cải thành loại máy bay soi sáng (Luciole), dùng để thả hoả châu soi sáng chiến trường ban đêm, trong thời gian liên tục 1 tiếng đồng hồ cho mỗi phi cơ.

Hy vọng những sự kiện vừa kể trên, đă giúp cho những ai ít quan tâm đến thời cuộc đất nước Việt Nam trước đây, không c̣n thắc mắc tại sao măi đến cuối năm 1951 Quốc hội Pháp mới chấp thuận việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tiếp theo đó, ông Trần văn Hữu Thủ tướng Chính phủ Việt Nam mới công bố việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) chống Cộng sản, ban hành Lệnh Tổng Động Viên, thành lập Bộ Tổng tham mưu QĐQGVN, các Trường Vơ bị Địa phương (Ecole Militaire Régionale) đào tạo các Chuẩn úy Trung đội trưởng, Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và Thủ Đức, để đào tạo Thiếu úy Trừ bị cung cấp cho Quân đội, ngoài số Thiếu úy Hiện dịch do Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt đang đào tạo. (Trường VBLQ ĐàLạt được thành lập từ năm 1948). Các Trung tâm Huấn luyện Tân binh và Hạ sĩ quan cũng lần lượt được thành lập, và hoạt động náo nhiệt để thành lập các đơn vị cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn Bộ Binh và các đơn vị Binh chủng, Nha, Sở chuyên môn.

Phiá Quân đội Viễn chinh Pháp, ồ ạt xây dựng các doanh trại và cơ sở rất lớn rộng cho các Cơ quan Chỉ huy và Đơn vị Hành chánh Tiếp vận Trung Ương, tại các vùng Tân Sơn Nhứt, G̣ Vấp, B́nh Lợi, Cát Lái (Gia Định), Khánh Hội (Saigon), và Biên Hoà… Theo dự tính của Tướng De Lattre, các Cơ sở này phải đủ tầm vóc có thể biến thành các Cơ sở Chỉ huy và Tiếp vận cho các Lực lượng Liên Hiệp Quốc, đến điều khiển chiến tranh ngăn cản Cộng sản Quốc tế xâm lăng các nước thuộc Đông Nam Á Châu, xử dụng khi cần.

Tháng 12-1951, Tướng De Lattre qua đời, Tướng Raoul Salan được cử thay thế làm Tổng Tư lệnh, để tiếp tục giải quyết cuộc “Chiến tranh sa lầy” không lối thoát của Pháp tại Đông Dương. Nội t́nh nước Pháp tiếp tục lục đục, chính phủ Queuille bị đổ vào tháng 2-1952. Tại Bắc Việt, Tướng Salan rút bỏ Hoà B́nh vào cuối tháng 3-1952. Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp là Pinay, vẫn giữ chính sách cũ đối với Đông Dương. Ông Letourneau được bổ nhiệm làm Bộ trưởng các Quốc gia Liên kết, kiêm nhiệm chức Cao Ủy Đông Dương kể từ tháng 4-1952, và Tướng Salan được chỉ định làm Tổng Tư lệnh Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương. Bộ trưởng Letourneau phải thường xuyên hoạt động tại chính quốc, làm ǵ có thời giờ chạy qua chạy lại giữa Pháp và Đông Dương, nên Tướng Salan vô h́nh chung có được toàn quyền quyết định y như cố Đại tướng De Lattre thuở c̣n sinh thời.

Sở dĩ Tướng Salan được lựa chám chỗ chống của De Lattre, v́ ông ta đă từng ở Việt Nam lâu năm, tham dự nhiều trận chiến với Việt Minh từ hồi 1947, đă cộng tác mật thiết với Tướng De Lattre trước khi ông này qua đời, nên thông thạo lối đánh của Việt Minh. Ngoài ra, ông ta c̣n có được cái trí khôn của người Á Đông v́ lấy vợ người Việt Nam, hút thuốc phiện, theo vợ đi lễ các Đền, Chùa, am tường các phong tục tập quán của các Sắc dân Đông Dương. Chiến công của Tướng Salan từ sau ngày thay thế De Lattre, chỉ là cuộc hành quân rút lui khỏi Hoà B́nh trong an toàn không bị sứt mẻ, và xây dựng “Pháo lũy NaSản” giữ được mặt trận vùng Bắc Thái (phiá Tây, Bắc Việt) vững vàng trong suốt 3 tháng (10, 11, và 12-1952). C̣n t́nh h́nh toàn diện Đông Dương chẳng có ǵ khả quan hơn.

Qua tháng 5-1953, Tướng Navarre được cử thay thế Tướng Salan làm Tổng Tư lệnh Quân Liên Hiệp Pháp tại Đông Dương. Ông này xào xáo lại các kế hoạch của các Tướng tiền nhiệm, rút tiả các kinh nghiệm, để hệ thống hoá thành kế hoạch chiến thuật mới của ḿnh là:
1.- Pḥng thủ miền Bắc;
2.- B́nh định miền Nam;
3.- Lập một Binh đoàn Chủ lực lưu động, để có thể đánh ở bất cứ nơi nào có sự tập trung quân của Địch (Việt Minh).

Kế hoạch được mở màn bằng cuộc hành quân “Castor” vào cuối tháng 11-1953, để hỗ trợ việc xây dựng “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”, với mục đích:
a.- Buộc Việt Minh phải chấp nhận một trận công kiên chiến, mà Pháp tin rằng họ sẽ thắng v́ có ưu thế hơn về Không quân và Tiếp liệu.
b.- Cầm chân Chủ lực quân Việt Minh tại miền Bắc để chúng không thể tiếp sức cho miền Nam, nhờ thế Pháp sẽ b́nh định Liên Khu V gồm các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định và Phú Yên, tại miền trung tâm của Trung Việt Nam một cách dễ dàng.
c.- Dùng Điện Biên Phủ làm “Căn cứ Bàn đạp” đánh vào Hậu tuyến Việt Bắc, nếu Việt Minh di quân khỏi nơi này để tấn công vùng đồng bằng sông Hồng.

Tiếc thay, Bộ tham mưu của Tướng Navarre ước tính sai lệch quá nhiều. Việt Minh đă tập trung được quanh Điện Biên Phủ, một lực lượng nhiều tới 100,000 quân. Với sự yểm trợ của Trung Cộng, Việt Minh c̣n kéo được cả súng Đại pháo qua đỉnh núi, đào hầm bố trí ngay trên sườn núi nh́n thẳng xuống thung lũng Điện Biên Phủ. Thế mà Pháp cho rằng, Việt Minh chỉ có thể tập trung quanh Điện Biên Phủ khoảng 20,000 quân là tối đa, và ḷng chảo Điện Biên Phủ không thể bị uy hiếp bằng Pháo binh, v́ các Đại pháo chỉ có thể bố trí phiá bên kia các dẫy núi quanh ḷng chảo, xa quá tầm tác xạ của súng.

Cuối tháng 11-1953, t́nh h́nh chiến sự bỗng chuyển biến đột ngột. Bốn (4) Sư đoàn Việt Minh kéo lên áp lực miền Bắc Thái (Tây Bắc, Bắc Việt). Qua tháng 12-1953, Tướng Navarre phải cho lệnh rút quân bỏ Lai Châu và toàn vùng Bắc Thái, để tập trung về Điện Biên Phủ, đồng thời mở nhiều cuộc hành quân ở vùng thượng lưu sông MêKông để củng cố pḥng thủ miền Bắc Lào (nước Ai Lao).

Đầu năm 1954, t́nh h́nh lắng dịu tại khắp các chiến trường phụ trên toàn cơi Đông Dương. Riêng tại Điện Biên Phủ t́nh h́nh coi như đang có nhiều điều thuận lợi cho quân Pháp. Nhưng, vào trung tuần tháng 2-1954, Hội nghị Bá Linh (Berlin, Đức) được mở ra để thảo luận về việc thành lập một Hội nghị chính thức tại Genève, bàn thảo t́m giải pháp cho vấn đề đ́nh chiến tại Đông Dương, đă khiến t́nh h́nh chiến sự trở nên bất lợi cho quân Pháp, và làm cho Tướng Navarre bị ngỡ ngàng.

Đầu tháng 3-1954, Việt Minh rút Sư đoàn 308 đang uy hiếp Luang-Prabang (Lào), đem về tăng cường bao vây Điện Biên Phủ. Đến ngày 13-3-1954, Việt Minh mở đầu các cuộc tấn công trên khắp các mặt trận Đông Dương (kể cả Điện Biên Phủ), nhằm mục đích phô trương khả năng quân sự mới để áp đảo tinh thần quân Liên Hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết Đông Dương, đồng thời tạo điều kiện thượng phong tại Hội nghị Genève. Quân Pháp bị cầm chân tại tất cả mọi nơi, nên không c̣n quân số tiếp ứng cho nhau, nhất là cho “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ”.

Đến cuối tháng 4-1954, Bộ Tư lệnh Pháp cho mở cuộc hành quân “Atlante” đánh vào Liên Khu V của Việt Minh tại trung Việt, nhưng chẳng đem lại kết quả ǵ, nếu không muốn nói là uổng công vô ích. Ngày 7 tháng 5-1954, sau 55 ngày đêm tự lực cầm cự, “Tập đoàn Cứ điểm Điện Biên Phủ” đă phải xin đầu hàng vô điều kiện. Dư luận Pháp rất hoang mang, chia rẽ, tranh căi trầm trọng, khiến Chính phủ Pháp phải đưa Tướng Paul Ely Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Pháp sang Đông Dương thay thế Tướng Navarre, với quyền hạn rộng răi là Cao Ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh tại Đông Dương, như đă dành cho Tướng De Lattre hồi trước. Nhưng, Tướng Ely cũng chẳng làm được ǵ hơn, là tiếp tục nhận lănh những thất bại chua cay, trong âm mưu tái lập thuộc địa lỗi thời của Pháp sau Thế chiến II.

Mấy tuần lễ sau vụ Pháp thất trận Điện Biên Phủ, chiến cuộc Đông Dương được giải quyết ngă ngũ, chấm dứt bằng giải pháp chính trị tại Hội nghị Genève với một Hiệp Định đ́nh chiến, kư kết vào lúc 0100 giờ ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại Genève giữa Pháp và Việt Minh. Đại diện Hoa Kỳ và Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam từ khước không kư vào bản Hiệp định. Theo Hiệp định này, nước Việt Nam bị phân làm 2 phần Nam, Bắc, tại Vĩ tuyến 17, và ḍng sông Bến Hải được dùng làm ranh giới giữa 2 miền. Từ giữa ḷng con sông trở lên phiá Bắc thuộc quyền kiểm soát cai trị của Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh cầm đầu. Phần từ giữa ḷng con sông trở xuống phiá Nam thuộc trách nhiệm của Chính quyền Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lănh đạo.

Thi hành Hiệp định Genève, Bộ Tư lệnh quân Viễn chinh Pháp của Tướng Ely phối hợp cùng Chính phủ Quốc gia Việt Nam do ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng, tổ chức một cuộc di tản vĩ đại ngoạn mục trong ṿng 300 ngày, cho hơn một triệu Dân Quân Cán chính không thích sống dưới Chế độ Cộng sản rời miền Bắc vào Nam tái lập nghiệp, và hàng chục ngàn Cán Binh Cộng sản từ miền Nam buộc phải tập kết ra Bắc. Thời hạn triệt thoái quân Pháp và quân Quốc gia ra khỏi Bắc Việt theo lối cuốn chiếu quy định như sau: phải ra hết khỏi HàNội trong thời hạn 80 ngày kể từ ngày kư Hiệp Định Genève, do đó ngày chót được ấn định cho Hà Nội là ngày 11-10-1954; 100 ngày cho Hải Dương do đó ngày chót được ấn định là ngày 1-11-1954; và 300 ngày cho Hải Pḥng do đó ngày chót được ấn định là ngày 19-5-1955.

Đến ngày 28-4-1956, Bộ Tư lệnh quân Pháp tại Đông Dương giải tán, tất cả các Cơ sở và Căn cứ trước đây do Pháp xây dựng chiếm đóng, đều trao hết cho Chính phủ và Quân đội Quốc gia Việt Nam thừa hưởng. Dinh Norodom tọa lạc tại trung tâm Thủ đô Saigon trước kia dành cho Cao Ủy Pháp tại Đông Dương, nay đổi tên thành Dinh Độc Lập dành cho Quốc trưởng Bảo Đại. Camp Chanson to lớn bên cạnh phi trường Tân Sơn Nhất trước kia là nơi làm việc của Bộ Tư lệnh quân viễn chinh pháp tại Đông Dương, nay thuộc quyền xử dụng của Bộ Tổng Tham Mưu (Bộ TTM) Quân đội Quốc gia Việt Nam (QĐQGVN) và đổi tên là Trại Trần Hưng Đạo. Hospital Rocques rộng lớn của đoàn quân Viễn chinh Pháp xây dựng tại G̣ Vấp sát bên Bộ TTM và phi trường Tân Sơn Nhất, nay thuộc quyền QĐQGVN và đổi tên là Tổng Y Viện Cộng hoà. (Không biết cái tên Roques Tôi nhớ có đúng không, bạn nào biết là sai xin vui ḷng chỉnh giùm, Tôi vô cùng cám ơn). C̣n rất nhiều Doanh trại, Căn cứ, và Cơ sở khác tại Saigon và tại các Tỉnh trên toàn lănh thổ miền Nam Vĩ tuyến 17, được Pháp trao lại cho Chính quyền Quốc gia miền Nam Việt Nam, nhưng Tôi thấy không cần liệt kê hết ra đây.

Vào tháng 8-1956, Chính phủ Pháp loan báo việc đề cử ông Henri Hoppenot làm Cao Ủy Đông Dương. Nhưng, Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm của Chính quyền Quốc gia Việt Nam, đă dựa theo các điều khoản của Hiệp định Genève không chấp nhận, nên Chính phủ Pháp phải đổi lại chức vụ là Đại sứ Pháp tại Việt Nam. Sau khi quân Pháp rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, ảnh hưởng Pháp tan biến dần để thay thế bởi ảnh hưởng Hoa Kỳ. Bởi v́, ngay từ khi mở Hội nghị Bá Linh bàn thảo việc thành lập Hội nghị Genève giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, Hoa Kỳ đă ngầm vận động thúc đẩy Quốc trưởng Bảo Đại mời ông Ngô Đ́nh Diệm (đang ở Mỹ) về làm Thủ tướng, thay thế Thủ tướng Bửu Lộc được coi là thân Pháp.

Ngày 7-7-1954 ông Ngô Đ́nh Diệm về tới phi trường Tân Sơn Nhất Saigon vào một buổi trưa trời nắng đẹp, được sự tiếp đón theo nghi thức thường lệ của Chính phủ tại pḥng Khách Danh Dự của phi trường, gồm một số nhân viên đại diện các Bộ trong Chính phủ Bửu Lộc, một số Sĩ quan cấp Tá Việt và Pháp thuộc Bộ Quốc pḥng và Bộ TTM/QĐQGVN (trong đó có Tôi), vài thân quyến ḍng họ Ngô-Đ́nh (có vợ chồng ông Ngô Đ́nh Nhu), cùng mấy Nhân sĩ ở ngoài Huế vào. Quốc trưởng Bảo Đại loan báo việc chỉ định ông Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ Tướng thay thế Thủ tướng Bửu Lộc trở về Pháp.
Ít ngày sau, thành lập và tŕnh diện Chính phủ xong, Thủ Tướng Diệm bắt đầu gặp nhiều khó khăn về mọi mặt đối nội cũng như đối ngoại. Chẳng hạn:

1.-Đại diện Chính phủ Quốc gia Việt Nam không kư trên Hiệp định Genève, nhưng vẫn phải chấp nhận và cộng tác với Bộ Tư lệnh quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương thi hành, đặc biệt phải chấp nhận cho các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến do Ấn Độ (Trung Lập) làm Chủ tịch, với các thành viên Ba Lan (Cộng sản) và Canada (thuộc Thế giới Tự Do Tư Bản) đặt cơ sở hoạt động tại nhiều nơi trên lănh thổ miền Nam, ngay cả tại giữa Thủ Đô Saigon. Trong các cơ sở kiểm soát đ́nh chiến này có cả sự hiện diện của những người đại diện của Việt Cộng.

2.-Phải vận động nhờ Chính quyền Pháp tại Đông Dương hỗ trợ phương tiện để di tản cả triệu người (Dân, Quân, Cán chính) không thích sống dưới sự cai trị của Chính quyền Việt Cộng tại miền Bắc Vĩ tuyến 17, di cư vào miền Nam.

3.-Tổ chức tiếp đón cứu trợ ban đầu, tái định cư, và tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống cho những người này. V́ họ đă phải bỏ tất cả của cải đất đai hương hỏa của Tổ tiên Ông Cha tại miền Bắc, ra đi vào miền Nam với 2 bàn tay trắng.

4.-Hợp nhất các Lực lượng Vơ trang Giáo phái vào hàng ngũ Quân đội Quốc gia Việt Nam, để tiêu hủy nạn “phe phái hùng cứ địa phương” do Pháp tạo dựng lên trước đây, với mục đích Thực dân thâm độc “chia để trị”.

5.-Điều chỉnh cải tiến hệ thống hành chánh, để chấm dứt tệ nạn “Xứ Quân, Vua một cơi” thao túng áp bức quần chúng bằng quy luật “Phép Vua thua Lệ Làng”, hậu quả dư âm Quan lại của thời Pháp c̣n vương rớt lại, tại các tỉnh và ngay cả tại các Quận hành chánh giữa Saigon Chợ Lớn.

6.-Loại bỏ các tổ chức reo rắc tệ đoan xă hội (khu bài bạc, các ổ chứa gái măi dâm công khai hoạt động có nộp thuế), do các tay Chính trị hoạt đầu, Doanh gia bất chính, lợi dụng nước đục thả câu, với sự bảo trợ khích lệ của Thực dân Pháp đă tổ chức kinh doanh từ nhiều năm qua.

7.-Đặc biệt là phải đề ra phong trào chống Cộng, với một Chính sách dựa theo Chủ thuyết Nhân bản có thể bẻ gẫy được Chủ thuyết Cộng sản, để làm kim chỉ Nam hướng dẫn quần chúng hăng say tham gia công cuộc tố cáo và loại trừ các hoạt động của cán bộ Cộng sản nằm vùng tại miền Nam. Để dân được sống an toàn tại khắp mọi nơi, an tâm tham gia xây dựng phát triển Kinh tế phồn vinh, và hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc trong thanh b́nh.

V́ thế mới có Chủ thuyết NHÂN VỊ, và PHONG TRÀO CÁCH MẠNG QUỐC GIA ra đời. Mọi người sống tại miền Nam Việt Nam đều biết và cũng đă từng phải tham gia, tùy theo vị trí hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân và gia đ́nh. Phong trào này nhằm mục đích đánh bóng lănh tụ Ngô Đ́nh Diệm, chỉ trích tinh thần bạc nhược của Quốc trưởng Bảo Đại trong việc điều hành Quốc gia, để tiến tới việc tổ chức cuộc “Trưng cầu Dân ư truất phế Bảo Đại” vào ngày 23 tháng 10 năm 1955.

 

Sau đây là h́nh ảnh kỷ niệm anh em Hội Ái hữu Truyền Tin tham gia hoạt động xă hội tại quận Orange, Nam California, Hoa Kỳ.

Các Bồ Câu già và anh chị em gia đ́nh Hội Ái hữu Truyền Tin Nam California, tham gia cuộc “ĐI BỘ CHO QUYỀN TỴ NẠN” gây qũy giúp đồng bào Việt Nam tại các trại tỵ nạn Hồng Kông, do nhóm luật sư trẻ thuộc tổ chức LAVAS tổ chức tại Mile Square Park, thành phố Fountain Valley, quận Orange, Nam California, Liên Bang Hoa Kỳ, ngày 19-11-1994.
Hàng đầu từ trái qua phải: NGUYỄN-HUY HÙNG, ĐẶNG VĂN PHI cầm bảng ghi Hội Ái hữu truyền Tin, và BÙI TRỌNG HUỲNH.

 

                                                                     

http://www.geocities.com/ttqlvnch/pdntt42.jpg

 

 

 


Nguyễn Huy Hùng; HỒI KƯ DUYÊN NỢ TRUYỀN TIN